Sunday, 31 July 2022

Đoàn Giỏi (1925 – 1989)









Đoàn Giỏi 
(17/5/1925 – 2/4/1989)

Nhà văn



hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957. Ông có những bút danh khác như: Nguyễn Hoài, Nguyễn Phú Lễ, Huyền Tư.

Các tác phẩm của Đoàn Giỏi thường viết về cuộc sống, thiên nhiên và con người ở Nam Bộ. Tác phẩm "Đất rừng phương Nam" là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Đoàn Giỏi.Tác phẩm này được lấy một đoạn để cho vào sách giáo khoa lớp 6.






Tiểu sử

Đoàn Giỏi sinh ở quê tại xã Tân Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho.
Ông xuất thân trong một gia đình địa chủ lớn, có hàng trăm mẫu ruộng màu mỡ ven sông Tiền. Nhà ông xưa tòa ngang dãy dọc, nơi mà bây giờ trở thành trụ sở Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành.

Ông từng theo học tại trường Mỹ thuật Gia Định trong những năm 1939-1940. Khi Cách mạng tháng Tám thành công và toàn quốc kháng chiến bùng nổ, gia đình ông đã tự nguyện hiến toàn bộ nhà cửa, ruộng đất cho chính quyền Việt Minh.

Trong những năm Việt Nam chống Pháp, Đoàn Giỏi công tác trong ngành an ninh, rồi làm công tác thông tin, văn nghệ, từng giữ chức Phó trưởng Ty thông tin Rạch Giá (1949). Từ năm 1949 đến năm 1954, ông công tác tại Chi hội Văn nghệ Nam Bộ, viết bài cho tạp chí Lá Lúa, rồi tạp chí Văn nghệ Miền Nam

Sau 1954, ông tập kết ra Bắc, đến năm 1955 ông chuyển sang sáng tác và biên tập sách báo, công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam, Hội Văn nghệ Việt Nam. Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III.
Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đất rừng phương Nam là truyện viết cho lứa tuổi thiếu nhi nổi tiếng của ông. Truyện đã được dịch ra nhiều tiếng nước ngoài, xuất bản ở Liên Xô, Hungari, Trung Quốc, Đức, Cuba...

Ông mất ngày 2 tháng 4 năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh ung thư. Ngày 7 tháng 4 năm 2000, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đặt tên ông cho một phố thuộc Quận Tân Phú.








Tác phẩm



Truyện dài



(1948)


Cá bống mú
(1956)


(1957)


(1962)





Truyện ngắn



Hoa hướng dương
(1960)





Truyện ký




(1956)


(1955)













(1948)


(1975)











Kịch thơ

(1947)


(1949)





Thơ






(1954)





Biên khảo



(1981)


(1982)








Thành tựu nghệ thuật

Đoàn Giỏi là nhà văn đã biến đất rừng phương Nam trở thành thân thuộc, đáng yêu đối với độc giả, không chỉ là độc giả nhỏ tuổi. Những trang văn của ông thấm đượm hơi thở của sông nước, rừng cây, những câu chuyện cả thực cả kỳ bí của thiên nhiên Nam bộ hoang sơ và truyền được hơi thở ấy cho độc giả. Có được điều đó không những là nhờ tình yêu của ông đối với miền đất Nam bộ quê hương mà còn ở óc quan sát tỉ mỉ, tinh tế, lối văn kể chuyện hấp dẫn trong tác phẩm của mình.




Câu đối Tào Ngu - Đoàn Giỏi

Đoàn Giỏi cộng tác với buổi phát thanh Hướng theo ngọn cờ cứu nước của Đài Tiếng nói Việt Nam. Sau chiến thắng đường 9 - Nam Lào, Đoàn Giỏi viết một bài cho đài, đúng hơn là một câu chuyện tâm tình giữa Đoàn Giỏi với một người bạn cũ, thời học chung với nhau ở trường trung học Mỹ Tho, được thể hiện dưới dạng một lá thư dài, chia ra nhiều đoạn và phát thanh liên tiếp nhiều lần... 
Người bạn ấy lúc bấy giờ là đại tá, tư lệnh một sư đoàn của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau đó, vị đại tá này cũng "đáp trả" bằng câu đối:

Trung Quốc có Tào Ngu mà giỏi
Việt Nam có Đoàn Giỏi mà ngu









Trở về





MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.















Wednesday, 20 July 2022

Nguyễn Xuân Thiệp

 









Nguyễn Xuân Thiệp

Sinh quán Huế
làm thơ đăng báo từ trước 1954.
học ở Huế và Sài Gòn.




Dạy học ở Mỹ Tho, nhập ngũ 1963, làm phát thanh Quân Đội ở Pleiku, Đà Lạt, Sài Gòn.
Tháng 5.1975 đi cải tạo tới 1982.
1995 sang Mỹ -in thơ ở Văn Học, Thế Kỷ 21, Hợp Lưu, Văn...
1998, xuất bản tuyển tập thơ Tôi Cùng Gió Mùa (nhà Văn Học, Cali).
Chủ biên tạp chí Phố Văn từ 2000-2008.
Hiện định cư cùng gia đình ở Dallas, Texas.












Tác phẩm



Tôi Cùng Gió Mùa
(Nxb Văn Học, Cali)







Thơ Nguyễn Xuân Thiệp
(Nxb Phố Văn)







Tản Mạn Bên Tách Cà Phê











(thơ)

(thơ)

(tạp văn)

(thơ)

(thơ)

(thơ)

(thơ)

(tạp văn)

(thơ)

(thơ)

(thơ)




























































































Nguyễn Xuân Thiệp.
Photo Bảo Huân. 2015








TÔI CÙNG NHÀ THƠ NGUYỄN XUÂN THIỆP






Tựa ở trên, tôi vay mượn từ thi tập từng gây tiếng vang “Tôi Cùng Gió Mùa” của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Trước tiên cho tôi được bày tỏ đôi điều: Anh tôi, Trung Tá. Bắt đi học tập cải tạo tận ngoài Bắc. Giống các cựu quân nhân khác, anh sang Mỹ nhưng chọn sống ở một thành phố nhỏ, ít đồng hương, thầm lặng. Biết em mình có viết văn, anh cho hay nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp từng là bạn học chung lớp đệ Tam ở trường Quốc Học, Huế. Kể điều này ra chỉ để xác nhận, với tôi nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp đúng nghĩa là một người anh. Thơ anh làm từ dạo tôi còn là một cậu bé khờ khạo.

“những câu thơ anh viết
dài theo đường chim bay
cũng là bông tường vi
sáng nào em đã hái”

Lớn lên tôi vẫn đi sau lưng anh, mơ có lần được hái nụ tường vi. Tôi biết anh không mấy thích trả lời những cuộc phỏng vấn. Vậy thì chỉ xin hiểu cho những “tâm sự” được ghi lại dưới đây thuần là buổi chuyện trò bình thường giữa hai anh em chúng tôi. Nếu có sai sót xin anh Nguyễn Xuân Thiệp vị tình và các độc giả khoan thứ.



Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Kính chào anh Nguyễn Xuân Thiệp. Hình như anh vừa có chuyến đi dài, sang tới Virginia?

Nguyễn Xuân Thiệp (NXT): Thân chào nhà văn Hồ Đình Nghiêm. Đúng vậy. Đầu tháng 7, mình có qua Virginia một tuần lễ. Đã hơn hai năm rồi mới có dịp trở lại đây. Những con đường rợp bóng cây, phố xá, nhà cửa và cả con người dường như không có thay đổi. Duy chỉ bạn bè nhiều người không còn nữa: Ngô Vương Toại, Nguyễn Minh Diễm, Đinh Cường…

HĐN: Trước đó, anh có làm bài thơ cảm động “Sắp đi Virginia. nhớ Đinh Cường”. Thưa anh, đến một nơi biết thiếu mặt bạn, hẳn chuyến đi của anh mất vui phần nào? Anh có nhặt được một kỷ niệm tinh khôi chốn nhiều cây xanh bên ấy?

NXT: Tình bạn mình và Đinh Cường qua hơn nửa thế kỷ. Biết nhau từ thuở tóc còn xanh cùng viết báo Đời Mới qua bao nhiêu chặng đường đời, sáng và tối, êm ả nhẹ nhàng rồi bùng lên đổ vỡ, chết chóc, chia ly. Sài Gòn, Đà Lạt, rồi California, Virginia… Những nơi mình và Đinh Cường thường có mặt bên nhau –ăn uống, chuyện trò, rong chơi, làm thơ, vẽ tranh… Nhân đây xin đăng lại bài thơ đã viết cho Cường cùng lúc với bài viết cho Mai Thảo trong một tựa đề chung ‘Hoa Bluebonnets và Nắng Thơ Tôi’

BÀI ĐINH CƯỜNG

đâu rồi. cụm hoa bluebonnet
của mùa xưa. giờ vùi trong tuyết
bạn nhìn phương đông. cây phong du
gió lay. hồn còn neo bóng nguyệt
kiếp bạn vẽ tranh. tôi làm thơ
dẫu thân đã khô. đời đã kiệt
hư ảo. lưng trời đàn sếu qua
mùa đông rồi. chúng đi trốn rét
bạn trốn đâu. a. tôi trốn đâu
chui vào tranh. vào thơ. láo hết
đốm lửa vẫn cháy nơi quê xa
những hồn không nhà. đau kể siết
thôi cứ co ro. hè phố người
bao giờ mùa hoa bluebonnet
bạn đến tôi. rót rượu lên trời
có nắng vàng. màu nắng thơ tôi
vào đông 1997

… Và còn rất nhiều bài nữa -trong Thơ Nguyễn Xuân Thiệp và Thơ Mạn Đà La- đếm ra không dưới mươi bài. Với mình, những bài thơ đó là chân tình, cảm xúc nghệ thuật xen lẫn nỗi đau. Đinh Cường mất đi, anh em bạn bè thấy trống vắng nhiều lắm. Thiệp này, mỗi lần qua Virginia là qua với Đinh Cường. Anh em thường gặp nhau ở nhà Phạm Cao Hoàng, nhà Trương Vũ, Sài Gòn Quán, hoặc Starbucks… Nay qua không còn Cường nữa, hỏi có buồn không. Tuy vậy, trong trí tưởng lúc nào anh em cũng thấy có Đinh Cường bên cạnh, cùng nhau nâng ly rượu đỏ hoặc đọc đôi câu thơ lưu lãng.

HĐN: Tôi không thích so sánh, nhưng luôn mang một ý nghĩ: Đọc thơ anh tôi như đứng trước một bức tranh êm đẹp đầy sắc xanh của hoạ sĩ Đinh Cường vẽ cảnh Huế mơ mòng (chữ của Bùi Giáng) hoặc Đà Lạt đầy sương ẩn hiện những hoa dã quỳ. Nói rõ ra, anh bước vào thế giới hội hoạ bằng lối đi khác.
“chỉ còn thời gian
mái tóc em
thân thể em
đầy hồn
sẽ trổ bông mùa cuối
dẫu ta không nhìn thấy nhau”

Bài thơ là một bức tranh. Anh có nạt nộ thằng em từng học qua mỹ thuật khi hắn lỡ ví von tựa thế?



NXT: Đặng Tiến viết về Tôi Cùng Gió Mùa của Nguyễn Xuân Thiệp có đưa ra nhận định khi nói về những bài thơ làm ở Mỹ “bây giờ hình ảnh mới lạ, trực tiếp, như một bức tranh hội hoạ hiện đại”:

Tháng chín cơn mơ nào ở Oklahoma
thoảng mùi tử đinh hương
quanh trời sấm dội
con chim màu đỏ trở về
một mình, đứng hót trong mưa
(1997, tr.168)

Và còn nữa:

em có nhớ. mai kia. sẽ mưa trên hồ sen. trên
rặng nhãn
tôi làm cánh chim cổ tích bay ngược thời gian
em chơi nhảy dây. nhớ cột giùm đôi vạt áo thơ.
con chuồn chuồn. đỏ
vết đau ấu thời. chiếc kẹp tóc. quên trên ổ rơm

Còn nữa:

em và bầy chim én
vẫn bay. trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê

anh đi trên mái nhà
anh đi lá thông khô
đã đấy trong màu nắng…

Anh NXT “bước vào hội họa bằng lối đi khác”.Thật vậy sao, Hồ Đình Nghiêm? Có thể Nghiêm học mỹ thuật nên có cái nhìn chân xác và sâu hơn chăng?Mình cũng thấy thơ mình và tranh Đinh Cường có chỗ gần nhau trong cảm xúc. nhưng mặt khác mình lại thấy gần với Marc Chagall nữa.

HĐN: Huế và Đà Lạt. Hai “địa linh” ấy có phải phần nào dựng nên thứ khí hậu riêng biệt có trong thơ anh?

NXT: Huế, Sài Gòn, Mỹ Tho, Pleiku, Nha Trang, Đà Lạt đều là những thành phố thân thương của mình. Nhưng đúng như Hồ Đình Nghiêm nói, Huế và Đà Lạt đã góp phần dựng lên khí hậu trong thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Huế là thành phố thời nhỏ. Đó là nơi mình sống với mẹ cha, anh chị em, những người bạn của thời mới lớn, nơi bắt đầu yêu và mơ mộng. Vương Phủ. Với cây bàng, mái ngói, dòng sông, nhà thơ siêu thực Võ Ngọc Trác, Dạ Khê, Diệu Uyển, chị Thoa và bé Thỏ. Thật ra, bé Thỏ chỉ là một hư cấu. Bây giờ nhiều cái đã không còn, nhiều người đã chết. Nhưng Vương Phủ vẫn có một đời sống riêng trong thơ và văn mình. Và đây, xin nói tới Đà Lạt. Đà Lạt là thanh xuân của mình, của Thanh Sâm, Lê Uyên Phương và nhiều người nữa. Ôi, làm sao quên được.

Anh trở lại đồi cao
nhặt trái thông. trong nắng
tưởng bài thơ buổi nào
bỗng. đầu cành. chín. rụng

trái thông. trái thông khô
bằn bặt ngọn lửa nhỏ
của một ngày. hồng trăng

đã về. dốc sương mù
đã về. cây hoàng hôn
tiếng gà trưa vẫn gáy
bông phù dung. trong vườn…

HĐN: Và tình bạn? Anh quen nhiều văn nghệ sĩ. Anh dành cho họ những câu thơ thật đằm thắm. Một nhà thơ, sự cô đơn có gây tổn thất cho tấm lòng dễ rung cảm?

NXT:
‘Bạn bè như lửa ấm chiều hôm’. Không biết ai đã viết câu này nhưng nó quá đúng với mình. Bạn bè có nhau trong sum họp nhưng cũng rất cần có nhau khi chiều hôm lạnh giá, nó như ngọn lửa để sưởi ấm chờ đêm tới, ngày qua. Ở trên đã nói nhiều về tình bạn. Chắc chắn nó sẽ ở với mình và thơ cho tới giờ cuối.

HĐN: Ngang đây tôi lại xin lần nữa được “hàm hồ”. Đôi ba bài thơ của anh khi đọc thầm, nghe tựa một đoạn giao hưởng ngắn. Với anh, thơ, hoạ, nhạc dường như phải gắn bó vào nhau? Một gặp gỡ tình cờ? Anh thường làm thơ bất chợt hay có sẵn một ý tưởng từ trước?
“Anh trở lại đồi cao
nhặt trái thông. trong nắng
tưởng bài thơ buổi nào
bỗng. đầu cành. chín rụng”.

NXT: Vậy ư? Dường như Hồ Đình Nghiêm là người đầu tiên nhìn ra điều này. Vô cùng cảm ơn. Thơ, họa và nhạc hòa chung với nhau trong một tổng thể. Xưa nay vốn vậy. Xem tranh Chagall, Monet, cả Paul Klee và Đinh Cường có phải ta đã cảm nhận được một hòa điệu tuyệt vời của thơ, họa và âm nhạc. Đọc Les Feuilles Mortes của Jaques Prévert ta cũng cảm được điều ấy. Bây giờ nói tới làm thơ. Không có một hình ảnh, một ý tưởng, một cảm xúc, âm vang khởi đầu thì làm sao có thơ. Nhưng hình như Paul Valery có nói ở đâu đó, rằng nàng thơ chỉ cho ta câu đầu còn lại là đổ mồ hôi.

HĐN: Tôi vừa nhìn ra một bức tranh ít chữ khác của “hoạ sĩ” Nguyễn Xuân Thiệp:
“uống cạn chén rượu này
xa. kia. đồi cỏ tía
chiều
màu của cơn giông. tàn úa. trong cây
lời cuối. lúc chia xa
bay từ hốc lửa
thư viện. giờ này đã vắng. tiếng đàn im. người đi
qua cầu. một mình”…

Một bức tranh mà thủ pháp ấy chẳng phải ai cũng thủ đắc. Tình ngay, có khi hội hoạ e không đủ sức để diễn đạt, để vẽ “cỏ tía. cơn giông tàn úa trong cây”. Hình ảnh đó thật quá đẹp! Thưa anh, trong các bộ môn nghệ thuật, chắc anh sắp hạng thi ca lên hàng đầu?

NXT: Không đâu, Hồ Đình Nghiêm ạ. Chẳng qua là mình yêu vẻ duy mỹ của thơ mà thôi. Mình rất thích khi Nguyễn Thị Khánh Minh thấy thơ là những bức tranh. Mà không chỉ là những bức tranh trong phòng triển lãm mà cả những bức tranh treo ở những gốc cây dọc đường và vẽ trên những bức tường. Ôi thơ…

HĐN: Tôi yêu hai câu thơ của Bùi Giáng:
“Bây giờ tôi đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con”.
hoặc rất mực thích hai câu của Trần Huyền Trân:
“Xa nhau gió ít lạnh nhiều
Lửa đêm tàn chậm mưa chiều đổ nhanh”.

Thưa anh, dường như thể thơ lục bát không mấy lôi cuốn anh?

NXT: Trong đời dường như mình chỉ làm có hai bài lục bát cho hai nàng mình yêu thời xa xưa: một cho Sương Trúc ở Quy Nhơn và một cho HTNHân hồi ở Đà Lạt. Chỉ có vậy thôi. Thơ lục bát coi vậy mà khó làm hay. Cho nên mình rất yêu lục bát của Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Hoàng Anh Tuấn, Hoàng Trúc Ly, Hoàng xuân Sơn….

HĐN: Từ khi bỏ công chăm sóc tờ tạp chí Phố Văn cho đến khi đổi nó qua dạng báo điện tử, niềm vui nỗi buồn nào anh từng gánh vác, thưa anh?

NXT: Phải ngưng tờ Phố Văn là nỗi đau khổ của mình. Tờ báo ấy là công đóng góp của nhiều người. Nó đẹp và khác hẳn các tạp chí văn học từ trước tới nay, từ trình bày bìa cho tới minh họa, dàn bài, nội dung. Phan Lạc Phúc sinh thời đã viết một bài rất hay để giới thiệu nó và nói nó có vẻ gì đó của tờ Les Nouvelles Littéraires trong văn học Pháp. Tiếc là không đủ tiền đủ sức để tiếp tục xuất bản Phố Văn. Sau này chuyển qua báo mạng mà mình nói đùa theo kiểu của Nguyễn Đức Sơn là lên trời viết blog. Theo đuổi nó cũng hao công tốn sức lắm nhưng như một cái nghiệp còn sống là còn làm.


Tạp chí Phố Văn


HĐN: Nếu tôi có ý định mở ra một trang văn chương ảo. Xin anh bày vẽ cho đôi điều căn bản, những thứ nên tránh.

NXT: Làm tờ báo mạng coi vậy cũng có thể đem đến cho mình và bạn bè niềm vui. Tất nhiên là phải yêu thích và bỏ công chăm sóc nó. Trước hết là phải nhờ người có tài và óc thẩm mỹ design. Phovanblog là do con mắt và nét tài hoa của Đỗ Thọ (em của họa sĩ Đỗ Hoàng Tường) làm ra đấy. Có điều này e hơi khó tránh: đôi khi cũng phải đăng bài mình không ưa thích lắm, nhưng đành vậy thôi.

HĐN: Anh có tính in thêm một tập thơ? Những ghi nhận dưới dạng viết từng lá thư không định kỳ qua văn xuôi của anh cũng rất thơ mộng. Mai đây có cuốn sách nào được xuất bản không anh?

NXT: Hiện tại mình đang lo hình thành tuyển tập Hòa Âm Cùng Thơ Nguyễn Xuân Thiệp gồm những bài viết, thơ và tranh vẽ của anh em. Đinh Cường sau khi ra đi được bạn bè yêu mến tiếc thương thực hiện cho một tuyển tập đồ sộ Ra Đi Mới Biết Lòng Vô Hạn. Mình chắc chắn không có cái diễm phúc ấy nên phải tự làm lấy như một kỷ niệm lúc ở trần gian này. Còn những việc khác thì chưa nghĩ tới.

HĐN: Sức khoẻ anh dạo này có khả quan? Có lẽ tôi chẳng dám quấy rầy anh thêm. Tôi mạn phép thế mặt người anh, bạn học cũ của anh, gửi lời chào anh. Cá nhân tôi xin cảm ơn những chân tình anh dành cho trong loạt câu hỏi “nhiễu sự” vừa đặt ra. Cầu mong anh tâm thân an lạc, nhiều cảm hứng sáng tạo.

NXT: Cám ơn Hồ Đình Nghiêm đã tạo dịp cho bày tỏ tâm tình, lại còn quan tâm thăm hỏi. Nhờ Ơn Trên, mình cũng tạm ổn, còn hít thở, đi đứng, tụ họp với bạn bè và người đẹp nâng ly, cười nói, đọc thơ, viết lách trên trời dưới đất. Nhân đây xin muôn vàn cảm tạ những vị đã theo dõi cuộc chuyện trò trà dư tửu hậu này. Có gì không mãn ý thì xin bỏ qua cho Thiệp này.


HỒ ĐÌNH NGHIÊM
thực hiện bằng điện thư, tháng 7, 2017


















Trở về










MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.









Thursday, 14 July 2022

Hà Cẩm Tâm (1933-2016)

 










Hà Cẩm Tâm
(1933-2016)
Hưởng thọ 83 tuổi.

Họa sĩ








Tiểu sử


Ông sinh tại tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam,
Học vẽ tại trường Mỹ Thuật Gia Định – Sài Gòn, Việt Nam
Triển lãm cá nhân từ hai đến bốn lần mỗi năm tại Việt Nam từ 1950 – 1975 tại:
– Hội Việt Mỹ, Sài Gòn
– Pháp Văn Đồng Minh Hội, Sài Gòn
– U.S.I.S. Hall, Sài Gòn
– Trung Tâm Văn Hóa Đức, Sài Gòn
– Toà Đại Sứ Thụy Sĩ, Sài Gòn
– Thư Viện Quốc Gia, Sài Gòn

Tham dự nhiều cuộc triển lãm Hội Họa Quốc Tế tại Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Ý, Úc Châu, Ba Tây, Hòa Lan, Đức, Tây Ban Nha
Sáng tác từ năm 1950, thuộc trường phái ấn tượng và trừu tượng

Giảng viên tại trường Đại Học Washington, Seattle từ 1978-1981 về môn hội họa cổ truyền Việt Nam

Đã được các báo Journal D’Extrême Orient, New York Times, Washington Post, San Jose Mercury News và các tuần báo nghệ thuật của các tiểu bang Hoa Kỳ phê bình và khen thưởng về các họa phẩm trong các kỳ triển lãm
Dung hòa hai nền hội họa Đông Tây và chọn cho mình một lối đi độc đáo trong lãnh vực nghệ thuật tạo hình
Các họa phẩm với chủ đề về Ngựa đã được các nhà phê bình nghệ thuật và giới yêu tranh vô cùng ca ngợi về bố cục, màu sắc cũng như đường nét.

Họa sĩ Hà Cẩm Tâm, qua đời tại San Jose, 
hưởng thọ 83 tuổi.






nguon:























































































Trò chuyện với "Người Bắt Bóng Ngựa"
họa sĩ Hà Cẩm Tâm

thực hiện: nhà văn Lê Thị Huệ



1. Họa sĩ có thể nói sơ về thân thế mỉnh

Tôi được sanh ra trong một gia đình địa chủ ở Hậu Giang, nay là tỉnh Đồng Tháp, trước là quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc. Ba tôi là người rất sính văn chương và yêu nghệ sĩ. Tôi có 5 người chị đẹp nên phần đông các ông văn nghệ sĩ miền Bắc, Trung, Nam đều có ghé qua nhà. Tôi học được mẹ tôi về tình thương yêu và lòng nhân hậu đến các người tá điền nghèo khó và lòng nhẫn nhục vô bờ. Bà ân cần nhìn họ mỗi năm chèo ghe đến đong lúa ruộng và âm thầm cho họ những đặc ân và thường nói với các con: Người ta ăn ở thì còn, các con ăn thì hết. Hành động và tình cảm của mẹ tôi đã tạo cho tôi thành một người cũng gần giống như mẹ tôi cho đến bây giờ.

2. Ngoài tài năng ra, nhu cầu nào bức bách người sáng tạo tìm đến với hội hoạ ? Anh tìm đến với vẽ từ bao giờ và do vì đâu

Nghệ thuật là nhu cầu tối ư cần thiết cho con người để được giải thoát ra khỏi ngục tù của thành kiến, xiếng xích của thói quen để thăng hoa. Như cô bé Alice bước vào quê hương thần tiên với màu sắc huy hoàng của kỳ hoa dị thảo. Tôi không thích sự chật chội và sự lập đi lập lại nhàm chán. Tôi muốn có một thế giới rộng rãi hơn, nguy nga hơn mà do tôi tự tạo ra là nghệt thuật tạo hình, là hội họa. Nghệ sĩ không sáng tạo là nghệ sĩ chết. Vì tôi biết tôi, tôi thương tôi và tôi thương người, nên suốt 26 năm xa quê nhà, không năm nào là tôi không vẽ tranh. Tôi vui và người cũng vui, tôi hạnh phúc và người cũng hạnh phúc. Tôi bắt đầu vẽ tranh lúc 12 tuổi. Khi tôi vào bưng biền kháng chiến chống Pháp và trở về Gia Định vào học trường Mỹ Thuật vào năm 1951. Như là một giấc mơ đã thành sự thật. Ông thầy dạy vẽ ở bậc tiểu học vào năm 1944 là một hình ảnh thật đẹp mà tôi hằng mơ ước. Con xin cám ơn thầy.

3. Hoạ sĩ sang Mỹ từ năm 1978, nghe nói anh cũng đã từng đi câu tôm ở Alaska. Anh thử kể nghe chơi về những chuyện bên lề này

Mười lăm ngày đêm bão bùng trên biển đông, tôi và gần 100 thuyền nhân đến đảo Pulau Merang, Mã Lai vào đầu tháng 12, năm 1977. Đến Mỹ vào tháng 5 năm 1978. Đầu tiên là New York và tôi ở hầu hết các tiểu bang Hoa Kỳ. Triển lãm tranh đầu tiên trong một gallery giữa rừng của thành phố Harrisburg, thủ đô của tiểu bang Pensylvania, miền đông. Khách đếm xem tranh rất đông ngày khai mạc, ngưỡng mộ nức nở, thưởng thức say đắm rồi ra về. Báo chí địa phương hôm sau đăng tin triển lãm trên trang nhứt huy hoàng, trang trọng, lẫy lừng.

Dẹp triển lãm, tôi đi làm ruộng với các ông mục sư của hội Tin Lành Minoni, một hệ phái không chấp nhận đời sống văn minh, mặc quần áo đen, nón rơm, râu ria xồm xoàm dài lê thê như các ông Hồi Giáo, Trung Đông. Không nghe radio, không xem tivi, ăn uống đơn giản như người tiền sử. Trong giờ nghỉ trưa, tôi lấy giấy bút làm rất nhiều phác họa, dùng tài liệu cho tranh. Sau ba tháng hè, vào thu, thời tiết lạnh buốt, tôi moved qua Seattle, Washington State theo tiếng gọi của anh Thanh Nam và Mai Thảo. Lại vẽ tranh và triển lãm tại thư viện của trường Đại Hoc Washington State. Tôi được mời dạy về mộc bản Việt Nam (block printing) tại trường này trong 4 năm với số học sinh mỗi lớp trên dưới 20 người từ 1978 đến 1981, như là một việc bán thời gian, nên phải làm nhiều việc khác thêm để giúp cho vợ tôi và 5 đứa con còn kẹt lại ở Sài Gòn. Chỉ có một đứa con trai 17 tuổi và tôi trong chuyến vượt biển đầu tiên này.

13 Nghề

Những ngày fiêu lưu trên trái đất
Nghề nghiệp chánh là họa sĩ
Vẽ đủ thứ tranh đủ thứ trường phái
Tự do tung hoành tay fải, tay trái
Đôi khi ngồi yên như là con gái
Có lúc rần rần như là giặc chòm
Nhiều khi nghêu ngao như là ca sĩ
Nhảy nhảy cà tưng y chang con khỉ

(Đó là những ngày còn ở quê nhà...)

Gần mười ba năm sống trên đất Mỹ

Thêm hơn mười nghề có khi là bảy (thất nghiệp)

1.

Đánh bóng sàn nhà bằng máy điện khí
Giây nhợ quay cuồng đô vật suốt đêm
Ba bốn giờ sáng mới chạy về nghỉ


2.

Kế đó là nghề đi chặt thịt gà
Vô trong phòng lạnh tưởng mình thành đá
Đứng trung bình tấn như là ông thần
Tay chặt, tay xô thịt xương thành núi
Phòng lạnh mà người nóng như bàn ủi
Hừng sáng về nhà như con dế nhũi


3.

Nghề tiếp là nghề mài lưỡi cưa
Tiếng thép hú vang như lòai yêu ma
Đầu óc quay cuồng mà lòng ai bi
Làm được sáu tuần nghe mình quá bí
Bởi vì: “Nghe như có thép réo ở trong lòng”
Thì làm sao chiụ nỗi!
Dông!


4.

Kế đó là nghề đi làm King Crab (làm cua)
Trên một đảo nhỏ của Alaska
Nhớ tới Charlot bù long vặn tới
Mình cũng dây chuyền cả triệu càng cua
Chân đạp tay đưa nước xòa đầy mặt
Cũng như hồi nhỏ mình đi tắm mưa
Quần áo xùng xình như là ông Táo

(Vừa “làm Kinh” (King) vừa bị “làm Ráp” (Crab), đã chưa?)


5.

Trở về đất liền lại đi xúc tuyết
Mới được ba ngày thân bại danh liệt
Nghe trong người mình như là hết biết
Bèn cuốn gói chạy luôn mất biệt


6

Nghề kế là đi làm Teacher-Aid
Mình có cảm giác như là cảnh sát
Vừa cảm thấy mình như là tay sai
Bước đi lòng vòng mắt nhìn cô giáo (Mỹ)
Hễ cô nói gì là phải dịch lại (Việt)
Y như con vẹt
Chắc không thể làm mình thành con két
Bèn bỏ đi một cái rẹt...


7.

Thứ bảy là nghề đập phá bình điện
Còng lưng bưng lên đúng thế vừa tầm
Hai tay hết lực cầm búa tài xồi
Xáng vô ba cái là bình tan nát
Một ngày chỉ số là phải ba trăm
Bình điện tan tành, cuộc đời gần rã

Bỗng nhiên nhớ:
Lao Động là vinh quang
Lao phổi là Hồng Bàng (nhà thương lao)
Lao tâm là Chợ Quán (bệnh viện điên)
Lao xương là final (nghĩa trang buồn)


8.

Kế đó là nghề đi làm help-cook (heo cút)
(tạm dịch nôm na là heo chạy trốn)
Vừa làm heo-cút vừa làm đổ rác
Mài dao xắt thịt, chặt cá, lột tôm
Lau chén rửa rau, rửa nồi, rửa chảo
Chạy tới chạy lui hai tay lão đảo
Nhìn qua khung cửa thấy tuyết bay bay
Bỗng nhiên tự hỏi: Tuyết bay hay mình bay?

(Như tranh Chagall người ngã trên mây)


9.

Qua tới mùa xuân đào lỗ trồng cây
Hữu thân hữu khổ lính thú đời xưa
Vác cây đẳng gỗ mịt mờ đất bụi
Làm luôn cuối tuần bất kể nắng mưa
Vì thế nên đời sau có thơ khen rằng:
Nắng mưa là bệnh của trời
Trồng cây là job của người Việt Nam


10.

Tiếp theo là nghề đi làm máy dộng (punch-press machine)
Tiếng nổ ầm ầm như súng cà nông
Hai tay ấn nút hai chân đạp
Thép cứng biến thành hững lỗ hang
Mặt mũi mạt nhôm lấm đầy cát bụi
Tấm thân dầu mỡ bước sang ngang
Chiều về phải đón ba xe bus
Vừa chạy vừa la cũng đến nhà


11.

Trở về Cali đi làm đồ gốm (ceramic)
(Đồ gốm hay là đồ gớm đây?)
Bà chủ lò người ở Lái Thiêu
Cả nhà suốt năm tám người ăn mắm
(Mùi mắm hay là mùi Lái Thiêu?)
Làm hoài như máy: Cúc Trúc Mai Lan
Trúc thì ba lá như dao cắm
Vẽ tới vẽ lui chẳng thấy nhàm
Thị hiếu khách hàng bà đã nắm
Men chảy, ma-che (Matières) đừng có ham
(Mỗi lần ngồi vẽ một lần hắc ám)



... Chổng mông làm ròng ba tháng
Trả lương hai tháng, một tháng cũng đi chơi
Rồi thôi! Bà khai phá sản, bankcruptcy. Hi Hi!
Dân tộc ta bốn ngàn năm văn hiến!
Hô biến!


12.

Thập nhị nghề là giữ trẻ sơ sanh
Bên cạnh là nấu nướng quét lau
Phải biết thay tã làm sao
Cho ăn cho bú ngọt ngào chẳng sai
Cuộc đời thật quả là vui
Cám ơn đất mới dạy tôi đủ nghề
Cách ngôn xưa có nói:
“Ruộng đất bề bề
Không bằng có một nghề trong tay”
Huống chi tôi được quá nhiều nghề như hôm nay
Giỏi thay!
Hay thay!

13.

Nửa đời người làm học trò trở lại
Sướng làm sao ôi! Cuộc đời thoải mái
Đèn sách hai năm tốt nghiẹp vẽ máy (electro-mechanical drafting)
Làm hơn sáu chỗ vẫn còn lạ hoắc
Mãi tới bây giờ mới thấy quen quen
Có khi thấy mình sướng hơn tiên
Bao nhiêu phiền não đã quy tiên
Mã vẫn đẹp và nghề đã yên...

Mấy tháng không làm thơ
Như là không được thở
Ngày lao động tối dật dờ
Hồn lênh đênh
Và dạ ngẩn ngơ
Mấy tháng không vẽ tranh
Đầu óc như muốn banh
Bàn tay như muốn cháy
Ta đã biết, đã ngộ rằng
Chỉ một con đường
Là vẽ tranh, là vẽ tranh, là vẽ tranh.

(Saratoga, CA. 1989)

Vui nhất là job đi làm cua ở Alaska. Nếu có thì giờ tôi sẽ viết thành một cuốn sách cỡ chừng 50 trang, vì có quá nhiều tình tiết lạ lùng không thể tưởng tượng. Phong cảnh ở Alaska tuyệt vời, thiên nhiên như còn y nguyên, trong suốt. Đời sống người Eskimo cũng rất là hấp dẫn, cuộc sống trên băng của họ thật là sinh động, đầy hào khí, có khi lơ lửng như sống giữa không gian, có khi như giữa lòng băng tuyết.

Ba má tôi tuy là địa chủ, có hơn trên ngàn mẫu ruộng nhưng rất là bình dân và thân ái với tất cả nhưng người tá điền. Ngồi uống trà chung với họ, nói chuyện đất đai mùa màng thời tiết như là trong một gia đình. Nhà tôi có một phòng sách rất lớn với những tủ ngăn được xếp theo từng loại và khuôn khổ như ở thư viện. Các loại sách quý đều có chữ ký của tác giã từ Hà Nội gởi vào, từ Sài Gòn gởi xuống, từ bên Tây gởi qua. Nhà tôi ở cạnh bờ sông, có vườn cam, quýt, mận, ổi, xoài, chuối, chanh thật nên thơ. Má tôi tự tay nấu nướng cho các con ăn mặc dù trong nhà có 4 người làm công, một trai ba gái. Tôi có người anh hai – tức trai cả – học ở trường trung học Petrus Ký (1930) chơi cổ nhạc rất hay, là bạn thân của nhạc sư Vĩnh Bảo, hiện đang ở Sài Gòn, có công chế biến cây đàn tranh, đi trình diễn khắp nơi trên thế giới, cũng là bạn của giáo sư Trần Văn Khê. Anh hai tôi đã qua đời cách đây 10 năm. Ba tôi làm thơ Đường và cũng biết chơi cổ nhạc. Tôi nhớ ba tôi có chiếc ghe hầu, loại ghe rất dài và rộng, được trang trí rất đẹp bên ngoài và bên trong, rèm che sáo phủ, có hai người chèo mũi và lái. Cả gia đình tôi thường ra sông cái chơi bằng chiếc ghe hầu này, có phòng ngủ, ăn, bếp, phòng chơi nhạc cổ. Có khi đi thật xa, bềnh bồng trên Hậu Giang trong những đêm trăng sáng hay lên cồn ngắm sao. Tôi là đứa con được cưng và nuông chiều nhất trong gia đình từ nhỏ cho đến khi có gia đình, cuộc sống thảnh thơi vui thú triền miên cho đến ngày qua Mỹ. Tôi thật cám ơn nước Mỹ cho tôi biết được thực chất của đời sống, cho tôi thấm thía được sự nhọc nhằn và nổi nhớ nhung về một quê hương đã nghìn trùng xa cách.

Thật tôi không bao giờ hãnh diện đã được sanh ra và trưởng thành trong một gia đình giàu có, mà tôi chỉ rất hãnh diện là đã có một người mẹ có tấm lòng từ bi, quên mình để lo cho các người nghèo khổ và hết lòng nuôi dưỡng, chăm sóc đàn con để trở nên những người tử tế. Má tôi là người học rất ít nhưng tấm lòng bát ngát như biển trời. Má tôi là cơn gió thoảng giữa trưa hè oi bức, là dòng suối mát giữa sỏi đá khô cằn. Ba tôi là người rất hào hiệp, giúp cho những người nghèo có con học giỏi ra Hà Nội học các đại học y khoa, mỹ thuật, sư phạm mà không cần đền đáp. Ba tôi rất nghiêm khắc với các chị và em trai tôi, nhưng rất chiều ý tôi từ thưở bé. Mười hai tuổi tôi muốn vô bưng biền kháng chiến là ba tôi sai người làm may cho tôi một cái ba tô và túi nhái, mùng mền và các dụng cụ cá nhân cần thiết để lên đường. Lớn lên khi trở về thành, ba tôi rất muốn tôi học y khoa, nhưng tôi thích vào học trường Mỹ Thuật, ba tôi cũng chấp nhận ngay, không một lời qưở trách. Má tôi thì cứ theo lịnh của ba tôi và theo ý của tôi mà làm một cách thật hào hứng và hân hoan. Từ ngày qua Mỹ đến nay, nếu có nhớ thì tôi nhớ mẹ nhớ cha,nhớ ruộng nhớ vườn, nhớ nước nhớ sông, nhớ những người nông dân chất phác đói nghèo, nhớ những bữa cơm đạm bạc dưới mái lá dột mưa. Tuyệt nhiên tôi không hề nhớ các buổi khai mạc triển lãm huy hoàng hay các bữa ăn linh đình với các ông bà triệu phú hay các người áo quần bảnh bao ở các tòa đại sứ của các nước văn minh.

Tôi thành tâm cám ơn quê hương nghèo khổ đã nuôi dưỡng để tôi trở thành người triệu phú tinh thần...

Tôi cũng nhớ ơn gia đình người Mỹ ở miền đông Hoa Kỳ đã bảo trợ cha con tôi một cách thật ân cần và chu đáo trong những ngày đầu tiên bước chân đến Mỹ từ trại tị nạn Pulau Besar, Mã Lai. Tôi biết chắc vợ chồng người Mỹ này đúng là hai vị bồ tát “tùng địa dũng xuất” như trong kinh Pháp Hoa đã nói, âm thầm phò nguy cứu khổ mà chẳng cần ai biết ai hay, làm như không làm, nhẹ nhàng và hoan hỉ.

Tử vi tây phương, tôi thuộc tuổi bò mộng (Tauraus) hăng và húc nhưng cũng rất mộng và mơ, lãng mạn nhưng rất là thực tế. Sau 2 tháng ở nhà người bảo trợ, tôi lang bạt kỳ hồ khắp các tiểu bang và làm đủ các nghề lao động, không dính dáng ăn nhập gì vẽ vời cả. Hình ảnh người vợ cần cù và 5 đứa con nheo nhóc còn kẹt lại bên nhà thôi thúc tâm trí tôi từng chập. Nhờ làm lao động, nên đời sống tôi được quân bình, nằm xuống là ngủ ngon lành, mặc dù ở ngoài đường toàn ăn hamburger, hot dog, về nhà thì toàn là mì gói đủ các hiệu trên thế giới. Sau 14 năm chia lìa, gia đình tôi được gặp nhau đầy đủ trên đất Mỹ, chuyến đi chót là vợ tôi và đứa con gái út. Dầu sao tôi cũng vô cùng cám ơn các người bạn văn nghệ xưa đã viết thơ hay điện thoại, có lòng tốt, kêu tôi xuống Santa Ana tiếp tục làm họa sĩ. Sau cuộc triển lãm đầu tiên khi bước chân đến Mỹ 6/1978, tôi biết là nghệ thuật phải tính sau. Điều khẩn trương là phải cho vợ con sống trước và gặp lại nhau càng sớm càng tốt thì mình mới sống nổi để mà làm nghệ thuật. Nhớ lại những ngày mùa đông, 4 giờ sáng ra cào tuyết chiếc xe để đi làm, coi lại không phải là xe mình. Lại kiểm tra thật kỹ mà cào cho đúng xe mình. Mùa đông dưới 0 độ mà ướt đẫm mồ hôi, cũng nhờ vậy mà đỡ lạnh. Cám ơn chúa tôi! Hồi ở Việt Nam, 4 chữ không khí gia đình chỉ là lý thuyết, có trong tuồng cải lương Đời Cô Lựu hay trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn, hay là của đầu môi chót lưỡi trong những lúc trà dư tửu hậu. Ở Mỹ, bốn chữ không khí gia đình không còn là lý thuyết nữa mà nó thực tế hơn thực tế, còn cần thiết hơn cơm ăn áo mặc, cần thiết như oxygen để thở. Lúc ở Việt Nam, cứ tưởng đi không ai tiễn về không ai hay là sướng nhứt đời. Suối 10 năm ở Mỹ, chẳng ai thèm hỏi thăm ngó ngàng gì tới mới thấy thật là khủng khiếp. Liberté ou La Mort, Tự Do hay là Chết tự nhiên có hai nghĩa rõ ràng ( một là tự do, hai là chết và khi được tự do thì tự tự do hay là chết)

Chập chờn thức dậy vào một, hai giờ sáng, không nằm thở mà làm thơ:

Nửa đêm hôn cánh tay mình
Tự nhiên sao thấy thương mình quá thương...

Rồi bò lại lấy màu lấy cọ vẽ tranh. Thơ mình mình đọc, tranh mình mình coi, đứng ngồi xớ rớ chẳng vui chẳng buồn. Vui hay buồn không thành vấn đề, nhưng khi đồng hồ reo là tự động lồm cồm ngồi dậy chuẩn bị vào hãng lập tức, vì khi bấm thẻ vào cửa trễ một phút thì bị trừ nửa tiếng, cứ thế mà nhân lên và trừ xuống thì biết sự thảm thương ra sao.

Nhờ trời, mấy ông con trai tôi trốn qua Mỹ từng đứa. Tuổi teenage vào trung học Mỹ! Cha ham vui một, con ham vui mười, cha ngang tàng mười, con ngang ngược 100, cứ tỷ lệ đó mà nhân lên... Tôi vừa làm cha, vừa làm mẹ, trước la sau khóc, đầu óc quay cuồng, ăn ngủ chẳng yên. Tôi liễu ngộ được cảnh “ gà trống nuôi con”. Cái khoảng trống vắng rùng rợn nầy hóa giải được chỉ có người đàn bà tên là MẸ; người đàn ông tên là CHA không đủ công lực lèo lái con thuyền gia đình đến bến bình an. Thật là họa vô đơn chí; trong thời gian khẩn trương này tôi lại vừa bị thất nghiệp, nên đi đăng ký vào các job shop – chỗ tìm việc của tư nhân – và sở thất nghiệp, chờ gọi tên như légionnaire - lính đánh thuê-. Hễ kêu là đi làm liền vào ngày mai. có khi làm trong 1 tuần, 2 tuần... Ngoài ra còn phải tự làm hơn 100 cái resumé – lý lịch kinh nghiệm nghề nghiệp – gởi đi các hãng xưởng khác. May mắn làm sao, có tin cho biết là vợ con tôi sẽ qua được Mỹ vào tháng tới theo chương trình đoàn tụ. Chẳng những họa vô đơn chí mà phước cũng vô đơn chí; khi vợ con tôi đến San Francisco, một tuần sau tôi có được việc làm...

Tất cả mọi điều tốt lành xảy ra như một phép lạ. Các con tôi có được người MẸ, sau 14 năm đứa con gái út tôi mới gọi được tiếng BA, vợ tôi mới gọi được tiếng ANH và tôi mới gọi được tiếng EM. Các bạn thân đều gọi tôi là Family Man và cũng biết tôi rất thương người và thương đàn bà rất nhiều, nguồn cội là hình ảnh và tình thương của MẸ tôi.

Tôi thấy thật minh bạch là người đàn bà hơn người đàn ông về rất là nhiều mặt, nổi bật nhất là tình thương và sự kiên nhẫn. Các ông được mặt nỗi bên ngoài hùng hổ ồn ào, sôi nỗi, hung hăng, bách chiến bách thắng. Liên nghĩ đến công ơn của các bà Khổng Tử, Mạnh Tử, Trang Tử như các bậc anh hùng vô danh, lặng lẽ nuôi dưỡng, nuông chiều, chịu đựng các nhà đại tư tưởng, đại hiền triết Trung Quốc, nếu không có quý bà thì quý ngài Trang, Khổng, Mạnh đã TỬ từ lâu rồi. Cũng liên tưởng tới bà Văn Cao, nếu không có bà Văn Cao săn sóc chu đáo thì chắc ông cũng văng cao từ lâu rồi. Nếu không có bà Thái Hằng thì chưa chắc ông Phạm Duy có được những nhạc phẩm tuyệt vời làm rúng động lòng người từ Chiến Khu Việt Bắc, liên khu 5 đến Sài Gòn và khắp 4 vùng chiến thuật. Nếu không có những người con gái đàn bà đẹp và dễ thương thì làm sao Trịnh Công Sơn sáng tác được những ca khúc bất diệt mà hầu hết các người Việt Nam trong cả ba thế hệ đều say mê và thuộc lòng từng chữ từng câu, từng âm vang óng ả, là niềm an ủi vô biên, là một định lực ẩn tàng để sinh tồn và trưởng dưỡng.

Lời sau cùng vẫn là lời cảm tạ với tất cả tấm lòng, sụ trân quý và biết ơn đến tất cả những người phụ nữ Việt Nam đã có công chắt chiu, âm thầm xây đắp một quê hương gấm vóc, thương yêu và gây dựng người chồng, người con để được xứng danh, rạng rỡ là địa danh sanh nhân kiệt, được gọi yêu là NAm HảI DỊ NhâN.

4. Họa sĩ có thấy tự do là nhu cầu cần thiết cho những kẻ sáng tạo ? Tại sao có hiện tượng là một số người sáng tạo từ những xứ sở kềm kẹp như Việt Nam sang xứ tự do như xứ Mỹ lại mất hẳn sức sáng tạo

Những người học ở trường Mỹ Thuật thường là những người có tính giang hồ, và trường Mỹ THuật cũng là một trường làm phát triển bản tính này. Ngoài những bài vẽ cuối tuần ở các vùng của Gia Định như Hàng Xanh, Cầu Sơn, Cầu Lầu, Cầu Băng Ky, XÓm Giá, Xóm Đình, Miễu Nỗi, Lăng Ông, Bà CHiểu; còn các chùa chiền, xóm hẻm ở CHợ Lớn, Cầu Ba Cẳng, Xóm Củi, Cầu Chữ Y... Các vùng ngoại ô như Phú Lâm, Đức Hòa, Đức Huệ, BÌnh Chánh... Rất nhiều thời gian đi vẽ bên ngoài, cho nên từ cành cây ngọn cỏ, từ con gà, con heo, cào cào châu chấu, cắc ké kỳ nhông, mùi bùn mùi hoa, các quán trà nước vối cho tới các người phu xích lô, các quán cơm lao động, nhất là tình thân của các em bé, các cụ già bên bờ ao, dưới bóng tre, bên bờ ruộng... đã in sâu vào tâm khảm của những người đi học trường Mỹ Thuật cho nên khi bỏ nước ra đi, mọi ngời đều mang trong lòng một quê hương yêu dấu, đầy đủ tình tiết êm đềm hay éo le, đầy đủ nụ cười giọt lệ, đầy đủ những vết thương kỷ niệm, không cách chi delete (xóa mờ) cho được. Tự động nó cứ high light (lộ lên) mãi cho tới khi qua đời, có thể high light dữ dội hơn khi từ giã thế gian nầy. Ai biết?

Nước Mỹ thật đúng là một nước tự do đúng nghĩa của nó. Muốn sống kiểu nào thì sống, ăn mặc thế nào cũng xong, muốn suy tôn ai thì suy, muốn đả đảo ai thì đả, muốn đi thì đi, muốn ở thì ở, chẳng cần thủ tục giấy tờ, chẳng cần trình phường trình khóm; muốn khóc cứ khóc thả cửa, muốn cười thì cười hết ga, muốn chơi với ai thì chơi, không muốn chơi bất kỳ với ai thì nghỉ.

Văn nghệ sĩ muốn viết cái gì thì viết, muốn làm hùm làm báo thì cứ làm. Họa sĩ muốn vẽ cái gì thì vẽ, hiện thực, trừu tượng, lập thể, vô hình dung hay sáng tạo một trường phái nào mới, tha hồ đặt tên gì thì đặt. Chẳng ai bận tâm mà ngó ngàng hay cãi vã gì cả. Thật đúng với nghĩa độc lập, tự do.

Nhưng tại sao lại có hiện tượng là phần đông các họa sĩ Việt Nam lại mất cảm hứng sáng tác trên đất Mỹ? Rất có nhiều lý do nhưng cái chính là sự thiếu vắng TÌNH NGƯỜI, TÌNH BẠN, TÌNH YÊU. HỒn ai nấy giữ, mạnh ai nấy sống không có sự cần thiết và nương tựa nhau như bà con lối xóm cần nhau, khi ốm đau hay khi tối lửa tắt đèn ở quê nhà. Ở Mỹ có điều gì nguy cơ khẩn cấp là nhấn số 911 vì nhà ai cũng có điện thoại, cảnh sát và xe cứu thương đến ngay, cứu bồ lập tức. Chưa có ông họa sĩ nào mà ngồi vẽ một mình, ngắm tranh một mình và nói chuyện một mình... Van Gogh là một người bản lĩnh cao cường, tập trung trong tất cả XÁC+HỒN cho hội họa mà còn phải thỉnh mời ông Gauguin về sống chung để cùng sáng tác. Đến khi Gauguin bỏ đi thì Van Gogh bỗng nhiên nỗi điên, phải vào bệnh viện tâm thần và cuối cùng là tự tử. sau khi vẽ “Bầy quạ đen trên đồng lúa vàng”. Van Gogh từ Hòa Lan qua Paris, lại có Théo là em trai hỗ trợ về vật chất lẫn tinh thần để sáng tác, nhưng từ khi Gauguin bỏ đi và Theo lấy vợ thì Van Gogh không chịu đựng nỗi sự cô đơn nên đành phải kết liễu đời mình.

Các họa sĩ Việt Nam qua Mỹ phải chịu hai mặt giáp công: tinh thần quá cô đơn và thể xác thì bị thử thách quá sức vì thời tiết, chưa điều chỉnh kịp để thích nghi với một cuộc sống tốc độ của nền văn minh cơ khí. Ta cũng dễ hiểu tại sao họ lại mất hẳn sự sáng tạo. Bây giờ thì đã có những dấu hiệu tốt là các họa sĩ Việt Nam ở hải ngoại đã phục hồi và có được rất nhiều họa phẩm có giá trị nghệ thuật rất cao.


5. Một tác phẩm hội hoạ tuyệt vời có cần thời gian để chứng minh không ? Hay thời gian chỉ là trò chơi chính trị lên tác phẩm

Một tác phẩm hội họa tuyệt vời là một tác phẩm hội họa tuyệt vời, không cần thời gian hay lý luận, phê bình, phân tích. Một tuyệt tác phẩm hội họa tự nó đã đẹp, nó đã có cái ngôn ngữ của nó mà ta không thể nói ra hay viết xuống. Nó là tấm lòng, là sự hiến dâng vô điều kiện cho tha nhân. Sự chứng minh phê phán chỉ là cát bụi. Lắng đọng và thưởng thức là thái độ khôn ngoan nhất của người yêu tranh.

6. Hội họa Việt Nam là thứ hội họa gì vậy ? Họa sĩ thử gọi tên, đặt tên cho hội họa Việt Nam đi

Căn bản của dân tộc VIệt Nam là thơ mộng, trữ tình và lãng mạn. Trong cái họa có cái may. Sự xâm chiếm nước ta của Tàu và Tây thật sự đã làm đau khổ dân tộc ta quá nhiều. Bù lại sự mất mát lớn lao ấy, hai nền văn hóa Tây Tàu đã hiển nhiên làm cho nền văn hóa ta thêm phong phú, đa dạng với một sắc thái độc đáo mà không một nền văn hóa đông tây kim cổ nào trên thế giới có được. Trong lãnh vực hội họa, các họa phẩm lẫy lừng của các đàn anh về sơn dầu, bột màu, phấn tiên thuộc Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương 1925 và của các họa sĩ Việt Nam bây giờ đã chứng minh một cách hùng hồn giá trị tuyệt đỉnh của nền hội họa Việt Nam.

7. Anh được đặt cho biệt hiệu là "Người Bắt Bóng Ngựa". Trong một buổi tán gẫu với những người bạn văn nghệ trẻ ở đài phát thanh "Tiếng Nước Tôi", cô Mây Lan xướng ngôn viên đài đã đặt cho anh một tên gọi như vậy khi biết là anh đã vẽ hơn một nghìn bức tranh về ngưa. Nói đến Hà Cẩm Tâm là nói đến tranh ngựa. Họa sĩ có một mối đam mê đặc biệt về ngựa và đã từng âu yếm nói hoạ sĩ yêu ngựa như yêu đàn bà, ngựa và đàn bà giống nhau

Tôi thuộc loại thích cuộc sống đơn giản như đang giỡn nên trong các cuộc họp mặt nghiêm túc long trọng là không có tôi. Nếu lỡ kẹt bất ngờ thì tôi bỏ đi một cách thật hồn nhiên. Tôi thích vẽ ngựa nên có nhiều người đã đặt cho tôi rất nhiều hỗn danh mới nghe rất kỳ, nhưng nghĩ lại thật dễ thương. Trên một đất nước tự do, ai muốn nói gì nói, nói về mình, nói về người khác, nói về hữu hình, nói về vô hình... nhưng CÁI GIÁ TRỊ THẬT vẫn chính là tác phẩm – trong nghành văn học nghệt thuật – Lời qua tiếng lại, bàn tán xôn xao hay âm thầm chọc phá cũng không là tăng hay giảm cái thực chất của tác phẩm hay rung rinh cái chỗ nằm của tác giả.

Cám ơn Mây Lan đặt cho tôi cái biệt hiệu “Người Bắt Bóng Ngựa”, một cái tên thật nhẹ nhàng, vừa hiện thực lại vừa trừu tượng, vừa lộn xộn lại vừa đàng hoàng, vừa tỉnh táo mà cũng lại vừa điên điên. Cuộc triển lãm 3 ngày tuy thật ngắn ngủi mà cũng thật là bất tận trong tâm hồn tôi tại Đài Phát Thanh Tiếng Nước Tôi vào đầu xuân 2003. MỘt hạnh phúc tròn đầy, chứa chan tình bạn. Có những người bạn 50 năm mới gặp lại nhau ở phòng tranh, có những người bạn mới 15 tuổi mà tâm hồn thật già, ngôn ngữ thật trong sáng, thẳng thắn như tiếng nói của trái tim như: “ coi những con ngựa bác vẽ, cháu thật là hồi hộp, trái tim cháu đập thình thình”.

Rất có nhiều người hỏi tại sao tôi thích vẽ ngựa. Xin trả lời đại khái cho vui: Từ ngày đầu vào học trường Mỹ Thuật (1951), từ tỉnh Đồng Tháp đến Sài Gòn, tôi được sống trong một gia đình nuôi cơm tháng cho các sinh viên trường vẽ có các xe thổ mộ – xe ngựa – tại bến tắm ngựa, phía sau viện ung thư, tỉnh GIa Định. Các con ngựa bụng tròn, chân ngắn, làm việc thật cực lực mà bị la hét, đánh quất trong các chuyến xe của các bạn hàng chợ chở đầy ấp hàng hóa khi đến dóc cao... Nhiều con ngựa đã ngã quỵ, sôi bọt mồm, mắt trợn trắng. Hình ảnh đó chấn dộng tôi thật mạnh, khiến tình yêu ngựa trong tôi thật mạnh, hiện lên trên khung bố của các bài vẽ cuối tuần (Croquis Samedi) để nộp cho thầy vào sáng thứ hai.

Tôi nói ngựa và đàn bà giống nhau là giống về cái đẹp của hình dáng và đường nét, cái giống về bản tính siêng năng, chịu đựng và nghĩa tình, về cái bi hùng của đoàn ngựa khi ra trận mạc. Có một thời gian dài nhìn đâu tôi cũng thấy ngựa. Nhìn lên trời những áng mây, nhìn xuống cái cột biển chập cùng... cầm cọ lên là ra ngựa, bỏ cọ xuống là ra tranh. Bước ra đường thấy các thiếu nữ yêu kiều đi giày cao gót, cổ chân vòng cung, mái tóc bềnh bồng, đôi tay mượt mà, cái lưng dấu ngã là hình ảnh dấu yêu của con ngựa lại hiện về như một người bạn tri âm. Tuy có hơi cải lương, nhưng đó là sự thật. Nhà văn Nguyễn Bá Trạc đặt tên tôi là Tâm Ngựa, thật không sai; danh từ hay động từ không thành vấn đề, no problem!. Nhớ lúc ở trại tị nạn Pulau Besar Merang ở Mã Lai 12/1977, tôi vẽ những cái quán cà phê và hàng dừa gió bay, anh Mai Thảo ngồi uống cà phê nhìn tôi vẽ và nói: “Toi" vẽ dừa hay vẽ ngựa? Lá dừa bay mà như ngựa bay”. Tôi cười, dừa bay, ngựa bay, người bay... Mai Thảo gật gù cười cười. Thật là vui. Khi qua tới Seattle 1978, anh và tôi cứ ước mơ có ngày mình trở lại thăm trại tị nạn Pulau Besar Merang. Thật là true comes dream!

Có một cháu trai nhỏ xíu hỏi tôi bằng tiếng Việt Nam với giọng Mỹ : “Tại sao bác thích vẽ ngựa?” Tôi nói ngựa nó cũng giống như bác cháu mình, nó thích bạn bè, vui chơi với nhau, đi đâu cũng đi có bầy. Người Việt mình thường nói, “ Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ”. Tôi dịch qua tiếng Mỹ cho cháu hiểu, và cháu cười: à há, I got it. Thank you bác Tâm. Trong dịp lễ Valentines vừa rồi tôi có vẽ một bức màu hồng, người đàn bà mang giày cao gót bước đi và phía sau là một con ngựa, đuôi thật dài cũng bước đi. Có bà đến hỏi: Bức tranh này tên chi? Tôi nói tranh tôi thường là do bạn bè và khách xem tranh đặt tên. Có người bên cạnh nói, tức là Ngựa và Đàn Bà. Tánh tôi hay đùa nên nói tiếp lời, nếu nói ngắn gọn là Ngựa Bà. Bà khách giận tôi và bỏ đi một nước ngon lành.

8. Người ta đang nói về một thế giới hiện đại là thế giới "nghe và nhìn". Họa sĩ nghĩ là khiếu thẩm mỹ của con người có thể thay đổi theo môi trường toàn cầu hóa chăng ?

Khiếu thẩm mỹ của con người, sự khát khao cái đẹp, niềm hoài mong trở về mái nhà Chân Thiện Mỹ là niềm mơ ước của loài người. Không ai thích sự chia lìa, đau khổ, bạo tàn. Mỗi người là một tác phẩm tuyệt vời của thượng đế. Không ai giống ai về hình dáng và tâm tình. Không thể lầm lẫn người này với người khác dù trên đường dây điện thoại cách xa hơn nửa vòng trái đất.

Tình cảm con người từ thuở hồng hoang đến bây giờ vẫn là tình cảm con người. Giống nhau nhưng cũng rất khác nhau. Thấy vậy nhưng không phải vậy. Cảm nhận và trực giác trong mỗi con người có khi đối chọi nhau thật mãnh liệt. Có những điều những vật ta không phải thấy bằng mắt và nghe bằng tai, nhưng thật là chính xác, thật là nồng nàng. Ta dùng một giác quan khác ngoài ngũ giác là trực giác, giác quan thứ sáu. Sự mầu nhiệm này không thể dùng trí thông minh mà suy xét, dùng khoa học thực nghiệm để chứng minh, dùng sự tưởng tượng thượng thừa để kết luận. Đẳng cấp tuyệt luân này con người không có khả năng với tới nổi, vì đây là chuyện bất vô tư nghì, không thể nghĩ bàn được.

9. Tôi có đọc một bài phỏng vấn người hoạ sĩ mà tôi rất thích tranh của ông, Balthus. Balthus nói những họa sĩ tự xưng là đương đại quên rằng căn bản của nghệ thuật là kỹ xảo (craft), và các họa sĩ đương đại thì ưa nói vẽ là diễn tả cái "tôi" (self expression) mà thực tế vẽ chỉ là vẽ (paint)

Cái mất mát lớn lao nhất của con người văn minh vật chất là hay cải vã, lý luận và phân tích một cách tận tường nhưng cứng ngắc về những tác phẩm nghệ thuật. Đọc những bài phỏng vấn, những bài phê bình về các đại văn hào, đại họa sư, tràng giang đại hải, chỉ làm cho cuộc đời vốn đã phức tạp lại càng thêm phức tạp, ngôn ngữ trần gian hạn hẹp càng làm cho vấn đề càng thêm mù mờ. Nếu thi hào Nguyễn Du hay họa sĩ Picasso sống trở lại để nghe các bài phê bình văn thơ hội họa chắc cũng phải lắc đầu ngao ngán. Ví dụ như các nhà sử họa viết về thời kỳ xanh thời kỳ hồng của Picasso một cách thật tỉ mỉ và nghiêm túc như là người bạn thân tình, sáng tác bên cạnh Picasso. Biết đâu Picasso vẽ một loạt tranh màu xanh vì các loại màu xanh còn nhiều quá và sau đó lại vẽ một loạt tranh màu hồng vì màu đỏ và màu trắng còn ứ đọng trong kho. Cho nên người họa sĩ nếu thật là họa sĩ thì vẽ chỉ để vẽ. Có thể vì nhu cầu sinh lý như đói ăn, khát uống, mệt nghỉ, khỏe đi chơi, vậy thôi. Người họa sĩ ngồi trước giá vẽ không tính toán chi li, không cốt truyện lòng vòng, không muốn bức tranh mình sắp vẽ đẹp hơn các bức tranh khác, không có ý miên man mình sẽ triển lãm ở bảo tàng viện, sẽ có nhiều người đến thưởng ngoạn, ngợi khen. Người họa sĩ ngồi trước khung bố ngây thơ như em bé mặc áo mới, quên cài nút, như bà mẹ ru con trên chiếc võng đong đưa, như “con chim ngứa cổ hát chơi”... Người họa sĩ trong phút giây sáng tác buông bỏ tất cả, đưa linh hồn và tình cảm mình nô đùa trên khung bố.

10. Hội họa tham dự vào đời sống của người vẽ lẫn người tiêu thụ ở những điểm nào?

Người vẽ là người sáng tạo. Người ngắm tranh cũng là người sáng tạo. Sự đưa đẩy và thân ái của người vẽ và người xem, tạo nên sự bí ẩn thần tiên, không bút mực nào tả được, cũng không thể nói ra lời. Niềm hạnh phúc hiện nguyên hình, chỉ có người vẽ và người xem tranh thấy và nghe. Tuyệt đối đệ tam nhơn không cách chi chen lấn vô được. Sự ngạc nhiên từng hồi, sự kỳ vọng từng chập, sự lạ lùng từng cơn và vô tận, đã đưa người vẽ và người xem tranh thành MỘT, để chung về cõi trăng sao.

Năng khiếu thẩm mỹ của người xem tranh thức dậy từ bên trong, tràn ngập một niềm xao xuyến vô cùng thanh tịnh, tự nhiên hiểu được sự vận hành vi diệu của vũ trụ, thật toàn hảo và thần kỳ, triệt thấu được sự huyền bí trong ta mà từ lâu ta muốn biết. Hội họa thật sự tối ư cần thiết cho con người trong đời sống căng thẳng và bận rộn khắp mọi nơi trên quả địa cầu này. Tưởng tượng nếu cả thành phố đều sơn đen thì kinh khủng đến ra sao.

11. Ai là người dễ tạo nên sự tiêu thụ hay thưởng ngoạn hội họa. Các nhà phê bình, chính quyền, người tiêu thụ, hay như hiện nay ở Mỹ là các công ty lớn. Riêng Việt Nam thì hình như cả bốn thành phần trên đều chưa xuất hiện. Anh nghĩ sao về điều này

Việt Nam thì chẳng có cái gì gọi là hệ thống hóa, nhất là sự tiêu thụ hội họa. Họa sĩ tụi tôi như đào kép, chẳng biết làm thương mại, cũng không quen cộng trừ nhân chia, không ưa bè đảng, tiền thì rất là cần nhưng chẳng biết cách nào làm ra, con nhà lính tính nhà quan, lại có tật tùy hứng, on off up down thường trực nên cứ tà tà sống, đi làm, vẽ tranh, tán gẫu vui chơi, tới đâu thì tới...

12. Tôi nhận xét thấy thơ văn trong nước tiếp tục phục vụ nghệ thuật nói lòng vòng, nói bóng nói gió, nói xa xa mục tiêu. Thơ văn ngoài nước có khuynh hướng phát tướng nghệ thuật nói thẳng nói thật, nói vào mục tiêu. Theo họa sĩ thì hội họa Việt Nam trong nước và ngoài nước có những điểm nào khác biệt như bên viết không?

Người vẽ tranh đại kỵ là vẽ theo yêu cầu, vẽ theo ý của người mua tranh. Đôi khi cần tiền trả các bills thuê nhà, bảo hiểm xe, điện thoại, điện nước, bố và màu, nên đành phải vẽ theo ngoài ý muốn. Cũng là bài học kiên nhẫn. Sống ngang ngang kiểu ở Việt Nam trước năm 1975 là nát xương vì thời tiết tức khắc. Cũng may là chỉ năm thì mười họa mới phải vẽ theo đơn đặt hàng. Trên đất Mỹ, thật sự tôi được tự do hoàn toàn khi sáng tác. Tâm hồn tôi thật thong dong và thoải mái. Tôi không uất ức, chẳng hận thù khi cầm cọ lên để nên họa phẩm. Tôi thấy bát ngát tình thương, thương trời thương đất thương cảnh thương người – không có người nào làm tôi bực bội hay khó chịu – tôi thật hạnh phúc được làm người vẽ tranh ở đây – San Jose, California. Cám ơn nước Mỹ. Cám ơn cuộc đời!

Các công trình nghệ thuật trong nước là dấu ấn của một xã hội tiến bộ,văn minh trên đà phát triển và phục vụ con người. Người nghệ sĩ phải hoàn toàn được tự do khi sáng tác. Hình thức văn nghệ chỉ huy là hình thức vô cùng lạc hậu và tàn nhẫn. Tôi có người bạn ở Sài Gòn, vừa làm điêu khắc vừa là họa sĩ, tài hoa và “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, bỏ nghề vẽ chạy xe ôm. Hỏi tại sao. Anh kể vào năm 1997 hay 1998 gì đó, nhà nước có tổ chức một cuộc thi về điêu khắc và hội họa toàn quốc. Tất cả anh chị em nghệ sĩ vì nhu cầu, vừa đói ăn lại vừa đói sáng tác. Có ba giải thưởng rất lớn. Cuối cùng, phe ta chẳng có ma nào được giải, mà cả ba giải nhất nhì ba đều thuộc về tay của ba người trong ban giám khảo 7 người, ba vị giảm khảo này đều có tác phẩm dự thi. Không biết hư thực ra sao chứ nếu vừa là giám khảo vừa là thí sinh thì không có chi khôi hài bằng. Nếu có sự thực như vậy thì xin chấm dứt ngay. ASAP!

Tôi có dịp về thăm Sài Gòn vào tháng 5 năm 1997. Galleries đầy thành phố, họa sĩ ở Sài Gòn gần 500 người. Cũng rất vui mà cũng rất buồn, chẳng biết nói sao. Thú thật tôi chẳng biết sợ ai, nhưng có nói ra cũng khôn cùng. Chỉ có cách duy nhứt là cầu nguyện cho quê hương mình đỡ khổ hơn, các bạn họa sĩ mình vui vẻ và hạnh phúc hơn.

Hà Cẩm Tâm
http://www.gio-o.com/hacamtam/

March 08, 2003 – San Jose, California. USA















NGỰA TRỜI BẠC KIM GIỮA HOANG NGUYÊN
nhớ họa sĩ Hà Cẩm Tâm


Không biết đã bao nhiêu năm về trước, chắc cũng đã hơn 20 năm, lần đầu đến nhà của hai người bạn, Bích Quyên và Mặc Đạm, ở Los Gatos, tôi được nhìn thấy bức tranh lớn treo ngang phòng ăn của Họa sĩ Hà Cẩm Tâm vẽ một đàn ngựa trắng bạc kim tung vó vươn lên sát cạnh nhau. Tôi đã mãi ngắm nhìn đàn ngựa đó. Ấn tượng về bức tranh nầy còn mãi cho đến ngày hôm nay. Nó phảng phất một màu kim loại nhôm của ánh trăng trong một cảnh tượng sương mù từ ký ức.

Sau đó, trong những lần gặp gỡ, tôi đã có lần nói chuyện với anh Hà Cẩm Tâm về ý nghĩa của loài ngựa, nhất là loại ngựa hoang màu bạc kim, silver, tung vó giữa đồng hoang khô quạnh. Tôi chia sẻ về ý nghĩa huyền nhiệm của hai vế, của loài ngựa và sắc màu kim bạc, như là một kết nối giữa thế giới động vật bốn chân và màu sáng bạc của ánh trăng phản chiếu giữa núi đồi. Mỗi lần được nói chuyện với anh Tâm như thế, anh đã lắng nghe đăm chiêu, gật đầu, trầm tư thêm từ một khuôn mặt vốn đã mang đậm nét trầm tư hiền hòa.

Theo huyền thuyết Ai Cập cổ đại, màu bạc kim, là màu của mặt trăng. Nó là biểu hiện của sự phản chiếu và trí tưởng tượng. Đây là màu sắc xuất hiện nhiều nhất trong các giấc mơ. Và nó cũng là hiện thân của tâm hồn nữ tánh vốn nhẹ nhàng và dịu mát. Khi màu bạc kim này hiện thân vào thế giới vật thể, nó mang bản chất linh hoạt của trực giác không bị trung giải hóa bởi lý tính. Ở cõi kim loại, nguyên lý của bạc kim nầy thu thập năng lực của mặt trăng, đông đặc lại thành chất nhôm bạc, silver. Tức là màu bạc kim, hay là kim loại silver, là hiện thân của tính phản tưởng từ mặt trăng ở cõi quặng mỏ. Từ silver - vì nó là nguyên lý của phản tưởng - mà gương phản chiếu, mirrors, được chế tạo, và nó là nguồn gốc vật thể cho sự tác thành của phim chụp ảnh. Từ đó, phim ảnh là cõi sống của trí tưởng tượng, vốn đến từ mặt trăng, từ nữ tính thiên tạo, qua chất kim bạc.

Trong cõi huyền thoại nhân cách, cõi của màu bạc kim được hiện thân qua các tên tuổi đầy ấn tượng của Gabriel, Diana, Artemis, Khons, Chandra, Ixchel và Mama Quilla. Về hội họa, đó là những tên tuổi của da Vinci và Rembrandt, hay ở phía tôn giáo là Mary và Muhammed, phiá quân vương thì Nero, Thành Cát Tư Hãn, Louis XIX, Nguyễn Huệ. Màu kim bạc tung lên một màn mơ ảo như một tấm vải nhung mỏng, a veil, làm nhẹ đi cái gánh nặng của lý tính và cái nhìn trực diện của đôi mắt trần tục. Khi ngắm người con gái mặc áo màu bạc kim, hay khi nhìn vào một chiếc xe màu silver, hay dang mắt dòm đến váng trời cùng thể loại, chúng ta như đang bị một giấc mơ, một sự tưởng tượng mơ hồ nào đó xâm lấn cơ năng suy tưởng và quan sát của mình.

Bởi thế, khi vẽ ngựa, tôi gọi tạm là mã họa, với màu sắc bạc kim là tông chính, thì Hà Cẩm Tâm đã xung động hóa cái nguyên lý tưởng tượng và nữ tính từ thiên nhiên, hiện thân trên tấm thân của loài ngựa, lên nét cọ của mình. Nhưng tại sao anh Tâm lại chọn loài ngựa cho ánh sáng mặt trăng - tức là nguyệt lý - của anh? Tôi đã có lần hỏi.

Cõi động vật bốn chân có xương sống nằm ngang, horizontal, song song với mặt đất, trong khi con người thì xương sống là thẳng đứng, vertical. Cả hai cõi, theo huyền nhiệm học, người và thú, khi gần nhau sẽ trở nên chiếc thập tự giá đại diện cho năng ý tinh thần đang giao thoa với đòi hỏi của nhục thân. Đối với dân Celtic thì giống ngựa là con vật mang năng động tinh thần cao nhất trong cõi thú. Khi cá nhân cỡi ngựa thì hắn được hoàn tất cái sinh mệnh làm người trên thế gian. Tức là hắn đã đóng vai được chiếc thánh giá của xác và hồn. Ngựa là chiến bào của dũng sĩ, là chiếc hòm vĩnh cửu ôm ấp linh hồn tranh đấu với thế gian, và là hùng khí của thằng con trai khi bước ra đời đối diện với bất thường và vô định.

Khi họa lên những con ngựa màu bạc kim, Họa sĩ Tâm đã mở cho chúng ta một cánh cửa vào cõi tâm thức mà trong đó trí tưởng tượng, imagination, tôi gọi là tưởng thức, đã dung hòa với tâm hồn thành một năng thức psychospiritual sáng bạc như là phim ảnh, một thể loại kinh nghiệm mã tượng, the Equine Psyche, mà chỉ có những ai chiêm nghiệm sâu sắc về bản thể luận của thiên nhiên mới nhận thức được. Vó ngựa tung lên là ý chí khát sống và chiến thắng, đôi mắt ngựa lung linh là chìa khoá vào cõi nguyệt lý, của huyền hoặc và tưởng thức, và đằng sau của ngựa, khung cảnh núi đồi là thực tại tính của trần gian.

Và, nầy, bạn hãy chú tâm nhìn và để ý: Ha! Không khi mô anh Tâm vẽ ngựa có người cỡi cả. Mã nhục kỵ mã vô. Có ngựa nhưng không có chàng kỵ mã. Chắc là anh Tâm đang nói đến một cõi sống cô độc, trơ trọi từ bản thân, nhưng hàm chứa đầy ý nghĩa trên bình diện bản thể của vũ trụ đầy mầu sắc. Như là anh muốn nói, cõi sống nhục thân, của tinh thần, của mã ý, năng thức của ngựa, đang vươn thân đi tìm một giống nhân loại, một tập thể con người mới, những cá nhân xứng đáng để ngồi lên lưng ta, làm bạn hữu với ta, để hoàn tất cái cơ sự thánh giá khi được sinh ra là thú hay là người trên trái đất này.

Carl Jung đã có lần nói rằng con ngựa là hiện thân người mẹ trong mỗi chúng ta. Dân Hy Lạp xem ngựa là con vật tượng trưng cho may mắn. Tín đồ Hindu thì xem ngựa là biểu trưng của vũ trụ. Ngựa cũng là cõi mà ba năng xuất tụ hội: Demeter là khả năng thụ thai, là thần đế của sinh sản, the goddess of fertility, Artemis, nữ thần săn bắn,và Aphrodite, thần đế của yêu đương. (Có lần ra Hà Nội mấy năm trước, đến thăm một vị chánh án cao cấp, ông mời tôi ly rượu được ngâm chế từ tinh trùng ngựa. Tôi đặt tên cho bình rượu của ông là “Rượu thần Aphrodite”). Cả ba năng ý hiện hữu phát huy qua nhịp đập của gót chân ngựa rập rần giữa bình nguyên hay sa mạc. Cái ý chí sinh sản một thế hệ mới tiếp nối chính mình, ý chí tiêu diệt cõi thấp và yếu hơn để chuyển hóa chúng vào nhục giác nuôi thân, và ý năng thông giải hòa nhập vào đối thể qua yêu đương nam nữ trong nhục dục, cả ba ý lực này thôi thức cõi sống con người, và động vật – mà Aristotle gọi chúng là linh hồn, psyche/soul . Và loài ngựa là hình ảnh biểu trưng nhất cho ba năng thức ý chí đó.

Vì thế, bạn biết không, những con ngựa của Hà Cẩm Tâm với màu bạc kim đã làm nhẹ đi, như là để dung hóa bớt, tính năng động ngút ngàn của ba thần đế khao khát đầy tao loạn đó. Những con ngựa cô đơn đứng yên, hay đang tung vó giữa bầy đàn, chúng cho ta thấy cái mà Schopenhauer viết rằng, ôi thực tại vũ trụ nầy, nó chỉ là hiện tượng, là biểu thân, representation, của một Ý chí Đại hồn vô vọng, bất định, mù lòa, vô nghĩa – of a blind and irrational Cosmic Will. Mỗi vó ngựa dồn lên phía trước là ý chí lịch sử hiện thực hóa năng ý vô minh vào thực tại – cho đến khi khổ đau tột cùng đánh thức Chân Tâm về với chính nó. Trên từng nhịp bước cô độc, Hà Cẩm Tâm, qua những con ngựa màu bạc kim, đang nhắc nhở chúng ta phản tưởng về một ý nghĩa cho thực tại tâm thức, về lịch sử, và về ba cõi người, muông thú và thực vật.

***

Hôm nay, trong giờ phút tưởng niệm về Hà Cẩm Tâm, một họa sĩ tài năng, như nhớ tới một người bạn, người anh, tôi xin nâng ly rượu nhỏ, mừng anh đã hoàn tất xong gánh nợ hiện hữu, đã không còn phải tìm chiếc thánh giá giữa cõi người. Nay anh Tâm chắc đã hòa tan tâm và thức cùng ý chí của mình trong màu bạc trắng từ ánh trăng ngà – trong một thực tại vô thời, vô không gian, vô vật thể. Chắc anh cũng gật gù, nhẹ nhàng cười với tôi như những lần chúng tôi từng đã.

Hẹn anh Tâm lần tới, ở một nơi chốn, một cõi Thời nào đó, chắc là sẽ ngoạn mục hơn nhiều, anh Tâm hỉ.


Nguyễn Hữu Liêm
San Jose 7 tháng 4, 2016













một nụ cười an nhiên
Tưởng niệm họa sĩ Hà Cẩm Tâm, 22-3-2016



Không nhớ là năm nào, nhưng phải là trước năm 2009, lần đầu tiên tôi gặp họa sĩ Hà Cẩm Tâm. Buổi sáng ở quán Lan Hương, Santa Anna quận Cam. Chúng tôi đang ngồi uống cà phê với nhau thì anh đến. Nhà thơ Du Tử Lê nói chuyện nhiều với anh. Lần gặp gỡ này, tôi thấy họa sĩ Hà Cẩm Tâm là người dễ gần, anh có niềm vui trong mắt, sự hóm hỉnh luôn ẩn trong lời nói. Du Tử Lê thích những điều anh đem lại, nhất là về hội họa, nên đã đề nghị gặp anh một buổi khác, trao đổi về đề tài này trên đài truyền hình. Tôi không rõ ý định đó, những hôm sau có thực hiện hay không?

Dù chỉ là lần đầu mới gặp, tôi có ngay cảm tình, để từ đó đến sau này, giữ nguyên tình cảm đó với anh Tâm. Lúc anh còn khỏe, đi lại được, chúng tôi thường gặp nhau trong các buổi cà phê, ăn sáng ở quán Lovers. Họa sĩ Quế Hương là gạch nối giữa anh và bạn bè. Lúc ở Nam Cali, tôi gặp bạn văn có thể nói là mỗi ngày, nhưng khi trở lại San Jose thì vài tuần mới gặp nhau, mà phần lớn là gặp các anh chị họa sĩ.

Có một thời gian họa sĩ Hà Cẩm Tâm thường đến phòng chửa bệnh của Mạc Đìa, tại đây ở góc nhà phía sau, có thể tạm xem như một studio nhỏ của anh, bởi có nhiều ống màu và toile mới. Anh vẽ nhiều tranh sơn dầu, phần lớn vẽ ngựa. Thỉnh thoảng chúng tôi ghé lại nhìn anh làm việc. Anh thăm hỏi người này, người khác. Anh nói ít, dí dõm và cười bằng mắt. Tôi nhớ mãi ánh nhìn đó của anh, phía sau nó như có tiếng reo vui nhẹ nhàng.

Gặp nhau, hỏi chuyện ân cần, nhưng anh hoàn toàn không nhớ tên tôi. Những năm tháng gần đây, anh nằm dưỡng ở nursing home, góc ngã tư đường Jackson và Mather, tôi có vào thăm anh vài lần. Ngồi cạnh giường, cầm bàn tay gầy guộc, bàn tay của một thời tài hoa, bây giờ xanh xao như thế này.

Để anh không còn hỏi các bạn về tôi, anh làm thơ dạo này thế nào, trong lần vào thăm sau cùng, tôi mang tặng anh tập thơ mới. Anh cầm cuốn sách mỏng, nhìn cái bìa vẽ Phật của Đinh Cường, lật xem những phụ bản bên trong. Anh gật gù, bài ngắn ngắn thế này đọc được. Tôi nói để anh dễ ngủ thôi mà. Và thầm nghĩ, bây giờ thì anh nhớ ra tên mình rồi.

Không gặp anh giây phút cuối, có tiếc, nhưng đôi khi thấy như vậy vẫn hay hơn, để giữ mãi hình ảnh một họa sĩ Hà Cẩm Tâm tinh tế với nụ cười an nhiên, nụ cười như tiếng reo mừng trong ánh mắt , không lẩn vào đâu được.


LỮ QUỲNH
06.04.2016














Michelle Tạ
Tranh Hà Cẩm Tâm



Coi tranh Hà Cẩm Tâm là coi đường nét.

Nét đánh xuống, phá đời nô lệ
Nét kéo ngang, tìm cõi bình an!
Xổ qua xổ lại bạo tàn,
Là nét đau khổ kiếm đàng thoát ly !

Từ thuở thiếu niên mười hai tuổi Hà Cẩm Tâm đã bắt đầu cầm cọ phát hoạ ra những bức tranh đánh giặc xâm lăng. Đó là thời kỳ kháng chiến chống Pháp của đất nước Việt Nam. Rất tiếc là không có một bức hình chụp nào để lại cho chúng ta được xem .... Nhưng, với số tuổi rất trẻ như vậy, tôi có thể hình dung được những đường nét trong các bức họa thuộc về thời kỳ khởi đầu của cuộc đời họa sĩ, của Hà Cẩm Tâm, là loại tranh thuật truyện (illustrationism), nói về vua An Dương Vương bị mất nước vì công chúa Mỵ Châu cho giặc Tàu là Trọng Thủy. Hình ảnh đậm nét nhất là các sợi lông ngỗng thả lại, để lại vết tích cho giặc đuổi theo sát chân lúc vua đi trốn

Chúng ta có thể tìm thấy những đường nét bình yên, tĩnh lặng trong những bức tranh đồng quê Việt Nam, hay torng những cảnh sông hồ, biển cả .... Nơi đó, đường chân trời được kéo ngang rõ rệt, như mặt nước hồ thu không gợn một chút sóng, như một mặt gương trong sáng, phản chiếu toàn diện trời mây bao la xuống tận đáy hồ. Có lẽ đó là thời kỳ mà người hoạ sĩ này đã từng trải qua qúa nhiều sóng gió của cuộc đời, nên muốn được tĩnh lặng trong tâm hồn. Thể loại tranh này (Idealism) vẽ theo cách rất giống tranh thủy mạc (Transparent)

Cũng như hàng trăm ngàn người Việt Nam đi vượt biển tìm tự do trong cuối thập niên bảy mươi, Hà Cẩm Tâm cũng trải qua cuộc đời tỵ nạn đói rách vơ"i cảnh màn trời chiếu đất .... Hình ảnh con thuyền đánh cá bị đổ nát, chỉ còn trơ lại "xương thuyền" vùi lấp một nửa thân trong bãi cát ... với đầy những nét xổ tới xổi lui, như muốn thoát ly ! Nhưng rồi kết quả ra sao ? Dĩ nhiên, không ai trong chúng ta là không hiểu được hai chữ "TỰ DO", và chúng ta phải trả một giá cao đến độ nào! Đây là thể loại tranh tâm sự (Expressionism) của Hà Cẩm Tâm.

Coi tranh Hà Cẩm Tâm là coi màu sắc.

Trong đen trắng, chập chờn vàng tím!
Rực đỏ cam, có chút xanh tươi !
Rằng đen thì thật tuyền đen,
Nhưng xem cho kỹ, ửng hồng ửng cam!

Nếu như zoom nhỏ lại các bức tranh của Hà Cẩm Tâm khoảng bằng kích thước của một con tem, chúng ta sẽ thấy màu sắc còn lại rất ít, đen tuyền, vàng rực, xanh biếc ... Nhưng nếu phóng đại chúng lên, chúng ta sẽ thấy thấp thoáng phản chiếu những sắc màu tương phản, lúc ẩn lúc hiện

Gam màu của Hà Cẩm Tâm nhìn chung thì rất nhẹ nhàng, rất đơn giản, để hoà nhập vào tâm hồn chúng ta. Hà Cẩm Tâm chơi màu rất nhiều lối, nhưng lối đặc biệt nhất vẫn là lối chơi có chút phá đề, hay nói cho đúng là lối kết hợp màu theo cách tương phản rất kín đáo (direct contrat, split complementary - and not too much).

Coi tranh Hà Cẩm Tâm là coi về vóc dáng.

Có người nói rằng "Sao mấy con ngựa của Hà Cẩm Tâm không thấy lỗ tai ? Sao chỉ vẽ phía trên lưng trên đầu, còn đâu mất phần dưới bụng rồi " Như một ống kính của máy chụp hình đang ở trong độ focus gần khi vẽ tranh Hà Cẩm Tâm không thích lấy rõ nét toàn bộ mọi thứ một cách đầy đủ và chi tiết, ông chỉ nhấn mạnh phần chính điểm thôi. Nghĩa là bố cục và sự phối hợp hình dáng đã được tuyến lựa kỹ lưỡng. Ngay cả khi vẽ một con ngựa, Hà Cẩm Tâm cũng chỉ vẽ những nét đẹp chính như bờm đang bay, vó đang phi mà thôi. Tôi rất thích lối vẽ nhấn mạnh trọng điểm (Impressionism) này của hoạ sĩ Hà Cẩm Tâm

Tương tự như lối chơi phá đề về cách phối hợp màu sắc, khi vẽ xong một bức tranh Hà Cẩm Tâm thích kết thúc tác phẩm bằng vài nét phá đề để cho bức tranh thêm phần sống động (dynamic movement) ... và đây chính là nét tuyệt tác của tranh Hà Cẩm Tâm

Coi tranh Hà Cẩm Tâm là coi về nét phong thủy. (positive energy)

Tranh vẽ có tính chất phong thủy là tranh như thế nào ? Nhìn một bức tranh có tám con ngựa chạy vào ... đại khái là lộc đi vào nhà. Nếu chấm về điểm Hội Hoạ thì "đều đều, rập khuôn, một nét - chát chường!" ... thì là tranh chết. Nếu thiếu sự sống thì sao gọi là tranh phong thủy được ? Còn nếu vẽ cho có sức sống động, ví dụ như chuyển đầu của một (hoặc hai) con ngựa ngoái cổ nhìn về hướng khác, thì lại càng chết (!) ... vì đi sai hướng về phong thủy rồi, nghĩa là tiền không hoàn toàn chạy hết vô nhà .... ! Tranh vẽ rất là phong thủy ở đây có nghĩa là về đường nét, màu sắc, bố cục và nội dung rất là sống động, mạnh mẽ ... thì đạt được từ trường tốt, thì là phong thủy ( chứ không phải lựt vật thế (object) thuộc về phong thủy để mà vẽ).

Phần lớn tranh của Hà Cẩm Tâm, nếu xem kỹ, sẽ thấy điếm trọng tâm của tranh được nâng cao hơn một chút, tất cả các vật thể đều được thăng hoa và tiến lên (composition up lifted). Đường nét cũng vậy, phần nhiều là nét phất lên - nét thăng, và phết rất mạnh tay. Màu sắc cũng vậy, màu chơi ở mức độ còn nguyên thủy, chưa bị pha trộn nhiều. Gam màu rất ư hài hoà, rất trong sáng, rất đơn giản, dễ chịu và dễ cảm ... Nói chung là ... dễ đi vào lòng người

Coi tranh Hà Cẩm Tâm là coi ... trong bóng tối để tìm ra nét sáng!

Ngoài những cách thưởng thức trên, tôi cũng còn thích ngắm tranh của Hà Cẩm Tâm ở cấp ánh sáng khác. Nếu hạ bớt ánh sáng trong phòng xuống, và để lại một ít ánh sáng khuếch tán thôi ( chắng hạn như một chút nắng chiếu yếu ớt, hay một ngọn đèn ngủ thật dịu), lúc đó, những màu sắc ở khoảng trung qua tối sẽ bị ẩn, mất, và chỉ còn những màu từ khoảng trung qua sáng là hiện lên ... Tranh Hà Cẩm Tâm nhìn rất ngoạn mục với cái bố cục ngạc nhiên và vô tình này

Và, cuối cùng, coi tranh Hà Cẩm Tâm là co nội dung.

Có rất nhiều bức tranh chúng ta trưng trên tường nhiều khi chỉ có giá trị về mặt hình thức thôi, chứ không có chiều sâu của tâm hồn ... Nhưng tranh Hà Cẩm Tâm, nó có giá trị về cả hai phương diện

Về nội dung của tranh Hà Cẩm Tâm thì không giấy bút nào ghi cho hết! Hãy thóang nói về tranh ngựa của Hà Cẩm Tâm. Con ngựa trong tranh Hà Cẩm Tâm không phải là cầm thú, mà là con người. Có lẽ còn hơn thế nữa, Hà Cẩm Tâm đã thăng chức nó, phong cách hoá nó lên tới bậc thánh luôn! Chứ không chỉ tới chức người phàm thôi!

Bốn vó ngựa như không chạm đất
Hồn thăng thiên cõi thánh, ngút ngàn.
Ngựa phi lên tới niết bàn!
Hoá thân, lột xác, đẹp hoàn hảo thay!

Có một đêm tôi nhìn bức tranh ngựa của Hà Cẩm Tâm mà rơi nước mắt và thấy thương cho loài trâu ngựa. Con ngựa đã xả mình ra hết sức để hy sinh, giúp đỡ cho đời sống con người được cao sang, hạnh phúc, đầy đủ mọi thự ... Từ trong lãnh vực đánh giặc cứu nước, một lòng trung thành với chủ "nơi chiến trường da ngựa bọc thây" Kéo xe thổ mộ, gồng gánh hàng trăm tấn tải ... mà có được trả lương bao nhiêu đâu, chỉ là những nhúm cỏ ngoài đồng không mông quạnh. Nhiều khi qúa tải qúa sức, bị đánh đập qúa sức, vết thương chưa kịp lành, thế mà từ hừng đông đã phải bị lôi đầu lôi cổ dậy để làm con xe mã cho loài người nữa rồi. Lúc đó tôi thấy đằng sau bức tranh ngựa đó, là hình ảnh chúa Jesus ... thương yê lài người, hy sinh, phục vụ cho loài người đến độ thân tàn ma dại, mà vẫn chưa thoả mãn được hết mọi sự đòi hỏi của loài người, vẫn còn bị hiểu lầm, đánh đập, tra tấn ... đến nổi sùi bọt mép, hộc máu, mà chết.

Hà Cẩm Tâm đã trả tự do cho loài ngựa, con ngựa trong tranh Hà Cẩm Tâm lúc nào cũng nô đùa nhảy múa, như bay bổng lên không, về với thiên đàng thảo nguyên bát ngát của chúng

Con ngựa trong tranh Tàu là con ngựa của biểu hiệu cho Quyền Qúy, Sức Mạnh, Thành Công, Anh Hùng ... Khác với những biểu hiệu đó, con ngựa trong tranh Hà Cẩm Tâm là con ngựa Phục Vụ, Tình Nghĩa. Không phải là con cháu Vua Chúa, mà là con ngựa của Quân Sĩ; với những nét đẹp nhấn mạnh về tính Hy Sinh, Trung Hiếu, Chịu Đựng, Nhún Nhường

Có lần Hà Cẩm Tâm mang cọ của một cậu đệ tử (làm biếng) đi rửa, tôi thấy cảnh đó thì rất cảm động, và hỏi rằng " Có bậc sư phụ nào làm công việc hầu hạ cho đệ tử không ?" Hà Cẩm Tâm trả lời: " Người nghệ sĩ không là gì đâu, người nghệ sĩ chân chính là người biết đi phục vụ cho đời đó!" Cũng như con ngựa, đời nghệ sĩ là đời phục vụ

Giai đoan lão thành của Hà Cẩm Tâm là giai đoạn thăng thiên .... Đã mười lăm năm nay Hà Cẩm Tâm từng trường chay và tu thiền. Một trong những lý do chính của việc không ăn thịt là "thật sự thương loài vật" Ánh đạo vàng trong tâm hồn nghệ sĩ đã thể hiện qua màu sắc trong tranh vẽ. Những ai sắp gần tuổi về trời có lẽ sẽ cảm ra được nhiều hơn qua những bức tranh mang tính thất thiền này (Elevationism)* . Nhìn nó sẽ cảm thấy tâm hồn thêm lắng lịnh và thanh thoát. Hồn người nghệ sĩ đã nhập tâm trong tranh và toả ra tia nắng đạo vàng "Trút bỏ bớt khổ lụy và thăng hoa tâm hồn lên đẳng cấp cao hơn" là nội cung của những bất tranh thiền của Hà Cẩm Tâm. Một trong những bức tuyệt tác của thể loại tranh này là "Tóc Xanh Rụng Xuống Ai Tì Nở Hoa"

Tình dục và tình yêu trong tranh Hà Cẩm Tâm không chỉ thể hiện nhiều qua đường cong của mông và ngực trên thân thể con ngựa ... Mà còn thể hiện nhiều qua những bức tranh Trừu Tượng (Abstraction) ở trình độ cao đẳng. Tôi thấy trong những bức tranh trừu tượng đó, bố cục của tranh rất cô đọng, và xuay vần chung quanh một điểm thật rõ rệt. Màu sắc thì chơi theo lối tương phản kín đáo, phá đề một cách đùa giỡn, nghĩa là lúc hiện, úp úp mở mở ... một cách khiêu gợi! Và là kiểu khiêu gợ thật Á Đông, rất nhẹ nhàng kín đáo, không lộ liễu, không lố bịch ...

Ngoài những nét đẹp về đường con, Hà Cẩm Tâm còn dùng hỉnh ảnh con ngựa để nói lên những tính cao đẹp của người đàn bà như Hy Sinh, Trung Hiếu, Chịu Đựng, Nhún Nhường. Người mà Hà Cẩm Tâm yêu qúi nhất chính là Mẹ của mình. Hà Cẩm Tâm rất thường xuyên nói về vẻ đẹp của người đàn bà Á châu, nhất là "Người đàn bà Việt Nam là người đàn bà đẹp nhất thế giới"

Hồn tranh của Hà Cẩm Tâm thật qúa đẹp! ... Tôi xin được mượn những giòng chữ của cõi vô thường để tặng những người thích tranh Hà Cẩm Tâm

Trăm năm trước đã không có Tâm *
Trăm năm sau Cẩm như không có *
Cuộc đời Hà có, Hà không *
Ngàn năm còn lại họa Hồn trong tranh

Có lẽ, sẽ đúng như vậy, sơn dầu vốn xuất phát từ đá, nên sẽ cô đọng lại thành đá mà tồn tại mãi. Cuộc đời là vô thường và sống chết là lẽ trời. Tuy nhiên "Chân lý thì không bao giờ chết" Nó sẽ sống mãi trong các họa phẩm của Hà Cẩm Tâm

Tuổi đời càng cao sóng đời càng phủ bạc lên mái tóc, và nhân sinh quan của người hoạ sĩ này hình như là cũng hụp lặn cỡi theo triền sóng để tiếp tục tồn tại! Vậy hãy đến xem tranh của Hà Cẩm Tâm để coi đường nét của tranh Hà Cẩm Tâm đã biến hóa đến tầng cấp nào ! Cũng như là để coi những thông điệp mới của người hoạ sĩ này là gì, sau khi đã rũ bỏ mọi sự đời dọn qua "vùng đất Ô Kê" một thời gian ... Biết đâu được ... tranh mới nhất của Hà Cẩm Tâm là thể loại tranh thiền, để thăng hoa cho nhân loại bớt đau khổ ... Biết đâu được, không chừng Hà Cẩm Tâm đã "cải lão hoàn đồng", và tranh của ông tràn dầy nhựa sống như vó ngựa phi thân, hùng dũng khoẻ mạnh! Hay là , biết đâu được, tranh mới nhất của Hà Cẩm Tâm lại là tranh trữ tình, tràn đầy yêu thương, như lời cuối trong buổi tiệc chia tay, ông có nói: "Ngày sau sỏi đá vẫn cần có nhau" Hà Cẩm Tâm mượn câu hát của TCS để nhắc cho mọi người nhớ rằng, không ai là không cần tình thương để sống, ngay đến sỏi đá cũng cần có nhau nữa, thì huống chi loài người " "Hãy thương yêu nhau để mà sông, cho cuộc đời thêm màu sắc tươi thắm, cho nhân loại bớt đau thương, khổ ải!" Xin hãy sống cho có ý nghĩa, như những bức tranh ngựa qúa đẹp của Hà Cẩm Tâm, mà ông đã thường hay nói: "Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ!"

Michelle Tạ

*Chú thích: Có lẽ từ xưa đến nay ít có Thiền Sư và Họa Sĩ trong cùng một người, nên danh từ để diễn tả loại tranh thiền mang tính chất thăng thiên này chưa có trong tự điển hội hoạ, vậy tạm thời dùng chữ "Elevationism" để diễn tả co loại tranh "up lifting spirit" này

*Tâm: hồn - ý tưởng về Phục Vụ, Tình Nghĩa của loài ngựa *Cẩm: Coi như , là * Hà: tiếng cười -rạng rỡ, mới thấy đó đã mất đó

* Hà Cẩm Tâm bắt đầu vẽ từ năm mười hai tuổI, và đã trưởng thành trong sáng tác năm mười bảy tuổi, và năm nay khoảng độ bay mươi ba tuổi. Lớn, nhỏ kể hết: trung bình mỗi ngày ông vẽ khoảng một bức ... Hãy tính nhẩm xem người hoạ sĩ này đã vẽ tổng cộng khoảng độ bao nhiêu bức - Thật là kinh khủng!

Michelle Tạ

Tốt nghiệp bằng cao đẳng Hội Hoạ (AA degree in Fine Art) tại Saddle Back College. Thỉnh thoảng cũng có trang trí sân khấu cho các buổi nhạc thính phòng như sân khấu Mùa Thu Cho Em của VNHelp, sân khấu thơ nhạc Du Tử Lê % Hải Nguyễn, sân khấu dạ vũ cuối năm của ban Phượng Hoàng Lê Huy ....

bấm vào đây xem triển lãm của Hà Cẩm Tâm






















Trở về








MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.