Wednesday, 31 August 2022

Cao Xuân Hạo (1930 - 2007)

 












Cao Xuân Hạo
(30/7/1930 -16/10/2007)
(77 tuổi)

Nhà ngôn ngữ học. Dịch giả






Cao Xuân Hạo (1930-2007) là một nhà ngôn ngữ học với nhiều đóng góp trong việc định hình phương pháp phân tích cấu trúc câu tiếng Việt. Ngoài ra, ông còn là một dịch giả, giáo sư văn chương uyên bác.



Tiểu sử

Cao Xuân Hạo sinh ngày 30 tháng 7 năm 1930 tại Hà Nội[1]. Cha ông, Cao Xuân Huy, cũng là một học giả nổi tiếng. Ông nội ông là Cao Xuân Tiếu. Dòng họ Cao Xuân của ông (Diễn Châu, Nghệ An) có nhiều danh sĩ. Từ nhỏ, ông đã có giai thoại tự học nghe, nói và viết thành thạo tiếng Pháp chỉ từ việc chơi với một người bạn Pháp. Ông từng làm giảng viên ngôn ngữ học, khi đó ông đảm nhận phần lớn công việc dịch sách và hiệu đính các sách dịch tại bộ môn ngôn ngữ học, tại Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông được biết đến với tư cách nhà ngôn ngữ học và dịch giả, và là thành viên Hội Nhà văn Việt Nam. Giáo sư Cao Xuân Hạo đã được trao tặng Giải thưởng về dịch thuật năm 1985 của Hội Nhà văn Việt Nam.

Ông mất lúc 19h 40 phút ngày 16 tháng 10 năm 2007 tại Bệnh viện Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh sau hai tuần nằm bệnh do một cơn đột quỵ.












Tác phẩm






Sách ngôn ngữ Tiếng Việt 




1
Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Nxb Khoa học xã hội. 1991. Ấn bản 2017




2
Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Nxb KHXH và Công ty Văn hóa Phương Nam. 2006




3
Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Nxb Giáo dục. 1998




4
Tiếng Việt - Văn Việt - Người Việt
Nxb Trẻ. 2001.2011




5
Âm vị học và tuyến tính: suy nghĩ về các định đề của âm vị học đương đại
Nxb KHXHvà Công ty Văn hóa Phương Nam. 2017













Sách dịch



6
Người con gái viên đại uý
(truyện, 1959)




7
Chiến tranh và hòa bình
(tiểu thuyết, dịch chung, 1962)




8
Truyện núi đồi và thảo nguyên
(tập truyện ngắn, dịch chung, 1963)




9
Trên những nẻo đường chiến tranh
(tiểu thuyết, 1964)




10
Truyện ngắn Goócki
(1966)




11
Con đường đau khổ
(tiểu thuyết, 1973)




12
Tội ác và hình phạt
(tiểu thuyết, dịch chung với Cao Xuân Phổ, xuất bản năm 1983 với tên Tội ác và trừng phạt do BTV tự ý sửa)




13
Đèn không hắt bóng
(1986)




14
Papillon
(1988)




15
Khải Hoàn Môn
(tiểu thuyết) (1988)




16
Nô tỳ Isaura
(tiểu thuyết 19??)




17
Âm vị học & Tuyến tính (Phonologie et linéarité)
Nguyên bản tiếng Pháp được GS viết năm 1980, bản dịch do chính GS thực hiện, xuất bản năm 2006)






Bài viết quan trọng


"Hai cách miêu tả hệ thống thanh điệu của tiếng Việt".

"Chiết đoạn và siêu đoạn trong ngôn ngữ học phương Tây và trong tiếng Việt"

"Nguyên lý tuyến tính của năng biểu" trong âm vị học"

Phonologie et linéarité: réflexions critiques sur les postulats de la phonologie contemporaine, 1985
viết bằng tiếng Pháp, do Hội Ngôn ngữ học và Nhân loại học Pháp (SELAF) xuất bản.

"Vấn đề âm vị trong tiếng Việt".

"Trọng âm và các quan hệ ngữ pháp trong tiếng Việt" (1978).

"Về cương vị ngôn ngữ học của tiếng".

"Nhận xét về các nguyên âm của một phương ngữ ở tỉnh Quảng Nam".

"Một số biểu hiện của cách nhìn Âu châu đối với cấu trúc tiếng Việt".

"Về cách phân tích âm vị học một số vận mẫu có nguyên âm ngắn trong tiếng Việt".

"Thêm mấy giải pháp âm vị học cho các vận mẫu có nguyên âm ngắn của tiếng Việt".

"Sợ hơn bão táp", Báo Văn Nghệ.



"Tư tưởng"...Nhược điểm của chữ Quốc ngữ không phải ở chỗ nó chưa thật là một hệ thống phiên âm âm vị học, mà chính là ở chỗ nó có tính chất thuần tuý ghi âm, và hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ biểu hiện nghĩa mà lẽ ra nó phải đảm đương, và nhược điểm ấy lộ rõ nhất và tai hại nhất là trong các từ đồng âm vốn có rất nhiều trong tiếng Việt...Bỏ chữ Hán và chữ Nôm là một tai hoạ không còn hoán cải được nữa, nhưng ta có thể bổ cứu cho sự mất mát này bằng cách dạy chữ Hán như một môn học bắt buộc ở trường phổ thông..."[2].
"Chẳng hạn, từ những năm 20 của thế kỷ XX những người làm từ điển Anh - Việt đã thấy ngay rằng (lạ thay!) tiếng Việt không có "tính từ", là vì nếu có thì không thể nào hiểu nổi tại sao người Việt nói Cha tôi già rồi mà không cần và không thể dùng một "động từ" như to be xen vào giữa (tức nói Cha tôi là già rồi)"[3].
"Câu là mệnh đề được thể hiện bằng ngôn từ thực hiện ngay trong lúc nó được phát ra"[4].
"Những cuốn sách đầu tiên viết về ngữ pháp tiếng Việt, - trừ một số ngoại lệ hiếm hoi như những tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm (đó là những người không phải chỉ biết tiếng Pháp), - đều do những người chỉ được học một thứ ngữ pháp duy nhất là ngữ pháp tiếng Pháp, hay có chăng cũng lại là một thứ tiếng châu Âu nào đó khác, cho nên dễ tưởng rằng đó là thứ ngữ pháp duy nhất mà một ngôn ngữ có thể có được. Thế là từ đó trở đi các thế hệ sau, tuy hầu hết không biết tiếng Pháp, đều coi sách vở của các bậc tiền bối như là hiện thân của chân lý và không có mấy ai thấy cần nghiên cứu lời ăn tiếng nói của người Việt nữa. Ngữ pháp sao chép từ tiếng Pháp trở thành một thứ tôn giáo nghiệt ngã: bất kỳ một nhận định nào về tiếng Việt cho thấy một cái gì không giống tiếng Pháp đều bị coi là tà thuyết. Từ đó, ta có thể hiểu tại sao 75% những câu thông dụng nhất của tiếng Việt không bao giờ được dạy ở nhà trường"[5].
"Họ [học sinh] chỉ được học những kiểu câu nào hoàn toàn giống câu tiếng Pháp, còn những kiểu câu có thật trong tiếng Việt (vốn chiếm khoảng 75% tổng số câu), thì không có sách nào viết lấy một dòng. Chính ca dao tục ngữ - những câu tiếng Việt mẫu mực nhất, kết tinh những phẩm chất đáng tự hào nhất của linh hồn dân tộc - nằm trong cái số 75% kiểu câu bị loại ra khỏi nội dung giảng dạy ấy. 25% là một tỷ lệ quá ít ỏi để có thể nói rằng học sinh đã học xong ngữ pháp tiếng Việt. Những cách hành văn như ca dao, tục ngữ thường được coi là "lỗi thời" và "không chuẩn" chỉ vì đó chính là cách hành văn thuần tuý Việt Nam, cho nên không giống tiếng Pháp, mà đã không giống câu tiếng Pháp thì tất nhiên là sai chuẩn, là vô văn hoá tồi, còn học làm gì cho nó hư người đi?"[6].



Nhận định

“ Cao Xuân Hạo thuộc vào số rất ít nhà ngữ học Việt Nam vượt lên khỏi cái địa vị thuần túy cung cấp tư liệu minh họa cho các lý thuyết ngữ học của phương Tây, để đĩnh đạc tranh luận với giới ngữ học quốc tế. ”


“ Hình như trong cuộc đời ông cũng chịu không ít bầm dập. Nhưng tôi cho là may mà đời có ông. Ông chân thực vô tư mà minh triết như chú bé trong ngụ ngôn Andersen đã nói huỵch toẹt: hoàng đế cởi truồng. Không hiểu sao tôi có liên tưởng ngộ nghĩnh: một chiều gió bấc, một con đường mòn xa tít hun hút tới chân trời. Trên đó chàng kỵ sĩ gầy, mái đầu muối tiêu, nách cắp cây thương, cưỡi trên con ngẽo cà khổ. Đó là ông, Cao Xuân Hạo, chàng kỹ sĩ độc hành. Trong chiều tà, ngọn bút của ông được phản quang phóng to thành cây thương. Một người một ngựa, ông trơ trọi đi trong chiều vắng. Trước mắt, những hồn ma bóng quế chập chờn. Nhưng ông vui vì tin rằng một ngày mai những con chữ Việt sẽ tưng bừng trong cuộc hoan ca chào đón ông - người giải phóng... ”


“ Hình như không có lúc nào mà trong tâm trí ông lại không bận rộn chuyện về phương cách, biện pháp phải làm thế nào để miêu tả đúng bản chất tiếng Việt để người Việt vận dụng cho chính xác. Theo cá nhân tôi, Cao Xuân Hạo là một nhà ngữ học chuyên thông của Việt Nam chúng ta... ”


“ Chính nhờ sự thấu hiểu tuyệt vời của mình về tiếng mẹ đẻ, kết hợp với sự tham khảo sâu rộng, sáng suốt và không bao giờ mệt mỏi của mình ở nhiều công trình hữu quan thuộc loại mới nhất của nước ngoài; nên Cao Xuân Hạo chẳng những có nhiều cống hiến to lớn cho Việt ngữ học mà còn buộc người ta hoài nghi nền ngữ học đại cương bằng cống hiến độc đáo và đặc sắc của mình về bản chất của âm vị trong tiếng Việt (và các ngôn ngữ khác cùng loại hình). Lâu nay, người ta cứ mê đắm trong cái biển ngập ngụa chất muối "Âu châu tâm điểm" của ngữ học đại cương mà miêu tả rồi định nghĩa âm vị tiếng Việt chẳng khác gì âm vị trong các ngôn ngữ Âu châu. Cao Xuân Hạo chứng minh rằng làm như thế là không đúng với bản chất của đơn vị này trong tiếng Việt: của tiếng Việt là trường âm vị (macrophonématique) còn của các ngôn ngữ Âu Châu là đoản âm vị (microphonématique). Điều này buộc ngữ học đại cương phải định nghĩa lại khái niệm "âm vị" để cho nó có thể thích hợp với các loại hình ngôn ngữ. ”


“ Lối dịch văn học của Cao Xuân Hạo vừa sáng vừa chuẩn nhưng vừa mờ ảo. Đó là điều không hề dễ dàng với bất cứ dịch giả nào, khi bản dịch không xấu hổ có thể đứng đàng hoàng bên cạnh nguyên tác, không hề "phản" cũng không hề hạ thấp chất văn trong nguyên tác mà lại thăng hoa chất văn trong Việt ngữ. Có được thành công ấy, vì Cao Xuân Hạo trong sâu thẳm tâm hồn mình là một nghệ sĩ, một nghệ sĩ ngôn từ, nghệ sĩ của tiếng Việt ”





Chú thích



^ Tiếng Việt Văn Việt Người Việt, Nhà xuất bản Trẻ, 2001, bài "Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ"
^ Nguyễn Đức Dương, "Lời giới thiệu cuốn Tìm về linh hồn tiếng Việt", Nhà xuất bản Trẻ 2003, trang 7
^ Nguyễn Đức Dương, Tìm về linh hồn tiếng Việt", Nhà xuất bản Trẻ 2003, trang 152
^ Nguyễn Đức Dương, "Lời giới thiệu cuốn Tìm về linh hồn tiếng Việt", Nhà xuất bản Trẻ 2003, trang 10
^ Nguyễn Đức Dương, "Lời giới thiệu cuốn Tìm về linh hồn tiếng Việt", Nhà xuất bản Trẻ 2003, trang 11






Liên kết ngoài


Cao Xuân Hạo

Cao Xuân Hạo

Hà Văn Thuỳ

Hoàng Dũng

Thanh Thảo






(Nguồn: vi.wikipedia.org)

















Trở về













MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.










Wednesday, 17 August 2022

Đặng Nhật Minh

 

Đặng Nhật Minh
(1938 Huế - ........)

Nhà Đạo diễn Điện ảnh

Tác phẩm tiêu biểu:
Cô gái trên sông, Thương nhớ đồng quê, Mùa ổi, Bao giờ cho đến tháng Mười 















Tiểu sử

Đặng Nhật Minh sinh ngày 10 tháng 5 năm 1938 tại Huế. Thân phụ ông là bác sĩ Đặng Văn Ngữ nên ông đã có ý định theo học ngành y để nối nghiệp cha. Tuy nhiên ông lại chỉ bắt đầu công việc bằng vai trò biên dịch cho các phim nói tiếng Nga, rồi đến phiên dịch cho các lớp đào tạo điện ảnh của Liên Xô dành cho người Việt. Đến năm 1965, ông bắt đầu làm bộ phim đầu tay, một bộ phim tài liệu về các kĩ sư địa chất.

Năm 2007, ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh chuyên ngành điện ảnh. Trước đó, năm 1996, thân phụ ông cũng được truy tặng Giải thưởng này trong lĩnh vực Y học. Đây là trường hợp rất hiếm có cho đến nay của lịch sử giải thưởng cao quý này.

Năm 2009, phim Đừng đốt do ông đạo diễn nói về liệt sĩ Đặng Thùy Trâm công chiếu tại liên hoan phim quốc tế thường niên lần thứ 19 diễn ra ở Fukuoka, Nhật Bản đã đoạt được giải do khán giả bình chọn. Bộ phim này cũng đã được công chiếu vào cuối tháng 4 tại Việt Nam và liên hoan phim quốc tế ASEM tại Hà Nội vào giữa tháng 5.












Hồi ký Điện ảnh


“Tôi gọi đây là Hồi Ký Điện Ảnh bởi những gì được viết ra trên những trang giấy này chủ yếu nói về những việc làm của tôi trong điện ảnh. Nó không đi sâu vào việc kể lại tỉ mỉ tiểu sử, nhưng cung không bỏ qua những giai đoạn, những sự kiện, những người thân đã có ảnh hưởng đến cuộc đời cũng như tác giả của tôi trong điện ảnh. 

Viết hồi ký là một việc mà từ lâu tôi rất ngại ngùng. Viết làm sao trung thực với chính mình mà không động chạm đến ai, quả là khó. Nhưng nếu không viết ra thì ngay đến những người thân ruột thịt trong gia đình cũng không sao hiểu được mình đã làm gì, tại sao làm như vậy và những gì đã đến với mình trong cuộc đời đầy biến động này... Dầu sao, nếu gạt bỏ đi những cái chủ quan của người viết, mà chắc là không tránh khỏi, vẫn còn lại cái gì đó hữu ích đối với những ai muốn tìm hiểu đôi chút về một thời làm phim nước ta.” 

Đạo diễn Đặng Nhật Minh














Các bộ phim do Đặng Nhật Minh đạo diễn





1
Tháng Năm những gương mặt
(1976)







2
Thị xã trong tầm tay
(1983)
Mọi chuyện xảy ra ở thị xã Lạng Sơn vừa ngay sau cuộc Chiến tranh biên giới Việt - Trung. Vũ, một nhà báo, lên Lạng Sơn làm phóng sự về tình hình thị xã sau khi quân Trung Quốc tàn phá và rút về bên kia biên giới. Những ký ức của anh về đất Lạng Sơn, về mối tình đã xa với Thanh, cô bạn gái từ thuở sinh viên, về thân phận con người thời chiến lần lượt hiện về giữa một xứ Lạng đổ nát, giữa sự hoang tàn mà chiến tranh để lại song hành cùng với sự tàn khốc và vô nghĩa của nó.






3

Bao giờ cho đến tháng Mười


(1984)

Trở về nhà sau chuyến đi thăm chồng ở biên giới Tây Nam, Duyên mang trong mình nỗi đau khôn tả: biết tin chồng chị đã hi sinh. Trên thuyền trở về, chị đã bị ngã xuống sông và được thầy giáo Khang cứu sống. Duyên giấu chuyện chồng hi sinh với mọi người trong gia đình đặc biệt là đối với người cha già đang có bệnh nặng. Để an ủi cha, Duyên nhờ Khang viết hộ những bức thư hỏi thăm gia đình như khi chồng chị còn sống. Những bức thư này đã mang lại niềm vui cho gia đình, nhưng nỗi đau thì một mình cô phải chịu đựng, nước mắt nuốt vào trong. Thế rồi, có nhiều tiếng đồn dị nghị rằng Duyên và thầy giáo Khang hai người có tư tình. Đến khi cảm thấy mình yếu, không còn sống được bao lâu, người cha chồng bảo Duyên gọi điện cho con trai về để gặp lần cuối. Đến lúc này, tin chồng mất đã không giấu được nữa...







4

Cô gái trên sông

(1986)





5
Trở về
(1994)

Truyện phim được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết, Kẻ tội phạm Lục Yên Thức (Trung văn giản thể: 陆犯焉识; Trung văn phồn thể: 陸犯焉識) viết bởi nữ văn sĩ Nghiêm Ca Linh. Câu truyện đề cập tới đề tài "Cách mạng Văn hóa", từng được coi là điều cấm kỵ của điện ảnh Trung Hoa. Chính cha của Trương Nghệ Mưu cũng bị liệt vào thành phần phản cách mạng dẫn đến hậu quả cả gia đình ông bị xa lánh, cách ly.






6
Thương nhớ đồng quê
(1995)







7
Hà Nội mùa Đông '46
(1997)






8
Mùa ổi
(1999)






9
Đừng đốt
(2009

Đừng đốt (tựa Anh: Don't Burn)là một bộ phim theo dòng chính kịch lịch sử được sản xuất vào năm 2009 do Đặng Nhật Minh đạo diễn và viết kịch bản. Phim được tạo dựng dựa trên quyển hồi ký nổi tiếng cùng tên của nữ liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, được cô viết từ năm 1968 đến trước khi hy sinh 2 ngày vào năm 1970, với sự tham gia diễn xuất của Minh Hương, Tina Duong và Ben Rindner.

Phim ra mắt tại Liên hoan Phim Fukuoka lần thứ 19 tại Nhật Bản và giành giải khán giả bình chọn. Bộ phim được phát hành cuối tháng 4 năm 2009 tại Việt Nam và được chiếu ở Liên hoan Phim Quốc tế ASEM tại Hà Nội giữa tháng 5, 2009. "Đừng đốt" đã giành được giải Bông Sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 16 năm 2009 và chiến thắng 6 hạng mục của giải Cánh Diều Vàng năm 2010 bao gồm Phim nhựa xuất sắc nhất, Nữ diễn viên chính xuất sắc (Minh Hương), Đạo diễn xuất sắc (Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Nhật Minh), Họa sĩ xuất sắc (Nghệ sĩ ưu tú Phạm Quốc Trung), Âm thanh xuất sắc (Nghệ sĩ ưu tú Bành Bắc Hải) và Giải phim khán giả bình chọn. Đây cũng là bộ phim được chọn để tham dự giải Oscar.










Phim là đời

Đặng Nhật Minh tự nhận mình“Không có một niềm say mê nào từ thuở bé đối với điện ảnh” và cũng không có năng khiếu điện ảnh. Thế nhưng,qua những trang viết của anh trong hồi ký“Đặng Nhật Minh - Phim là đời” (Nhà xuất bản Dân trí ấn hành), người đọc lại thấy rằng cuộc sống gia đình anh, tư chất của anh và cơsở xã hội mà anh gắn bó mật thiết - chính là cái nền vững chắc cho tài năng điện ảnh của anh phát triển.

Từ những cái nhìn thông thường trong cuộc sống, Đặng Nhật Minh đã bộc lộ khả năng cảm thụ của một nhà làm phim. Đó là cái nhìn xoáy vào hiện thực, làm bật lên rồi đọng lại thành những hình ảnh tiêu biểu nhất, cô đọng nhất, gây ấn tượng nhất. Nhìn vào cái chợ An Cựu trên đường Đặng Văn Ngữ ở Huế, anh viết: “Có cảm tưởng như gia đình tôi có duyên nợ nào đó từ kiếp trước với cái chợ này, để đến bây giờ cái biển đường phố mang tên cha tôi cứ suốt ngày đau đáu nhìn sang phía cổng chợ”.

Một khả năng cần có của một đạo diễn điện ảnh là chọn diễn viên phù hợp với nhân vật. Về mặt này, Đặng Nhật Minh thể hiện rõ năng lực của mình. Anh không chạy theo tiếng tăm của các diễn viên, không tìm kiếm các diễn viên thời thượng, mà tự ngắm nhìn, suy tư để chọn ra được diễn viên phù hợp nhất với vai diễn.

Nhờ sự lựa chọn tinh tường ấy, phim của anh trở nên có hồn hơn,ấn tượng hơn. Đó là Tất Bình vai nhà báo Vũ trong Thị xã trong tầm tay, Lê Vân (vai Duyên trong Bao giờ cho đến tháng Mười, Minh Châu vai Nguyệt trong Cô gái trên sông, Bùi Bài Bình vai Hòa và Lan Hương vai Thủy trong Mùa ổi, Thúy Hường vai chị Ngữ và Tạ Ngọc Bảo vai Nhâm trongThương nhớ đồng quê...

Sự lựa chọn chính xác của anh không những giúp cho nhân vật bộc lộ rõ tính cách, chuyển tải được trọn vẹn ý đồ nghệ thuật của đạo diễn, mà còn như đôi cánh nâng bổng diễn viên lên trong sự nghiệp điện ảnh của mình. Quả vậy, hầu hết các diễn viên từng đóng trong các phim của anh đều giành được những giải diễn xuất cao tại các liên hoan phim Việt Nam và quốc tế.

Đặng Nhật Minh thường nói rằng mình gặp may. Đó là yếu tố khách quan. Nhưng, bên cạnh những yếu tố khách quan, cần phải có sự vận động tích cực của yếu tố chủ quan, thì thành công mới đến được! Qua những trang viết của Đặng Nhật Minh, thấy rõ anh đã kết hợp hài hòa yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, tư chất nghệ sĩ và kỹ năng nghề nghiệp để tạo cho mình một con đường độc đáo dẫn tới thành công.

Chính nhờ vậy,những thành công mà anh gặt hái được là một tất yếu, chứ không phải là sự ăn may. Những điều giản dị mà Đặng Nhật Minh kể ra: “Chính là nhờ có cái vốn tiếng Nga mà tôi đã tự học được rất nhiều trong nghề điện ảnh, tìm hiểu sâu về môn nghệ thuật này”.

Khi được làm phim, dù chỉ là loại phim tốt nghiệp của học sinh, anh cũng“vận dụng những kiến thức đã học được qua sách vở, dồn hết tâm huyết cùng các bạn trẻ làm bộ phim này. Tôi đã cùng đoàn làm phim đi đến hầu khắp các đoàn địa chất đóng trên miền Bắc từ Bát Xát - Lào Cai cho đến đảo VĩnhThực - Móng Cái”. Có thể thấy Đặng Nhật Minh đã dám bứt phá khỏi lối làm ăn bao cấp từ lâu, và chủ động, sáng tạo đi trên con đường nghệ thuật. Anh định hướng rõ ràng và kiên định đi theo định hướng ấy.

Đó là không làm những phim theo kiểu “nghệ sĩ công chức”, mà “chỉ làm những phim do tôi tự viết lấy kịch bản, nói về những vấn đề mà tôi quan tâm, mà tôi rung động”. Và từ đó,"Tôi bắt tay viết kịch bản “Bao giờ cho đến tháng Mười” xuất phát từ nỗi đau của hàng vạn, hàng triệu người có người thân ngã xuống trong chiến tranh”.

Tất cả những kịch bản anh viết đều xuất phát từ sự thôi thúc,rung động của chính mình. Sau khi viết xongkịch bản “Đừng đốt”, anh tâm sự: “Không ai đặt tôi viết và viết xong tôi cũng chưa định gửi đi đâu cả”. Cùng với “Bao giờ cho đến tháng Mười”, những kịch bản của anh như “Thị xã trong tầm tay”, “Cô gái trênsông”, “Trở về”,“Thương nhớ đồng quê”,“Hà Nội - Mùa đông 46”, “Mùaổi”,“Đừng đốt”… đã được ra đời như thế và đã trở thành những bộ phim có sức lay động lòng người mạnh mẽ.

“Đặng Nhật Minh - Phim là đời” cũng cho thấy bức tranh chung của điện ảnh Việt Nam một thời... Từ những bộ phim tài liệu cho tới những bộ phim truyện, Việt Nam dần dần hội nhập được với điện ảnh thế giới.

Nếu nói theo ngôn ngữ hiện nay, thì chính nhờ những giá trị hiện thực, nhân văn của mình, các tác phẩm điện ảnh Việt Nam, trong đó có những bộ phim truyện của Đặng Nhật Minh, đóng vai trò tích cực trong hoạt động “Ngoại giao văn hóa”, làm cho bạn bè thế giới hiểu về chúng ta, thông cảm, chia sẻ với chúng ta và sát cánh với chúng ta.

Nguồn Tin Tức

--- Thông tin thư mục ---
BOOKS
791.43
DA-M Đặng Nhật Minh
Phim là đời : Hồi ký điện ảnh / Đặng Nhật Minh. - Hà Nội : Dân trí, 2011. - 333 tr. : ảnh ; 21 cm
Thư viện Đại học Hoa Sen












Ngôi nhà xưa

Tập truyện ngắn , Nxb Trẻ 2012




















Trở về




MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.












Friday, 12 August 2022

Nguyễn Thiện Tơ (1921 – 2022)

 







Nguyễn Thiện Tơ
(1921 – 18 tháng 8 năm 2022)
thọ 101 tuổi

 Nhạc sĩ 








Nguyễn Thiện Tơ (1921 – 18 tháng 8 năm 2022) là một trong những nhạc sĩ tiền chiến tiên phong của nền tân nhạc Việt Nam.




Tiểu sử

Nguyễn Thiện Tơ sinh ra tại Hà Nội, xuất thân trong một gia đình công nhân (xưởng in Viễn Đông) tại căn nhà số 22 phố Charron mà nay là phố Mai Hắc Đế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Yêu thích âm nhạc từ năm 10 tuổi, vào năm lên 12, Nguyễn Thiện Tơ theo học ghi-ta Hawai (Hạ Uy cầm) với thầy giáo Trần Đình Khuê; chỉ ba tháng thì ông đã được biểu diễn cùng thầy trên đài phát thanh Pháp. Sau đó ông theo học ghi-ta với một người Pháp và bắt đầu biểu diễn ở các phòng trà và chương trình từ thiện với hai nhạc cụ này.[1]



Ảnh chụp tờ nhạc "Giáo đường im bóng" do Tinh Hoa xuất bản năm 1951.

Nguyễn Thiện Tơ là người sáng lập nhóm Myosotis cùng với Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh,... nhưng theo nhạc sĩ Phạm Duy thì Nguyễn Thiện Tơ là một nhạc sĩ độc lập, tức là không thuộc nhóm nhạc nào.[2]

Năm 1938, khi mới 17 tuổi, Nguyễn Thiện Tơ sáng tác bản nhạc đầu tay "Giáo đường im bóng" viết về một cô gái theo đạo Thiên Chúa, 16 tuổi tên là Hà Tiên. Ông kể lại: "Trong kỳ nghỉ hè năm 1938 (lúc này còn là học sinh trường Thăng Long ở Hà Nội), tôi được mời tham gia biểu diễn đàn ghi-ta ở Nam Định. Ở đây tôi đã làm quen với cô nữ sinh Hà Tiên cũng đến đây đóng góp tiếng hát của mình. Sau buổi dạ hội ca nhạc, tôi được bạn bè cho biết là gia đình cô ấy theo đạo Thiên Chúa. Nghĩ mình là kẻ ngoại đạo nên mới viết nên "Giáo đường im bóng" sau ngày ấy."

Nguyễn Thiện Tơ hoàn thành phần nhạc của ca khúc Giáo đường im bóng trước, sau đó nhà thơ Phi Tâm Yến - bạn thân của Nguyễn Thiện Tơ - viết lời.[1] Theo Phạm Duy thì nhạc sĩ Lê Thương cũng thầm yêu cô Hà Tiên đó và đã viết nên ca khúc Nàng Hà Tiên.[3] Bản thân ông nhận xét có 2 ca sĩ hát bài này thành công nhất là Khánh Ly và Nga My. Khánh Ly hát như một bài hát trữ tình đượm thánh ca, còn Nga My thì lại hát như một bài thánh ca đượm chất trữ tình.

Ban đầu cuộc tình giữa Nguyễn Thiện Tơ và Hà Tiên không được gia đình cô chấp nhận bởi ngăn cách tôn giáo. Về sau hai ông bà đã thuyết phục được gia đình và thành hôn vào năm 1944.[1] Nguyễn Thiện Tơ tiếp tục dạy ghi-ta và ghi-ta Hawaii. Trong số những người học ông, có những nhạc sĩ nổi tiếng như Doãn Mẫn, Đoàn Chuẩn và Nguyễn Văn Quỳ.

Sau ngày quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội, Nguyễn Thiện Tơ về Đài Tiếng nói Việt Nam, thổi sáo trong dàn nhạc của đài. Đến năm 1959, ông chuyển sang dàn nhạc giao hưởng nhạc vũ kịch. Năm 1965, ông chuyển về hãng Phim truyện Việt Nam.

Ông qua đời ngày 18 tháng 8 năm 2022 tại Hà Nội, thọ 101 tuổi.[4]


(Theo Wikipedia)










Một số tác phẩm


Chiều quê

Chiều tà

Cung đàn xuân xưa

Đêm trăng xưa

Khúc nhạc canh tàn

Mộng giang hồ

Mưa dầm

Nắng xuân

Nhạc đồng quê

Nhắn gió chiều

Nhớ quê

Thu sang

Tiếng trúc bên sông

Trăng Việt Nam

Xuân về

Tiếng hát biên thuỳ

Trên đường về 

Quanh lửa hồng 

Ngày vui đã qua











CÁC TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN THIỆN TƠ





Gió hỡi gió! Ngừng đây vài phút. Giúp ta chút tình nhớ nhung ngàn xưa. Chim ơi chim! Nhắn ta mấy lời. Về đồng quê xưa yêu dấu êm đềm. Nhớ những chiều hoàng hôn đầm ấm. Nhớ đây sáo diều từ chốn âm thầm. Chiều đồng quê.




Lời 1:. Đường về nhà còn xa khuất sau núi đồi. Trong ánh dương chiều tà nhuốm hồng áng mây. Thì thầm từng chiều thu gió rung lá vàng. Đâu đó nghe chim rừng hát lời cuối ngày. Nhớ tiếng chim thêm nhớ xóm làng. Nhớ.




Lời 1:. Khi ấy trăng đêm hè vừa lên. Mong đón em ta ngồi bên đường. Trông dáng em mơ hồ đi tới. Trong ánh trăng như từ cõi mơ. Ta ước sao quay ngược thời gian. Và năm tháng chưa hề úa tàn. Ngồi bên nhau tay còn nắm.




Lời 1:. Nhớ tới đêm đầy ánh sáng. Hương trong gió tràn mênh mang. Giây phút như ngừng thôi rơi. Tiếng kinh muôn lời. Dáng xinh xinh bao tiên kiều. Quỳ ngân Thánh kinh ban chiều. Trong giáo đường đêm Noel ấy. Ngàn đời.



 
Chiều nay sớm về.. với sắc thu đắm u buồn. Cùng.. gió ngàn.. với sương thu mờ buông... Ai.. có về.. nẻo xa..... Cho.. nhắn cùng.. người xưa..... Nhớ khi hoàng hôn.. cùng ai dưới.. màn sương. Bước dần trên đường..




Kiếp giang hồ đây đó biết đâu là bến bờ. Bến xưa còn hay lời ước phai mờ . Mấy thu thuyền xa bến, nước trôi lời ước nguyện. Cố nhân ngơ ngác chờ hình bóng thuyền mơ . Giòng sông vẫn êm đềm còn in bóng thuyền xưa.




Trong đêm thâu quanh ánh lửa hồng, dưới ngàn cây xanh lá. Anh em ta quây quần chốn này cất cao muôn lời ca. Đêm hôm nay ta nắm tay nhau, ta hát cho quên sầu. Mai ra đi không chút vấn vương, chiến trường kia.




Một chiều biên cương anh mơ về xa. Bâng khuâng lòng trông bốn phương tìm đâu bóng quê nhà. Tìm nụ cười tươi thắm tô những em tôi. Bao nhiêu ngày vui mong chờ anh quay về nơi cũ. Lạnh lùng heo may se vương lòng anh.




Ai nhớ chăng một đêm hè, bên khúc sông giòng êm lắng. Dưới ánh trăng huy hoàng, gió đưa lời than. Hòa với cung đàn, u huyền trong gió đưa từ xa vắng. Tiếng tiêu mơ hồ ngân dưới trăng ngà. Lời gió vi vu trầm lắng. Hòa.




Trầm vương trong khói lam chiều xuống. Một bóng chìm sâu trong màn sương. Chập chờn lang thang trong u tối. Mờ khuất sau ngàn dâu, lặng ngẩn ngơ vì đâu. Người ơi lòng vương chi u sầu. Lạnh lùng theo chim âu gào sóng.




Vườn xuân hôm nay tươi sáng huy hoàng chìm trong muôn tia nắng xuân. Hoa thắm sắc hồng cười tươi chào đón bướm xinh nô đùa bên hoa. Mùa xuân tươi vui đem đến bao niềm tin yêu cho khắp nhân loại. Nghe xuân đang tới muôn.












Tham khảo

^ a b c Hoàng Thu Phố (18 tháng 12 năm 2011). “"Giáo đường im bóng": Từ nhạc tới... thơ”. Đại đoàn kết. Truy cập 8 tháng 12 năm 2012.
^ Phạm Duy. “Nhạc sĩ độc lập”. Trang web của nhạc sĩ Phạm Duy. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2005. Truy cập 8 tháng 12 năm 2012.
^ Phạm Duy (2008). Hồi ký Phạm Duy. 1. Nhà xuất bản Trẻ.
^ Hà Đình Nguyên (19 tháng 8 năm 2022). “Nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ, tác giả 'Giáo đường im bóng', qua đời ở tuổi 103”. Báo Thanh niên. Truy cập 19 tháng 8 năm 2022.




















Trở về









MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.











Sunday, 7 August 2022

Phan Kế An (1923 – 2018)














Phan Kế An
(20/3 năm/1923 – 21/1/2018)
Hưởng thọ 95 tuổi.

 Họa sĩ 








Tiếu sử


Xuất thân từ một gia đình danh giá, thân sinh ông là Phan Kế Toại, từng là Khâm sai đại thần triều đình Huế, sau tham gia kháng chiến, giữ chức Bộ trưởng Bộ nội vụ, rồi Phó Thủ tướng trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ông là người đầu tiên được ký họa chân dung Hồ Chí Minh và là họa sĩ (Phan Kích) vẽ tranh biếm họa của báo Sự Thật.

Phan Kế An học khoá XVIII (1944-1945) tại Trường Mĩ thuật Đông Dương (École des Beaux- Arts de l’Indochine), nay là Trường Đại học Mĩ thuật Việt Nam. Ông là một trong những hội viên đầu tiên của ngành hội họa – Hội Mĩ thuật Việt Nam từ năm 1957.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia Việt Minh cùng với các họa sĩ khác là Mai Văn Nam, Tạ Thúc Bình, Vĩnh Noãn, Mai Văn Hiến, Lê Phá, Kim Đồng, Phan Thông, Nguyễn Tư Nghiêm, Tôn Đức Lượng, Nguyễn Văn Thiện..

Ông mất ngày 21 tháng 1 năm 2018 tại Hà Nội, 
hưởng thọ 95 tuổi.













Sáng tác nghệ thuật

Họa sĩ Phan Kế An thành công ở thể loại tranh sơn mài, tranh sơn dầu mà nổi tiếng nhất là bức Nhớ một chiều Tây Bắc được vẽ vào mùa đông năm 1950, khi đó ông đi kháng chiến với tư cách là đặc phái viên của báo Sự Thật, bức tranh đã gợi cho họa sĩ - nhà thơ Đoàn Việt Bắc phổ thơ và nhạc sĩ Vũ Thanh sáng tác nhạc cho ca khúc "Nhớ một chiều Tây Bắc"

Ngoài ra Phan Kế An còn nổi tiếng trong các thể loại tranh đả kích - châm biếm với bút danh Phan Kích và ký họa, ông là người đầu tiên được ký họa chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh do Trường Chinh đặt nhiệm vụ vào năm 1948 [1].

Trong thời gian này ông đã sáng tác hơn 20 bức tranh Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau này được in lên báo Sự Thật số tháng 12 năm 1948.
Hầu hết văn nghệ sĩ thời đó như Nguyên Hồng, Thế Lữ, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông, Trần Lê Văn, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Anh Thơ đều được Phan Kế An ký họa.












Phong tặng, Danh hiệu

Giải nhất tại Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc
(1951 - 1955 - 1960)

Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
(2001)

Huân chương Độc lập hạng Ba









Tác phẩm



Nhớ một chiều Tây Bắc


Những đồi cọ


Bác Hồ làm việc lán Nà Lừa


Hà Nội tháng 12 năm 1972


Cánh đồng bản Bắc


Gác chuông
(trưng bày tại Bảo tàng Phương Đông - Liên Xô cũ)


Bụi nứa miền xuôi
(được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Hermitage)































































Họa sĩ nổi tiếng tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương

Bùi Trang Chước • Bùi Xuân Phái Cát Tường • Công Văn Trung • Diệp Minh Châu • Dương Bích Liên • Hoàng Lập Ngôn • Hoàng Tích Chù • Huỳnh Văn Gấm • Lê PhổLê Văn ĐệLê Thị LựuLương Xuân NhịMai Trung ThứNam Sơn (họa sĩ) • Nguyễn Đỗ CungNguyễn Gia Trí • Nguyễn Khang • Nguyễn Phan Chánh Nguyễn Sáng • Nguyễn Thị Kim • Nguyễn Tư Nghiêm • Nguyễn Tường Lân • Nguyễn Văn Tỵ • Phan Kế An • Tạ TỵTô Ngọc Vân • Trần Đình Thọ • Trần Văn CẩnVũ Cao Đàm














Phan Kế Toại & Phan Kế An 









Trở về








MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.