Saturday, 22 June 2019

Trần Quang Lộc












Trần Quang Lộc
(1945 Quảng Trị - ........)
Nhạc sĩ

Ca khúc tiêu biểu
"Chợt nghe em hát", "Có phải em mùa thu Hà Nội", "Về đây nghe em",







Nhạc sĩ Trần Quang Lộc sinh năm 1945, tại Quảng Trị, theo học âm nhạc tại Trường Quốc gia âm nhạc Huế năm ông 20 tuổi. Ông bắt đầu sáng tác vào cuối thập niên 1960. Tuyển tập đầu tiên của ông Hát trong dòng sông xưa được xuất bản năm 1970.

Trần Quang Lộc viết và phổ nhạc những bài hát mang sắc thái tình người, tình quê hương, như bản "Về Đây nghe em", "Em còn nhớ Huế không", "Có phải mùa thu Hà Nội", "Chợt nghe em hát", "Định mệnh"...

Các tác phẩm của ông được biết đến nhiều nhất và thành công nhất qua tiếng hát của ca sĩ Hồng Nhung và Thu Phương

Bản nhạc nổi tiếng nhất của Trần Quang Lộc có lẽ là bài "Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội?" hoàn tất năm 1972, phổ từ thơ của Tô Như Châu. Bài bát được đón nhận nồng nhiệt từ các ca sĩ cũng như thính giả, vì lời nghe lãng mạn, mơ màng của mùa thu, lồng trong một khung cảnh cổ kính của Thăng Long xưa với lịch sử của "hồn Trưng Vương sông Hát"...Tháng tám mùa thu, lá khởi vàng chưa nhỉ Từ độ người đi thương nhớ âm thầm...Có phải em là mùa thu Hà Nội Ngày sang thu anh lót lá em nằm Bên trời xa sương tóc bay...

Cũng là bài thơ phổ nhạc, nhạc phẩm "Về Đây nghe Em" rút từ bài thơ của A Khuê. Tác phẩm này ra đời năm 1967 nhưng bị vùi quên sau năm 1975 và mãi đến năm 1990 mới được phổ biến ở Việt Nam. Lời hát nghe mộc mạc, gần gũi với bất cứ một ai đã từng sinh ra và lớn lên tại Việt Nam...Về đây nghe em, về đây nghe em Về đây mặc áo the, đi guốc mộc Kể chuyện tình bằng lời ca dao Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới Và về đây nghe lại tiếng nói thơ ấu khúc hát ban đầu...Để hận thù người người lắng xuống Và tìm nhau như tìm xót xa Trong lúc lệ đã đầy vơi

Ca dao, guốc mộc, nồi ngô khoai thì còn gì Việt Nam hơn? Ai lớn lên mà không nghe câu ru ầu ơ của những bà mẹ giữa trưa hè, rồi tiếng guốc của những nàng áo trắng trên vỉa hè, và củ khoai sáng là món quà hàng ngày trước khi đến trường. Vì thế bài hát đã được rất nhiều ca sĩ trong và ngoài nước đón nhận. Qua quá trình lịch sử Việt Nam thì quả xót xa thật, chiến tranh bao nhiêu năm làm anh em một nhà, như gần, như xa. Và tùy mỗi thế đứng bên này hay bên kia bờ đại Dương, mà bài hát vẫn thích hợp cho người Việt trong nước lẫn người Việt hải ngoại.

















Tác phẩm








Áo hoa







Câu hát tình quê







Có phải em mùa thu Hà Nội?
(1972)

Lời bài hát

Tháng tám mùa thu lá rơi vàng chưa nhỉ?
Từ độ người đi thương nhớ âm thầm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm
Có phải em mùa thu xưa?
Có bóng mùa thu thức ta lòng son muộn
Một ngày về xuôi chợt ghé Thăng Long buồn
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Ngày sang thu anh lót lá em nằm
Bên trời xa sương tóc bay.
Thôi thì có em đời ta hy vọng
Thôi thì có em sương khói môi mềm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Nghe đâu đây lá úa và mi xanh
Nghe đâu đây hồn Trưng Vương sông hát
Có chắc mùa thu lá rơi vàng tiếng gọi
Lệ mừng gặp nhau xôn xao phím dương cầm
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Nghìn năm sau ta níu bóng quay về
Ơi mùa thu của ước mơ. 











Chỉ cần








Cho tôi lại từ đầu







Chợt Nghe Em Hát







Em còn nhớ Huế không







Em đã xa tôi







Ngày nào







Quê hương xa vời







Về đây nghe em
(1967)

Lời bài hát

Về đây nghe em, về đây nghe em!
Về đây mặc áo the, đi guốc mộc...
Kể chuyện tình bằng lời ca dao
Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới
Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai...
Và về đây nghe lại tiếng xưa
Để nhớ trong tiếng vỡ bờ.
Về đây nghe em, về đây nghe em!
Về đây thoả ước mơ đi hát dạo
Để chào đời bằng hạt sương mai
Để bằng lòng ngọt ngào hấp hối
Và hận thù người người lắng xuống
Và tìm nhau như tìm xót xa
Trong lúc lệ đã đầy vơi.
Này hồn ơi lên cao lên cao
Đem ánh sáng hân hoan trên trời
Rọi vào đời cho ta tinh cầu yêu thương
Này thịt xương ta chưa mang theo
Khi ngã xuống mê man tủi hờn
Này về đây nghe nhau thở dài trong đêm.
Về đây nghe em, về đây nghe em
Về đây cùng khóc trên sông nước buồn
Chở lòng người trở về quê hương
Chở hồn người vào dòng suối mát
Chở thật thà vào lòng dối trá
Và nhạc hoa xin tạ chút ơn
Hoang phế khi đã gặp nhau.











Võng đưa tình cũ




















Nhạc Sĩ Trần Quang Lộc
VNTV Tác Giả & Tác Phẩm












MỘT CHIỀU LẠ VỚI TRẦN QUANG LỘC
Lê Thanh Trường


Một chiều Sài Gòn khoảng 8, 9 năm trước, tôi đến thăm gã bạn thơ. Trong căn phòng yên ắng khan khan vài ly rượu đưa hứng, giữa câu chuyện văn nghệ lai rai, bạn tôi bật máy mở nhạc: "Mày nghe thử bài này, mới!"

Và tôi nghe... "Đã hết rồi... những giấc mơ đầu, chiều hoàng hôn hoa khế rụng đầy sân..." - giọng hát Thanh Lam day dứt... - "có những chiều nghe rất lạ, một mùi hương xa vắng ngày xưa, quyện vào hồn thơm những đêm mưa..."

Tôi ngạc nhiên thật tình. Ngày đó Làn sóng xanh đã bắt đầu "bỏ rơi" Hà Nội, đang đi sâu vào lối "thị trường", một bài "hot" đứng đầu bảng xếp hạng tuần này, qua tuần sau đã không ai còn nhớ... Vậy mà tự dưng trên kệ đĩa xuất hiện một tâm trạng tế nhị và đầy đặn đến thế...

Trước vẻ ngơ ngáo của tôi, gã bạn buông gọn: "Trần Quang Lộc!"

- À, thì ra là Trần Quang Lộc!

Nhắc tới nhạc sĩ Trần Quang Lộc, lớp trung niên sẽ nhớ ngay đến "Về đây nghe em" - một bài hát đã được hát đi hát lại từ những thập niên 1960 với những giọng ca hàng đầu: Thái Thanh, Ý Lan, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc... và được hàng triệu người yêu thích vì lời gọi mộc mạc mà tha thiết về với những giá trị dân dã ngọt ngào. Còn giới trẻ hơn lại thường nghĩ đến ca khúc "Có phải em mùa thu Hà Nội" - bài hát được xếp vào top 10 ca khúc hay nhất viết về Hà Nội và từng được Hội nhạc sĩ Việt Nam trao giải. Hai ca khúc của nhạc sĩ Trần Quang Lộc nổi tiếng cách nhau gần 30 năm thực ra đều được viết trong thời gian rất gần nhau, khi tác giả đang ở tuổi 18, 20...

Có lần nghe tin nhạc sĩ Trần Quang Lộc chuyển về sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu và sinh hoạt trong Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh này. Một ngày tháng 9, tôi có dịp về ngang Vũng Tàu, bèn đi tìm ông. Đi tìm mà trong tay không có một dòng địa chỉ. Hôm ấy lại nhằm ngày thứ bảy, các cơ quan đều nghỉ làm việc, chỉ còn cách gọi 1080. Hỏi trụ sở Hội VHNT, trả lời: không có thông tin. Hỏi địa chỉ và điện thoại nhạc sĩ Trần Quang Lộc, vì không biết ông ở phường nào xã nào, nên nhận được 8 số điện thoại của 8 ông có cùng tên trên toàn tỉnh. Đành nhắm mắt cầu may, bấm từng số hỏi thăm coi ông nào là nhạc sĩ Trần Quang Lộc. Lần này thì may thật. Gọi số thứ nhất: không liên lạc được. Số thứ hai. Bắt máy là một giọng phụ nữ thuần Huế: "Đúng rồi em, đây là nhà nhạc sĩ Trần Quang Lộc!"

Sau khi trình bày ý định đến thăm nhạc sĩ, tôi được phu nhân của ông (người tiếp điện thoại) hướng dẫn tỉ mỉ đường đến nhà. Té ra, nhà ông ở tuốt một góc xa của phường Long Toàn, thị xã Bà Rịa, cách TP. Vũng Tàu ngót 30 km.

Cơn mưa chiều vừa xong, cây lá mới được tắm gội, nắng ngả hồng vàng tở mở... Đến Long Toàn, sau một hồi tới lui lẫn lộn và gọi thêm mấy cuộc điện thoại, cuối cùng tôi cũng vào đến nhà nhạc sĩ - căn nhà nhỏ nằm cuối một nhánh đường xương cá, sát bên vườn cây ngậm bóng chiều còn nặng trĩu nước mưa.




Nhạc sĩ đón tôi bằng nụ cười giản dị. Tôi sẽ không nói Trần Quang Lộc là một vị "trung cận lão niên" tuổi U60 có hàng ria mép bạc, hơi đậm người và bước đi hơi nghiêng, vì ông đã từ chối khi tôi xin phép chụp hình, "thôi, mình già rồi, không đẹp đâu, đừng chụp!"

Căn nhà nhỏ xíu dành hẳn một gian ngoài cho mấy hàng bàn ghế như một lớp học, những cây guitar treo dọc tường và những giá để nhạc đủ gây một không khí văn nghệ nhẹ nhàng. Nhạc sĩ mở lớp dạy đàn cho bọn trẻ tại địa phương. Những đứa nhỏ đến học và chơi đùa với "thầy Lộc" có lẽ không biết, không ngờ những tác phẩm của thầy đã được hát và được yêu thích hàng chục năm qua, từ trong nước đến hải ngoại. Chúng học đàn với "thầy" để chơi những bài nhạc trẻ, đại khái "chiều hôm qua em đã cất bước ra đi nơi xa bởi vì em không còn yêu anh nữa"... đương nhiên nhạc của thầy phải xa lạ và... khó nghe!

Cuối phòng khách là một bàn mix và ô cửa kính ngăn một phòng thu nhỏ xíu. Trần Quang Lộc sở hữu cái studio tí hon này "để lâu lâu thu chơi vài bài cho vui!" - như ông giải thích.

Vào cuối thập niên 1960, Trần Quang Lộc đang học trung học Phan Chu Trinh, Đà Nẵng, sinh hoạt trong nhóm sinh viên, học sinh và tập tành sáng tác. Ban đầu chỉ viết những bài hát để "hát cho bạn bè nghe". Trong số những bài ông viết đoạn này có "Gõ đàn hát chơi", chỉ cần ngồi gõ thùng đàn giữ nhịp và hát. Bài hát viết cho những người không biết đàn, viết mà chơi cho đã cơn phấn hứng tuổi trẻ, nhưng đã mang những ý tứ già dặn, có thể nói là "bất quy tắc", như một định mệnh của người "du ca" không chịu được khuôn khổ ràng buộc: "Ta mua cho ta một phận nghèo, thương thay thương thay nợ áo cơm... Về ngồi trên đồi cao, gõ đàn hát chơi... chân nhảy nhót một mình, bên chiếc bóng lung linh... bên nấm mồ xanh xanh..."

"Về đây nghe em"cũng ra đời từ những ngày tuổi trẻ ấy, rồi thoát khỏi khuôn khổ "hát cho nhau nghe", trở nên quen thuộc với nhiều lớp người nghe gần 40 năm qua. "Về đây nghe em... về đây mặc áo the đi guốc mộc... chở hồn mình trở về quê hương, chở thật thà vào lòng dối trá..."

Vài năm trước, báo chí và dư luận ồn ào một dạo về tác quyền của phần lời "Về đây nghe em". Những chuyện không vui tưởng chẳng nên nhắc lại. Có điều là trong những lần xuất bản sau 1975, Trần Quang Lộc đã châm chước lại vài đoạn cho phù hợp với yêu cầu của cơ quan văn hóa, chẳng hạn câu "này thịt xương ta chưa mang theo, khi ngã xuống miên man tủi hờn, và về đây nghe nhau thở dài trong đêm..." được thay bằng "nụ cười tươi trên môi em thơ, là tiếng hát hân hoan cho đời, và về đây cho nhau nụ cười tương lai...", những lời trơn tru hơn, đẹp đẽ hơn nhưng thiếu mất cái tự nhiên của tuổi trẻ vốn nhiều tưởng tượng và ham muốn dấn thân...

Nhạc Trần Quang Lộc thường có những biến đổi bất ngờ, khiến cho cảm xúc không xuôi chiều mà luôn ngầm chứa những mầm mống nổi loạn, phá cách. Nhưng những bất ngờ ấy không gây náo động, có lẽ vì bản tính nghệ sĩ thường xúc cảm nhiều hơn hành động. Dù sao, nghe những bài hát của chàng học sinh trung học Trần Quang Lộc thuở ấy, người ta có thể nhận ra cái tài hoa đang nảy nở, và quả thật nó đã tạo ra một tên tuổi rất riêng trong nền tân nhạc Việt Nam thời bấy giờ và những năm sau này.

Nói về bài hát khiến tôi "rắp tâm" tìm ông - "Có những chiều rất lạ" - Trần Quang Lộc tâm sự giản dị như một chiều "đốt thuốc nghe mình". Cái tuổi trẻ một đi không về với những yêu ghét trong trẻo của nó bao giờ cũng gây thương nhớ trong con người, chỉ khác nhau là người này thương mến lắng nghe, người khác rộn ràng không để ý... Và những phút, những niềm cô đơn khó bày tỏ cứ tích tụ, rồi một buổi chiều xuất thần, thấy tất cả dồn lên hối hả, và nhạc, và lời... Cho nên những chiều lạ vì không giống mọi chiều khác, khi con người được sống trọn vẹn với hoài niệm và ý thức tình yêu đời! Vì vậy bài hát nghe vừa thiết tha tiếc nuối vừa yên ổn dịu dàng, một tâm thế vững chãi và đầy cảm xúc.

Ca khúc "Có phải em mùa thu Hà Nội", được nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ năm 1972 ở Đà Nẵng từ bài thơ của người bạn Tô Như Châu. Nhưng bài hát cũng chỉ được truyền tụng trong bạn bè với nhau, mãi đến khi "Làn sóng xanh" dậy lên giữa thập niên 1990 với hàng loạt bài hát về Hà Nội, người yêu nhạc mới được nghe qua giọng hát ngọt ngào của Hồng Nhung, sánh cùng những "Hoa sữa" của Hồng Đăng, "Chiều phủ Tây hồ" của Phú Quang ... những bài hát đều được viết từ thập niên 1970. Rồi được Hội nhạc sĩ trao giải A cho ca khúc viết về Hà Nội hay nhất, năm 1997. Điều đặc biệt là ngày ấy, cả nhà thơ Tô Như Châu và nhạc sĩ chưa ai từng đặt chân đến Hà Nội. Theo lời bộc bạch của nhạc sĩ Trần Quang Lộc, thời ấy trong xóm nhà ông bên bờ biển Sơn Trà, Đà Nẵng có nhiều thiếu nữ Hà Nội di cư. Các chàng trai mới lớn như Tô Như Châu và Trần Quang Lộc vì hâm mộ các giai nhân nói giọng Hà Nội mà mơ tưởng đến thủ đô ngàn năm văn hiến thanh lịch. Vả lại, tên thu Hà Nội mà cảnh thu thì rõ ràng là bờ dương trút lá ven biển Sơn Trà đẹp và đầy chất thơ, những lớp lá dương "mùa thu sang anh lót em nằm" đã làm rung động hàng triệu trái tim của người yêu nhạc thời bấy giờ ...

Sau 1975, nhóm bạn bè văn nghệ như Trần Quang Lộc đều đang tuổi thanh niên mới vào đời, tứ tán bốn phương. Phải nói đây là thế hệ chịu khủng hoảng tư tưởng sâu sắc nhất của một thời bom đạn vừa đi qua. Người viết nhạc tiếp tục viết nhạc, người làm thơ vẫn làm thơ, nhưng cơ hội họp nhau chia sẻ những sáng tác mới không còn nhiều. Năm 1981, nhà thơ Vũ Hữu Định người được biết đến nhiều qua bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc"Còn chút gì để nhớ" - "Phố núi cao phố núi đầy sương... em Plây-cu má đỏ môi hồng..." - bị tai nạn chết ở Đà Nẵng. Trần Quang Lộc viết bài khóc bạn "Mộ trăng": "Đêm không trăng của phố núi cao, em Plây-cu má đỏ môi hồng, có thật đã ngủ yên trên ngọn núi cao kia?... Đêm không trăng đào mộ chôn, giữa chập chùng sương hoa đỏ, linh hồn xa đời nhưng lòng chẳng kêu van, trong bóng tối ôi lạnh quá đôi chân trần..." Bài hát tỏ một nỗi riêng tư trên âm hưởng cồng chiêng Tây Nguyên, nơi nhà thơ Vũ Hữu Định rất yêu mến và nhiều năm gắn bó với phố núi cao này. Nhiều người vẫn quen nghe những bài hát Tây Nguyên hoang dại và mạnh mẽ, nhưng âm hưởng ấy lại phản chiếu vào trong khúc hát tế bạn của Trần Quang Lộc một cách tha thiết và đau thương, qua giọng hát dã dượi của tác giả, nghe càng u uẩn như linh hồn khuất lấp tâm sự giữa sương núi gió rừng...


Trần Quang Lộc viếng thăm mộ của nhà thơ Vũ Hữu Định 


Trần Quang Lộc còn viết rất nhiều ca khúc mang âm hưởng dân ca 3 miền. Những năm gần đây trong các album của ca sĩ Hương Lan, Ngọc Sơn, Quang Linh, Vân Khánh, Quang Dũng... vẫn xuất hiện đều đặn các sáng tác của ông. Nhạc sĩ cho biết, con số ca khúc của ông đã lên đến trên 600 bài. Cũng như bất cứ nghệ sĩ nào, ông viết như là nghiệp dĩ, như con tằm có tơ phải nhả. Ông không quan niệm quá cầu kỳ trong việc trau chuốt ca từ, nên tâm sự cứ tuôn theo ý nhạc. Dù thế, nếu nghe kỹ thì trong các bài hát của Trần Quang Lộc, phần ca từ vẫn có nét tao nhã riêng, ít nhiều không bị lẫn lộn với "thị trường lời nhạc" hơi bị cẩu thả bây giờ. Có lẽ cái riêng ấy cũng từ quan niệm sáng tác của ông: cảm xúc không thật - không viết! Và có lẽ từ một nguyên do nữa: các nhạc sĩ lớp trước sử dụng ca từ "chuẩn mực" hơn những người trẻ hôm nay.

Trong buổi chiều gặp gỡ, Trần Quang Lộc mở cho tôi nghe một số ca khúc ông tự thu ở studio của mình, những bài quen thuộc và cả những bài chưa từng nghe, quả thật ông có một giọng hát rất ngọt, rất ấm và tràn trề những cảm nghiệm khó diễn tả. Giọng hát không phải rèn luyện bằng kỹ thuật mà được tôi luyện qua thời gian và những thăng trầm trong cuộc sống, những chuyện ông "không muốn kể lại làm gì"...

Nhạc sĩ Trần Quang Lộc bây giờ sống nhẹ nhàng và lặng lẽ như một ẩn sĩ với người bạn đời cũng lặng lẽ nhẹ nhàng, với vài đứa học trò và một phòng thu tí hon. Tuy vậy, trong câu chuyện rả rích lúc ngày tàn, hơn một lần nhạc sĩ đã bày tỏ ý muốn ngày nào đó sẽ tự mình thực hiện một album tuyển những ca khúc đắc ý nhất. Cũng là lẽ thường vậy thôi, một người sáng tác dù đã lui về vui với mấy cây huệ góc vườn, dù đã mệt mỏi bao nhiêu với những chen lấn thời cuộc, thì cái khao khát trình bày những đứa con tinh thần của mình trước công chúng vẫn không hề suy giảm. Trần Quang Lộc là một trong số ít nhạc sĩ có thể hát rất hay những bài hát của mình, thì việc ấy không phải quá khó. Vấn đề có lẽ chỉ là khi nào cái "ca hứng" đủ lớn để lôi ông bước ra khỏi chốn ẩn cư nhàn hạ, xa cách thị phi này, để người yêu nhạc được thỏa lòng thưởng thức những bài hát trải dài 40 năm cuộc đời, với giọng ca chất chứa cũng chừng đó thời gian nỗi niềm của người sáng tạo.

Lê Thanh Trường

* Đã đăng trên Tạp Chí Đàn Ông số tháng 11-2007






















Nhạc sĩ Trần Quang Lộc: Vẫn nằm mộng thấy quê hương

Từ Kế Tường



Trong số những nhạc sĩ mà tôi quen biết, Trần Quang Lộc là người để lại cho tôi nhiều ấn tượng nhất...

Chàng nhạc sĩ, ca sĩ tài hoa này còn khiến tôi đi đến sự đồng điệu vì anh có một nhân cách sống khá đặc biệt: tác phong nhà giáo, không ồn ào, ăn nói nhỏ nhẹ, chừng mực, gần như khiêm tốn trước đám đông và trong những bữa rượu bốc trời với bạn bè.

Trần Quang Lộc ít tranh cãi, anh thường ngồi một góc trong chiếu nhậu, bàn tiệc, góc quán vỉa hè ôm cây đàn, rải những hợp âm do chính anh soạn rồi tự đệm cho mình hát, cái giọng khàn đục, hơi nhừa nhựa…

Những lúc đó tưởng chừng anh tách khỏi đám đông để đắm hồn mình theo những lời tình tự không chỉ với yêu đương trai gái mà còn với cả một quê hương sâu nặng anh vẫn luôn đi tìm và luôn nằm mộng để thấy, để trở về.

Nhạc sĩ của quê nghèo

Trần Quang Lộc sinh năm 1945 tại mảnh đất nghèo Gio Linh, Quảng Trị, đây là địa đầu của dải đất miền Trung khắc nghiệt mưa trắng, nắng lửa, gió Lào và chiến tranh khốc liệt.

Anh sinh ra và lớn lên với tuổi ấu thơ gian khó, đầu trần khét nắng, chạy trốn bom đạn, xiêu dạt cả làng quê, xa lìa cha mẹ để mưu sinh, lập thân và học hành. Trong lúc cha mẹ anh bỏ làng mà đi, chạy trốn chiến tranh, vào sinh sống ở Đà Nẵng thì Trần Quang Lộc ra Huế học Quốc gia âm nhạc Huế.

Khi còn là sinh viên, đang theo học tại trường Quốc gia âm nhạc Huế, Trần Quang Lộc đã chớm phát tài năng, anh cho ra đời 2 ca khúc Về đây nghe em và Có phải em mùa thu Hà Nội, là 2 ca khúc phổ thơ. Ca khúc đầu phổ thơ A Khuê, ca khúc sau phổ thơ Tô Như Châu.

Thời điểm công bố 2 ca khúc này, Trần Quang Lộc chỉ mới là cậu sinh viên 20-21 tuổi. Và quả thật, những năm đó Trần Quang Lộc đã cho ra mắt tuyển tập ca khúc Hát trong dòng sông xưa, xuất bản năm 1970.

Đặc biệt ca khúc Có phải em mùa thu Hà Nội gây được cảm xúc mạnh, tiếng vang lớn, khẳng định tài năng của chàng nhạc sĩ trẻ lúc bấy giờ mang đậm hồn vía Hà Nội nhưng tác giả của nó lại chưa từng đặt chân tới Hà Nội.




Về đây nghe em với ca từ mộc mạc, đơn giản, rất đời thường và giai điệu nhẹ nhàng, chậm rãi như kể chuyện nhưng ngay khi được ca sĩ Thanh Thúy hát đã nổi lên như một hiện tượng, ca khúc đã vang xa như dấu hiệu của một tài năng trẻ sớm bộc lộ.

Có phải em mùa thu Hà Nội cũng theo nhịp kể chuyện, ca từ cũng đơn giản nhưng mượt mà hơn, lãng mạn hơn nhờ nguyên gốc của thơ, nhưng nhạc sĩ đã nâng lời thơ lên bằng đôi cánh của âm nhạc và sự sáng tạo khúc thức của mình.

Nếu ca khúc Về đây nghe em của Trần Quang Lộc phổ thơ A Khuê, sau khi ra đời số phận may mắn, suôn sẻ giúp tác giả khẳng định được tên tuổi thì Có phải em mùa thu Hà Nội dù được danh ca Thái Thanh với chất giọng cao vút, thánh thót chấp thêm đôi cánh để bay cao hơn nhưng lại gặp số phận không may, kể cả tác phẩm lẫn tác giả.

Do đây là ca khúc viết về Hà Nội, lại là Hà Nội mùa thu với những ca từ dễ gợi nhớ tới “Mùa thu tháng Tám” lịch sử của dân tộc và dễ suy diễn theo chiều hướng quy chụp nên sau khi được phổ biến và nổi tiếng một thời gian thì bị chính quyền chế độ cũ cấm hát, cho thu hồi cả bản ghi âm, ghi hình.

Đồng thời, tác giả Trần Quang Lộc cũng bị gọi lên “chỉnh đốn” vì cho là “thân cộng”.

Cả 2 ca khúc Về đây nghe em và Có phải em mùa thu Hà Nội, sau năm 1975 một thời gian đã được phổ biến trở lại với những giọng ca thuộc hàng sao của các ca sĩ miền Bắc như Thanh Lam, Hồng Nhung, Thu Phương, đặc biệt thành công nhất là Thu Phương, cũng chính ca sĩ Thu Phương đã đưa ca khúc này lên sân khấu ca nhạc hải ngoại, thu băng, thu dĩa CD phát hành với số lượng lớn.

Gia tài âm nhạc đồ sộ và số phận không may

Kể từ 2 ca khúc đầu tay Về đây nghe em và Có phải em mùa thu Hà Nội sáng tác năm 20-21 tuổi, đến nay trên 50 năm, gia tài âm nhạc của Trần Quang Lộc đóng góp cho công chúng và xã hội khá đồ sộ. Anh đã có trên 500 ca khúc và 27 album viết trước và sau năm 1975, cho tới tận hôm nay, trong đó có nhiều ca khúc phổ từ thơ khá thành công.

Ngoài ra, Trần Quang Lộc và ca sĩ Thu Phương còn đoạt nhiều giải thưởng âm nhạc nhờ ca khúc Có phải em mùa thu Hà Nội như Giải Video hay nhất qua album Ngủ ngoan nhé ngày xưa, Giải Người hát hay nhất và Nhạc sĩ hay nhất, bài hát đoạt giải nhất của Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam năm 1980 và hàng chục giải thưởng trong các cuộc thi ca nhạc, hội diễn. Đặc biệt, ca khúc Có phải em mùa thu Hà Nội đã được chọn biểu diễn khai mạc Lễ hội 1000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Giữa lúc sự nghiệp sáng tác của Trần Quang Lộc đang ở đỉnh cao thì cách đây khoảng 3 năm anh phát hiện mình mang chứng bệnh quái ác: Ung thư bàng quang. Trần Quang Lộc đã sang Mỹ chữa bệnh nhưng không khỏi. Sau một thời gian, anh trở về nước và quyết định “ẩn cư”, tránh mọi tiếp xúc để vừa chữa bệnh, dạy nhạc tại gia và sáng tác.

Chính trong giai đoạn này có thông tin lan truyền trên cộng đồng mạng là nhạc sĩ Trần Quang Lộc đã mất vì bạo bệnh, thậm chí có cả những lời chia buồn của bạn bè. Nhưng thật ra anh vẫn sống, vẫn chống chọi với căn bệnh nan y. Nơi “ẩn cư” của Trần Quang Lộc là căn nhà cấp 4, đường Trương Hán Siêu, phường Long Toàn, thị xã Bà Rịa, thành phố Vũng Tàu.

Thời gian gần đây, căn bệnh nan y tái phát nghiêm trọng khiến Trần Quang Lộc phải rời bỏ nơi “ẩn cư” để về Bệnh viện Bình Dân TP HCM điều trị bệnh. Anh đã giải phẫu 4 lần để cắt bỏ khối u trong bàng quang và chuẩn bị giải phẫu lần thứ năm để cắt bỏ khối u di căn qua phổi. Không chỉ sức khỏe giảm sút nghiêm trọng sau 4 lần giải phẫu mà chi phí thuốc men, điều trị cũng rất lớn.

Hiện nhạc sĩ Trần Quang Lộc đang lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn, ngoài số tiền tác quyền ít ỏi thu được từ các ca khúc thỉnh thoảng mới nhận được, Trần Quang Lộc và vợ anh, chị Nguyễn Thị Thuận ngày đêm túc trực ở bệnh viện nuôi chồng hầu như đã khánh kiệt, chỉ còn trông cậy vào lòng hảo tâm của bạn bè, những người hâm mộ nhạc sĩ, tác giả của các ca khúc nổi tiếng Về đây nghe em, Có phải em mùa thu Hà Nội quan tâm, giúp đỡ.

Ca sĩ Thu Phương, người từng gắn bó với nhiều ca khúc của nhạc sĩ Trần Quang Lộc, khi biết tin anh mắc bệnh nan y đã chuyển 100 triệu đồng về giúp người nhạc sĩ mà mình chịu ơn để có điều kiện chữa bệnh.

Trong lúc chờ ca phẫu thuật thứ năm, nhạc sĩ Trần Quang Lộc đã rất xúc động trước nghĩa cử của ca sĩ Thu Phương, đối với gia cảnh gần như trắng tay, 100 triệu đồng là số tiền khá lớn, nhưng với chứng bệnh nan y của Trần Quang Lộc thì lại chỉ như một mảnh vá trên chiếc áo có quá nhiều chỗ rách khoác lên số phận nghèo lại không may lâm bạo bệnh của người nhạc sĩ.

Chút kỉ niệm bạn bè

Tôi chơi thân với Trần Quang Lộc sau năm 1975. Thời bao cấp, mọi thứ còn rất khó khăn, bạn bè ai cũng thiếu thốn nhưng lại rất vui vì tính hào sảng, nghĩa khí của anh.

Những năm thiếu thốn đó, chúng tôi thường gặp nhau ở nhà của họa sĩ, kiêm nhạc sĩ lẫn ca sĩ tài tử Nguyễn Trọng Khôi. Ngôi nhà trọ của Nguyễn Trọng Khôi nằm trong con hẻm nhỏ đường Đinh Tiên Hoàng Q.1 (TP HCM), gần sát sân vận động Hoa Lư.

Căn nhà nhỏ, có cái đi-văng vừa làm chỗ ngủ, vừa là nơi tiếp khách, vừa trải chiếu nhậu. Nhóm bạn cũng chỉ có mấy người, thường xuyên có chủ nhà Nguyễn Trọng Khôi, Trần Quang Lộc, Hoàng Yên Di và tôi.

Hồi đó ai cũng đi xe đạp nhưng Trần Quang Lộc đạp xe mới tội nghiệp làm sao, chân anh vốn khập khiễng, còn xe đạp thì thuộc loại cà tọc, cà tàng, hì hụi mãi mới đạp tới nhà Khôi, mồ hôi mồ kê đổ ra ướt đẫm lưng áo. Nhưng nụ cười của Trần Quang Lộc thì thật hồn nhiên khi gặp bạn bè.

Hồi đó có gì mà nhậu. Rượu thì Cây Lý, sang lắm thì mấy lít bia hơi, mồi miếc thì bạ gì cũng nhậu được, cóc, ổi, mía ghim cũng là bén. Chủ yếu anh em gặp nhau, đưa chút hơi cay để lấy trớn ca hát, văn nghệ văn gừng cho vui.

Nếu không ở nhà Nguyễn Trọng Khôi thì mấy quán cà phê cóc, rượu cóc ngoài khu vực hồ Con Rùa, không thì lên sân thượng nhà văn hóa Q.4 nơi tôi làm việc hoặc chịu khó đi xa qua “Đào hoa đảo” của Hoàng Yên Di mãi bên Q.7. Nhớ buổi trưa hôm đó ở nhà Nguyễn Trọng Khôi, trong lúc say say, Trần Quang Lộc ôm đàn hát ca khúc anh mới sáng tác, có ý khoe với bạn bè, đó là bài Tình cờ gặp nhau.

Bài hát mới của Lộc rất lạ, khác hẳn những bài trước với làn điệu mới, luyến láy theo âm hưởng của điệu lý trong dân ca.

“Tình cờ gặp người quen/ Dường như lâu lắm rất xa nhau/ Gặp lại nhau mắt vương niềm đau/ Gặp lại nhau lúc sắp xa nhau/ Gặp lại nhau tóc xanh phai màu/ Hỏi người, người dìa đâu/ Đường đi ai biết (chứ) nông sâu/ Gặp lại nhau lúc sắp xa nhau/ Gặp lại nhau trước khi qua cầu...”.

Trần Quang Lộc hát thì không hay (ít có nhạc sĩ nào hát hay), nhưng cái giọng của Lộc hôm ấy thì quá buồn, có thể vì có chút men và tôi nghe Lộc hát trong lúc xỉn, với những câu thấm đậm tâm can như vậy không những chỉ mình Lộc giọng chùng xuống, rưng rưng nước mắt mà anh em trong chiếu nhậu hôm ấy, kể cả tôi, mắt đều ngân ngấn lệ.

Trần Quang Lộc hát xong, cả chiếu nhậu im phắc, không khí lắng đọng lẫn xúc động. Lộc bảo tôi ca khúc này anh chỉ mới viết lời 1, nhờ tôi đặt lời 2. Và tôi đã nhận lời.

Phải đến gần 20 năm sau, tôi mới gặp lại Trần Quang Lộc trên Facebook, giữa lúc tin đồn anh mất vì bạo bệnh ở bên Mỹ. Hôm đó, Lộc từ nơi “ẩn cư” ở Bà Rịa - Vũng Tàu vào thăm tôi ở tòa soạn nhân việc đi chữa bệnh, tái khám bệnh gì đó ở Bệnh viện Bình Dân.

Hôm ấy Lộc trông khỏe mạnh, hồng hào, bàn chuyện sẽ ra album và làm CD phổ thơ tôi vì trước đó Lộc đã phổ thơ tôi những 4 bài, tự phối âm và tự hát rồi thu clip đưa lên YouTube. Lộc bảo chỉ mấy bài đó thôi thì không đủ, phải phổ thêm và kéo Nguyễn Trọng Khôi tham gia vì Khôi cũng đã phổ của tôi mấy bài, hiện cũng đã đưa lên YouTube.

Và rồi Lộc từ giã, quay về Vũng Tàu và... không trở lại. Không ngờ mấy hôm nghe tin anh trở bệnh nặng và phải nằm viện. Bây giờ thì ngay sinh mệnh của Trần Quang Lộc không biết sẽ ra sao sau 5 ca phẫu thuật đều thuộc dạng đại phẫu, 5 ăn 5 thua, thì dự án cùng ra album, CD coi như xếp xó.

Đời người vốn đã hữu hạn mà rủi may diễn ra rất vô thường, trong tích tắc của định mệnh và số phận mỗi người. Tôi và những người ái mộ, yêu thương Trần Quang Lộc không chỉ bằng tấm lòng của những người bạn mà còn là những người thưởng thức âm nhạc của anh qua những ca khúc thấm đậm chất liệu cuộc sống, tình tự quê hương mà ai cũng luôn hoài vọng.

Vì thế nên chúng tôi rất mong anh sẽ qua khỏi, vượt thoát được căn bệnh hiểm nghèo để về với những sáng tác, những dự định mà anh còn bỏ dở.

(5-12-2017)

(Nguồn: http://antgct.cand.com.vn)








Thái Thanh & Trần Quang Lộc























Trở về
















MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.











Saturday, 15 June 2019

Từ Hoài Tấn






















Từ Hoài Tấn

Tên thật: Hồ Văn Hiền
(1950 Huế - .....) 
Nhà thơ






Từ Hoài Tấn tên thật là Hồ văn Hiền.
Sinh năm Dần (1950) tại làng An Truyền (Chuồn ), quận Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên - Huế

Hiện sống và làm việc tại Sài Gòn
Sáng tác từ 1964
Thời niên thiếu cùng vài người bạn chủ trương các tập san thơ văn “ Cuồng Biển”, nhà xuất bản “Nội Dung” ở Huế.

Thơ văn đã xuât hiện từ những năm 1960, 1970 trên các tạp chí Văn, Nghệ Thuật, Vấn Đề, Trình Bày, Khởi Hành, Ý Thức, Tuổi Ngọc …(trước 1975) và Văn, Thanh Niên, Văn Nghệ TPHCM, Sông Hương, …và một số diễn đàn mạng (sau 1975)

Mười lăm năm giang hồ vùng sông nước và bưng biền của vùng Đức Hòa Đức Huệ Tỉnh Long An trước khi định cư cùng gia đinh tại Sài Gòn năm 1994


















Hai bài thơ mới năm 2019






Trong những ga tạm của ngày giang hồ
Gởi tặng Ph.


Khi trở về
Vào những năm 60 thế kỷ hai mươi
Cô gái nhỏ mười lăm tuổi
Áo lụa ngà
Những con đường xuôi về Vỹ Dạ
Mối tình thầm kín dài theo tháng năm
Về một ánh mắt chờ đợi
Về một ước ao cầm tay
Và nụ cười như thánh nữ

Hơn nửa thê kỷ trôi qua
Con đường của gã giang hồ
Không bến trạm
Con đường của gian truân
Bước theo cùng lịch sử
Cô gái mười lăm tuổi
Con mắt của quá khứ
Vẫn dõi theo
Như nỗi ám thị xuyên suốt thời gian

Trong những ga tạm của ngày giang hồ
Khúc ca của phế tich
Một ngày mùa đông âm u
Mưa dầm trên con đường dẫn ra bờ sông
Người đứng đợi
Đó là khi nàng mười sáu tuổi
Tình gởi theo ánh mắt nhìn
Chỉ là nỗi hoang vu đáp lại
Ai đã bỏ đi
Năm mười năm không dấu vết
Chỉ là ánh mắt nhìn
Qua hơn nửa thế kỷ nằm khuất ở một góc nhỏ nào đó

Để khi gã trở về
Trong ga tạm của ngày giang hồ
Nàng vẫn chờ nơi bến cũ

Tạm biệt ngày giang hồ
Dừng đây, ga cuối








Từ biệt quá khứ

Ngày tháng dỗi hờn đem em đi cùng với những đám mây ngày mưa giông
Anh ước nỗi buồn anh cũng qua như thế
Chiều nay – Sài Gòn của tháng tư, nắng thiêu đốt như những lò nướng thịt
Nếu em biết rằng có gì vui hơn khi ra ngoài bờ kênh thở tự do cùng hơi nước bốc lên cùng không khí
Từ biệt quá khứ
Tháng Tư rồi sẽ qua
Mùa nắng nóng sẽ qua
Cơn mưa rào sẽ tới
Anh ước tình ta mát ngọt như cơn mưa đầu mùa
Ngày em lên thuyền về xứ khác

Này mùa hè
Trần trụi và tàn bạo
Bởi những năm tháng qua ta sống giả danh một người khác
Va yêu một người khác
Lấy một người khác
Con của một người khác
Ta sống nhiều năm nơi hoang dã
Giả tạo một sự bình yên
Cay đắng một niềm hạnh phúc
Mỗi người đều phải sống, đúng vậy
Và phải tự tồn tại
Vì đó là ân sũng của tạo hóa – được làm người

Ví dụ ta dầu có giả danh
Thì cũng là một con người
Phải sống như mọi người

Từ biệt quá khứ
Quá khứ - chỉ là tên gọi về những năm dã qua – cũng như phân biệt một thời gian đã chết trong trí nhớ
Nhiều tháng Tư đã qua Sài Gòn vẫn nắng nóng vẫn phải có những cơn giông để bắt đầu một mùa mưa
Vẫn phải thương nhớ em, một tinh yêu chia cách
Thì phải tội gì phải từ biệt quá khứ
Vì quá khứ là gì, hình như không có, thiệt


2019
TỪ HOÀI TẤN


















Tác phẩm đã xuất bản:












1
Hành Tinh Phiêu Lạc

(thơ 2003 – NXB Thuận Hóa)










2

Ði, Ðứng Và Chạy … Với Thời Gian
(thơ – NXB Hội Nhà Văn 2012)








3
Phục Hưng Tôi & Em
(thơ – NXB Hội Nhà Văn 2013)







4
Mấy Khúc Ðoạn Giang Hồ
(Thơ lục bát – Cuồng Biển thực hiện 2016).









5

Bản Tình Ca Của Gió Bụi

(Cuồng Biển Bản Thảo 2018)










6
Đạp xe ra ngoại ô
Nxb Hội nhà văn












Các tuyên tập thơ in chung:







5
Tự tình với Huế
(NXB Trẻ 2004)








6
1000 Nhà thơ Huế đương thời
(NXB Hội Nhà Văn 2006)








7
700 năm thơ Huế
(2006)








8
Những dòng sông đêm
(cùng Viêm Tịnh, Nguyễn Miên Thảo, Lê Ngọc Thuận – NXB Thuận Hóa 2007)








9
Bông và Giấy – 30 tác giả hôm nay
(NXB Lao Động 2010)















Từ Hoài Tấn 

trên văn học & nghệ thuật




Bấc Non (thơ)






PH. (thơ)
Tình ca (thơ)


















THƠ TỪ HOÀI TẤN






Tình duyên tôi
Yêu em một ngày
Trong hầm than cũ thời niên thiếu
Một ngày của ngày xưa
Bằng cả quãng đời sau đó
Yêu em một ngày
Sớm mai rồi em biến mất
Tôi trơ đôi tay không
Những năm còn lại làm sao tìm được

Một hôm tôi gặp em
Trong quán rượu tháng năm
Tôi nói yêu em
Như ngày xưa yêu em một ngày
Em nhìn tôi lạ lùng
Rồi quay lưng đi thẳng
Tôi lầm bầm ôi yêu em có một ngày
Dẫu một ngày mà bằng cả quãng đời sau đó

Những ngày sau cùng tôi gặp em luôn
Trên khắp nẻo đường trên khắp ngõ hẻm
Gặp em giữa đêm khuya
Hay gặp em giữa trưa nồng
Hoặc chiều vừa xế bóng
Tôi cố nhìn hoài không nhận được ra em
Như ngày xưa đã yêu em một ngày
Ôi dẫu yêu em có một ngày
Mà bằng cả quãng đời sau đó
(Huế 1967)





Tặng phẩm người cô đơn
Những nhịp mùa trở đổi như lời hẹn xa xăm vừa mới trở về.
Trên tất cả những chung vui đã sống những hiền hòa đã tan đi,
trong những bóng tối ngả nghiêng mọi con đường, ngàn khoắt
khuya đã ngủ và những tiếng chim đã nghe. Sao trong tối mù
mịt còn lóe lên đốm lửa cuối ngày xanh xuân cháy tận
Mùa mưa cũ em còn nhớ không
Đôi guốc mòn lẹp xẹp đi theo dòng nước nhỏ. Ơi những chiếc lá
khô tội tình trong một buổi chiều buồn
Hàng cây nghe không
Lời gọi đêm trùng
Và ai hát cô đơn dưới trời mưa lũ
Mùa mưa cũ thôi em còn nhớ gì nữa
Những sáng tay ôm những chiều trong mắt
Nắng khơi cho ta mối hy vọng đã nhạt nhòa
Em đốt cho ta những tình tự ngủ lâu đời dưới lớp tro thạch lạnh
Đêm cũng vui như phút chia xa

Hãy nhớ một ngày mai ấy
Đường mưa em bước nhỏ qua sông
Vai cầu buồn trong mùa giá rét
Thôi đã qua rồi những tình mộng cũ
Sao nhịp mùa vẫn trở về hò hẹn trăm năm
Sao những bầy chim không ngừng bay tới
Còn nhớ chi
Tóc dài suối biếc
Mắt thiên thu nở đóa mỵ kiều
Thôi đã qua hết những mùa những năm những tháng những gì
còn vương mãi trong lòng
Con chim đường sớm mai mới hót
Và cây ngu ngơ đứng bên đường mãi mãi dửng dưng làm sao
biết một người suốt đời đi trong trời tăm tối.
(1972)





Ca ngợi mây trắng
Những ngày nghe tiếng chim hồng rộn rã
trên nền trời
Đường ai qua ngập ngừng bước
Lệ sao se thắt trái tim
Mùa không tiếng người xôn xao
Vẫy bàn tay đêm héo úa
Bài hát cũ thì thầm
Ôi không
Không

Giờ đợi mong đã nhạt
Dòng sông xưa ai còn trông
Màu áo trắng thơm ngát chiều gió nổi
Lướt qua đời
Loài mây hoang dạt
Giấc mơ tan đi những mối tình
Lời sao không chết đi
Cười sao không ngạt thở
Lệ sao không chảy buồn trên mắt tượng
Ôi còn chi bóng hình
Cõi đau xưa
Không
Loài chim vẫn hót
Bài ca thiên cổ ấy
(1974)

(SDB12/03-14)


Khi mùa mưa bắt đầu
Cơn mưa đi qua ánh sáng của ngày
Khúc hát ru chiều sẩm tối
Người thanh niên đứng trong ngõ hẻm cụt nói rằng
Môi hôn trên cây và nụ cười trên gió

Cuối tháng này có một cuộc dạo chơi
Của hai người không hẹn gặp
Những cây vẫn đứng trên đỉnh đồi
Mùa hạ hanh nồng nỗi mong đợi ai đó

Tại sao không là em những ngày ngồi cùng nhau dưới mái hiên quán vỉa hè
Là những cuộc trò chuyện mùa thu êm dịu
Gió và nắng – đi và đứng – bên ngày dài
Không bắt đầu và không kết thúc

Tại sao không là ta có không ngày và đêm của tháng và năm
i quẩn quanh bên bờ vực của hồi ức
Ở đó có không mùi ánh sáng của vị giác bốc hơi
Một thời tuổi trẻ không có gì đáng nhớ

Em thân yêu – những giọt nước trong veo hứng vào lòng bàn tay
Chiều không xanh trên đại lộ
Chiều thẳng tắp hai hàng me cao tuổi bên đường
Chiều môi hôn hờ hững cuộc tình thấy lạ

Ta cùng em – đứng bên lề năm tháng nghĩ ngợi gì
Đôi con mắt dõi theo một khoảng xanh trong chiều xám
Còn lại âm hưởng xa vẳng bài tình ca
Khi mùa mưa bắt đầu trở lại





Sài Gòn, mùa Xuân
năm tháng sẽ làm đẹp cho mùa màng
những ngày đông sắp hết
hoa lá trở lại
mới tinh khôi
như tình em
vừa được tân trang lại
ấy là nụ hôn vào buổi sáng gặp nhau ở một lề đường vắng
(không thể hôn nhau giữa chốn đông người)

có một vài chiếc lá không muốn rời đi
vẫn đu đưa bài hát muộn màng với gió
tôi sẽ về đâu sẽ về đâu
hoá vàng bay hoá vàng bay
vực thẳm đời tan nát

có một vài búp hoa nghẹn nở
vẫn nuối thời sơ sinh
tôi không muốn đâu không muốn đâu
và một sớm rực rỡ
để rồi đêm tăm tối tàn phai

có một tấm lòng ước vọng trinh nguyên
như tuổi xanh như chồi biếc
tôi sẽ không dậy lớn với thời gian
sẽ không thành lá xanh trên ngọn
để cuối con đường vật vã biệt tăm

có một vài ngày trong một tháng
một vài tháng trong một năm
là mùa Xuân
ở lại cùng cỏ cây hoa lá
cùng sự bất diệt
của niềm vui





Những ngày tháng chạp
cơn gió lắt lay
ngày se se hơi thở của mùa màng cuối năm
đi trên đường hay ghé vào vỉa hè
tìm hơi ấm nóng của ly cà-phê đầu ngày
nghĩ ngợi gì đó

cuối năm lỡ một cuộc hẹn về
những năm tuổi trẻ ngoài ấy
dòng sông, cây cầu và giấc mộng lãng mạn ở cố cung
thiếu nữ khuôn mặt trầm buồn thiên cổ

ta sống với quá khứ như lời tưởng niệm về một thời hối tiếc
ví dụ không kịp một lời tỏ tình khi em ra đi
như không kịp yêu một lần đã qua thời tuổi trẻ
ví dụ như không kịp được nhờ hơi ấm của người mẹ sớm ra đi
không nghe được lời di ngôn của người cha sắp mất
khi tháng chạp về mỗi năm lại đi qua
cuộc sống vẫn không ngừng
mà lòng ta chưa nguôi nỗi ngậm ngùi tìm thời gian đã mất

những ngày tháng chạp
có ai đi qua không ngoái lại nhìn





Kỷ niệm
Gió mát như một lần em đi ngang qua đây
Trong tầm nhìn của dĩ vãng
Sự chia tay ngọt lịm và đau đớn như vết dao cắt trên ngực

Tháng mười hai năm ấy
Mưa trở lại
Trong hẻm nhỏ có quán cà phê
Bà chủ bốn mươi tuổi
Em trở lại ngồi bên ta
Lời tình ái dài và đều như mưa ngoài cửa

Ta kiệt sức trên lối mòn
Cuộc sống như những vòng kẽm gai buộc
Tìm cơn mộng hằng đêm
Cười trong cõi khác

Gió mát như một lần em đi ngang qua đây
Chỉ một lần trong cuộc đời
Gió mát
Cuộc hội ngộ trí tưởng
Êm ái như một nỗi buồn





THƠ CUỐI NĂM
Buổi chiều mưa bất chợt trái mùa
Khúc trầm bên chén trà
Người phụ nữ bước qua bên kia đường đón xe búyt
Dưới tàng cây che phủ vệ đường núp mưa những cô gái nhỏ xì xầm
Cảnh tượng chiều xám
Một vì sao trên cao và con mắt dõi tìm
Ngày cuối tháng, tháng cuối năm
Những chiếc xe vội vã
Lời nói gửi theo nụ hôn gió
Giã từ giã từ
Cơn mưa cuối của ngày
Cơn mưa cuối cùng năm
Bên người em gái gặp lại sau một thời gian dài
Đốt lên ngọn lửa ấm
Tình bắt đầu một năm



TÌNH XUÂN
ngày đến cuối một năm
tháng mười hai dập dồn những lễ hội
em đã đi theo những lời dối trá kia
cũng như đám mây phụ bạc trên trời
không bao giờ hợp lại

chiều vàng như một lần trễ hẹn
nhìn mọi người qua đây
không ai biết ta đang chờ mong ai
bữa tiệc đã tàn
người phục vụ cuối cùng cũng nhẹ nhàng nói lời từ giã

những ngọn đèn đêm nay trên bầu trời là những ánh sao lấp lánh tình chúng ta
vẫn muôn đời như thế hỡi em
cho dù trái đất sẽ tan đi chúng ta rồi cũng sẽ tan đi
nhưng hạt bụi vẫn còn
và cuộc sống vẫn tái hiện
như tình yêu còn mãi sự bất diệt
cho những người yêu nhau

cho dẫu ngày hôm nay sự cô đơn cũa một người là hạnh phúc của tình yêu
được nhớ nhau trong xa lìa
được tha thiết trong ngăn cách
cho dẫu ngày hôm nay là dấu chấm của một năm
cũng là bước khởi đầu của muôn trùng mới lạ

ngày đến cuối một năm
trên mọi ngã đường và trên các góc phố
những nụ cười là cành hoa xuân mời gọi
hãy yêu nhau khi ta còn tuổi trẻ
hãy thương mến nhau khi ta còn hiện hữu giữa cuộc đời
và em, hãy quay về với tình yêu tôi chờ đợi
ta sẽ vẽ một trang tình
mừng mùa xuân nhân loại



NÚI NON CA
Khi bóng tàn trăng người ngậm tù và
Ở bên dốc núi vài cô em mọi nhỏ
Rừng sắp qua thu chiều sắp qua ngày
Ngồi uống cốc nước mát bên khe suối

Không em lời chim hót nghe thành quen
Một bài ca nhịp đều qua năm tháng
Không em đời cũng không thể gọi tên
Nguời khuất nẻo xa xa trầm khúc lắng

Chiều nay một thoáng nhìn theo bóng mây
Thu hết rồi vương vài giọt nắng vàng
Em phía bình nguyên đường về tít tắp
Mong chờ theo ngọn gió lướt bay ngang

Núi xa đèo dốc mỏi bàn chân đi
Người một thời xuân qua ngày tháng tới
Chiều nay ngậm ngùi vài chiếc lá rơi
Tạm biệt thu khúc hát vang dưới núi



NHỮNG NGÀY CHỜ CÙNG TIẾNG SÓNG
DỘI VÀO BỜ ĐÁ BẠC


Không ai biết nơi đó những gì đang xảy ra
Dưới móng vuốt của loài cú vọ
Đêm mà mọi người nuôi nấng
Trong ngày tháng thở than
Là đêm bời bời cơn rượu bão

Không ai biết nơi đó chim chóc lũ lượt lìa đời
Dưới dập vùi của giông tố
Cơn mưa đi qua
Cơn mưa đi qua
Cơn mưa đi qua
Cơn mưa đi qua
Những cơn mưa qua di
Buồn thảm

Và đã qua hết rồi, những hy vọng
Trái tim chôn dưới đáy bùn lầy
Ngày sẽ sống ở cuối tăm hơi
Sẽ ra đi trong giờ cùng tận
Cuộc đời bào mòn bao nhiêu sức sống
Không ngừng đón lấy tai ương
Có ai biết được
Tiếng nói của một loài cỏ khô
Trong giờ địa chấn
Địa ngục vẫn mở ra rất nhiều cánh cửa
Và đêm vẫn mù tối quanh quanh
Tiếng nổ, tiếng gào la
Ở chặng sau cùng của tuyệt vọng

Tình yêu có hình thù gì kỳ quặc
Xui ta tìm kiếm mấy mươi năm
Có khuôn mặt nào lạ lẫm
Ở giữa đám đông nhầy nhụa kia
Mọi người đã yêu trong đời một lần
Sao ta chưa bao giờ được

Đã không còn gì sao mũi dao
Lệ chảy hay máu
Trên đời và dòng sông
Những dòng sông cho loài người
Lìa đời và chôn dấu
Người thân yêu ở chuyến xe chạy về nam
Sấm sét vẫn nổ trên đầu không ngưng nghỉ



ĐIỆP KHÚC MỘT NHỊP
Ngày mới bắt đầu với chiếc xe lô
Chở người thiếu phụ về quê quán
Con đường cũ ôi con đường cũ
Những cánh cây khô mùa đông
Điếu thuốc đốt lên trong sương mật
Người hỡi người và người hỡi người
Khi tang thương đã thôi xuống những cơn mưa rạc rào
Các em hãy cầm tay ta, cùng trở lại
Trên quê hương tàn tạ còn được mấy cây khô và lệ nồng của ai còn vướng đọng trên cành lá lẻ loi vàng úa ven đường – một ngày mùa đã cũ
Bao nhiêu đời vui qua đi
Dưới cơn giông dữ dằn của triều đại
Mọi người ước mơ có thời bình yên
Khăn gói về đất cũ
Nhưng cái chết thường đến trước
Vội vàng hơn một mũi tên buông
Trên tay người thợ săn gỗ đá

Sóng vẫn xô vào bờ đá bạc
Vở trăm năm một bóng tàn hơi
Ta ngồi thơm ngát mùa mong đợi




NĂM HAI MƯƠI TUỔI
ĐẤT NƯỚC
TRONG MỘT NGÀY TRỞ VỀ

Chúng ta vừa trở về
Ngoài sân nhà tiếng rú
Lũ ngựa hoang bỏ rừng
Đêm thâu cành rơm ngậm
Hát
Ngày về
Ruộng lúa ngập nương dâu
Những thanh xuân cỏ non
Mọc tràn lối đi
Sỏi ngậm tiếng khóc
Cây chào lời ru
Một phương nào đã trễ hẹn

Chúng ta vừa trở về
Mai xinh
Không đội mũ rộng vành
Nhìn tháng ngày ngập nắng
Vứt chiếc nón phủ chụp hận thù bao lâu xuống dòng chảy xiết
Vỗ tay
Ca một khúc hoài hình
Bao năm xa biệt
Môi vốn để cười
Miệng vốn để nói
Thân thể vốn để ươm mầm hạnh phúc
Bây giờ
Hãy tự do
Hát
Ngày trở về
Lũ chim rừng vừa họp dưới hiên
Tiếng vui chào những năm tất thở
Những đêm hò reo bên xác người
Những ngày nằm sâu dưới cơn bão lở
Bây giờ
Hãy gióng trống thức dậy một tương lai
Đầy đủ tay chân mặt mày rực rỡ
Sự thật gần được khươi lên
Thắp một ánh đuốc hồng
Soi con đường sáng lóa
Là bình minh muộn mới dài lâu
Là mơ ước cuối đời mới vô tận
Ôâi đất nưóc ơi
Ân sủng cuối giờ tuyệt vọng
Đập nát hồn chúng ta thành những đóa mê say
Ôi xứ sở ơi
Chào một cơn mưa mật
Những ban mai không tắt chờ người
Các em áo lụa là
Điểm trang ngày nắng lụt
Chúng ta vừa trở về
Rừng mai rực sáng trời xuân
Những bước chân lang thang bèo nước trôi
Không còn dập dềnh trên thác máu
Những cánh tay vơ vất cơn mê điên
Trong những ngày lùng bùng loạn lạc
Không còn nữa nỗi hư không
Trên đầu chúng ta ngọn tóc mới mọc
Trên thân thể vừa thay da
Tóc đã đen da đã vàng
Tóc thêm đen da thêm vàng
Chứa chan hồn mới lớn
Lớn để thấy rộn ràng yêu các em
Các em xinh đẹp
Phơ phất áo lụa nồng
Tay vẫy bên sông
Những cánh diều đong đưa trên đồng nội
Ngậm ngùi thương biết mấy quê nhà
Hôm nay
Mới được trở về
Gõ bàn chân trên đường nhung thơm
Mùa bình yên cũ kỹ
Trong hoang mộng cầm tay
Các em
Hỡi các em xinh đẹp
Khởi diễn một đời người
Bên trần gian vừa đượm chín
Những trái xuân xanh

(1969)



MÙA MƯA 2009
Những giọt mưa rơi mãi vào quá khứ
Nơi ấy, tuổi trẻ của tôi
Nơi ấy, tình yêu của tôi
Dịu dàng và rực rỡ
Bao nhiêu năm cuộc đời tôi
Mềm dịu vẻ đắng cay
Đằm thắm nỗi đau sự sống

Chiều mưa mãi như những ngày ở quá khứ
Con đường trắng xóa cùng những vài cầu
Mùa đông của tuổi trẻ tôi ngoài ấy
Nơi của những đền đài lăng miếu cũ
Nơi ấy, tuổi trẻ của tôi
Nơi ấy, tình yêu của tôi
Nỗi thương nhớ sắc nhọn
Cứa nát những đêm dài chốn xa xôi

Chiều mưa những giọt mưa của mùa
Chảy tràn vào quá khứ
Tôi ngồi câm lặng với tàn phai
Không dứt

T.H.T










Tham khảo thêm về nhà thơ Từ Hoài Tấn












CAO THOẠI CHÂU

Đọc thơ Từ Hoài Tấn, nghĩ đến cây cầu dây văng!*






Tôi còn giữ nguyên bút danh Từ Hoài Tấn trong trí nhớ của mình sau năm 1975, coi đó như một chút hiểu biết về thơ ca thời kỳ trước đó. Cùng với đó là mấy cuốn tập chép thơ của một số tác giả trên các tạp chí Sài Gòn trước khi thành phố này đổi tên thành như bây giờ. Trong số những cái tên ấy có Từ Hoài Tấn mà cho đến khi gặp anh ngoài đời gần đây tôi vẫn nghĩ tuổi anh cũng tầm tôi, không ngờ hai người chênh tuổi nhau khá nhiều.

Những cuốn vở ghi chép nhiều năm đó đã thành tro khi tôi khăn gói vào trại cải tạo, có thể là do lệnh ở địa phương tôi ở phải nộp sách báo cũ và chúng bị đốt là như vậy.

Không còn nhớ chính xác mình ghi gì về người tôi đang nói đây, nhưng đại loại là thơ anh không vần điệu nhưng không phải thứ không vần điệu theo thời. Đơn giản chỉ là một cách trang trải của riêng anh như người ta chọn người để gặp, chọn quán để ngồi… Bây giờ, tôi mới vừa đọc tập thơ mà cái tên ngợi cảm giác động “ Đi, đứng và chạy…với thời gian” nghe động đậy tay chân theo một tốc độ nào đó, và là cảm giác trước và bây giờ vẫn một cách viết của cùng một con người dù nhiều dâu bể đã đi qua.

Dâu bể trong thơ Từ Hoài Tấn ở tuyển tập này không nhiều dấu vết thời sự, theo tôi cái dâu bể của anh là việc đến và ra đi của một cặp người, đàn ông và đàn bà. Không hiểu sao tôi lại không nghĩ đó là một cuộc tình, chắc có lẽ do hai người ấy yêu nhau nhưng không nghĩ gì đến những lời hò hẹn, không có những ước mơ như nhiều cặp khác. “Nỗi cô đơn tình yêu đã đưa anh đến tìm em/ Liều lĩnh và sợ hãi/ Bởi mỗi chúng ta đều có cuộc sống riêng/ Với nhiều ràng buộc chưa chấm dứt”. Một tình yêu như thế là một tình yêu “vượt ngục” khỏi những ước hẹn, bóc tách hết những lớp vỏ mà cặp nào yêu nhau cũng thường có. Đó, nó là một tình yêu chỉ gồm có hai chữ, chấm và hết!

Thật “sạch sẽ” như những gì Từ Hoài Tấn viết trong những câu này về chuyện tình đó “Như cuộc chia tay giữa chúng ta/ Như không bao giờ xảy ra/ Đó là cuộc tạm biệt của những màu sắc/ Vẻ huê dạng của cuộc sống/ Đó là cuộc tạm biệt của sự bình thường/ Của hai người khác giống/ Hãy chia tay để còn có nhau/ Những vì sao trên trời chưa hề bất tử…”. Không đớn đau, không sụp đổ, thơ Từ Hoài Tấn nhẹ nhàng thanh thoát như vậy.

Tôi nghĩ rằng thơ Từ Hoài Tấn không phải là thơ tự sự, đó chỉ là tâm sự cốt nói cho mình nghe như một hoài niệm của chính mình. Trong tập có một “cụm” thơ nhan đề chung là “Những khúc thơ tình ngày, tháng và năm” gồm những bài mang tựa ghi ngày tháng thuộc về năm 2002 trở về sau. Chạy theo với thời gian? Nói cho mình nghe thay vì giãi bày mong chia sẻ, có in ra cũng là in thôi, không phải lời gửi gắm cho ai. Tôi rất thích thơ như vậy, nó là trò chơi thanh nhã của người cô đơn, cô độc ý thức thật rõ ra khỏi cô đơn là…hết! Như thế thì buồn nhưng không mở tung cửa mời khách vào nhà làm gì!

Khi đọc những bài trang nhã in ấn một cách trang nhã có phần kín đáo như ngôi nhà ẩn sau những cây xanh này, tự nhiên tôi nghĩ đến một cây cầu, cầu Mỹ Thuận ở cửa ngõ miền Tây. Đó là một cầu dây văng nhìn từ xa thấy những sợi dây thanh bình tua tủa trong những buổi chiều chưa nguôi, chưa phai. Loại cầu dây văng này có những cây cột đứng hai chiếc nhìn mặt nhau, thành cặp, khoảng cách thật gần nhưng nếu chúng nhập vào nhau thì cầu thành cầu…văng mạng!. Và chúng cao, rất cao. Ước gì leo lên được đỉnh cột đó. Từ đỉnh nhìn xuống sông thấy không gian lớn ra nhiều. Ngồi trên cao đó tức là thoát xa mặt nước để nhìn trở lại sẽ thấy sông êm đềm hơn nhiều. Thoát ra khỏi quá khứ, một mối tình càng xa càng nhìn được cái êm ả khi hai người còn có nhau những ngày tháng đắm đuối nhưng thao thức một cách không đau đáu mà thật dịu dàng. Tình đi qua như nước sông, như ngày tháng dưới cầu, càng ở cao hơn mặt cầu càng thấy mặt sông như dải lụa, hay đại loại một thứ gì mềm mại, dịu dàng…

Nếu phải chọn những câu nào mình thích trong tập này, tôi sẽ nói “Cuối tháng này có một cuộc dạo chơi/ Của hai người không hẹn gặp/ Những cây vẫn đứng trên đỉnh đồi/ Mùa hạ hanh nồng nỗi mong đợi ai đó”. Là người cũng có những chờ đợi mà thói quen mách bảo là không nên “mong” bởi vậy tôi muốn đựợc thay chữ “mong” trong câu thơ bằng một chữ khác nghe buồn hơn: “chờ”. Cứ chờ thôi, không mong hết!

Cao Thoại Châu


















KHỔNG ĐỨC

ĐỌC THƠ TỪ HOÀI TẤN






Sự liên hệ giữa nhà thơ, bài thơ và người đọc không phải như một thực tại tĩnh lặng mà đó là sự hoạt động triển khai. Một hiện tượng mang tính thần thánh, một hiện tượng giữa Anh và Em, một quá trình tương giao …

( Edward Hirsh)



Tôi là người ít giao du - nhất là đối với giới văn nghệ sĩ - do đó với Từ Hoài Tấn tôi chỉ biết anh từ khi lui tới quán cafe vỉa hè “Bông Giấy”, hình như chỉ trong năm sáu năm trở lại đây. Biết Tấn là người làm thơ, nhưng tánh tôi vốn lười nên ít khi đọc thơ Anh, mãi đến 3-11-2012, được anh tặng cho tập thơ “ Đi, đứng và chạy… với thời gian ” vừa mới ra lò. Có lẽ do tên tập thơ đã đánh mạnh vào thị giác, tôi phải cầu cứu đến các nhà thơ lớn: Baudelaire từng viết về hội họa hiện đại : “ Nó đi, nó chạy, nó tìm kiếm. Nó tìm cái gì vậy? Nó tìm thi ca. Bài thơ là công việc của bước đi có tính toán, chiếc dép co giãn tàn tạ và chiếc giầy đau thương rách nát. Nó đi bằng cái đầu, hay đi trên dây…” J. Maulpoix.

Holderlin lại viết: “ Làm thơ là hoạt động thuần chân nhất trong tất cả các hoạt động. Vì thơ là trò chơi tự do của sức tưởng tượng, chân chính đạt đến sự siêu thoát vô lợi hại.”

Cao Hành Kiện, người nghệ sĩ lưu vong này từng được giải Nobel văn chương thì viết : “Tả tác là một thứ chạy trốn, từ thực tại thiếu thốn chạy trốn vào cõi tưởng tượng để tìm lấy sự đầy đủ.”

Tôi mới bắt đầu đọc thơ THT, và vừa đọc qua là mê ngay, tuy rằng thơ Tấn không phải là thơ dễ đọc, mà như J.J. Maulpoix. nhận xét: Thơ là thứ đối tượng của ngôn ngữ khó khăn, một sự dũng cảm, một công việc vĩ đại và biến hóa, đề xuất hay bắt buộc, là sự cô đọng tối đa của sự kiện ngôn ngữ tập trung trong một không gian thu hẹp.

Tôi nhập vào thơ Tấn quá dễ, phải chăng chỉ vì đồng cảnh ngộ, cùng là những con người mang nỗi đau lìa bỏ quê hương. Nên khi đọc đến bài “Mùa mưa 2009” nước mắt tôi cũng tuôn ra dầm dề như:

Những giọt mưa rơi mãi vào quá khứ
Nơi ấy tuổi trẻ của tôi
Nơi ấy tình yêu của tôi
Mềm diu và đắng cay
Đằm thắm nỗi đau sự sống
Nỗi thương nhớ sắc nhọn
Cứa nát những đêm dài chốn xa xôi.

Đúng như lời của Heidegger: “ Thi ý là năng lực cơ bản - nơi con người cư trú. Thơ là hình ảnh nhắm vào ký ức, cũng như tia sáng của nó…” Và càng thấm thía câu thơ của Chế Lan Viên: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở / khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.

Tôi vốn nghèo nàn dốt nát nên phải mượn ý của các vĩ nhân để diễn tả ý tưởng của mình, đó là những lời của Merleau-Ponty, của J. Maulpoix, như sau: “ sự tối tăm của chân tướng sự vật là để bảo trì trạng thái thần thánh của nó, hay tác phẩm là cội nguồn của một hình thức và ý nghĩa tiếp xúc với vô nghĩa”. Hay nói như Maulpoix: Từ của thơ không phải nhắm vào ngữ nghĩa hẹp hòi của từ điển mà tìm đến cái tiềm năng và phản xạ hỗ tương của nó. Làm mới và phân phối ngôn ngữ thành hình ảnh, nó nhắm vào ký ức cũng như tia sáng của nó. Sự "ngần ngại kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa mà bài thơ cũng ở giữa sự tước đoạt và khống chế “ J. Maulpoix.

Có như thế chúng ta mới hiểu được bài thơ “Thơ rời tháng năm” của Từ Hoài Tấn :

Những hàng sao đứng vút cao cùng năm tháng

Ở đây tác giả đã lợi dụng tính đồng âm của ngôn từ sao, cây sao …

Thường xuyên ngồi dưới vệ đường nhìn xe cộ, người qua lại
Nhiều người ở bên nhau không nói năng

Ngôn ngữ thơ của Từ Hoài Tấn mới đọc qua có vẻ nhạt nhạt nhưng nghiền ngẫm kỹ mới thấm thía, những cây sao cao vút được nhắc đi nhắc đến ba lần, thân phận con người ngồi dưới vệ đường quá nhỏ nhoi tồi tệ, chỉ lấy mắt nhìn xe cộ, người qua lại, không nói năng không biết làm gì …

Thời kinh tế khủng hoảng … thì chính trị cũng khốn đốn, con người vẫn thường xuyên ngôi bên vệ đường lặng lẽ.

Phải là con người của tuổi đời đã ngã về chiều, đã vỡ mộng. Sống trong tầm nhìn của dĩ vãng. Sự chia tay ngọt lim và đau đớn như vết dao cắt trên ngực.

Đã kiệt sức trên những lối mòn, cuộc sống như giam hãm trong những vòng kẻm gai buộc / Tìm cơn mộng hàng đêm / Chỉ có thể cười trong cõi khác …/ Ngày đi và đêm xuống mối tình em mang rơi theo / Hình như ta không còn nữa / Như chiều xuống và lòng em rơi theo / Hạt bụi muốn bay theo cùng gió (Khúc ban chiều).

Hiểu lời thơ không phải như sự biểu hiện mà phải tìm về từ nguyên của tình cảm. Như mối tình em mang … ngày đi đêm xuống …, phải hiểu là tình em là lý tưởng ta mang ở trong lòng cũng rơi theo với thời gian. Và đời ta kể như không còn nữa. Thân như hạt bụi này muốn bay theo gió. Để rồi một chiều có tiếng hát ai đó:

Có lời lệ của em xưa / Có ấm hơi tình cũ kỹ / Có buồn thổi mộng thành thơ (Khúc hát chiều)

Thơ của THT mang đầy bản chất thi tính “Piotique”., nhưng cái hay của bài thơ không phải ở đó mà chính là ở bản chất tồn tại. Tính tồn tại đó ẩn kín sau ngôn từ, theo Heidegger chính đó là chân lý nguyên thủy.

Khi có một thời đại mới hiện ra thì người ta phát hiện cái tối sơ hiển hiện ra tinh thần tân thời đại và nguyên tắc của nó chính là nghệ thuật. Nghệ thuật dùng cái thực tiễn phát hiện của nó là tinh thần mới và cái nguyên tắc mới.

Cái đạo lý ấy là phạm vi to lớn của dân tộc và của con người, mà chúng ta không thể nào cản được một cách chân thiết. Mỗi cá nhân của con người chúng ta tự mình đều mang một vận mệnh. Nhưng vận mệnh là một thứ tồn tại siêu việt tính, không giống như cảm tính sự vật bình thường hàng ngày, chúng ta chỉ có thể trực tiếp biết được. Tự mình biết được phải xử trí với vận mệnh ra sao? Đó là khi bị đau khổ chúng ta mới biết đến vận mệnh. Thống khổ phát sinh không thể không đấu tranh. Chúng ta xác thực cần đến một thứ nổ lực, thống khổ là một thứ thể nghiệm tình cảm sâu sắc, nó khiến chúng ta phải chụp bắt lấy tâm linh của mình, bắt buộc phải quyết đoán, phải làm gì? Thật ra không có một thứ lý luận có thể giúp chúng ta giải quyết được sự thống khổ, cùng quyết đoán bước ngoặc quan trọng của đạo lộ nhân sinh. Thực tế chỉ có thể giải quyết qua con đường nghệ thuật. Vận dụng tất cả các phương tiện công cụ: ca hát, nhảy múa, viết, vẽ, điêu khắc, kể lể, than vãn, nói lên cái điều không nói được nghẹn ngào ...

“ Trả lại cho tình em không còn cách nào giữ lại em giữa hai bờ sống chết / ... trả lại cho tình em vì không còn cách nào giữ lại em / Khi em đã là người khác / Khi đôi mắt em là ngọn lửa khác/ Khi lời tình yêu đã là tiếng vang vọng và khi ngày đã trở qua đêm …"(Chỗ không cùng)

Rõ là “niềm cô quạnh không nguôi”

Những con đường ôi những con đường / Không gặp một con đường nào cả /
Cũng như nỗi cô đơn: Những con đường ôi những con đường giống nhau / Mỗi ngày đi qua ôi mỗi ngày thường giống nhau., phải hiểu đó là hình ảnh nhất nguyên nhàm chán, khắc nghiệt.

Sao chỉ có tình yêu không giống em - nhỏ nhẹ âm thầm …

Đến đây tôi cũng như mạch suối khô cạn, đúng hơn viết không ra chữ nữa mà phải mượn chữ của các danh nhân: “Có lắm điều bí mật trong vũ trụ đã bị che dấu bằng cái áo khoác của ánh thái dương” “Maulnier” hay như “Shakespeare” từng nói : Ngôn ngữ có thể biến đổi những qui luật mà ở đó có nhiệm vụ trong vòng chức năng của nó “ Đổi xanh ra đỏ, đổi trắng ra đen” như:

Tôi về qua đại lộ / Buổi trưa / Con ngựa sắt khò khè

Hay: Tháng giêng treo mình trên ngọn cây / ngoài trời nắng nóng 37 độ C / Bạn bè bốc hơi tứ tán / núi và biển gọi…ngôn ngữ mang tính lơ lững … không phải bất lực - mà như Foucault nói: Nó nắm vững những quyền lực mới. Nhưng mơ hồ quá, nói về oi bức hạn hán thì lớp thơ trẻ Sài Gòn cũng thông thạo., tôi cầu cứu đến Nguyễn thị Ánh Huỳnh: Bầu trời hạn hán có tiếng chim đang nứt nẻ cười /…cứu em với con chim thời gian / Bắt em làm tỳ thiếp … anh ơi!

Thơ là thông qua ngôn ngữ đạt đến sự tồn tại. Thơ của THT trong tập đi đứng này…có đến 77 bài, tôi đã đọc hết và nghiền ngẫm khá lâu cả năm trời. Tôi cũng không đủ thẩm quyền để nói rằng đó là tập thơ toàn bích, nhưng sau khi phân tích và tìm hiểu phải mạnh dạn nói tập thơ đã đạt được phẩm chất tồn tại, nôm na là đọc được“ Song trùng ngữ cảnh” hay ngữ cảnh nước đôi. Nói theo người xưa thì thơ đã đượm màu thần bí, nó có cái “ vị ngoại vị” hay “huyền ngoại huyền” “ tức là ăn hay uống đã qua khỏi cổ còn nghe có hương vị đậm đà hay tiếng đàn đã dứt mà con có âm vang êm diu…” sự sáng tác của Từ Hoài Tấn đã theo đúng nghĩa của nó, là có liên quan đến ý thức thời đại, và ý thức thẩm mỹ của dân tộc, xã hội. hay nói như Maulpoix, nhà thơ không bao giờ xa lánh hoàn cảnh của con người. Nó vừa tự tìm thấy nằm trong lòng của thế giới và có thể duy trì thành vòng tròn bao quanh từ ngữ. Trong cảnh ngộ đó, nó nhấn mạnh và đào sâu sự nghịch lý bằng cách dùng ngôn ngữ không phải đột xuất mà là để ghi khắc đến nơi đến chốn. Làm một bài thơ là tự đối diện và tự nhận chìm mình.

Tiếc rằng tôi không còn sức lực để viết về thơ Từ Hoài Tấn nhiều hơn, nhưng vẫn mong rằng với những phân tích thô sơ, tôi cũng hèn nhát như tác giả: “không thể mở miệng nói yêu em, …bởi lời nói bay ra khỏi miệng bờ môi - sẽ là lời kết tội … cũng đủ đưa các bạn vào vườn thơ u ám nhưng đầy thích thú. Nó là sự hiện hữu, là một lộ trình, nó là tác phẩm của sự sáng tạo định vị, hiện hữu thâm nhập trong thời gian ghi khắc vào lịch sử, tùy thuộc vào xã hội và là một phẩm loại có thể biểu hiện theo cấp số nhân làm mới lại những kết nối, cải trang và sáng tạo cái điều nó chưa có và tự hồi tưởng lại cái nó không còn nữa.


Khổng Đức
Tháng 3 năm 2014




GHI CHÚ:
• Những chữ in nghiêng là thơ trích trong tập thơ của Từ Hoài Tấn

• Đi, đứng và chạy … với thời gian – Thơ Từ Hoài Tấn – NXB Hội Nhà Văn tháng 11 năm 2012 – Bìa và phụ bản Lê Thánh Thư.

• Mời đọc toàn bộ tác phẩm tại đường link:

http://art2all.net/chantran/chantran_tho/tuhoaitan/didung/ddcvtg.html








Từ Hoài Tấn & Phan Nguyên












Trở về 











MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả. 

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.