Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Nguyễn Trung








(1940 ........) Sóc Trăng

Họa Sĩ






Khuôn mặt cuối cùng của nhóm Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam được ghi nhận ở đây là Nguyễn Trung, có lẽ là một trong những họa sĩ có nhiều cá tính, tài năng và trí tuệ bậc nhất của giai đoạn vừa qua.

Lúc còn là sinh viên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định đã đạt được những giải thưởng hội họa quan trọng: huy chương bạc Triển Lãm Hội Họa Mùa Xuân 1961, huy chương vàng Triển Lãm Hội Họa Mùa Xuân 1963. Say mê theo đuổi nghề nghiệp, dám bức phá những ràng buộc, qui cách nhà trường để đi đến những chân trời mới của hội họa nên đã gây nhiều va chạm với các thầy dạy vẽ của trường, điều này bình thường thì đáng tiếc nhưng đối với một số trường hợp ngoại lệ nào đó thì ngược lại. Chúng ta nhớ đến phản ứng của một số nghệ sĩ trẻ thời trước như Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Đỗ Cung, Tô Ngọc Vân, Hoàng Lập Ngôn... với ban giám đốc trường Mỹ Thuật Đông Dương, đó là phản ứng bắt buộc của tài năng khi nhận ra con đường đi tới, cần phải đập tan những rào cản để tiến bộ.

Vào thời kỳ đầu tiên, Nguyễn Trung cũng đã ít nhiều thử thách với hội họa trừu tượng, thứ trừu tượng lãng mạn (Abstraction lyrique) với những đường nét tinh lọc đến cùng cực những chim, nai, đồi, cây, hoa, thiếu nữ... ẩn hiện gợn lên trên nền tranh với hòa sắc lạnh, nhưng chỉ vài năm sau thì bỏ hẳn để xây dựng cho mình một thế giới hết sức cá biệt, dầu vẫn bị ràng buộc trong những phạm trù của một thứ nghệ thuật hình dung. Khoảng năm 1965-1966, ngôn ngữ riêng của Nguyễn Trung đã được định hình, dần dà cũng có ít nhiều chuyển biến nhỏ, nhưng cơ bản thì không có gì thay đổi. Với những đường nét, bố cục vững chãi, chặt chẽ, với một kỹ thuật chững chạc để nhào trộn màu sắc, đơn giản mà vẫn táo bạo, rất cổ điển mà đầy tinh thần sáng tạo và tìm kiếm mới mẻ, nghĩa là với một màu sắc đặc biệt, một bút pháp cá biệt, anh luôn luôn chế ngự được thế giới mình tạo ra.






Rõ ràng là có nghiên cứu và chịu ảnh hường sâu đậm một số nguồn gốc nghệ thuật nào đó. Ví dụ như cách ghi nhận thiên nhiên bên ngoài của Henri Rousseau, hoặc không khí, bút pháp, lối sử dụng màu sắc của một số tiểu họa phẩm và bích họa Ấn Độ và vùng Trung Cận Đông hay một màu ngọc xanh biếc trên những đồ gốm độc sắc đời Tống, nhưng đã nhào luyện, biến chế tất cả những yếu tố ngoại lai trở thành thân thuộc, làm mất đi mọi vết tích cũ để chỉ còn lại là mình: mọi thứ góp nhau lại để chỉ trở thành là một, là ngôn ngữ hội họa Nguyễn Trung. Trả lời trong một cuộc nói chuyện với Đinh Cường, Nguyễn Trung đã chỉ ra cho chúng ta thấy rõ thêm cội nguồn thế giới màu sắc của mình:

Tôi sinh ra ở một vùng phì nhiêu nhất Việt Nam, tỉnh Sóc Trăng, ở đó chỉ thấy toàn ruộng với màu xanh của lúa non và màu vàng của lúa chín. Phong cảnh bằng phẳng đến độ buồn hiu, nhất là mùa mưa thì ruộng là biển nước còn trời là một màu xám chì, chỉ riêng mùa gặt thì cả trời rực vàng và rất thơm, lúc ấy thì còn thấy được chút đỉnh màu sắc của trời cho. Có lẽ vì vậy tôi vẽ phong cảnh rất dở, và tôi rất ít xài màu sắc, có lẽ vì sự ít màu sắc của xứ tôi mà tôi đã chịu ảnh hưởng tính cách đạm bạc của tranh thủy mặc của Trung Quốc, sự khắc khổ của hội họa Đức. (*)

Năm 1969, trong phòng triển lãm của Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, Nguyễn Trung phát biểu một ý tưởng đơn giản, nhưng có lẽ với ý tưởng này chúng ta có thể cảm được tranh của anh dễ dàng hơn, rất bình dị mà khá thâm trầm, sâu sắc:

Dường như chỉ nghệ thuật mới có thể mang tình yêu và sự bình an trở về với tâm hồn ta. Dường như chỉ có nó mới có thể mang đến ta sự cứu rỗi ấy trong khi càng ngày chúng ta càng dấn thân vào cuộc sống văn minh thiếu nhân cách, địa ngục của giận dữ, thù hằn và bạo động đến nỗi chúng ta quên dần những lời xin lỗi và thứ tha, những cử chỉ yêu thương và thông cảm. (In trong Vựng Tập triển lãm).




Trong phòng triển lãm năm 1970 bày chung với Hồ Hữu Thủ và Nguyên Khai, tranh Nguyễn Trung là cả một thế giới vô cùng thơ mộng, từ Thiếu nữ đứng trên đá, Sen hồng đến Khỏa thân, Đêm xanh, Hoa vàng... Tuy nhiên, ấy là một thứ mơ mộng pha nhiều chất đắng và khô. Vẻ khô, buồn thảm đó tỏa chiếu trên đôi mắt thiếu nữ đứng trên đá, quàng khăn trùm lụa, hai bàn tay gầy chụm vào nhau. Đằng sau thiếu nữ là nền cát, nền trời xám sậm, nhìn kỹ thì ngả sang xanh. Có một sự hòa hợp giữa ánh sáng tỏa ra từ nền trời u tối ấy và ánh sáng từ từng mảnh đá nhỏ đều đặn dưới chân thiếu nữ. Không những vẻ khô ấy toát ra từ gương mặt bà mẹ già sau những cánh hoa tàn úa mà toát ra ngay trên thân thể tươi mát khỏa thân của thiếu nữ, trên từng phần phản diện giữa tối sáng trên tấm thân ấy.


Nguyễn Trung sử dụng nguyên tắc về bóng tối và ánh sáng một nguyên tắc cổ điển chủ yếu từ thời nghệ thuật phục hưng mà những Leonardo da Vinci, Rembrandt, Raphael, Jan Vermeer Van Delft đã rất chú tâm dụng đến. Ánh sáng tỏa chiếu trên sự vật, bị che lấp gây nên bóng tối ngay trên từng mảnh đá nhỏ, từng cồn cát thấp, từng cánh hoa, từng ngọn cỏ, trên những đường nhăn của chiếc áo thiếu nữ. Tuy nhiên, bất kỳ thứ kỹ thuật nào thì cũng có ưu thế và nhược điểm riêng. Ở trường hợp Nguyễn Trung cũng thế, từng chi tiết trên bức tranh được vờn tỉa, đánh bóng rất kỹ, thí dụ như bức Thiếu nữ đứng trên đá vừa được đề cập, mỗi chi tiết nhỏ trong tranh là một quyến rũ kỳ lạ , mỗi mảnh đá đều toát ra tiếng nói, mỗi gợn cát, mỗi nét nhăn trên tà áo, trên chiếc khăn đều thế. Có nhà phê bình cho rằng tranh Nguyễn Trung chỉ còn là một thứ rung động kỹ thuật chính vì thế. Vậy thì, có lẽ nghệ thuật phải hy sinh chi tiết để đạt đến toàn thể, và ngược lại, nhưng tuy thế, mỗi cơ cấu phải có riêng những đòi hỏi, kiến trúc và hòa hợp của riêng nó cũng vẫn là điều tất nhiên mà thôi.



Hẳn rằng cũng nhận ra khía cạnh ấy nên về sau này hình như anh đã đi đến một tổng hòa cao hơn, vẫn giữ lấy nguyên lý và kỹ thuật tạo hình cũ nhưng đã biết loại bỏ nhiều chi tiết. Chúng ta thử xem một bức tranh điển hình của thời điểm 1975, bức Sen hồng vẽ một thiếu nữ mình trần, mặc chiếc váy màu xanh biếc của đại dương, một cánh tay vươn ra nắm lấy đóa sen hồng hàm tiếu, phía sau là hồ sen theo lối tượng trưng, phía sau nữa là bầu trời chập chùng sâu thẳm. Thiếu nữ dường như trong veo lên bằng đường viền ánh sáng và sự đánh lừa của màu sắc. Gần chân thiếu nữ, giữa mảng màu hồng mờ sáng, họa sĩ đặt thêm vào một bình gốm nhỏ men nâu như điểm xuyết cho bố cục tấm tranh, kéo tất cả cái thanh thoát bên trên trì trệ xuống một chút, rất quân bình và tuyệt đẹp. (Xem bức Sen Hồng ở phần Một Số Tác Phẩm Và Tác Giả Điển Hình.)



Đã bắt đầu có nhiều từ bỏ khoa học hội họa Tây phương, từ bỏ khá nhiều sự hợp lý của qui tắc mỹ thuật Phục hưng, chúng ta thấy Nguyễn Trung đã tiến về rất gần với cảm quan thẩm mỹ phương đông, vẽ điều cảm thấy hơn là nhìn thấy, nếu là ánh sáng thì đúng là ánh sáng âm dương của đạo học, tức là ánh sáng thụ động và ánh sáng hoạt động của thiên nhiên và tâm hồn, tất cả hiện lên trong sự tương phản cửa nhau, nên đã hòa hợp lại trong một thể chung nhất. Cái đẹp như thế sẽ được tri kiến trong một cách nhìn tổng thể hài hòa. Nguyễn Trung tỏ ra khá tinh tế khi vận dụng nguyên lý này, tuy vẫn còn đặt trên nền tảng khoa học hội họa phương tây để xây dựng một bút pháp riêng cho mình. Có một điểm nên quan tâm khi xem tranh Nguyễn Trung là càng về sau này anh càng có khuynh hướng tiến về sự giản dị trong đường nét, màu thì chỉ còn gần như một thứ độc sắc (monochrome) hoặc xanh xám, xanh biếc, xanh đông thanh, chỉ có chuyển sắc rất nhẹ bằng cách pha trắng, nâu, hay đen vào. Vẻ huyền bí của những nghệ sĩ gốm đời Tống đã phảng phất đâu đây. Và cũng chính ở chỗ này, Nguyễn Trung càng được xem là thành công lớn khi định hình một tính cách nghệ thuật riêng tư khá đặc sắc. Sau hơn ba mươi năm đắm mình trong màu sắc và khung vải, có di động nhưng ít thay đổi vì luôn luôn tự chủ dưới một cách nhìn rất nhất quán. Ánh sáng là vấn đề hàng đầu, có thể nói đó là nguyên lý của hội họa Nguyễn Trung. Và gần đây, Nguyễn Trung đã đúc kết với đầy tính khẳng định:


Trong thiên nhiên ánh sáng là chiếc vương miện vĩ đại làm tăng thêm vẻ sang trọng, uy nghi của núi rừng hoa cỏ. Trong hội họa ánh sáng là sức sống của hình và nét và tự nó cũng là hình, và nét. Tùy theo to nhỏ, dày mỏng, tùy theo cách sắp đặt, có thể làm cho nó chuyển động, nô đùa trên khung bố. (In trong Vựng Tập triển lãm 36 tác phẩm mới Trịnh Cung, Đỗ Quang Em, Nguyễn Lâm, Nguyễn Phước, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Trung. Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, 1994).




Trước đây, trong một bài viết trên một tuần báo văn học, bàn về thế đứng và cách phát biểu của người làm nghệ thuật lúc bấy giờ, Nguyễn Trung bày tỏ ý muốn thực hiện công việc tựa như họa sĩ Mẽ Tây Cơ Rivera, trở về lại với thế giới mộc bản cổ truyền của dân tộc để sáng tạo nên một vũ trụ nghệ thuật mới đầy sinh động, cái sinh động bắt nguồn từ một cuống rốn sâu xa và vững chắc. Tưởng cũng nên nhắc đến một công trình dở dang trước đây của Nguyễn Trung, anh dự tính thực hiện một bộ tranh mộc bản gây cảm hứng từ bàiVăn Tế Thập loại Chúng Sinh của Nguyễn Du, nhà đại thi hào bậc nhất nước ta. Vài bản phác thảo mới vẽ bằng bút sắt, chưa khắc gỗ, công bố rải rác đây đó đã gây cho người xem cái cảm giác thâm trầm , sâu thẳm. Chọn đề tài này cũng là một cách bày tỏ thái độ đối với cuộc chiến tranh kinh dị, tàn độc càng lúc càng khốc liệt trên số phận của đất nước lúc bấy giờ. Trở lại với ý kiến của Nguyễn Trung vừa đề cập ở trên, chúng ta thấy anh đã thực hiện được ít nhiều mốc đường trong viễn tượng đã vạch, cho nên ở tranh anh, dù là với bất cứ đề tài gì, nơi khuôn mặt và cánh tay trần của thiếu nữ, hay ngay cả một đề tài tĩnh vật, thì cũng là một thứ tĩnh vật rất Việt Nam, rất tài hoa và đã tỏ lộ ra một bản sắc độc đáo. Điều này cần phải được đào sâu và triển khai thêm nữa, bởi vì bất cứ nền nghệ thuật nào muốn đứng vững và tồn tại đều phải biểu lộ cho được tinh thần của cộng đồng bằng một bút pháp, khí sắc riêng biệt. Được như thế thì giữa bản hợp ca muôn điệu của cộng đồng nghệ thuật nhân loại, chúng ta mới đủ nội lực để phổ thêm vào một cung đàn hòa hợp, nhất định phải đầy sáng tạo tính và dân tộc tính, hoành tráng và tươi tắn, trong sự hợp nhất mà vẫn mang hương sắc độc đáo. Trước năm 1975, Nguyễn Trung phần nào đã thực hiện được một số tác phẩm trong phương hướng ấy, và về sau này đã đưa nhiều tác phẩm đến chỗ tinh hoa nhất, anh đã phát triển năng lực mình một cách đúng mức.

Chúng ta phải công nhận rằng chủ trương của Nguyễn Trung cũng như nhóm Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam (với tuyên ngôn đã dẫn ở trên) là hết sức đúng đắn, cấp thiết, hợp tình khi kêu gọi các nghệ sĩ tạo hình trẻ Việt Nam tập hợp nhau lại để suy nghĩ, đúc kết, xây dựng cho được một đường lối của nghệ thuật Việt Nam, một trường phái tạo hình Việt Nam hiện đại. Bởi vì nền nghệ thuật của chúng ta chỉ có thể tồn tại và được nhìn nhận khi nó là một biểu lộ độc đáo của dân tộc chúng ta, mà những độc đáo nội tại chỉ có thể trở thành hiện thực nghệ thuật khi nó bắt nguồn và phù hợp với quan niệm cố hữu của giống nòi, chứa chan linh hồn dân tộc, nồng ấm trong chiều sâu của một nền văn minh tâm cảm mà chúng ta vẫn thường tự hào đã thừa hưởng trên 40 thế kỷ. Với đặc tính thuần túy Việt Nam làm nồng cốt, cùng tinh thần tự do thẩm mỹ, hòa hợp trong những yếu tố thời đại nhất, chúng ta sẽ xây dựng một nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại mạnh khỏe, vững chắc, vạm vỡ. Đặt vào tình hình trước năm 1975 của Sài Gòn đang tan rã, lời phát biểu công khai ấy đã chứng thực sự trưởng thành khá cao của một ý thức rất đáng khen ngợi, tán thưởng.




Chung quanh Hội Họa Sĩ Trẻ vẫn luôn là một cuộc hội tụ của nhiều chân dung mang từng tính cách riêng, mặc dù vậy, vai trò của Nguyễn Trung vẫn là một nét nổi bật. Sau 1975, Hội Họa Sĩ Trẻtan tác vì thời thế, vậy mà đến năm 2001, một cuộc họp mặt của các nghệ sĩ tạo hình của nhóm này lại được thực hiện trong một tình hình rất đặc biệt: những người còn lại trong nước bày tác phẩm với các bạn lưu vong từ nước ngoài trở về.

Vai trò của Nguyễn Trung vẫn là chủ động trong cuộc họp mặt lý thú này, với sự tham dự của Trịnh Cung, Đinh Cường, Đỗ Quang Em, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm, Nguyên Khai, Cù Nguyễn, Mai Chửng, Dương Văn Hùng, Nguyễn Pước, tổ chức ở Gallery Vĩnh Lợi, 41 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, Sài Gòn, từ 22-7-2001.

Nguyễn Trung và các bạn của anh đã gọi cuộc triển lãm này là một "hồi cố" được hiểu như là một cuộc gặp lại giữa những người bạn cũ, những người đã từng hoạt động nghệ thuật khi tuổi còn thanh xuân và sau một thời gian dài xa cách, gặp lại nhau thì đầu đã hai thứ tóc, có người muối tiêu, có người đã bạc trắng xóa, vậy mà họ còn rất hào hứng, nói như Nguyễn Trung "không phải đê ôn lại chuyện cũ mà để uống với nhau một cốc rượu. để khoe nhau công việc mới của mình" (Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 28, ngày 22-7-2001).

Dưới đây là ghi nhận của ký giả Diễm Chi về cuộc triển lãm này trên báo Phụ Nữ ở Sài Gòn, số ngày 25-07-2001. Bản tin ngắn này có tên là "Cuộc hội tụ của những họa sĩ Sài Gòn đã thành danh."

Đó là các họa sĩ đã có một thời tuổi trẻ sôi nổi cách đây 30 năm. Bây giờ tranh của họ đã trở thành một thứ "cổ điển" riêng cho từng người, với một tầm cỡ đầy đủ về nghệ thuật và sự trau chuốt kỹ càng về kỹ thuật. Một Nguyễn Lâm rực rỡ với sơn mài, một Cù Nguyễn hào hoa, một Đỗ Quang Em với từng chi tiết quý báu nhỏ nhất. Cỏ nhiều chuyển dịch trong tranh của Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Phước, Đinh Cường, Nguyên Khai và ở những mảng xám của Trịnh Cung. Tượng đá, đồng của Dương Văn Hùng, Mai Chửng trụ lại với súc mạnh lưu niên... Tất cả đều đã đi đến những chiều sâu, sự thâm trầm, bền vững. Riêng Nguyễn Trung với ba bức sơn dầu màu trắng vẫn giữ một dáng dấp dẫn đường như anh đã có suốt một thời gian dài...

Người Sài Gòn đến phòng tranh với sự thích thú gặp lại và sự trầm trồ quen thuộc như từ thời các họa sĩ còn trẻ...

Huỳnh Hữu Ủy
(Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại, trang 222)
VAALA, 2008










ĐẸP HAY XẤU
Mấy cách nhìn về Nguyễn Trung 

Lý Đợi
















XÁM TRẮNG ĐEN


Triển lãm tranh của họa sĩ Nguyễn Trung
Khai mạc 18g ngày 9. 12. 2010 đến 26. 2. 2011
Phòng tranh Quỳnh
65 Đề Thám, Q.1, Tp.HCM

*

Triển lãm Xám trắng đen của Nguyễn Trung khai mạc lúc 18 giờ ngày 9. 12. 2010 tại phòng tranh Quỳnh (65 Đề Thám, Q.1, TP.HCM) và còn kéo dài đến ngày 26. 2. 2011. Theo chủ quan, triển lãm này đáng chú ý, không phải vì đã có 3 tác phẩm được bán, mà vì nó có thể mang đến cho người xem mấy cách nhìn khác nhau: thích, không thích, hoặc băn khoăn.

1.
Với những người đã quen-thích-yêu Nguyễn Trung ở “bề nổi tiếng”, với các tranh vẽ thiếu nữ lãng mạn, thơ ngây, bán chạy ngoài thị trường thì sẽ tỏ ra thất vọng vì triển lãm “không hình” này. Vì với họ, vẽ có hình mới là công phu, “không hình”, trừu tượng có vẻ như quá cẩu thả, dễ dãi.

Cũng có ý kiến cho rằng Nguyễn Trung đã hơi đơn điệu trong việc cấu trúc tác phẩm, nhiều bức không có được điểm nhấn để tạo chiều sâu nơi người xem. “Trừu tượng ăn nhau là ở chiều sâu tương tác giữa tác phẩm và người xem”.





Tác phẩm AR, acrylic, house paint, oil stick on canvas, 180x240cm, 2010.

2.
Triển lãm sẽ gây phấn khích với những ai quan sát Nguyễn Trung trong tiến trình hội họa của bản thân; và cả việc các họa sĩ Việt Nam tiếp xúc với ngôn ngữ trừu tượng trong mấy chục năm qua.

Một họa sĩ (không muốn xuất hiện tên) nói rằng Nguyễn Trung đã khá thong dong trong việc xử lý các khoảng trắng lớn trên tác phẩm. Nhiều bức có chu vi hơn 2 mét vuông, mà màu trắng và màu xám chiếm chủ đạo, Nguyễn Trung vẫn xử lý được, quả là tài tình. “Không hình” chứ không phải là “không vẽ”, anh bạn này nói.

Theo vài quan niệm trong hội họa cổ xưa, thì màu trắng (có khả năng hòa mình trọn vẹn vào màu khác) và màu đen (“nuốt chửng” các màu khác) không phải là “thật màu”. Thậm chí, có nhiều họa sĩ tranh thủy mặc (thường chỉ có trắng với đen), không xem trắng là màu, nên chỉ tư duy với màu đen. Nếu nhìn theo hướng này, Nguyễn Trung chỉ tư duy với màu xám, vì hai màu kia không là “thật màu”.

Tuy nhiên, theo tên của triển lãm, Nguyễn Trung đã không làm vậy, ông tư duy với cả 3 màu. Trong một hỏi đáp với báo Tuổi trẻ mới đây, Nguyễn Trung nói: “Xám, trắng, đen không có ý nghĩa gì quan trọng hết. Chỉ là một ý tưởng về tạo hình, chỉ là muốn dùng màu sắc tối thiểu để hình thành bức tranh.”

Trong đợt tranh này vẫn còn lởn vởn trong đầu tôi những ấn tượng mạnh mẽ về tuyết lạnh, cái màu trắng tinh khiết đã theo đuổi mình bao nhiêu năm, tưởng đã vứt bỏ được nhưng rốt cuộc vẫn còn nguyên đó. Ngoài ra cũng với những hình ảnh đường phố, những vết bẩn, hoen ố trên tường, trên lối đi, những chữ viết, những con số nguệch ngoạc, vô nghĩa nhưng đối với tôi là những gì dễ thương nhất, là những yếu tố đầy chất thi ca”.

Vài họa sĩ có quan tâm đến hội họa trừu tượng và có xem triển lãm này, được tôi hỏi, đã đồng ý với nhận định của phòng tranh Quỳnh, trong thông cáo báo chí: “Kể từ lúc bộ tranh đơn sắc Bảng đen ra đời (2004), nghệ sĩ Nguyễn Trung vẫn đang thử nghiệm với những bức tranh khiêm tốn màu sắc. Xám trắng đen là một bộ tác phẩm phơi bày lối dùng phức tạp chỉ những màu sắc được đề cập, tạo nên một tác phẩm sinh động, không chỉ đầy những suy nghĩ hướng nội mà cũng rất tinh nghịch.

“Thành thị hiện hữu rất nhiều qua những bức tranh này. Nguyễn Trung đã lấy cảm hứng từ những vỉa hè, những bức tường, những vết xước và dấu vết trong kết cấu đô thị của TP.HCM. Khác với những tác phẩm hoa văn trừu tượng trước đây của ông, vốn ảm đạm hơn ở nơi lịch sử ẩn sau bề mặt vỡ vụn được nhấn mạnh, những bức tranh mới này có vẻ như dẫn dắt người xem đi qua một thành phố thân thuộc, nơi những khám phá mới nhỏ bé được phơi bày”.

Sau triển lãm Bảng đen, cũng có nhiều ý kiến đoán rằng với hội họa trừu tượng, có vẻ như Nguyễn Trung đã dừng lại. Nhưng nếu so Bảng đen với triển lãm lần nay, thì ngoài sự thong dong và làm chủ bảng màu, Nguyễn Trung đã tỏ rõ sự tiết chế trong việc tối giản màu sắc. Sự tối giản này đã tạo được nhiều cảm xúc nơi người xem.





Tác phẩm aaa, ccrylic, house paint, pencil, oil stick on canvas, 180x180cm, 2010.

*
Dự kiến treo 19, nhưng chỉ treo 12 tác phẩm, khổ lớn, từ 100x100cm trở lên, phòng tranh Quỳnh trên lầu và dưới đất đã kín vách. Nếu so với hành trình của chính mình, nói nôm na, thì Nguyễn Trung đã “trừu tượng hơn” rất nhiều. Với trữ lượng được hé lộ ở đây, khả năng bức phá và thay đổi của Nguyễn Trung cũng còn nhiều hứa hẹn.

Tác phẩm được đặt tên với các chữ cái viết hoa và viết thường, các con số, ví dụ: AaA, F, aaa, BM, E, g… Các chữ cái và con số, cũng như các nét vẽ nguệch ngoạc… gần như là biểu hiệu xuất hiện trong tất cả các phẩm, nó là điểm nhấn để gây tương tác nơi người xem.

Việc chú thích vật liệu cũng khá chi tiết và lý thú. Ví dụ tác phẩm BM được chú thích như sau: 2010, acrylic, house paint, bút chì, thỏi sơn dầu trên bố, 150x150cm. Việc chú thích cẩn trọng như thế này (chỉ ghi trong một catalog riêng, chứ không dán lên tường), ngoài yêu cầu về chuyên môn trong việc trưng bày, nó còn khơi gợi cho người xem khi nghĩ về cuộc chơi của màu sắc và vật liệu, giống như lời của Nguyễn Trung “muốn dùng màu sắc tối thiểu để hình thành bức tranh”. 

Trong 12 tác phẩm trưng bày, 11 bức được vẽ xong trong năm 2010. Nếu chỉ nhìn vào ngày tháng ở chữ ký, thấy tháng 7 và 8.2010 được Nguyễn Trung khá yêu thích. Các tranh hoàn thành trong tháng 7.2010 có 3 bức, ký ngày 3, 10 và 15; tháng 8.2010 có 4 bức, ký ngày 1, 10, 13 và 15. Nếu muốn đặt nghi vấn Nguyễn Trung về việc vẽ trừu tượng nhanh hay chậm, có thể dựa vào đây để hỏi?




Tác phẩm BM, acrylic, house paint, pencil, oil stick on canvas, 150x150cm, 2010.

3.
Đây là ý kiến của tôi, người viết bài:

Trong thông cáo báo chí, có đoạn, phòng tranh Quỳnh viết để khẳng định: “Sinh ra ở Sóc Trăng vào năm 1940, Nguyễn Trung là họa sĩ tranh trừu tượng đầu tiên của Việt Nam. Sự nghiệp nghệ thuật của ông trải dài trên 50 năm bắt đầu từ thời thực dân Pháp và cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhà vô địch trong trường phái trừu tượng Việt Nam, Nguyễn Trung và một số nghệ sĩ trẻ mà ông dẫn dắt vẫn sáng tác trong thể loại này, trong khi nó vẫn bị xem là một loại hình nghệ thuật bê tha, suy đồi, đặt cá nhân lên trước quốc gia. Thông qua sự kiên cường, và cam kết gắn bó như một lức lượng sáng tạo thực sự của cộng đồng nghệ thuật Việt Nam của ông, ông được công nhận là một trong các nghệ sĩ hoàn hảo nhất của quốc gia”.

Tôi không bình luận gì về nhận định “nhà vô địch” này, chỉ riêng việc khẳng định Nguyễn Trung “là họa sĩ tranh trừu tượng đầu tiên của Việt Nam” thì có vẻ như không chính xác, hoặc có ý hàm hồ (- như ý trên một blog).

Không chính xác, vì theo sử liệu nghệ thuật để lại, thông qua các cuộc công bố tác phẩm trên báo chí và triển lãm, thì Tạ Tỵ (1922-2004, có nơi ghi ông sinh năm Tân Dậu 1921) mới là người tiên phong về trừu trượng tại Việt Nam. Thập niên 1950 đã thấy hình chụp những bức tranh trừu tượng, hoặc trừu tượng kết hợp lập thể của Tạ Tỵ xuất hiện trên vài tạp chí. Năm 1956, Tạ Tỵ đã triển lãm 60 bức tranh tại Sài Gòn, có nhiều tranh lập thể. Năm 1961, triển lãm cá nhân giới thiệu 60 tranh lập thể và trừu tượng của Tạ Tỵ diễn ra tại Sài Gòn. Các tác phẩm như Nhịp thời gian (1959, 75x56cm), Nhạc Calypso (1960, 80x80cm), Màu thời gian (1960, 95x180cm) “cho thấy những cấu trúc hình học của giai đoạn lập thể bước hẳn sang trừu tượng với sự nhấn mạnh vào tiết tấu và sự khúc chiết của bố cục”, dẫn theo báo Sáng dội miền Nam, tạp chí Bách khoa, bài viết về Tạ Tỵ của nhà sử học về nghệ thuật Bội Trân Huỳnh-Beattie.

Còn hàm hồ, vì có thể xuất phát từ quan điểm cho rằng vẽ như Nguyễn Trung mới là trừu tượng, và trừu tượng nhất (?). Cá nhân tôi thì cho rằng phòng tranh Quỳnh do thiếu thông tin mà khẳng định như thế, chứ không phải do hàm hồ.

Theo ý kiến của vài họa sĩ còn sống và sử liệu nghệ thuật để lại, thời tham gia Hội Họa sĩ trẻ Việt Nam tại Sài Gòn trước 1975, Nguyễn Trung chủ yếu vẽ tranh có hình, cách vẽ thiếu nữ sau này của ông là một hành trình tiệm tiến từ giai đoạn này.

Cũng xin nói thêm, Hội Họa sĩ trẻ Việt Nam thời bấy giờ thu hút nhiều họa trẻ tham gia, mà sau này trở nên các tên tuổi có ảnh hưởng như Cù Nguyễn, Nguyễn Trung, Trịnh Cung, Nghiêu Đề, Hồ Thành Đức, Nguyên Khai, Hồ Hữu Thủ, Rừng, Lê Tài Điển, Đỗ Quang Em, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Đồng, Ngy Cao Uyên, Hiếu Đệ, Mai Chửng, Nguyễn Phước, Nguyễn Lâm, Dương Văn Hùng, Đinh Cường… Trong danh sách này, Nguyễn Phước (sinh khoảng 1941) mới là người vẽ tranh trừu tượng trước tiên, xem lại các tin bài trên báo thời bấy giờ sẽ rõ, hay hỏi các họa sĩ còn sống trong số này, sẽ rõ.

Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật Huỳnh Hữu Ủy trong cuốn Nghệ thuật tạo hình Việt nam hiện đại(VAALA, USA, 2008), trang 164, có đoạn viết: “Khoảng 1963, Nguyễn Phước và Nguyễn Lâm thường triển lãm chung với nhau, với những tác phẩm biểu tượng đầy bi quan. Lần lần hai khuynh hướng của họ càng khác nhau. Nguyễn Phước có lẽ là người thay đổi nhiều nhất, không phải chỉ đối với Nguyễn Lâm mà đối với phần đông các họa sĩ đồng thời. Anh khởi đầu bằng những nhân vật khắc khổ với đôi mắt sâu đen, màu sắc đạm bạc. Khoảng 1966-1967, anh chuyển hẳn sang lối trừu tượng với màu sắc mịn màng, tế nhị, cho đến nay”.




Tác phẩm AaA, acrylic, house paint, pencil on canvas, 200x285cm, 2010.

Có một trùng hợp thú vị, là khi triển lãm của Nguyễn Trung diễn ra thì trang web Da Màu lại in tác phẩm Phù điêu xám lỗ chỗ với ký hiệu đen số X (Grey Relief Perforated with Black Sign No X) của danh họa Antoni Tàpies (1923–), vẽ năm 1955, với vật liệu hỗn hợp trên vải bố (mixed media on canvas). Có thể xem các tác phẩm khác của Antoni Tapies tại đây.

Và tiếp tục nói thêm, khi xem tranh trừu tượng của Nguyễn Trung, kể từ thập niên 1990, sau khi ông đi Pháp về (1991), tự nhiên tôi lại nhớ đến danh họa Pierre Soulages (1919-), người làm cả sơn khắc và điêu khắc. Sự nhớ cũng được vài họa sĩ nhớ ra, nhưng có điều họ ngai nói ra, hoặc không muốn nêu tên. Vào google thì có thể nhìn thấy nhiều tác phẩm của Pierre Soulages, đơn cử như ở đây hoặc ở đây.

Cuối cùng, khi đứng ngoài sự thích, không thích, hoặc băn khoăn, xét về lịch sử và tiến trình hội họa, tôi vẫn cho rằng Nguyễn Trung là một trong những họa sĩ đáng nể của Việt Nam.

La Hán Phòng, 11. 12. 2010
























Solo exhibitions:


2004 -Galerie Quynh, Ho Chi Minh City, Vietnam, “Blackboard.”

2001- Galerie Quynh, Ho Chi Minh City, Vietnam, “The White Series,” a virtual exhibition.

1999 – Trang An Gallery, Hanoi, Vietnam, “Revelations of Time and Self.”

1990 – Maison du Vietnam, Paris, France.



Selected group exhibitions:


2003- Galerie Amber, Leiden, The Netherlands.

- Gajah Gallery, Singapore.

- Galerie La Vong, Hong Kong.

2002- Gajah Gallery, Singapore, “Mo,” with Ho Huu Thu.

- Utterly Art Gallery, Singapore.

- Galerie La Vong, Hong Kong.


2001 -Galerie La Vong, Hong Kong.

2000 – Galerie La Vong, Hong Kong.

1999 – Galerie Vinh Loi, Ho Chi Minh City, “Nine Artists from HCMC.”

1998 – Pacific Bridge Contemporary Southeast Asian Art, Oakland, California, USA, “On the Horizon.”

- Museo Biblioteca Archivio, Bassano del Grappa, Italy, “L’anima Soffocata.”

- Forum des Halles, Paris, France, “Vietnamese Art from 1925 to Today,” exhibition by Vietnamese and French artists.

1997 – Gallery Simyo, Seoul, Korea, “The New Face of Vietnam.”

1996 – Metropolitan Museum of Manila, Philippines, “11th Asian International Art Exhibition.”

- Fujita Vente Art Museum, Tokyo, Japan, “Vietnamese Art after Doi Moi.”

1995 – Singapore National Art Museum, “10th Asian International Art Exhibition.”

1994 – Ho Chi Minh City Art Museum, HCMC, “Asian Friendship Exhibition.” Traveled to Tokyo, Japan.

1993 – Ho Chi Minh City Fine Arts Association, HCMC, “New Space,” exhibition by Vietnamese and Singaporean artists.

1992- Plum Blossoms Gallery, Hong Kong and Singapore.

- Hoang Hac Gallery, Ho Chi Minh City, “Abstract Painting.”

1991 – Grand Palais, Paris, France, Societe Nationale des Beaux Arts Biennial.

- Forum des Halles, Paris, France, exhibition by overseas artists living in France, Maison des Associations.

- Plum Blossoms Gallery, Hong Kong.

1990 – 1996 – Ho Chi Minh City and Hanoi, annual “Recent Works” exhibition by a group of ten artists.

1959 – 1989 – National and international solo and group exhibitions.


Awards:

1960 – Spring Salon Art Competition, Silver Medal

1963 – Spring Salon Art Competition, Gold Medal


Public collections:

Ho Chi Minh City Art Museum, Vietnam; Vietnam Fine Arts Museum, Hanoi; Singapore National Art Museum; Museo Biblioteca Archivio, Bassano del Grappa, Italy

Private collections:

Vietnam, Japan, Hong Kong, Singapore, Taiwan, France, USA, Germany, England, Switzerland, Italy, Canada













Tác phẩm











































































Chân dung nhà văn Trang Thế Hy
tranh Nguyễn Trung










(ngồi, trái) Tôn Thất Văn, Nguyễn Duy, Nguyễn Trung
(đứng) Trịnh Công Sơn










(trái) Phan Nguyên, Nguyễn Trung Saigon 1998








(trái) Đinh Cường, Nguyễn Phước, Nguyên Khai, Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Trịnh Cung









Phan Nguyên & Nguyễn Trung  
Sài Gòn 2014











Trở về












MDTG là một webblog mở để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.









Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

Đỗ Phấn

 












Đỗ Phấn
(1956 - ........) Hà Nội
Họa sĩ, Nhà văn









"Mình chẳng bao giờ là cái mình muốn"







Tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật năm 1980
10 năm giảng dạy mĩ thuật tại khoa kiến trúc trường Đại học Xây dựng Hà Nội (1980-1989)



*


"Nghệ thuật chỉ nên bắt đầu từ chính mình, không nên bắt đầu từ đâu cả. Hãy bắt đầu từ chính mình một cách thật hay, thật xác đáng, để có cái mà bắt đầu! đơn giản thế thôi."

ĐP










Sách mới xuất bản























Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội
2014

Nxb Trẻ

















Rụng Xuống Hư Ảo











Con Mắt Rỗng

Nxb Văn Học











Ruồi Là Ruồi


Nxb Trẻ










Hà Nội Thì Không Có Tuyết
Tản văn 2013
Nxb Trẻ












Tiểu Thuyết 
nxb Trẻ 01.2013

















Sách đã xuất bản








Chuyện Vãn Trước Gương  
(tản văn) 2005











Kiến Đi Đằng Kiến  
(tập truyện ngắn) 2009











Đêm Tiền Sử  
(tập truyện ngắn) 2009










Vắng Mặt  
(tiểu thuyết) 2010











*


Thác Hoa  
(tập truyện ngắn) 2010
 


*









Chảy Qua Bóng Tối  
(tiểu thuyết) 2011











Rừng Người  
Tiểu thuyết
nxb Phụ Nữ 2011











Ông Ngoại Hay Cười
(Tản văn, nxb Lao Động, 223tr, 2011) 









Phượng Ơi!

Tản Văn 
nxb Dân Trí 2012



























Tranh Đỗ Phấn










































































Tự Họa








Tham khảo thêm về họa sĩ, nhà văn Đỗ Phấn








Đỗ Phấn : "Làm nghệ thuật khổ quá, gian nan quá!"









Hoạ sĩ Đỗ Phấn.




Con nhà "gia thế", được đào tạo bài bản ở "lò" mỹ thuật Yết Kiêu, từng là giảng viên của khoa Kiến trúc trường Đại học Xây dựng, rồi bỏ ngang để làm người tự do… Đỗ Phấn được bạn bè nhắc đến như một người đầy cá tính, một hoạ sĩ nhiều đam mê...

Không chỉ có vậy, nhắc đến Đỗ Phấn nhiều người còn biết đến anh với tư cách là một người viết văn, viết báo rất thiện nghệ.

Tháng giêng, gặp anh đang rong ruổi tận sông Thao, chúng tôi đã chúc năm mới anh bằng một cuộc chuyện trò ngắn.


Ý thức đầy đau đớn về bản sắc trong sáng tạo


Ngày đầu năm mới đã gặp anh ở xa Hà Nội thế này, có vẻ điều mọi người nói về anh rất đúng: Ham chơi?
(Cười). Chuyện đi, chuyện chơi của tôi thì... Rừng này, đảo nọ, bản kia, trong nước, ngoài nước... bỏ tiền mà đi thôi, thích lắm.

Hình như anh có lý do riêng để "chơi"...
Bệnh ham chơi của tôi là bệnh nghề nghiệp đấy. Làm hội hoạ phải quan sát nhiều, phải có nhiều kiến thức về hình ảnh, tôi luôn thèm khát được nhìn thấy những hình ảnh mới lạ, thế là vác tiền đi chơi, lọ mọ khắp nơi "từ đồng bằng cho tới biển xa". Chơi là một kênh cho ta nhiều kiến thức xã hội quan trọng lắm bạn ạ. Có những điều cũng không thật cần để làm gì, nhưng có nó vẫn hơn không có gì.

Thế ấn tượng của những chuyến đi ra nước ngoài của anh là gì vậy?
Là ý thức đầy đau đớn về bản sắc riêng trong sáng tạo. Là nỗi thèm khát đến tuyệt vọng bản sắc cá nhân, bản sắc dân tộc trong mình. Sau nhiều chuyến đi như thế, tôi nhớ tới những hoạ sĩ như Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng... Những người đã có ý thức rất mạnh mẽ về việc hình thành một nền mỹ thuật nói được câu chuyện của người Việt với thế giới. Ông Nguyễn Sáng đã suốt đời gắn bó với đề tài kháng chiến, còn ông Dương Bích Liên thì một đời chỉ vẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh... Tôi ngẫm nghĩ về một thế hệ tài năng của hội hoạ Việt Nam đã không được đi ra thế giới một lần nào trong suốt cuộc đời, phải vẽ tranh chợ để kiếm sống, tài năng không được dùng vào việc gì...
Nếu còn trẻ, tôi sẽ đi buôn

Anh có thể nói đôi câu về hội hoạ thế giới và hội hoạ Việt Nam theo cách nhìn của anh không?
Hội hoạ thế giới nửa thế kỷ qua không có phát hiện nào đáng kể, Installation, Performance, Land Art, Body Art... là những phát hiện với tham vọng phổ cập, đưa hội hoạ tới gần công chúng hơn, nhưng thực tế nó chỉ tới được với lượng người xem không đáng kể, vài trăm người là cùng. Còn hội hoạ Việt Nam thì... có lẽ rất lâu nữa mới hoà nhập được vào mặt bằng của hội hoạ thế giới. Giá các bức tranh của các hoạ sĩ Việt Nam ở các galery ngoại quốc là giá của hàng souvenir, của quà tặng, chưa phải giá của tác phẩm. Chúng ta chỉ mới có sản phẩm của hội hoạ chứ chưa có tác phẩm hội họa.

Với cách nhìn ấy, anh tự thấy bản thân mình thế nào?
Vô cùng thất vọng. Tôi đã cố gắng hết sức, tốn bao thời gian công sức hy vọng có thể đưa các "sản phẩm" của mình tới gần hơn với "tác phẩm", nhưng chẳng ăn thua gì.

Nhưng nhìn bề ngoài, anh có vẻ rất ung dung tự tại...?
Tôi là người hạnh phúc vì được làm cái việc mình thích. Tôi dám vứt đi những thứ "tài sản" mình được hưởng và sống bằng chính sức lực của mình. Tôi không loay hoay xác định mình là ai, tôi chỉ xác định mình muốn làm cái gì. Tôi nghĩ đó là căn nguyên của cái vẻ ngoài mà bạn vừa nói nếu có!

Vậy nếu bây giờ anh mới 20 tuổi, anh sẽ làm gì?
Tôi sẽ đi buôn. Làm nghệ thuật khổ quá, gian nan quá. Thể hiện được bản sắc của mình đã khó, lại còn phải gắn với một cái gì đó trong cội nguồn, quá khó!
Để làm được một thứ thôi cũng phải mất cả đời

Anh hãy chia sẻ với lớp trẻ hôm nay một điều gì đi!
Nghệ thuật cần tri thức, nhưng nghệ thuật cũng cần sự từng trải, cần tích luỹ, và nghiền ngẫm, đừng nôn nóng, kẻo gây ra hệ luỵ về sau lại mất thời gian chấn chỉnh. Tuổi trẻ muốn làm và nghĩ là sẽ làm được nhiều thứ, ai vào thời tuổi trẻ cũng đều vậy, nhưng phải sống lâu mới biết đôi khi để làm được một thứ thôi cũng phải mất cả cuộc đời rồi.

Một điều gì đó độc đáo hơn nữa, được không anh?
(Cười). Được! Đây là điều tôi tâm đắc: nghệ thuật chỉ nên bắt đầu từ chính mình, không nên bắt đầu từ đâu cả. Hãy là chính mình một cách thật hay, thật xác đáng, để có cái mà bắt đầu! Đơn giản thế thôi.

Xin cám ơn anh!



Nga Li thực hiện











Đỗ phấn: Họa sỹ "già" và cây bút "trẻ"



Đỗ Phấn sinh năm 1956 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp Đại học Mỹ Thuật và theo nghề đã ngót nghét 40 năm. Khi cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông có tên "Vắng mặt" lọt vào chung khảo giải thưởng văn Bách Việt cùng nhiều tên tuổi văn chương lớn, người ta chợt biết thêm Đỗ Phấn với tư cách một nhà văn, mặc dù ông luôn coi "viết văn là để thư giãn".

- Tại sao là một hoạ sỹ đã làm nghề được 40 năm ông lại chuyển sang viết văn. Phải chăng ông đã chán nghiệp vẽ?

Ngay từ thuở bé tôi đã yêu thích văn chương và hội họa. Khi lớn lên, tôi chọn hội họa làm con đường đi cho mình. Tôi vẽ và làm nghề dạy học để kiếm sống, để nuôi gia đình. Giờ mọi thứ đều đã ổn định nên tôi mới có điều kiện để thực hiện nốt niềm đam mê còn lại đó là viết. Tôi cũng tự hào là dù mới bước chân vào thế giới của văn chương nhưng tôi cũng đã có 3 cuốn truyện ngắn được xuất bản, đó là: "Chuyện vãn trước gương" (2007), "Đêm tiền sử" (2009), "Kiến đi đằng kiến" (2010).

- Tác phẩm"Vắng mặt" là câu chuyện của họa sỹ Vũ với những trăn trở đau đáu về cuộc sống xung quanh, với những sự đổi thay quá nhanh của xã hội mà... không có quy hoạch. Những nhân vật trong truyện của ông với đủ phận đời, phận người. Tại sao ông lại xây dựng nhân vật chính là một họa sỹ? 

Bản thân tôi là một hoạ sĩ mới tập tành viết văn nên tôi muốn viết về những điều mà tôi hiểu biết trước tiên. Có người nói tôi lấy nguyên mẫu nhân vật này ở đâu đó, cũng có người nói nhân vật chính là tôi, nhưng quả thực không phải vậy, bởi tiểu thuyết của tôi được hư cấu hoàn toàn (điều này có ghi trong lời tựa của cuốn sách) nhưng khi đọc nó, ai cũng có thể thấy một chút nào đó giống mình. 

- Cuốn "Vắng mặt" có độ dài 365 trang, ông bắt đầu viết từ khi nào vậy?
Tôi bắt đầu viết từ năm 2006, đến năm 2009 thì hoàn thành. Trong khoảng thời gian 3 năm ấy, đã rất nhiều lần tôi phải dừng viết bởi những chuyến đi xa, bởi những tác phẩm hội họa đang chờ tôi hoàn thiện. Sau khi cuốn sách hoàn thành, tôi cũng phải trải qua một thời gian chờ đợi để kiểm duyệt nên đến giờ, cuốn sách mới được ra mắt bạn đọc.

- Chủ đề chung trong những cuốn sách của ông là gì?
Tôi viết về những thứ tưởng là tình yêu yêu. Có thể các bạn thấy ngạc nhiên nhưng theo quan điểm của tôi về tình yêu, đó là một sự hoàn hảo. Mà trên thực tế thì không có gì gọi là hoàn hảo cả. Những nhân vật của tôi cũng vậy, họ có tình cảm với nhau nhưng đôi lúc là hơn tình bạn, đôi lúc là tình dục, và đôi lúc là sự thân quen... chính những ngộ nhận này một phần tạo nên bi kịch của họ.

- Khi nghe tin cuốn sách của mình lọt vào chung khảo cuộc thi Bách Việt, cảm xúc của ông thế nào?
Sự thật là tôi không quá xúc động khi nhận được tin này, không phải vì tôi không coi trọng giải thưởng mà với tôi, tôi tìm thấy niềm vui trong quá trình viết. Khi cuốn tiểu thuyết được hoàn thành, cảm giác lúc đó rất hạnh phúc rồi. Còn "số phận" của cuốn sách ra sao, tôi xin gửi gắm vào độc giả.

- Là một hoạ sỹ khi viết văn, ông thấy có những ưu điểm gì?
Làm hội hoạ phải quan sát nhiều, phải có nhiều kiến thức về hình ảnh. Khi viết, tôi luôn dùng tư duy hình ảnh để xây dựng nên từng chương truyện. Có thể nói tôi đã đi hết hang cùng ngõ hẻm của đất nước, cũng có khi "sang" hơn là tự bỏ tiền túi đi nước ngoài bởi tôi luôn mong được nhìn thấy những hình ảnh mới lạ để sáng tác trong hội họa. Và, khi đã trải nghiệm bằng cách đi qua 2/3 cuộc đời, những gì không "nói" được trong hội họa, tôi "trút" vào văn chương.

- Tự nhận mình là một người nghiệp dư với văn chương, vậy điều gì khiến ông cảm thấy tự tin nhất khi viết?
Tôi có lợi thế hơn các nhà văn chuyên nghiệp là sự hồn nhiên khi viết. Tôi viết những gì tôi cảm nhận được, bằng sự hiểu biết, bằng những trải nghiệm trong cuộc sống. Có một điểm nữa đó là tôi viết ít, tổng số những trang viết của tôi chỉ lên tới trên 1.000 trang nên tôi không sợ bị lặp lại chính mình, đó là điều mà những người viết văn chuyên nghiệp luôn rất sợ gặp phải.

- Ông có nhận xét gì về những bạn trẻ viết văn hiện nay?
Các bạn trẻ hiện nay viết rất khoẻ và rất tự tin. Họ phát triển với lực lượng mạnh cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Họ có khát khao muốn cách tân văn chương và cách tân chính mình. Đây là ưu điểm nhưng cũng chính là nhược điểm bởi nghệ thuật cần sự từng trải và nghiền ngẫm. Nhưng tôi tin, khi họ đã có chút từng trải trong cuộc sống, họ sẽ là những cây bút chuyên nghiệp góp phần vào sự phát triển của văn chương Việt Nam.

- Dự định trong văn chương của ông trong gian tới là gì?
Tôi đang chuẩn bị in cuốn tiểu thuyết thứ 2 mang tên "Rừng người", có độ dày khoảng 400 trang. Cuốn sách này tôi viết trong vòng 1 năm. Câu chuyện cũng xoay quanh đời sống của những trí thức và người dân thành thị. Cuốn tiểu thuyết thứ 3 của tôi tạm gọi là "Trần gian đếm bước" cũng đang được hoàn thành. 

- Xin cảm ơn ông!



Khánh Chi (thực hiện)
Theo www.ktdt.com.vn









Đỗ Phấn: Gã thị dân lạc lõng giữa "rừng người"


Xuyên suốt 3 tiểu thuyết là hình ảnh những gã bất đắc chí lăn từ cuộc tình này qua cuộc tình khác, một cách đầy bản năng, thụ động, hết cuộn tròn trong vòng tay gái nhà lành đến vục mặt vào những ả cave, sống một đời sống nhục dục trong sự bi phẫn, bất lực với bi kịch của chính mình, không cách gì vượt thoát.

Bén duyên với văn học khá lâu, nhưng dường như chỉ khi tiểu thuyết “Vắng mặt” ra mắt, Đỗ Phấn mới chính thức ghi danh trong làng văn Việt. Thế rồi liền ngay sau đó là sự xuất hiện của “Chảy qua bóng tối”, và lại một bất ngờ nữa, tiểu thuyết “Rừng người” của anh vừa tiếp tục ra mắt bạn đọc. Cú “hattrick tiểu thuyết” của Đỗ Phấn khiến người ta không thể không quan tâm tự hỏi Đỗ Phấn là ai, và từ đâu đến?



Đỗ Phấn tự họa chân dung mình. 



1. Chẳng một lời tuyên ngôn, chẳng một câu “dọa dẫm”, ngay cả nơi bàn trà quán rượu với những bạn viết thân cận nhất, thế nhưng khi Đỗ Phấn in đến đầu sách thứ 8 trong đó có 3 tiểu thuyết liên tục trong 3 năm thì làng văn phải giật mình. Giật mình bởi gã họa sĩ tưởng tay ngang dạo chơi vào khu vườn văn chương này hóa ra đã là chủ nhân đích thực với tấm sổ đỏ sở hữu một mảnh đất trong vườn văn và trên mảnh đất ấy bỗng một ngày nở ra một loài hoa lạ. Cái tấm sổ đỏ ấy gã luôn giấu nhẹm đi sau cái phong thái khật khưỡng, nửa như khinh miệt, nửa như trưởng giả, pha chút kênh kiệu bất cần của đám thị dân trước lũ nhà quê tỉnh lẻ. Cái cách gã bước vào khu vườn ấy khiến cho người ta lầm tưởng ông chủ đất với gã say ngất ngưởng vào… xin đểu nhiều hơn là nghĩ đến một kẻ yêu lao động, ngày đêm cần mẫn gieo trồng.

2. Đọc Đỗ Phấn, người ta dễ hình dung đến những người của Hà Nội muôn năm cũ với những lịch lãm, phép tắc mà giờ đây với tầng lớp thị dân mới dường như đã trở nên xa xỉ. Đọc văn anh dễ nghĩ đến những kẻ lạc thời, luôn tin tưởng tuyệt đối và thành kính vào những giá trị đã được định hình, được vun đắp hàng nghìn năm nhưng giờ đây bỗng trở thành những thứ giáo điều dành cho kẻ hoài cổ dở hơi rỗi việc. Quả Đỗ Phấn có giống kẻ rỗi việc thật. Ở ngoài đời bất cứ khi nào gọi anh đều sẵn sàng cà phê, sẵn sàng có mặt (chứ không “vắng mặt” như tên tác phẩm). Đỗ Phấn giống như kẻ rỗi việc ngồi nhặt nhạnh, soi mói những lỗ hổng của văn minh đô thị. Anh thường đặt ra những câu hỏi trong những trang văn. Những câu hỏi mà như tự vấn. Những câu hỏi của kẻ ngơ ngác không thể hiểu nổi tại làm sao lại ra nông nỗi ấy…

3. Không phải ngẫu nhiên mà văn Đỗ Phấn nhận được sự cộng hưởng từ phía những người trẻ. Là bởi tính chất thời sự của vấn đề anh đặt ra, cách anh đào sâu vào những vấn đề của xã hội đương đại. Đến với văn chương muộn hơn những người cùng thế hệ rất nhiều, nhưng những trang viết của anh luôn bám sát đời sống đương đại, dễ nhận được sự đồng cảm của những người trẻ và của những ai còn tha thiết, còn dấn thân, còn trách nhiệm và mở lòng với cuộc sống hôm nay. Vượt qua đoạn đầu của thế hệ mình để đến với đoạn sau, Đỗ Phấn đã chọn điểm nhìn ở hôm nay, viết về những vấn đề của hôm nay, quyết không ăn mày phần dĩ vãng đã cài then, hay đúng hơn là anh đã biết chuyển hóa nó, tiêu pha nó bằng những giá trị của đồng tiền đang lưu hành chứ không phải bằng những tờ tiền âm phủ.

Cuốn tiểu thuyết mới nhất "Rừng người" của Đỗ Phấn.

4. Có thể nói ít người theo đuổi, tha thiết với đô thị, nhìn nhận các vấn đề của đô thị một cách thấu triệt, mổ xẻ, tiên đoán, bắt bệnh cho nó nhiệt thành, cùng kiệt như Đỗ Phấn. Ở các tiểu thuyết của anh, người ta thấy một đô thị đang vỡ ra, đang bị cày xới, sục sạo trong cuộc chiến giữa bản thể và những lai tạp nhố nhăng. Nếu như ở “Vắng mặt” là sự đào sâu vào bi kịch cá nhân, loay xoay ở những vấn đề mang tính cá nhân thì ở “Chảy qua bóng tối” lại có sự cực đoan khi cắt nghĩa các vấn đề của đô thị và những hệ lụy của nó với cách nhìn rất dễ khiến những kẻ “ngụ cư chân chính” phải chạnh lòng. Anh sẵn sàng chỉ ra cái sự nhộn nhạo của đô thị là do những kẻ nhập cư, là do những bát nháo của “nửa kia thành phố”, phần đất mới nhập vào làm mất thế “rồng cuộn hổ ngồi”. Còn đến “Rừng người”, người ta đã thấy một đô thị - không - hẳn - là - Hà - Nội, một khái niệm đô thị ở tầm cao hơn, đã có sự liên kết với các “đô thị vệ tinh”, các vùng nông thôn lân cận để vấn đề không còn là của một đô thị riêng lẻ nào. Cùng với tiến trình mở rộng địa lý của Thủ đô, không gian tiểu thuyết của Đỗ Phấn cũng có sự mở rộng để hướng tới một Thủ đô rộng lớn hơn và cũng tượng hình hơn, để nói những vấn đề của thời đại.

Xuyên suốt 3 tiểu thuyết là hình ảnh những gã bất đắc chí lăn từ cuộc tình này qua cuộc tình khác, một cách đầy bản năng, thụ động, hết cuộn tròn trong vòng tay gái nhà lành đến vục mặt vào những ả cave, sống một đời sống nhục dục trong sự bi phẫn, bất lực với bi kịch của chính mình, không cách gì vượt thoát. Chán nản thì uống rượu, rượu say thì lao vào đàn bà, chán đàn bà lại tìm đến rượu bên những tri âm để rồi lặp lại cái vòng luẩn quẩn ấy. Đó cũng là một cách nhìn, nhưng nếu như nhìn bằng một cách khác như nhà phê bình trẻ Đoàn Ánh Dương: Đọc “Rượu và đàn bà” - “Tình bạn và Tình yêu” sẽ thấy xót xa vì sự biến mất của những điều tưởng như là vĩnh cửu, khi những thứ chuẩn mực phổ thông bỗng dưng thành của hiếm.

5. Đỗ Phấn viết về tất cả những điều ấy ngoài tư cách tác giả còn với tư cách của người trong cuộc, đau nỗi đau của người trong cuộc. Giống như một ông bố của gia đình vốn nền nếp gia phong một ngày bất lực ngồi nhìn đàn con của mình không còn giữ được nếp nhà, trở nên lố lăng, hư hỏng, mỗi đứa hỏng một kiểu, chẳng cái nào hỏng giống cái nào, cái gia đình ấy đầy đủ tứ chứng nan y về tinh thần, suy sụp không cách gì cứu vãn. Đau đấy, nhục đấy, xót xa đấy mà chỉ biết bất lực ngồi nhìn.

Nếu như các nhà văn gốc Hà Nội đã làm nên những cột mốc riêng, nếu như Bảo Ninh mang theo cái chất trai phố vào chiến trường để rồi cắm nên một cột mốc “Nỗi buồn chiến tranh” theo cách của một người Hà Nội bằng sự điềm tĩnh, sự chiêm nghiệm riết róng và xa xót; Nguyễn Việt Hà đã dựng nên một chân dung Hà Nội đầu những năm đổi mới bằng “Cơ hội của Chúa” với vẻ giễu nhại của kẻ tinh quái có con mắt nhà tiên tri, chẩn đoán, bắt bệnh như thần, thì Đỗ Phấn, tiếp tục dòng chảy ấy, anh đã dựng nên một bức chân dung lập thể của Hà Nội những năm đầu thế kỷ 21 với những ung nhọt đã bắt đầu vỡ lở, với những hang hốc ủ bệnh nay đang bộc phát…. Nhìn vào dòng chảy ấy có thể thấy “Cơ hội của Chúa” của Nguyễn Việt Hà là dự báo, còn bộ 3 tiểu thuyết của Đỗ Phấn là kết quả của sự dự báo ấy. Người ta thấy một đô thị đang vỡ ra, đang rệu rã, bộ khung văn hóa đang bị quá tải, đang phải gồng mình gánh đỡ một cơ thể bệnh hoạn đè nặng, trì níu khiến nó đang trở nên hụt hơi vì quá sức. Người ta cũng thấy những giá trị tinh thần của mảnh đất ngàn năm đang bị xâm lấn, dồn đuổi, chiếm chỗ một cách quyết liệt và thô bạo.

6. Đọc Đỗ Phấn bỗng nhiên tôi lại nhớ đến hai câu kết trong bài thơ “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên: “Những người muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ?”. Thế còn lớp con cháu họ, những người ấy đang ở đâu? Đang tự giấu mình đi để làm kẻ “Vắng mặt”, hay bị lạc lõng giữa “Rừng người”, hay bất lực làm kẻ mù lòa nhắm mắt làm ngơ “Chảy qua bóng tối”? Dù thế nào thì cũng cho thấy một điều, họ đang ngày càng nhỏ bé, vô danh, đang tự thu mình và có nguy cơ biến mất bởi những thứ khác họ hàng ngày đang nhiều lên, như con lũ dữ, cuốn trôi, lấn lướt, nhấn chìm tất cả, thống soái để tạo nên nhịp đập hỗn loạn của một đô thị mở. Nhưng dù thế, tôi vẫn tin, những gì có sức nặng thì hay chìm sâu để những thứ rác rưởi nổi nênh làm mưa làm gió, còn nó sẽ lắng đọng trẫm mình để kết tinh, như khúc kỳ nam, qua chớp bể mưa nguồn sẽ một ngày phát lộ. Nhưng cũng tiếc thay, khi ấy, có lẽ những gì tốt đẹp đã trở thành di sản mà lớp hậu sinh chỉ có thể ngắm nhìn.

Hà Nội tháng 10/2011 



Dương Tử Thành
Nguồn từ blog.yume.vn











Đỗ Phấn: Văn chương không cần lắm điều



TT - Trong vòng hai năm, Đỗ Phấn lần lượt trình làng ba cuốn tiểu thuyết. Điều thú vị là Đỗ Phấn được biết đến nhiều với tư cách họa sĩ hơn nhà văn, và không phải nhà văn chuyên nghiệp nào cũng có sức lao động đáng kể như anh.





Họa sĩ - nhà văn Đỗ Phấn - Ảnh nhân vật cung cấp


Nhân dịp tiểu thuyết Rừng người vừa mới ra mắt độc giả trong tháng 9, Tuổi Trẻ có cuộc trò chuyện với Đỗ Phấn.

* Trong vòng hai năm cho ra mắt ba cuốn tiểu thuyết, cho thấy sức làm việc rất tập trung... Có phải là anh đang say tiểu thuyết?

- Thật ra trước đấy tôi đã in năm cuốn sách khác gồm tản văn và truyện ngắn. Từ những cái viết ngắn bởi phải gò vào một khuôn khổ chữ nhất định, tôi thường có những ngẫm nghĩ lan man theo dòng suy tưởng. Tất cả được ghi chú lại ở một nơi trong máy tính để đến bây giờ hình thành ba cuốn tiểu thuyết.

Nói là say thì cũng đúng nhưng với tôi, tiểu thuyết luôn là cỗ máy cái trong tác phẩm của bất kỳ người viết nào. Ở đấy các thao tác nghề nghiệp và vốn sống sẽ được sử dụng đầy đủ nhất. Ở thể loại ấy, ta không còn phải đắn đo quá nhiều về câu chữ, về bố cục và thậm chí cả những ngoại đề vụn vặt nhạy cảm.


* Anh quan niệm thế nào về tiểu thuyết?
- Nói về quan niệm tiểu thuyết hình như quá sức của tôi, một người không được đào tạo lý luận về nghề viết. Với tôi, đơn giản tiểu thuyết chỉ như một hành trình khám phá chiêm nghiệm cái đẹp của cuộc sống. Những xấu xa bỉ ổi thấp hèn nếu có mặt trong tiểu thuyết cũng là để tôn vinh cái đẹp. Câu chuyện này tôi rút ra từ công việc hội họa của mình. Vẽ và viết có lẽ gặp nhau ở đấy, nhất quán ở lý tưởng thẩm mỹ. Vẽ và viết với tôi có chung một đích đến là cái đẹp, sự lương thiện và có thể hiểu được.

* Giới phê bình cũng như bạn đọc đều nhìn nhận rằng tiểu thuyết Đỗ Phấn mô tả đời sống thị dân ở góc độ cận cảnh, và anh là một trong số ít nhà văn viết về đời sống thị dân hôm nay. Có phải đó là chủ ý của anh?
- Đơn giản vì tôi sinh ra và lớn lên ở đô thị. Thật ngạc nhiên là tôi thấy đa số nhà văn đều sống ở đô thị mà sáng tác của họ lại không nói lên điều ấy. Mảnh đất tưởng rằng rất quen thuộc với các nhà văn hóa ra lại không phải là chất liệu để làm nên tác phẩm.
Nhà văn đô thị đi thực tế khắp nơi để viết về những con người và vùng đất mình đi qua. Tôi làm công việc ngược lại. Đi nhiều nơi để viết về mảnh đất mình đã và đang sinh sống một cách có so sánh chiêm nghiệm. Tôi nghĩ rằng đời sống thị dân dù quan sát ở góc độ cận cảnh nhất cũng khó mà mô tả được nếu như không có những đối sánh.

* Trong Vắng mặt, Chảy qua bóng tối và Rừng người đều thấy những “xê dịch dưỡng thương”, thấy “vắng mặt” giữa “rừng người”... Dường như ít thấy nơi trang viết anh sự “phản biện” những vấn đề xã hội mà nhiều người hôm nay hay nói tới?
- Tôi không nghĩ rằng tiểu thuyết cần phải có chức năng phản biện những vấn đề xã hội. Hoặc nếu có thì nó đã xong việc và dừng lại từ thời “văn học hiện thực phê phán” trước năm 1945 mất rồi. Dĩ nhiên đó là những phản biện trực tiếp có tính phổ cập cao.

Tôi nghĩ văn chương cần phải ở một tầm bao quát lớn hơn, cần phải neo đậu trong tâm trí bạn đọc những nghĩ ngợi liên tưởng hay lóe sáng chiêm nghiệm về những vấn đề lâu dài của xã hội. Văn chương không phải là một bà già lắm điều.


Đỗ Phấn sinh năm 1956 tại Hà Nội, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội 1980, giảng dạy mỹ thuật tại khoa kiến trúc Đại học Xây dựng Hà Nội từ 1980-1989. Ngoài ba tiểu thuyết mới xuất bản gồm Vắng mặt (Bách Việt - NXB Hội Nhà Văn), Chảy qua bóng tối (NXB Trẻ), Rừng người (NXB Phụ Nữ), từ năm 2005 đến nay Đỗ Phấn đã in các tập: Chuyện vãn trước gương, Ông ngoại hay cười (tản văn), Đêm tiền sử, Kiến đi đằng kiến, Thác hoa (truyện ngắn)...

Về tiểu thuyết Đỗ Phấn, cây bút phê bình văn học Đoàn Ánh Dương nhận định: “Sẽ rất thú vị nếu đọc văn Đỗ Phấn trong (trí tưởng) những không gian đô thị còn tranh chấp, nơi vừa như muốn níu giữ một điều gì đó còn trong trẻo của xưa kia, vừa như phải vươn vào đời sống danh lợi tục tằn hiện tại”...


Trần Nhã Thụy thực hiện
















Phan Nguyên & Đỗ Phấn
Hà Nội 2023























































MDTG là một webblog mở để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.