Friday, 24 June 2016

Nguyễn Ngọc Ngạn















Nguyễn Ngọc Ngạn
(9/3/1945 - .......) Sơn Tây

Nhà văn, xướng ngôn viên

Nguyễn Ngọc Ngạn là một nhà văn và là xướng ngôn viên người Canada gốc Việt.
Ban đầu ông được biết đến với tư cách nhà văn có nhiều tác phẩm được người Việt hải ngoại đón nhận.
Kể từ năm 1993, ông bắt đầu vai trò người dẫn chương trình (MC) của Paris By Night.




Tiểu sử

Nguyễn Ngọc Ngạn sinh ngày 9 tháng 3 năm 1945 tại ngoại thành Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội), là con thứ ba trong gia đình gồm sáu người con.[1]
Năm 1954, ông theo gia đình di cư vào miền Nam, sống tại một xóm của người Công giáo gần Củ Chi, đến năm 1957 thì gia đình ông chuyển về sống ở khu ngã ba Ông Tạ (nay thuộc quận Tân Bình).

Thời trung học, Nguyễn Ngọc Ngạn theo học trường Nguyễn Bá Tòng (nay là Trường Trung học phổ thông Bùi Thị Xuân) và trường Chu Văn An (Sài Gòn). Có thời gian ông theo học kịch nghệ tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn.
Sau khi tốt nghiệp, ông tiếp tục học lên đại học tại Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn.
Ra trường, ông giảng dạy ngoại ngạch tại một số trường công lập.[1]
Năm 1970, Nguyễn Ngọc Ngạn gia nhập Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đầu tiên thuộc Sư đoàn 9 Bộ binh, sau về tiểu đoàn địa phương quân tác chiến ở quận Cái Bè, tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Tiền Giang).
Năm 1974, Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa biệt phái ông về tiếp tục dạy học nhưng không được bao lâu thì đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.[1] Sau ngày Sài Gòn sụp đổ, Nguyễn Ngọc Ngạn phải học tập cải tạo.
Năm 1978, ông được trả tự do và là người đầu tiên trong gia đình vượt biên.
Tàu đến gần Malaysia thì bị cảnh sát sở tại bắn. Tài công hốt hoảng khiến tàu bị sóng lớn đánh lật. Vợ và con trai ông đều chết đuối; ông cùng những người sống sót được chuyển đến trại tỵ nạn ở Kota Bharu.[1]
Sau đó ông được sang định cư tại Canada, ban đầu là tại thành phố cảng Prince Rupert, British Columbia.


Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn và phu nhân trong lễ cưới tại Paris năm 1982


Năm 1985 ông chuyển tới thành phố Toronto, Ontario và định cư tại đó cho tới nay.[1]
Ông Nguyễn Ngọc Ngạn đã có hai đời vợ. Người đầu là Lê Thị Tuyết Lan, kết hôn khoảng năm 1970 và đã chết trong chuyến vượt biển cùng đứa con đầu lòng (sinh năm 1974) của hai người. Người sau tên Diệp, kết hôn vào năm 1982. Ông có một con trai khác với vợ sau.[1]
Ông có người em trai là nhạc sĩ Ngọc Trọng, tác giả của một số ca khúc như "Buồn vương màu áo", "Đêm cô đơn",...


Cộng tác với Trung tâm Thúy Nga

Năm 1992, Thúy Nga Paris mời Nguyễn Ngọc Ngạn sang Paris, Pháp. Ông đến trụ sở ở quận 13 gặp vợ chồng Tô Văn Lai, tuy nhiên vẫn còn lưỡng lự sau khi thảo luận về lời mời làm người dẫn chương trình. Hầu hết mọi người bên gia đình Nguyễn Ngọc Ngạn đều phản đối việc này, riêng chỉ có em trai Ngọc Trọng là ủng hộ. Lần đầu ông xuất hiện trên video Paris By Night là vào cuốn số 17. Sau lần ra mắt đó, ông được ban giám đốc Thúy Nga đề nghị cộng tác độc quyền.[1]Khác với các MC trước đó, Nguyễn Ngọc Ngạn cố gắng vận dụng kiến thức văn học để làm giàu nội dung dẫn chương trình và không ngừng tìm kiếm các mẩu truyện vui để mang lại tiếng cười cho khán giả tham dự chương trình. Ngoài vai trò MC, ông cũng tham gia viết kịch cho Paris By Night và thu âm sách nói (audio book). Sau khi 20 năm cộng tác cho Paris By Night, Trung tâm Thúy Nga đã đặc biệt thực hiện riêng chương trình Paris By Night 107 chủ đề Nguyễn Ngọc Ngạn: 20 năm sân khấu để ghi nhận đóng góp của ông.



Tác phẩm

Ngoài văn chương chính thống, Nguyễn Ngọc Ngạn còn là tác giả của nhiều truyện ma kinh dị được độc giả hải ngoại biết đến rộng rãi như "Tiếng quạ réo vong hồn", "Ngôi mộ mới đắp", "Đêm trong căn nhà hoang", "Bóng ma bên cửa sổ" ("Bóng ma bên cửa"), "Chuyến xe buýt" ("Bãi đất hoang sau nhà"), "Căn nhà số 24", "Cõi âm", "Đêm không trăng", "Hồn về trong gió". Truyện "Đêm trong căn nhà hoang" của ông đã được chuyển thể thành phim, do Trung tâm Thúy Nga phát hành.










"Cảm thông cái thực tế chua xót ấy, cùng với nỗi nhớ thương người vợ mới mất, tôi bắt đầu viết truyện dài “Những người đàn bà còn ở lại” trong 3 tháng ở trại tạm cư. Cuốn sách đầu tiên ấy, tuy kỹ thuật chưa cao, nhưng chứa đựng nhiều cảm xúc. Nó là bậc thềm thứ nhất, là nấc thang khởi đầu, để rồi từ đó đến nay tôi đã có được gần 30 tác phẩm xuất bản."









Truyện ngắn





Lúc gần sáng
(1986)




Sân khấu cuộc đời
(1987)




Biển vẫn đợi chờ




Những người đàn bà đi bên tôi




Dòng đời lặng lẽ
(tập truyện ngắn gồm ba truyện)
1998




Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn






Tiểu thuyết





Nước đục
(1987)



Một lần rồi thôi
(1987)




Màu cỏ úa
(1988)




Trong quan tài buồn
(1988)




Sau lần cửa khép
(1988)




Đếm những mảnh tình
(1989)




Trên lối mòn hậu chiến
(1989)




Cõi đêm
(1990)




Xóm đạo
(1999)





The Will Of Heaven
(tiểu thuyết tiếng Anh)




Trong sân trường ngày ấy, Ngày buồn cũng qua mau, Dung nhan người góa phụ
(truyện dài, 1990)




Chính khách, Chút ân tình mong manh, Quay trong cơn lốc, Dấu chân xưa, Nhìn lại một thập niên, Nắng qua phố cũ
(Văn Khoa, 1999)






Phỏng vấn





Mặc Lâm: Thưa anh có phải cuốn “The Will of Heaven” là tác phẩm đầu tiên của anh không ạ?

Nguyễn Ngọc Ngạn: Cuốn “The Will of Heaven” không phải là tác phẩm đầu tiên của tôi nhưng là cuốn sách được xuất bản đầu tiên. Cuốn đầu tay mà tôi viết là cuốn “Những người đàn bà còn ở lại” viết bằng tiếng Việt khi tôi còn ở trại tỵ nạn Mã Lai năm 1979.

Khi sang tới Canada thì điều kiện xuất bản của cộng đồng lúc ấy khó khăn quá tôi không làm sao in được cuốn sách bằng tiếng Việt, tôi chuyển sang viết bằng tiếng Anh thì may sao một nhà xuất bản ở New York nhận in.

Mặc Lâm: Nếu tôi không lầm thì quyển này kể lại chính cuộc đời anh phải không?

Nguyễn Ngọc Ngạn: Gần như 90% nó là một cuốn tự truyện hay là hồi ký do chính tác giả viết. Tôi viết về thời tôi còn đi học, thời tôi còn trong quân đội và thời tôi ở tù cải tạo 3 năm và tôi viết về hành trình vượt biển của tôi năm 1979.

Mặc Lâm: Thưa anh, anh là người rời nước rất sớm nhưng lại viết rất nhiều sách lấy bối cảnh và nhân vật trong nước, xin anh cho biết anh dùng nguồn tư liệu nào để sáng tác cho nhân vật cũng như sự kiện sống động như vậy?

Nguyễn Ngọc Ngạn: Trước nhất tôi đọc tài liệu trong báo, trong sách. Là một người Bắc di cư rời miền Bắc lúc 9 tuổi, tôi còn nhớ được nhiều hình ảnh ở một vùng ven biên vì tôi ở sát với thị xã Sơn Tây và trước khi di cư vào Nam thì làng tôi cũng gặp nhiều chiến tranh và trong đó có những cảnh cán bộ về làng tập trung thiếu nhi để dạy hát thành ra tôi biết nhiều mặc dù trí óc còn non nớt.

Mặc Lâm: Anh là một nhà văn có số sách được xuất bản cao nhất hải ngoại theo ý anh đề tài nào được độc giả hải ngoại quan tâm nhất?

Nguyễn Ngọc Ngạn: Theo ý tôi một cách chủ quan thôi thì những đề tài chính trị, đặc biệt những đề tài miền Bắc dưới chế độ Cộng Sản. Quyển “Trong Quan Tài Buồn” hay “Màu Cỏ Úa” tôi viết về thời cải cách ruộng đất…

Mặc Lâm: Anh vừa nhắc là anh có viết về đề tài cải cách ruộng đất trong thập niên 50, mới đây nhà văn Tô Hoài được phép xuất bản cuốn “Ba người khác” không biết anh có đọc chưa?

Nguyễn Ngọc Ngạn: Tôi không đọc được nguyên văn nhưng có biết qua nội dung cuốn sách.

Mặc Lâm: Anh có nhận xét gì khi trong nước cho in những quyển có đề tài nhạy cảm như vậy?

Nguyễn Ngọc Ngạn: Đã có một số tác phẩm như “Đống rác cũ” của Nguyễn Công Hoan và những quyển khác mà tôi không nhớ tên. Những tác phẩm được xem như chệch hướng bị cấm một thời gian dài bây giờ được xem như cởi mở mà không cởi mở cũng không được trong thời đại Internet này.

Những tác phẩm cũ được tung ra được viết lại dĩ nhiên tôi đọc chúng một cách hứng thú đồng thời tiếc rằng mình không đọc sớm hơn.

Mặc Lâm: Anh là tác giả của một số sách audio rất lớn xin anh cho biết anh có biên tập lại tác phẩm trước khi thu hay không?

Nguyễn Ngọc Ngạn: Đúng như anh nhận xét tôi phải biên tập tất cả các lời thoại cho phù hợp với audio cho phù hợp với loại hình này. Giống như một buổi kịch truyền thanh, sách audio phải diễn tả được những gì đang xảy ra và được nghe trên đài như tôi đang nghe đài Á Châu Tự Do chẳng hạn.

Mặc Lâm: Xin cám ơn anh đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

Theo RFA











Tham khảo

^ a ă â b c d đ Trường Kỳ (ngày 28 tháng 1 năm 2009). 


TiVi Tuan San 941 & 942. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2014.


Nguyễn Ngọc Ngạn, Trông Lại Một Chặng Đường, nhân Kỷ niệm 25 năm Paris By Night.



1983-8990-9900-0910-nayKaraoke


CD • Phim truyện • Hài kịch • Audio Book • Tạp chí Văn nghệ • VFTV • Thuy Nga Cloud








Nguyễn Ngọc Ngạn và chuyến tàu đau thương

Câu chuyện vượt biển kinh hoàng của Nguyễn ngọc Ngạn – Nhà văn – MC của Thúy Nga Paris by night

Ðời người, ai cũng có những kỷ niệm, đau thương hay hạnh phúc. Kỷ niệm đôi khi chỉ thoáng qua, mờ nhạt như áng mây bay ngang bầu trời, để lại chút hình ảnh bâng khuâng. Nhưng cũng có khi hết sức sâu đậm, đến nỗi có thể coi là một biến cố, khả dĩ tạo thành khúc rẽ quan trọng cho cuộc đờị Ðó là trường hợp của tôi với câu chuyện xảy ra hơn 20 năm về trước mà giờ này ngồi ghi lại, tôi vẫn thấy hiển hiện như mới hôm qua.

Ngày ấy, miền Nam vừa đổi chủ được 3 năm, tình hình chính trị còn cực kỳ khắt khe Ðã thế, chính sách áp dụng lại không đồng nhất, mỗi phường mỗi tổ là một lãnh chúa, phát huy sáng kiến mà bức chế nhân dân. Tôi ở trại cải tạo, cầm tờ giấy tha vào giữa năm 78, về trình diện Sở Giáo Dục Thành Phố cho đúng thủ tục, dù biết trước sẽ không được thu nhận trở lại nghề cũ . Không có nghề nghiệp biên chế, tôi chỉ được tạm trú 3 tháng tại Sài Gòn để thu xếp đi vùng kinh tế mới . Thời gian này, miền Nam đang lên cơn sốt về phong trào vượt biên tìm tự do . Những người ở vào hoàn cảnh của tôi, bị công an khu vực theo dõi và hăm dọa thường xuyên thì lại càng nôn nóng kiếm đường bỏ trốn. Những người bạn tù chúng tôi ngày ngày đôn đáo gặp nhau, đề tài chính đem ra bàn bạc chỉ xoay quanh một chuyện duy nhất là vượt biên.

Thời gian trôi qúa nhanh, trong nháy mắt đã hết hạn tạm trú, tôi trở thành kẻ sống lậu không hộ khẩu tại thành phộ Giữa lúc lao đao tuyệt vọng, không biết ngày nào bất ngờ bị bắt lại, thì một hôm em trai tôi giới thiệu cho tôi một đầu cầu qúy giá: đó là ông Ân, một người đàn ông trí thức, tuổi vừa 50, tính tình hiền hoà và đứng đắn. Ông là nhân viên lâu đời của cơ quan viện trợ Hoa Kỳ trước 75, đồng thời góp phần chuyển âm Anh-Pháp cho hãng phim Cosunam ở Sài Gòn. Vì làm ăn chung với em tôi từ sau 75, nên ông có lòng tốt rủ em tôi cùng đi với ông trong chuyến vượt biển bán chính thức vốn dành riêng cho người Hoa đang rầm rộ đăng ký lúc đọ Thông cảm hoàn cảnh bấp bênh của tôi,em tôi giới thiệu tôi với ông, để xem ông có giúp gì được tôi chăng ? Ði bán chính thức lúc ấy đắt tiền lắm, vì đang là những đợt đầụ Có người nộp tới 12 hoặc 14 cây vàng, vì phải qua nhiều trung gian. Còn gía trung bình thì ít ra cũng phải 10 lượng một ngườị Tôi mới ở tù ra, làm gì có số tiền khổng lồ ấy!

Bà xã tôi bận con nhỏ — khi tôi đi tù thì cháu mới hơn 1 tuổi — cho nên chỉ buôn bán vớ vẩn, đủ nuôi con và tiếp tế cho chồng là giỏi lắm rồị Số vốn ít ỏi của vợ tôi lại cứ vơi dần sau mấy chuyến đi chui bất thành. Con đường bán chính thức mua vé bằng cả chục lượng vàng, là điều vượt qúa sự kỳ vọng của tôi, trừ khi có một phép lạ! Vậy mà phép lạ dường như đang xảy đến!

Hôm ấy, một buổi tối khoảng đầu tháng 11, gia đình em tôi đưa tôi lại quán bò bảy món Duyên Mai bên Chi Lăng, để gặp ông Ân lần đầu tiên. Tôi lúc này đang trốn chui trốn nhủi vì đã hết hạn nộp hộ khẩu từ lâu, phải xoay đủ mọi thứ giấy tờ lao động để qua mặt công an khu vực, nấn ná lưu lại thành phố được ngày nào hay ngày nấỵ Khu vực Công giáo tôi cư ngụ lại hay xảy ra những vụ bắt bớ bí mật, vì những tin đồn về các tổ chức Phục Quốc — cả thật lẫn giả — làm liên lụy đến khá nhiều người vô can. Trước năm 75, tôi có dạy một ít giờ tại 2 trường tư thục Công giáo là trung học Quang Minh ở nhà thờ Vinh Sơn đường Trần Quốc Toản, và trung học Saint Thomas trên đường Trương Minh Giảng. Nhà thờ Vinh Sơn là nơi phát khởi vụ nổi dậy chống chính quyền đầu tiên, sau 30 tháng 4 năm 75, và linh mục Nguyễn Quang Minh bị bắt ngay sau đọ Cha Vàng ở trường Saint Thomas cũng đã bị bắt, vì nghe đồn bị vu cáo có giấu vũ khí trong khuôn viên trường học. Khi tôi ở trại cải tạo về, công an có gọi tôi ra và thẩm vấn về quan hệ của tôi với hai vị linh mục nàỵ Có thể đó chỉ là những câu hỏi thủ tục về lý lịch, nhưng cũng làm tôi hết sức lo sợ, bởi xã hội không có luật pháp rõ ràng. Một khi công an nghi ngờ, thì sớm muộn gì cũng vào tù . Bởi vậy, tôi càng nôn nóng muốn trốn đi .

Tối hôm ấy, gặp ông Ân ở nhà hàng, tôi bàng hoàng xúc động khi ông cho biết ông sẵn lòng đóng tiền cho vợ chồng tôi đi cùng chuyến với ông và em tôị Nghĩa là ông cho tôi vay 20 lượng vàng, qua Mỹ đi làm trả lạị Vợ chồng tôi chỉ cần góp 5 lượng cho đứa con mà thôi! Tôi như người đi trên mây, buồn ngủ gặp chiếu manh, không ngờ đời mình có lúc gặp qúi nhân dễ dàng như thế này! Dĩ nhiên, qua trung gian em trai tôi, ông Ân mới dám tin là tôi sẽ trả ông sau khi đến Hoa Kỳ . Nhưng dù sao đi nữa, việc ông giúp một người xa lạ như tôi, trong hoàn cảnh này, phải coi là một phép lạ mà tôi không mường tượng trước được, nhất là ở thời kỳ gạo châu củi quế năm 78. Bà Ân ngồi cạnh chồng chỉ cười hiền hoà không có ý kiến gị Lúc đó bà 39 tuổi, thua chồng hơn 10 tuổị Sáu đứa con, đứa nào cũng xinh xắn và ngoan hiền. Sau đó, tôi còn được biết thêm. Ông Ân cho tới 18 người vay tiền đi, tổng cộng là gần 200 lượng vàng!

Những ngày hồi hộp trôi qua rất chậm, tôi nôn nóng chỉ sợ chuyện bất trắc xẩy ra trước khi lên đường. Tôi vẫn hăng hái tham gia công tác thủy lợi tại địa phương, hoặc tự nguyện dạy lớp bổ túc văn hóa ban đêm trong tổ dân phố, để tránh sự chú ý của công an khu vực. Song song với những việc đó, tôi âm thầm mua giấy tờ, lấy tên giả, học nói dăm câu tiếng Hoa, và cuối cùng ra đi vào một ngày cuối năm khi sóng biển đang gầm thét dữ dội ngoài khơị

Khi những chiếc ghe nhỏ đưa người ra thuyền lớn ở Kiến Hòa, thì một chuyện bất ngờ xảy ra: công an cùng với chủ ghe đọc danh sách lên tầu, và quyết định bỏ lại 17 người đã đóng tiền, trong đó có toàn bộ gia đình em trai tôi gồm 4 ngườị Em trai tôi là người giới thiệu tôi đi, vậy mà phút chót lại bị ở lại! Tôi lên tầu, hết sức hoang mang, ngờ ngợ linh cảm trước là sẽ có chuyện chẳng lành trên cuộc hành trình đầy sóng gió sắp tớị Tầu đi bán chính thức chỉ được một lợi thế là không sợ bị bắt ở bến hẹn, nhưng luôn luôn chở qúa trọng tải, có chuyến vừa ra tới cửa biển đã chìm. Chiếc thuyền gỗ tôi đi nom rất mong manh, mà chủ tầu và công an chất lên tới hơn 300 người, cố nhét càng nhiều càng tốt để thu vàng tối đạ Họ gạch tên bỏ lại 17 người, để thay vào bằng những hành khách khác bằng lòng nộp nhiều vàng hơn. Ðây là loại tầu đánh cá có hầm chứa nước đá để ướp cá, bây giờ được dọn sạch để đưa người vượt biển. Hơn 100 nguời đàn ông chúng tôi bị dồn xuống hầm, cấm không được leo lên, và chỉ có mỗi cái cửa vuông ở giữa tầu để ngày ngày bên trên ném thức ăn xuống. Ðàn bà con nít thì được ngồi ở tầng trên cùng với thân nhân của chủ tầu và tài công. Có nghĩa là từ lúc bước chân xuống tầu, tôi không được liên lạc với vợ con nữạ. Tôi không biết, trong số hơn 100 người đàn ông ngồi dưới hầm tầu, có bao nhiêu người Việt; chỉ nghe tiếng chuyện vãn chung quanh toàn là tiếng Hoa. Ông Ân với 3 cậu con trai tuổi từ 14 tới 18, ngồi dưới hầm bên cạnh tôi. Vợ ông cùng cô con gái đầu lòng 19 tuổi, đứa áp út 13 và đứa con út 3 tuổi ở trên boong cùng với vợ con tôi. Vì là người Việt, không dám tranh cãi với đại đa số người Hoa, chúng tôi bị dồn vào cuối hầm tầu, ngồi chịu trận tại chỗ, nước lúc nào cũng ngập từ thắt lưng trở xuống, và có khi lên tới ngực. Thức ăn cũng ít khi đến lượt mình, vì những người ngồi gần cửa lấy hết, lâu lâu mới quẳng vô phía chúng tôi cái bánh tét hay ổ bánh mì đã cứng như thanh củi. Tuy vậy, ai cũng tự an ủi là cuộc hành trình sẽ không lâu, cố gắng chịu đựng vài ngày là tới bến, tha hồ thong dong.

Sang đến ngày thứ tư, rồi thứ năm, tất cả đều mệt mỏi vì con thuyền nhỏ bị sóng nhồi liên tục. Nước biển rỉ vào hầm tầu mỗi lúc một nhiều hơn, mà chẳng ai buồn múc từng thùng đổ ra ngoài như hai hôm đầu. Chỗ tôi ngồi càng ngày càng thê thảm hơn. Nước ngập tới ngực, mà rác rến lại nổi lềnh bềnh chung quanh, Lá bánh chưng bánh tét, vỏ quít, vỏ bưởi cùng các thứ linh tinh không tên, trôi vật vờ, chẳng ai thèm vớt mà đem quăng xuống biển. Vì qúa chật chội, di chuyển rất khó khăn, nên ai cũng ngồi lì tại chỗ, đứng lên không nổi, đi tiểu luôn chỗ mình ngồi cho tiện. Trong hầm tầu, chúng tôi mất hết ý niệm thời gian, không ngày hay đêm, cũng chẳng biết tầu đang chạy hay đứng tại chỗ. Ðến ngày thứ năm, vì nóng bức qúa, có người ngộp thở ngất xỉu dưới hầm, tài công mới cho khoét một cái lỗ vuông mỗi bề hơn một gang tay ngay trên đầu tôi, nghĩa là phía dưới tầu, để lấy không khí từ trên lùa xuống cho hơn 100 người phía dưới. Vị ân nhân của tôi, ông Ân và các con, lúc đầu còn nói chuyện với tôi, sau mệt qúa, ai cũng nhắm mắt dựa vào nhau mà sống cho qua cuộc hành trình dài lê thê.

Bước sang ngày thứ bảy, buổi sáng tinh mơ, chắc chưa đến 6 giờ, tôi đang thiu thiu ngủ, thì nghe có tiếng gọi nhỏ:

– Anh Ngạn Anh Ngạn ơi!

Tôi giật mình ngơ ngác ngước nhìn lên, thì thấy bà xã tôi thò mặt qua cái lô thông hơi để tìm tôi. Tôi không nhận ra mặt vợ tôi vì trời còn tối thẳm, nhưng nhờ giọng nói tôi biết vợ tôi cần gặp tôi có chuyện khẩn cấp. Tôi hồi hộp tìm cách đứng dậỵ Tàu chật ních, lại thêm đã gần một tuần ngồi một chỗ, hai chân tê cứng dưới lớp nước mặn, tôi loanh quanh khá lâu mới đứng lên được. May cho tôi là quanh tôi mọi người còn đang ngủ cả. Chứ nếu họ thức thì tôi khó lòng di chuyển, vì họ sẽ lôi lại và dí đầu tôi bắt ngồi xuống. Bà xã tôi giục nho nhỏ:

– Lên đi anh! Lên đại đi! Chui lỗ thông hơi này lên đi!

Tôi lo lắng nhìn quanh. Lúc ấy tôi còn gầy yếu lắm. Thời gian ở trại cải tạo bị sốt rét nặng, kéo dài 21 ngày, bước đi phải nhờ người vịn, bạn bè cùng tổ cứ tưởng tôi là sắp phải đem tôi đi chôn trên đồi tranh ở Bù Gia Mập. Giờ này vượt biển, tôi vẫn chưa lại sức, mới chỉ lên cân được chút ít. Nhà tôi lại bảo:

– Ðêm qua bão lớn. Cái áo của con bị rách tung rồi bay mất. Nó phải cởi trần cả đêm lạnh tím cả người. Anh lên một chút đi!

Nghe nhắc đến đứa con hơn 4 tuổi, tôi vùng đứng lên, bước đại qua vào người đang ngồi ngủ, rồi chui liền lên, Cái lỗ nhỏ, phải lách người khó khăn, làm trầy sứt cả hai vai, nhưng tôi không có cảm giác gì lúc đó. Từ hôm lên tầu, tôi vẫn mặc cái jacket nylon của Không Quân ngày trước và chiếc quần tây màu vàng đục. Lúc ngồi, dĩ nhiên phải cởi hết nút quần, kéo fermeture xuống cho thoải mái. Bây giờ đứng dậy, vội vã dùng hai tay đu lên khỏi hầm tầu, có người nào đó đã nắm ống quần tôi kéo lại, làm tôi chỉ còn mỗi cái quần đùi khi lên tới tầng trên. Trời mưa không nặng hạt lắm, nhưng gió biển thổi phần phật trong không gian mờ tối. Tôi cúi xuống ôm đứa con đang run cằm cặp. Nhà tôi ưu tư bảo

– Tầu sắp đắm mất, anh ạ!

Tôi đảo mắt nhìn quanh sau sáu ngày bảy đêm chui trong bóng tối dưới hầm. Chỉ một phút sau, tôi nhận ra ngay là mình sắp chết! Vợ tôi nói đúng. Là bởi vì, khi ở dưới hầm, tôi cứ tưởng tầu đang chạỵ Hóa ra tầu bị bỏ neo đậu tại chỗ suốt cả đêm rồi, mặc cho gió mưa và sóng dữ cuối năm vùi dập. Tuy cùng ở trên tầu, nhưng những tin tức bên trên không được thông báo cho người dưới hầm biết, sợ gây cảnh náo loạn, dẵm đạp lên nhau. Bởi vậy, tôi hoàn toàn không biết gì cả, cho đến bây giờ leo lên mới thấy kinh hoàng, Tôi nhìn lại phía buồng máỵ Một cảnh tượng hãi hùng và thê lương: không có tài công, không có người phụ máy. Chiếc tầu không người lái cứ bập bềnh nghiêng ngửa theo từng đợt sóng khổng lồ đưa vào, đẩy ra, phó mặc sinh mạng mấy trăm người cho đại dương. Với sức sóng như thế này, tôi biết chắc tầu sắp vỡ. Ðàn bà con nít, nguời đứng người ngồi lố nhố, quên cả cái ướt lạnh, nhớn nhác hỏi nhau, không biết phải làm gì trong hoàn cảnh tuyệt vọng này. Bà xã tôi bảo:

Tài công bỏ tầu từ nửa đêm rồi!

Bấy giờ tôi mới hiểu đầu đuôi câu chuyện. Ðêm qua, khi thuyền chúng tôi vào còn cách bờ Mã Lai khoảng nửa cây số, thì có tầu cảnh sát Mã Lai ra đuổi. Rồi họ dựng mấy cây đại liên và đèn pha trên bờ bắn ra xối xạ. Mười mấy người tài công cùng với thân nhân chủ ghe đeo phao nhảy xuống bơi vào, nói là để điều đình rồi sẽ ra đưa tầu vô. Nhưng rồi họ đi luôn, không ai trở lại! Người ngoài khơi cứ đợị. Người đã lên bờ thì bỏ mặc. Ðàn bà con nít trên boong không ai biết lái tầu. Hơn 100 người ngồi dưới hầm thì tưởng tầu vẫn đang chạy bình thường! Tôi biết mình sắp chết, nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh bảo con tôi:

– Con ơi! Ðằng nào tầu cũng sắp chìm. Bây giờ con ôm lấy cổ ba, để ba nhảy xuống biển khơi, bơi vào …

Tôi không biết bơi. Mà có biết thì cũng không còn sức, bởi bờ ở qúa xa, tôi cố nhướng mắt nhìn mà chỉ thấy lờ mờ trong mưa. Ðứa con trai hơn 4 tuổi , quấn chiếc khăn quanh người ướt đẫm từ đầu xuống chân, run lẩy bẩy nhìn tôi im lặng gật đầu. Dường như nó cũng linh cảm thấy chuyện chẳng lành sắp đến, cho nên chỉ nhìn tôi chia sẻ. Quanh tôi, có vài cái bình nylon đựng nước ngọt đã uống hết, nằm lăn lóc trên sàn. Tôi nắm bàn tay lạnh ngắt của vợ tôi và bảo:

– Em lấy cái bình nylon, ôm vào người rồi nhảy xuống. May ra sóng đánh vào bờ! Thà nhẩy xuống trước, chứ để tầu vỡ thì khó lòng mà sống được, vì cả trăm người sẽ níu chặt lấy nhau và cùng chết hết!

Vợ tôi nhìn tôi bằng ánh mắt ly biệt, đưa tay làm dấu đọc kinh. Tôi và con trai tôi cũng làm dấu Thánh giá và cầu xin Chúa che chở trong cơn nguy khốn. Tôi vừa đưa cho vợ tôi cái bình nylon, chưa kịp nói gì thêm thì một đợt sóng vĩ đại ấp tới, làm chiếc tầu lật ngang, vỡ tung buồng lái ở tầng trên. Tiếng người đồng thanh kêu ru lên, bị tiếng gầm của sóng át đi. Buồng máy, kính cửa sổ, mui tầu, mái gỗ bọc tôn và bao nhiêu thứ ngổn ngang trên tầu đều rụng hết xuống biển, kéo theo qúa nửa hành khách gồm đàn bà và trẻ em. Tôi té lăn trên sàn tầu trong khối nước mặn khổng lồ vừa ập tới, đôi tay quờ quạng bám víu bất cứ thứ gì để sống còn. Từ giây phút ấy, tôi không còn nhìn lại được vợ tôi lần nào nữa! Ðứa con tôi cũng vuột khỏi tay tôi và văng xuống biển. Tôi níu được một sợi giây nào đó trên tầu, nên chỉ bị văng mất đôi mắt kính chứ chưa rơi hẳn xuống nước. Nhưng ngay sau đó, tôi chưa kịp hoàn hồn, chưa kịp đứng vững thì lớp sóng khổng lồ vừa đẩy vô bờ, lại rút ra mạnh hơn, làm tầu lật ngang một lần nữa ra phía ngoài, và lần này trên boong tầu không còn sót lại một aị Tất cả đều rụng xuống biển. Những lớp ván, lớp kính và những gì chưa vỡ qua đợt sóng trước, lần này tan tành hết. Nhưng đau đớn hơn cả là chiều tầu chìm dần xuống đáy biển mà hầm tầu lại chưa bể, cho nên hơn 100 người đàn ông ngồi với tôi suốt tuần lễ vừa qua, đều chết ngộp hết trong hầm, trong đó có cả cha con ông Ân, người đã đóng tiền cho gia đình tôi đi!

Tôi rớt xuống biển, cố gắng vùng vẫy theo bản năng sinh tồn, mặc dầu không biết bơi. Trên mặt biển bao la, sóng nhồi khủng khiếp, tôi thấy từng mảng gỗ thật lớn của ván tầu, rồi thùng phuy, va li, nồi niêu, áo quần, thùng gạo và hàng chục thứ đồ lặt vặt khác trôi nổi theo triền sóng, đôi khi lao vào mặt mình. Ðàn bà con nít ngụp lên lặn xuống, bám lấy nhau mà cùng chết. Tôi uống no nước, chìm sâu xuống, đụng phải bao nhiêu xác người còn bấu chặt không rời nhaụ Tôi nín hơi ngoi lên được một chút để thở, rồi lại bị sóng cuốn đi không định được phương hướng. Là người Công giáo trong lúc lâm chung, tôi cố gắng đọc kinh sám hối để chuẩn bị lìa đờị Ðọc kinh, nhưng không cầm trí tập trung được. Tôi uất ức lắm, bởi thấy mình chết tức tưởi ở tuổi 32 sau khi đã kinh qua bao nhiêu năm gian khổ. Ngày còn trong quân đội, mấy năm tác chiến, tôi đã kề cận tử thần mà tại sao không chết ngay trên chiến trường cho xong? Tôi nhớ một lần hành quân ở Cái Bè, tôi đứng dưới đường mương bên gốc xoài, VC từ cánh đồng trước mặt bắn đạn pháo trúng ngọn xoài chỗ tôi đứng, miểng văng tung tóe, làm bay mất cây súng Colt tôi đang đeo bên hông và cắt đứt sợi giây ống liên hợp máy truyền tin PRC 25 tôi đang nói chuyện với Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Lúc ấy tôi thấy số mình còn lớn lắm, chỉ bị trầy sát nhẹ ở bên đùi! Rồi khi ở trại cải tạo Sông Bé, tôi lại bị sốt rét nặng nề đến kiệt sức, tưởng không còn sống nổi tới ngày được tha vệ Vậy mà cũng không sao! tôi uất ức tự hỏi tại sao vươt biển gần đến nơi thì lại chết ? Thế rồi tôi uống no nước, đuối sức không vùng vẫy nổi, đành buông xuôi tay chìm xuống đáy bể, không biết gì nữa!

Khi tôi tỉnh lại trên bờ, thấy mình nằm sấp trên đống xác chết ngổn ngang. Nước ộc từ trong bụng ra giúp tôi hồi sinh. Tôi mơ màng tưởng mình đang nằm chiêm bao. Ðứa con trai 13 tuổi của ông Ân chạy lại lôi tôi dậy và nói:

Chú Ngạn ơi! Ðắm tầu! Ba cháu, chị cháu với 3 người anh của cháu chết hết rồi! Vợ chú với con chú cũng chết cả rồi!

Tôi vùng đứng dậy, đưa mắt nhìn quanh. Lính Mã Lai đang quây những người sống sót vào gốc dừa. Họ cũng như tôi là những người được sóng đẩy vào bờ và may mắn thoát khỏi tử thần. Nhưng họ không được phép cứu những người bị ngộp nước như tôị Nếu được cấp cứu, tôi tin chắc trong đám người nằm kia, ít lắm cũng có cả chục người sống dậỵ Lính Mã Lai không cho cứu là bởi vì những kẻ xa lạ và bất nhân ấy đang lột quần áo người chết để lấy vàng và dollars giấu trong gấu quần, gấu áo, cổ áo, vạt áọ Moi của xong, họ lôi xác chết tập trung lại một chỗ chở xe mang đi chôn tập thể Tôi từ gốc dừa bò tới, tìm trong đám 97 cái xác, thấy con trai tôi đã chết hẳn. Tôi bế cháu lên và nhận ra ván tầu hoặc ghềnh đá đã đánh vỡ trán con tôi, còn để lại một vệt dài thật rõ. Còn vợ tôi thì sóng biển đánh trôi đi mất, không tìm được xác!

Mọi chuyện diễn ra chỉ trong chớp nhoáng. Ngoài kia, biển vẫn ầm ầm gào thét, chỉ thấy sóng xô chập chùng, không còn dấu tích gì của chiếc thuyền định mệnh. Hôm sau, từ trại tạm cư, chúng tôi được đưa trở lại bãi biển, thả bộ dọc xuống hướng Thái Lan, tìm thêm được một số xác chết nữa , nhưng cũng không thấy vợ tôị Tổng số 161 người chết, chỉ vào bờ được khoảng 100 cái xác, phần còn lại bị sóng đưa đi mất tích. Có hai nhà sư Mã Lai gốc Hoa đem vải và nhang đến làm lễ cầu siêu trước khi lính Mã Lai đem chôn tập thể

Trên bãi biển Mã Lai dài thăm thẳm tôi dừng chân, ngồi dưới hàng dừa trông ra đại dương, nao nao mường tượng lại chặng đường đã quạ Nhớ những buổi sáng Chúa Nhật vợ tôi lên thăm ở Khu Tiếp Tân trường Bộ Binh Thủ Ðức. Rồi những lần từ thành phố xuống miền Tây chờ tôi ở hậu cứ tiểu đoàn. Khi sinh con đầu lòng, tôi từ đơn vị hành quân, không kịp thay quân phục, vội vã đón xe về thăm ở bảo sanh viện Ðức Chính trên đường Cao Thắng. Nhớ hơn nữa là những lần vợ tôi gánh quả nặng trĩu đi tiếp tế cho tôi trong trại cải tạo, băng ngang 17 cây số đường rừng từ thị xã Phước Bình vào Bù Gia Mập. Tất cả đều đã qua đi, chỉ còn lại mặt nước mênh mông xanh thẳm trước mặt, từng cuốn mất bao nhiêu xác người đồng hương trên hành trình tìm tự do!

Vợ tôi mất đi ở tuổi 26, sau những tháng ngày vất vả vì chồng. Lấy tôi khi tôi đã vào quân đội, thường xuyên xa nhà, vợ tôi cũng giống như bao nhiêu người đàn bà khác trong thời khói lửa, chẳng mấy khi được gần chồng. Khi tôi được biệt phái về lại Bộ Giáo Dục, dạy học tại Sài Gòn, đã tưởng vợ chồng có thể sống đời dân sự yên ổn lâu dài, nào ngờ chỉ hơn một năm sau thì mất nước, bắt đầu cuộc sống mới lao đao gấp bội. Ðoạn đường trầm luân ấy, có ngờ đâu rút cuộc lại kết thúc bi thảm bằng cái chết trên đại dương cùng với đứa con đầu lòng hơn 4 tuổi!

Tôi tin chắc cái chết của vợ tôi đã làm thay đổi hẳn cuộc sống của tôị Nếu nói theo niềm tin thiêng liêng, thì chính vợ tôi đã cứu tôi vào phút chót, trước khi đắm tầu. Bằng chứng là hơn 100 người đàn ông ngồi chung với tôi dưới hầm tầu đều chết cả vì ngộp nước. Em tôi — người giới thiệu tôi cho ông Ân — nếu đi cùng tôi chuyến ấy, chắc chắn cũng đã bỏ xác trên đại dương. Nhờ bị bỏ lại, nửa năm sau, em tôi cùng gia đình vượt biển thành công và gặp lại tôi tại Vancouver, Canada vào giữa năm 80. Bà Ân và hai đứa con nhỏ được sóng đánh vào bờ thoát chết, đi định cư ở Texas, tôi vẫn liên lạc cho đến khi trả xong 20 lượng vàng chồng bà cho tôi vaỵ

Biến cố hãi hùng của chuyến tầu định mệnh làm tôi càng vững tin rằng đời người có sự sắp đặt của định mệnh, hay nói theo đức tin Công giáo, thì đó là sự an bài của Thiên Chúạ Còn đó rồi mất đó! Kiếp người mong manh như chiếc bách giữa dòng, cho nên các cụ ngày xưa thường ví là cuộc phù thế nhân sinh. Vợ con tôi chết trước mặt tôị Hơn 160 người chết ngay bên cạnh tôi. Mà một kẻ yếu đuối như tôi lại sống sót! Ðó phải là quyền năng của Thiên Chúa chưa muốn tôi lìa trần. Lúc ngồi trên tầu, ông Ân thường tâm sự với tôi: những ngày gần mất nước, gia đình ông đã có thể đi Mỹ dễ dàng, bởi ông làm việc cho cơ quan viện trợ Hoa Kỳ suốt hai mươi năm. Nhưng ông thấy mình tuổi đã lớn, muốn ở lại quê nhà khi đất nước hết chiến chinh, nên ông từ khước quyền lợi di tản mà người Mỹ dành cho ông. Ba năm sau, đất nước qúa lầm than, mà chiến tranh vẫn không dứt. Các con ông chuẩn bị bước vào tuổi nghĩa vụ quân sự phục vụ cuộc xâm lăng Kampuchia, thúc đẩy ông phải ra đị Năm 75 ông từ chối di tản bằng máy baỵ Năm 78 ông phải trốn bằng thuyền, để rồi chính bản thân ông cùng với 4 đứa con lớn đều chết cả!

Có thể do những suy nghĩ về cuộc đời sau chuyến hải hành khủng khiếp mà tôi thoát nạn chỉ trong đường tơ kẽ tóc, tôi bắt đầu có những thay đổi lớn trong tâm tự. Tôi trở nên dễ tính, ít chấp nhất và không nuôi lòng thù ghét với bất cứ ai. Tôi tâm nguyện rằng cuộc đời mình, hễ làm được điều gì cho cộng đồng, cho xã hội, cho tha nhân, tôi đều cố gắng để đền đáp lại phép lạ của Chúa đã cứu tôi trên biển.

Những ngày trống vắng ở trại tị nạn Mã lai chờ đi định cư, tôi suy nghĩ nhiều về nửa thế kỷ trầm luân của đất nước, và nhận ra một điều đơn giản rằng: trong xã hội Việt Nam người đàn bà mới chính là thành phần chịu nhiều gian truân nhất, thời chiến tranh cũng như thời hậu chiến. Cảm thông cái thực tế chua xót ấy, cùng với nỗi nhớ thương người vợ mới mất, tôi bắt đầu viết truyện dài “Những người đàn bà còn ở lại” trong 3 tháng ở trại tạm cự Cuốn sách đầu tiên ấy, tuy kỹ thuật chưa cao, nhưng chứa đựng nhiều cảm xúc. Nó là bậc thềm thứ nhất, là nấc thang khởi đầu, để rồi từ đó đến nay tôi đã có được gần 30 tác phẩm xuất bản.

Hai mươi năm đã qua, trên mặt báo chí Việt ngữ, tôi chưa hề viết lại những dòng này để mô tả tỉ mỉ cái chết của vợ tôi với đứa con đầu lòng. Tuy vậy, từ thâm sâu, tôi vẫn tin chắc một điều rằng: chính cái chết của vợ tôi đã mở ra cho tôi một cánh cửa mới tôi chưa hề dự trù trong qúa khứ. Ðó là thế giới văn chương mà tôi miệt mài theo đuổi cho đến hôm naỵ

Tháng 4/2000

Louise Tr. ( Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn )






Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn chia sẻ về hiện tình đất nước
https://www.youtube.com/watch?v=9WZWOhiOnZw














Truyện ma Nguyễn Ngọc Ngạn



Tham khảo thêm về tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn
















Vợ chồng Nguyễn Ngọc Ngạn




















Trở về 






MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả. 
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.








Wednesday, 15 June 2016

Nguyễn Tấn Cứ
















Nguyễn Tấn Cứ 

(1956 - .....) Quảng Ngãi

Nhà thơ













Nhà thơ, sinh tại Quảng Ngãi, nguyên phóng viên báo Thanh Niên, đã có thơ đăng trên các báo trung ương và địa phương. Giải thưởng thơ xuất sắc Tạp chí Đất Quảng (1987). Hiện đang sống làm việc tại Sài Gòn. 














Tác phẩm:














Cho sinh nhật em và tôi
(thơ), NXB Trẻ, 1992










Thơ Nguyễn Tấn Cứ
NXB Trẻ, 1994

































Tác phẩm trên Văn học & Nghệ Thuật




Tổng số tác phẩm: 90



























Giáng sinh
(thơ)



Giận
(thơ)





Khách lạ
(thơ)

Khát. . .
(thơ)



Khinh miệt
(thơ)





Los Angeles
(thơ)








Missing
(thơ)


























Phục sinh
(thơ)




Quan điểm
(thơ)

RáC ...
(thơ)



Tình khô
(thơ)










(âm nhạc)






















Tác phẩm trên Tiền Vệ


Buồn như những cơn mưa phủ tăm trên đồng cỏ / Buồn như rơm rạ trong chuồng đang đùn ục khói / Buồn như tiếng kẻng lạ đầu thôn long tai nhức óc / Buồn như những con vật buồn đang ngóng mưa...


... Anh trượt mãi những cú té nằm dài / không một cơ may nào / gượng dậy / Anh trở về với một mình anh thôi / cùng với mùa màng hoang vu ngây dại / Rực rỡ trên môi em đỏ thắm một linh hồn...


... Đôi khi / quên cả đất nước nầy / đang bị trùng trùng vây bủa / Mưa muốn khóc / Mưa như điên / ngay ở thủ đô / Phận người như sương / ma trong ma / quỉ trong quỉ / giam nhốt hồn tù / Đôi khi muốn khóc / vì sông / đã không về tới biển...


... Định chữ nghĩa để văn chương một chút / Như lũ văn nô đang nhảy múa ở cung đình / Như bọn văn chương phất phơ / đang ngồi chật kín vỉa hè / Như triết học ba xu / Tiểu thuyết buồn tung hứng / Trơ mặt mà ăn những rách nát cuộc đời...


[TỰ DO NGÔN LUẬN] ... Những con quỉ không cười / Chúng siết cò bắn thẳng vào Tự Do / Chúng công khai hành quyết Tự Do...


Đêm của Eva (thơ) 
Đi qua đêm bằng móng vuốt / Đi qua đêm bằng răng nanh / Em là con mèo hoang / Trên những mái nhà / Thời đại / Em gào lên như lưỡi đao / Lướt qua những nỗi buồn...


... Một đất nước bị mất ngủ triền miên vì bom bay đạn lạc / Bởi những nỗi buồn không thể nào gọi tên khi đang chạy / Những chiếc xe không có cứu sinh trên những nẻo đường...


Chế độ của các anh là chiếc mỏ neo mang hình tiếng khóc / Một cỗ máy tời dây xích đen những nụ cười đang thắt cổ / Chúng được kéo rốc lên khi mùa đông ngược lồng con nước đỏ / Những mũi lao thép đinh vùn vụt phóng ra móc cứng quai hàm...


Stop (thơ) 
Anh có thể kềm những cơn giận / Trong miệng núi lửa đang phun / Anh có thể không cần nỗi điên / Khi cả đàn bò lao vào hố thẳm...


... Từ trong toilet anh chồm lên và nhìn ra Hà Nội / Từ cái toilet văn minh lịch sự nhất của loài người / Anh có thể gào to giữa bốn bức tường bằng thép / Tự Do được được bắn ra giữa vây khốn thiên đường...


[CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI] ... Khi áp bức đã chận hết mọi con đường ánh sáng / Khi bóng tối chồm lên khuất lấp những phận người / Khi nụ cười trên môi nhân dân rung rung căm giận / Khi tiếng khóc oan khiên mãi ngậm chặt trong lòng...


... Tôi biết những tên vô lại nầy / Chúng là bóng tối của ban ngày / Chúng là hiện thực của một nền văn chương xác ướp / Chúng là xiềng xích và răng nanh của những kẻ chuyên đi bắt chó / Chúng là nọc độc của loài rắn đang rung chuông vì mùa hè đang tận...


... Tôi là bóng tối của một buổi chiều / Đang cháy lên từ cửa buồn địa ngục / Tôi ói thấu mật xanh khi toà tuyên án / Như con lằn xanh lọt vào trong họng... // Tôi là bóng tôi không thể nào hơn được / Trước mặt Uyên tôi là bóng tối cực hình / Tôi là chiếc bóng của chính mình hèn hạ / Tôi giẫm đạp lên môi lời im lặng khốn cùng...


Không thể chạy vì mặt đường đã chật kín những nỗi buồn / Không thể đi vì mọi góc phố đều bị chất đầy những kỉ niệm / Không thể cựa quậy vì những giấc mơ bị ướt đẫm mồ hôi / Không thể đứng lại vì sự cuốn đi của đám đông đang chết // Tháng tư như một quả bom vẫn còn chôn sâu trong lòng đất / Chiến tranh như những viên đạn pháo treo trên nhành cây kí ức...


Anh muốn biến anh thành tro bụi / Hút vào mồm của những cái mồm / Anh muốn biến anh thành ánh sáng / Cháy trong cái mồm của những ánh sáng...


... Cách mạng là thời trang / cần phải trình diễn lần cuối cùng / trước khi mùa đông chấm hết / Phải làm ngay trong sớm mai và chết trước sớm mai / khi hoàng hôn của mùa xuân đang chầm chậm bước về...


Kỉ niệm gì với Tiền Vệ 10 năm (ký sự / tường thuật) 
[10 NĂM TIỀN VỆ] ... Xuất hiện trên Tiền Vệ như là một cách xác tín tính cách văn chương của mỗi con người và tác phẩm của mình. Ở đây bạn sẽ biết sự lan toả của mình đi đến đâu. Với tôi, mỗi lần xuất hiện trên Tiền Vệ là một lần vui... (...)


Một áo sơ-mi ca-rô màu sậm / Em đã nhìn nhấy trong mắt anh / Một chiếc khăn quàng cổ màu xám / Em cũng nhìn thấy / trong mắt anh / Một cuốn sách của Franz Kafka / Em cũng đọc thấy được / từ trong mắt anh / Em nhìn thấy / Em đọc được / Em nhìn thấy...


... Rất đơn giản bình thường / Như một bài thơ chống xâm lăng / bắn ra từ cửa ngục / Như con sóng hừng lên / từ biển đông đang dậy sóng / Một bài thơ đứng dậy tưởng như là không / Không có gì / Nhưng sắc như dao bén như cọc nhọn / Vuốt thẳng vào mặt bọn hôn quan đang bán nước phản nhà...


... Khinh bỉ tởm lợm rùng mình nhơn nhớt / khi chạm vào những tay chơi cách mạng / Chỉ muốn ói phun vào mặt những tay cướp ngày tư bản đỏ / Chỉ muốn nhổ vào những khuôn mặt trân trân bốc mùi cộng sản / Chỉ muốn bịt mũi né sang một bên...


Nếu là bom tôi sẽ làm phao trôi không bao giờ do dự / Tôi sẽ làm như ngư lôi cắm thẳng vào mặt của kẻ thù / Tôi sẽ dính chặt như neo vào những con tàu đen của người anh em Đại Hán / Tôi sẽ kích hoạt cơn đau và nổ bùng lên...


... Tất cả đều giống nhau không khác gì nhau ngoài sắc màu cách mạng / Kẻ đã từng lật đổ để nắm quyền bây giờ trở thành kẻ sắp bị lật đổ / Kẻ đã từng bị đàn áp giờ đây đang trở thành thù của kẻ đang bị đàn áp / Kẻ đã từng là xâm lăng bây giờ sát cánh đồng đảng bên kẻ đang bị xâm lăng...


... Như một bản tin của giờ vàng và nửa đêm / Của những chuyến tàu dục vọng / Của một đất nước có quá nhiều nỗi đau vá quá nhiều điều dối trá / Của những chính khách đầu bư trọc phú bụng to / Và gái mại dâm cao cấp...


[CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ] ... Anh sẽ làm gì khi mặt trời vừa mọc? / Em sẽ làm gì khi bóng đêm vừa tan? / Chúng ta sẽ làm gì khi ngày mai vừa đến? / Trên những con đường kia ta sẽ phải làm gì? // Ta sẽ phải làm gì đây / Trước hàng rào dây thép / Trước dùi cui súng ống chập chùng / Trước những bóng ma đang canh gác khắp nẻo đường / Ta sẽ phải làm gì khi nỗi cô đơn đang réo gọi / Hàng triệu nỗi cô đơn đang lũ lượt xuống đường...


... Tháng tư em đóng gông độc lập / Trên thân xác thường dân tôi ròng rã mấy chục năm trời / Em trương hình tôi lên trang nhất của các tờ nhật trình đỏ rực / Trong háng của em là đôi bờ đất nước / Chảy ra những bài diễn văn kỉ niệm kinh hồn...


... ở tận nơi xa kia là một đất nước / nơi ấy mặt trời vẫn mọc / rực rỡ khốc liệt trên điêu tàn / Hơn mười ngàn cuộc chia ly / Mười ngàn cuộc chôn vùi trong cát bụi // Anh nhớ em nhớ em / Anh tìm em tìm em / Trên những ngày mưa xám...


Bầy cừu vẫn im lặng / Đồi núi vẫn im lặng / Đường phố vẫn im lặng / Nhà cửa vẫn im lặng // Tiền bạc vẫn im lặng / Im lặng và im lặng / Giàu có càng im lặng / Nghèo hèn cũng im lặng // Năm mới im lặng / Năm cũ im lặng / Đám đông im lặng / Triết gia im lặng / Nhà thơ cũng lặng im...


[CHÍNH TRỊ & BÁO CHÍ] ... Khi mọi người chưa thức dậy / Tất cả thông tin bẩn được phát ra / Và nổ như bom cùng một lúc / Cả Đất Nước tôi đã tan hoang chết ngạt /Vì buổi điểm tâm bằng RÁC / Đã lâu rồi...


... Những con chó đeo khuyên trên mũi / Gắn chip lên mang tai / Chụp mũ nhân dân và những người cùng khổ / Chúng gắn rệp trong tim / Vũ trang bằng răng nanh nghìn năm tuổi / Chúng săn đuổi thông tin / Bằng sóng âm cực thấp / Những tiếng sủa liên thanh bất tận / Va đập suốt chiều dài đất nước...


... Đất nước đã quá nhàm vì những phát ngôn / Của những kẻ ăn cướp của người nầy đi chia cho / Người khác / Đất nước của những nhà-thơ-giả-hình-dẻo-mồm tuyên ngôn / Bừa bãi / Của những kẻ của một thời sắp tàn sắp mạt / Của những tuổi tên muôn đời đi hái trộm / Chút Tự Do của nhân dân làm của nả riêng mình!...


Muốn nổ tung vì quá sức chịu đựng / Những suy nghĩ như xương đã mềm sụn / Phát ra tiếng kêu khẩn thiết / Tự do... tự do của chúng tôi đâu // Sự giận dữ như xương đã hầm lâu lắm / Sự tù ngục như sắt đã gông cùm quá chặt / Tự do của chúng tôi được nhốt trong tim / Như một món hàng trong siêu thị / Chồng chất nỗi buồn như quả bom tháo chốt...


... Các nhà văn của đất nước tôi / Như một lũ giang hồ / Xuống đường bừng bừng sát khí / Họ đi giết nhân dân / Bằng những thanh gươm u ám / Có còi hụ dẹp đường...


Câu chuyện của giấc mơ (đối thoại) 
[VỀ SỰ VÔ CẢM] ... Nếu đất nước nầy bị xâm lược? / Mặc xác nó không phải chuyện của tôi / Nếu tổ quốc nầy lâm nguy? / Thây kệ nó tôi không phải lo / Nhân dân của anh bị chà đạp? / Ôi dào, thì tôi cũng là dân đó thôi...


Đang trôi đi giữa mùa hè buồn thảm / Những người đàn bà nằm ngửa / Kẹp chặt nỗi buồn trong háng / Những gã đàn ông vừa đi vừa thủ dâm / Ôm giấc mơ của một thời trai trẻ...


1975-2005 và một đại dương ngăn cách, văn giới Việt Nam trong và ngoài nước nghĩ gì, biết gì về nhau? Hai dòng văn chương này có những khác biệt gì, và liệu một ngày nào đó sẽ nhập làm một hay không?... Trần Nhuệ Tâm đã phỏng vấn nhiều nhà thơ/nhà văn Việt Nam ở các quốc gia khác nhau, và những bài phỏng vấn sẽ được đăng liên tục trên Tiền Vệ. Mời bạn đọc theo dõi. (...)


Khi trái đất đang gài đầy bom đạn / Bọn khủng bố ở khắp mọi nơi / Những cái chết được nguỵ ngôn bằng những lời có cánh / Trò chơi của những tên giết người / Trò chơi của những thằng điên và thiên đường hư ảo / Vậy mà ở đất nước tôi / Có một người không chịu lên thiên đàng... (...)


Những con điếm cũng biết làm thơ / Những thằng liệt dương cũng biết viết nhạc / Woa! Woa! Đêm qua em trần truồng như nhộng / Với hàng chục gã đàn ông – em làm tình như ngựa / Em rên lên…ôi… ôi… Đất nước lạ kỳ?...


Khi những cơn mưa đã kéo về từ phương bắc / Những cơn mưa tơi bời và đau đớn / Rơi trên những thân người bầm dập / Rơi trên những giấc mơ tự do và no ấm / Quất vào mặt đám người di cư…


Được kéo lên từ những ngọn cờ / Được bay lên từ những cơn gió / Được dựng lên từ những cuộc chiến / Được ca lên từ những nấm mồ / Ngày độc lập / Giấc mơ của một đất nước buồn...


Ám ảnh đen (thơ) 
Bị ám ảnh bởi sự mất ngủ triền miên / bị dằn vặt bởi sự khôn ngoan ngu xuẩn / mỗi ngày lại thấy buồn / vì cuộc đời nhạt / vì những khuôn mặt quen / những suy tư quá cũ…


Đang bay rợp trời / Đang đậu rợp đất / Quê hương tăm tối / Đất nước đỏ lừ / Những con kền kền đang bay / Những con kền kền đang hát / Tuổi thơ bị tát vỡ mặt / Tuổi thơ bị xé nát... (...)


Những đám đông (sổ tay) 
Mỗi ngày, có một đám đông đáng sợ / Hiện trên quảng trường, trên đường phố / Đám đông ở khắp mọi nơi / Trong sân vận động… nhà hát / Đám đông la hét, đám đông điên cuồng... (...)





















Tác phẩm trên Da Màu









Với Cách Mạng thì tất cả những gì thuộc về quá khứ đều trở thành tội phạm – trong đó – Văn chương của Miền Nam Việt Nam là thứ tội phạm nguy hiểm nhất của chế độ. Vì chỉ có nó mới có thể làm lung lay suy nghĩ con người trước những đổi thay thời cuộc.

tự do cho sớm mai
29.10.2014 |
Buổi sáng trườn lên từ nách tường
Một con rắn đêm nằm ngủ
Giấc mơ của Hong Kong
Ác mộng của Kobani

sài gòn…
5.08.2014 
Cây đốn cây người đốn người
Phố đốn phố phường đốn phường
Đêm đốn đêm chiều đốn sáng
Đường đốn đường trắng dã tâm đen

Bất cứ nơi đâu lúc nào không biết được
Đất nước như quả bom chực nổ tan tành
Đất nước như một giấc mơ bên bờ dục vọng
Không thích ở truồng nhưng lại muốn khỏa thân

Anh muốn biến anh thành tro bụi
Hút vào mồm của những cái mồm
Anh muốn biến anh thành ánh sáng
Cháy trong cái mồm của những ánh sáng

Anh không chính trị không lưu manh
lại càng không bao giờ là Cách mạng
Không lừa dối không bốc thơm nhau
không hạ nhau không bao giờ thỏa hiệp

Phù Hư là một trong số những con người vì biến cố 30/4/75 đã thành kẻ lưu lạc tội đồ ngay trên chính quê hương của mình, họ không thể “Về quê tìm lại tuổi thơ đã mất”, họ không thể đi đâu với thân phận của một người thua cuộc , họ thu mình chui lủi mai danh ẩn tích…

Chúng tôi có gần bốn mươi năm để làm người thua cuộc
Chúng tôi không viết hoa vì đã thua người thắng lâu rồi
Chúng tôi có hơn ba mươi năm để câm lặng không có quyền than thở

Sự sai lầm của Trịnh Cung là đã chọc vô cái tổ ong vò vẽ đang bu đầy [huyền thoại] Trịnh Công Sơn, và lão đã làm như thế với… niềm tin về một xã hội mở đang rất cần sự tự do tranh luận… nhưng không, vô hình trung lão đã chạm vào…

Cho một cái nốt ruồi trên biển
Trên thân xác của em
Li ti những nốt ruồi
ở đó là biên cương
đất liền . . . hải đảo

Cũng mới đây thôi
Tại cửa khẩu phi trường Tân Sơn Nhất
Chúng tôi đã bắt được một tên . . . Nhà Thơ
Tang chứng là những tập thơ
Những bài thơ ngoài luồng

Em đã khóc cả một thời gian dài
Để có được một nụ cười cô quạnh
Anh đã qua hàng ngàn con sông khô
Để chạm môi vào biển mặn vô cùng

Nơi mà luật lệ là những con đường mòn
Những con đường không phải là một con đường
đó là những con đường rừng
Nơi mà người ta chạy như một thói quen

Mi đập cánh
Và đã từng gãy cánh
Rock như mưa . . . như mưa . . . tuyết trời Đại Hán
Mi đã từng trấn lỉnh cả thần linh giao châu giao chỉ
Tất cả vương triều chế độ thời xưa và bây giờ cũng vậy

Hắn nhìn đàn bà như quái vật
Hắn nhìn con gái như đĩa mồi
Hắn nhậu sương sương mổi chiều tắt nắng

Hoàng hôn như một con mồi thắm đỏ
Chảy mê man trên tuyết trắng mịt mùng

Không còn một con đường nào khác
Ngoài xa lộ mênh mông xa ngái
Những chiếc xe lội ngược
Những đôi mắt tối mù
Anh lại nhớ
Nhớ căm thù

Những bản tham luận xếp hàng
Chờ đến phiên . . . báo cáo
Ngôn ngữ lại rống lên như một đàn bò

Chỉ có nhân dân là vẫn sống trong sương mù

Kiểm tra lại túi tiền [không có vàng]
Người ngư dân hỏi hắn muốn đi đâu
Hắn bảo: muốn đi . . . Vượt biên
! ? !
Bây giờ là năm 2010

Những con vẹt thông tin gào lên như . . . hót
Hôm qua Ngư Dân của ta đã bị Trung Quốc bắt
Nhốt
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao ra thông cáo
Đề nghị . . . đề nghị . . . nghiêm khắc đề nghị

phục sinh
7.04.2010 
Em phục sinh giấc mơ
Trong tiếng chuông
Phục sinh ánh sáng
Trong bóng tối
Phục sinh Trịnh Công Sơn
Cho bầy diều hâu đứng hát

Ngày của những cơn lũ cuồng
Những con quỷ ngồi cười trên bàn nhậu
Núi rừng bật gốc
Sông khô suối cạn
Có làm sao đâu
Có làm sao đâu mà than khóc
Lũ ở trên cao — sao lụt lội trong lòng?

Chúng tôi hú lên – giọng hú của màu vàng tang tóc
Chúng tôi thổ huyết tươi từng ngôi sao đỏ chói
Chúng tôi bay lên . . . bay lên
trên những cột cờ gươm giáo
trên những giấc mơ của một thời súng đạn
chiến tranh . . . chiến tranh và cả những nỗi buồn

Đám đông của tôi nước mắt đầm đìa
Đi ra phố buồn như con chó
Đi ra phố và vui như lũ sói
Đám đông đầy trong đất nước của tôi

những con quái vật ăn thịt người đang thay tính năng hành động
chúng bắt đầu nhai bằng lưỡi thay cho hàm răng
chúng nghiền thức ăn bằng những câu kinh sám hối
chúng bắt đầu săn mồi



















Tuấn Khanh
Tán gẫu cùng nhà thơ Nguyễn Tấn Cứ: “Tự do và chuồng trại”


“Những người anh em xử nhau đến đổ máu”, nhà thơ Nguyễn Tấn Cứ đã cười lớn và nói như vậy về chuyện Hội Nhà Văn Nhà nước VN ra tay gạch tên các hội viên của mình. Bức tranh trí thức bầy đàn giờ đây dường như đã nhuốm màu gươm đao và bôi mặt vì mệnh lệnh.


Lâu nay, là một người làm văn nghệ và hít thở bằng văn nghệ, vì sao anh không xin tham gia vào Hội Nhà Văn, nhất là nơi đó cũng có không ít bạn bè văn nghệ của anh?

Hội Nhà Văn với tôi là một vùng đất xa lạ vì đơn giản “căn cước” của tôi không thuộc về nơi ấy. Tôi là một con người Văn Chương Tự Do theo đúng nghĩa đen đủi của nó. Nên việc phải xin xỏ để được vào ngồi chung với âm binh “tù ngục” là một điều không tưởng vì tôi hiểu mình thuộc về ai. Nếu có chăng thì đó là trên bàn nhậu quán xá của cuộc đời, nơi ấy bạn bè văn chương thân thiết tôi cũng nhiều và kẻ thù cũng không ít. Nói một cách rõ ràng hơn, tôi không ưa thích cái gì thuộc về nhà nước và đảng lãnh đạo. Tôi chỉ muốn là chính mình với văn chương của mình không bị ai dòm ngó chỉ đạo…

Có người thích hội hè, có người thích tự do, chuyện đó cũng bình thường – như như anh mô tả thì xã hội văn nghệ Việt Nam đang tập hợp những trí thức và tài năng cho văn học nghệ thuật cho đất nước, hay chỉ là trò mèo, một cách tạo nên một giai cấp khác biệt trong giới trí thức về quyền lợi, về tư duy chính trị…?

Trong một khu rừng thì chắc sẽ có những con thú cô đơn và cũng sẽ có những con vật sống theo quần thể bầy đàn. Nhưng ở trong “Xã Hội Văn Nghệ Việt Nam” hiện tại mà bạn nói thì nó không phải là bầy đàn thuần tính nữa mà nói chính xác hơn là một loại chuồng “Trại Sáng Tác” cao cấp, được điều khiển bởi một hệ thống tư tưởng triết học Mác-Lê Nin đã chết. Nó được trang bị bằng một thứ vũ khí là “Phương pháp hiện thực XHCN” – nền tảng lý luận không thể thay đổi. Cho nên việc “tập hợp những trí thức và tài năng cho văn học nghệ thuật của… đảng” [không thể cho đất nước được] cũng chính là tạo nên một thứ tư duy chính trị về một kiểu “giai cấp mới trong văn chương.” Ở đó sự trung thành của một Osin với chủ nhà cũng chính là sự “khác biệt” tuyệt đối của nó so với những người “sống và viết Văn Chương Tự Do.”

Trong những phát biểu của mình, anh hay nhắc về một kiểu nhà văn công chính – uy vũ bất năng khuất – ý anh có muốn nói cụ thể về ai, và vì sao?

Văn chương tự thân nó là một thứ được “đề kháng” miễn nhiễm [khi buộc phải tiếp nhận] bởi những uế tạp của xã hội. Nó chính là sức mạnh vô hình nên những kẻ mạnh, hữu hình, những kẻ bạo quyền “độc tài chuyên chính” luôn phải tự ty căm ghét kinh sợ. Vì nó luôn bị rượt đuổi truy bức nên một ngày nào đó-ở đâu đó – trên đất nước khốn khổ này, khi vẫn còn những kẻ cầm bút hèn hạ chống lại “chính mình,” thì sẽ vẫn còn những những nhà thơ, nhà văn công chính cất lên tiếng nói của chính mình để nói thay cho chính nỗi đau của nhân dân cùng khổ … “Uy vũ bất năng khuất” là như vậy không có nghĩa là văn chương đối chống lại bạo quyền – Nó chỉ nói lên sự thật “không bị khuất phục” và sự cô đơn của nó cũng nói lên sự thất bại của những ai đang mưu toan dùng sức mạnh đen tối để đè bẹp, bóp họng, bóp hàm tiếng nói bất khuất con người… văn chương bằng những mồi nhử hội hè, đình đám mà đoàn, đảng đang hàng ngày nhá nhem câu nhử mời gọi nó.

Anh có thể lý giải vì sao trong một xã hội bình thường, nhà văn-nhà thơ-nghệ sĩ… lại phải có một đức tính quyết liệt như một người tranh đấu “uy vũ bất năng khuất.” Lẽ nào đời sống tồn tại văn chương ở VN nhiều năm qua là một đấu trường của danh dự và tự trọng?

Bởi vì đó là một xã hội “không bình thường” nên càng cần phải có những đức tính quyết liệt của một người tranh đấu. Vì nếu một ai đó tranh đấu cho quyền được sống của con người thì mới chỉ một thôi, đó là cần phải có lòng dũng cảm. Thì với văn chương cần đến gấp mười lần như vậy mới có được thái độ “uy vũ bất năng khuất.” Ở đó nó cũng bật cháy lên lòng tự trọng và danh dự và thái độ sống còn của tác phẩm văn chương. Nó hướng đạo cho con người biết đâu là chính tà. Nó cho bạn đọc biết ở đâu là “đúng sai” khi mà ai, bất cứ cuộc cách mạng nào – chế độ nào – cũng sẵn sàng trương lên khẩu hiệu “tranh đấu độc lập tự do” cho những người cần lao cùng khổ. Ðó mới chính là “đấu trường” và văn chương chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là mô tả lại – vẻ lại một cách trung thực – bằng văn chương – bức tranh tồi tệ nhất của thời đại mà họ đang sống và chỉ như vậy thôi là “gươm đao đã kề tận cổ / Súng đã kề bên tai và đạn đã lên nòng.” Ðó cũng chính là “danh dự và lòng tự trọng” mà không dễ ai kiếm được trong một chế độ “xin cho” và sẽ càng tệ hơn so với hơn 1,000 hội viên Hội Nhà Văn đang được đảng “định hướng chỉ đường” như một đàn cừu được chăn dắt bởi một tay sát thủ lột da thuần thục.

Trong giới văn chương xã hội chủ nghĩa vẫn có những lời bán tán về chuyện chạy chọt vào Hội Nhà Văn VN, để có tên, để được tham dự hội họp… thậm chí có người đã phải bỏ ra rất nhiều tiền để được vào hội – theo anh chuyện này có thật không? Và vì sao Hội Nhà Văn lại có một vị thế tựa như cơ quan công quyền vậy?

Nên nhớ Hội Nhà Văn là một tổ chức chính trị của đảng, là một cơ quan quản lý hành chính không hơn không kém như những hội-đoàn thể thanh niên phụ nữ chính trị khác trong hệ thống cai trị của chính quyền chuyên chính Cộng Sản. Cho nên vào hội hay vào đoàn-đảng cũng là một nấc thang “chính danh” để có thể leo lên cao hơn, sâu hơn trong bộ máy này. Hội Nhà Văn Việt Nam cũng chỉ là một trong những thành tố đó – nhưng nó lại có tính “đặc thù” hơn – Vì nó là “văn chương tư tưởng,” nên để có thể đứng vào “hàng ngũ tiên phong của đảng” thì chức danh “Hội Viên HNVVN” lại càng béo bở vì rằng nó “vừa có tiếng lại vừa có miếng” và cao hơn nó nhận được sự “kính trọng” của các giai tầng chính trị trong xã hội. Nên việc “chạy chọt” để vào được vào trong hội là một điều có vẻ như không “khả thi.” Nhưng cũng không khó nếu biết kết thân với một ai đó có quyền và dĩ nhiên chuyện “tiền bạc” là không thể thiếu nếu không muốn nói là then chốt. Sau đó mới đến “tiêu chí” tác phẩm để dễ dàng trót lọt. Nên không có gì lạ khi điểm mặt hơn 1,000 hội viên thì có hơn 900 nhà văn nhà thơ – trong đó có cả cán bộ – doanh nhân nuôi chó mèo và quan chức, chủ quán nhậu, giám đốc công ty. Công chúng không biết họ là ai và tác phẩm của họ là cái gì trong nền văn chương đó. Có chăng là một cái “Thẻ Hội Viên Hội Nhà Văn Việt Nam” oai hách mà họ được Ông chủ tịch hội – đại diện cho đảng nhà nước phát phong cho. Dĩ nhiên là họ sẽ được thu lợi nhiều hơn khi được “bảo kê” trong cái danh hiệu hão huyền đó. Quan trọng hơn khi cần phải cho một ai đó biết rằng “tôi là ai và đang làm cái giống gì” trong cánh đồng hợp tác xã văn chương vô đái này.

Nghe nói vào Hội Nhà Văn cũng là một cách để nhàn nhã kiếm ra tiền từ các dự án sáng tác phục vụ chính trị cho tỉnh, cho trung ương… theo các dự báo hoạt động tư tưởng, theo anh thì lời bàn về những điều đó có thật không?

Không riêng gì Hội Nhà Văn mà với Hội Mỹ Thuật Kiến Trúc Xây Dựng, Hội Âm Nhạc,… Tất cả đều có thể kiếm ra tiền từ những “Dự án sáng tác phục vụ chính trị” theo mùa, theo từng thời kỳ, lễ lạt kỷ niệm ngày sinh của “Bác,” của đảng, hay đại hội thường niên. Mỗi năm nhà nước đều có dự trù kinh phí cho mỗi hội chuyên ngành – nếu chia đều ra mỗi một Hội TW cũng được vài chục tỉ đồng. Các hội văn nghệ địa phương 64 tỉnh thành cũng hết mấy chục tỷ. Ðó là con số tài chánh công khai được rót từ kinh phí nhà nước mà trách nhiệm của các hội là “phải giải ngân cho hết” nếu không muốn tài khóa năm sau sẽ bị cắt bớt hạn chế lại. Nên việc phải “đẻ ra chuyện” để tiêu pha là chuyện không thể không làm vì đó là “nhiệm vụ chính trị” không thể lơ là. Nó là niềm vinh quang cho các “lãnh đạo hội” nên mỗi kỳ đại hội là mỗi lần “bầu bán” leo trèo chạy chọt rất dữ để có thể có được tấm vé máy bay ra Hà Nội [của hội viên các tỉnh phía Nam] cho nên việc “cắt bỏ” không thương xót một ai đó – Không cho đi “phó hội” – là một đòn đau đánh vào chính sĩ diện khi mà họ đã cố công phục vụ – và nếu đó là những “cây đa cây đề” được chính chế độ “gieo trồng nuôi nấng lớn khôn” cho hưởng tem phiếu bổng lộc xưa nay – cho họ bay lên cao rồi lại chính tay mình bắn hạ rớt xuống lặt lìa – Với những người này thì rằng Hội Nhà Văn chính là nỗi đau buồn của một thời – mà họ chính là những tay chơi đã một đời làm trò làm hề trong gánh xiếc rong của chế độ.

Văn chương theo lệnh, theo chỉ đạo… theo anh, có khả năng biến một nhà văn hiền lành trở thành một ngòi bút tàn nhẫn không? Và vì sao nhiều trí thức Việt Nam lại chấp nhận vào một hội đoàn mà nhân cách và tính cách mình bị biến đổi như vậy?

Văn chương theo lệnh, theo chỉ đạo sẽ không bao giờ có thể “tàn nhẫn” theo nghĩa của văn chương nhưng nó sẽ tàn bạo lưu manh theo nghĩa của “giang hồ.” Vì đơn giản một khi nó được băng đảng hóa chính cuộc đời thì “ngòi bút” của nó chính là gươm đao được dùng để “thanh toán” nhiều hơn là “viết lên” một cái gì đó cho con người… Vào hội đoàn theo một cách nào đó thì anh chỉ là một đám “lâu la,” không là chính mình nữa, vì lúc đó cái “thẻ hội viên” chính là “nhân cách” được minh họa sắc nét và tác phẩm chân chính đơn độc chính là “kẻ thù,” liệu có nên gọi đó là “hiền lành” hay không?

Trong một nhận xét, anh có nói rằng không ít người vì “giận dỗi” rút ra khỏi hội, chứ thật lòng họ vẫn mong muốn có một chân đứng trong danh hiệu đó, ý anh là sao?

Vì thật ra họ đã xây dựng lên nó với rất nhiều hoài bão tâm huyết và cả “hy sinh đổ máu” vì nó nữa thì tại sao họ lại bị những người anh em đồng chí của chế độ “đối xử” tàn nhẫn như vậy. Ở đây tôi nói “giận dỗi” là còn “thương cảm.” Tôi nghĩ bây giờ họ rất “cay đắng thù hận một cách tội nghiệp như tự tay cào cấu mặt mình đến rướm máu” vì nó đã “phản bội” lại họ … Vì như nhà thơ số một của chế độ đã phải đấm ngực rên lên “Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi” (Bùi Minh Quốc), nó khốn nạn vậy đó!

Anh thử lý giải vì sao một người hết lòng với chế độ như kiểu một ông quan nhà văn, ngay trước khi về hưu vẫn cho ra tập hồi ký, và đi khoe rằng mình “từng ở tù Cộng Sản” với các chi tiết được in ra trong sách? Nhà văn Nguyễn Viện cũng có lời giải thích về chuyện này, còn suy nghĩ của anh thì sao?

Ðây là một trò chơi “tự huyễn hoặc” của đa phần các con tin sau khi đã sống chết ăn dầm nằm dề với kẻ “bắt cóc” thượng thừa là chế độ sau bao nhiêu năm. Họ luôn luôn cho mình là những “con đèn cù – nạn nhân” ngây thơ của chủ thuyết Cộng Sản mà điển hình là những “lãnh tụ CS” mà họ đã hết lòng cúc cung phục vụ. Ông quan nhà văn này chỉ mê văn chương đến nỗi ông ta không nhớ là mình đã hốt giết nhốt bao nhiêu người để cho có một ngày được “cầm bút” và viết ngược lại là mình đã từng “ở tù Cộng Sản.” Nó cho thấy cái Hội Nhà Văn này nó quyến rũ đến mức một ông tướng công an cũng tự nguyện hài hước “thay hình đổi dạng” như điệp viên không không thấy là vậy đó trời ạ.

Theo anh, tại sao có nhiều nhà văn miền Nam trước năm 1975, vẫn từ chối tham gia hội đoàn văn nghệ của nhà nước, ngay khi họ được cho biết rằng sẽ được tạo điều kiện sáng tác và in ấn?

Không có gì ngạc nhiên vì sao các nhà văn miền Nam trước 1975 từ chối tham gia hội đoàn văn nghệ nhà nước. Nói cho đúng hơn thì họ không bao giờ có đủ cơ hội “bần cố nông” để đứng chung trong hàng ngũ của những người làm văn nghệ CS vì sau khi Việt Cộng tiếp quản Sài Gòn, đa số họ đã là “kẻ thù nguy hiểm của chế độ,” họ là “những tên biệt kích trong văn chương” của chế độ Sài Gòn xưa và họ là những đối tượng cần phải đưa đi “tập trung cải tạo” mút mùa lệ thủy. Và nếu có sống sót khi trở về thì họ lại tiếp tục tìm cách vượt biển tìm tự do. Một số chết trên biển. Một số được định cư tại Mỹ không về. Một hai người còn ở lại mày mò sáng tác và sống trong lo âu như nhà văn Cung Tích Biền, Dương Nghiễm Mậu, Trịnh Cung… Một vài người phải thay tên đổi họ để được yên thân… thì làm quái gì họ có quyền gì được cho in ấn hay sáng tác – dĩ nhiên trừ khi họ là “hội viên HNVVN,” nhưng điều này là “bất khả thi” ông bạn ơi… 
















Hiện sống và làm việc tại Việt Nam




















Trở về












MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của quý văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.