Bùi Tín
(1927 – 2018)
Bút danh khác: Thành Tín
nhà báo, nhà văn
và nhà bất đồng chính kiến
Đại tá, phó tổng biên tập báo Nhân Dân.
Tiểu Sử
Ông sinh năm 1927 tại Nam Định, tên đầy đủ là Bùi Tín, con trai của cụ Bùi Bằng Đoàn (nguyên Thượng thư triều Nguyễn, sau là Trưởng ban Thường trực Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).
Trong quân đội: Năm 1945, ông tham gia Việt Minh, làm phóng viên mặt trận trong kháng chiến chống Pháp và sau đó chống Mỹ. Ông từng là đại tá, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Hình ảnh ông là người tiếp nhận sự đầu hàng của tướng Dương Văn Minh ở Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975.
Sự nghiệp báo chí: Sau 1975, ông là Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, phụ trách nhiều chuyên mục thời sự chính trị.
Rời bỏ chế độ: Năm 1990, trong một chuyến công tác ở Pháp, ông quyết định ở lại, không trở về Việt Nam. Từ đó, ông trở thành tiếng nói phản biện mạnh mẽ đối với chính quyền Việt Nam, viết nhiều bài báo, sách và tham gia diễn đàn quốc tế về dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam.
Tác Phẩm tiêu biểu
1
Hoa Xuyên Tuyết
(Perce-Neige) (1991)
Viết trong những ngày đầu ở Paris, tác phẩm mang ý nghĩa ẩn dụ: như những bông hoa sau băng giá, hi vọng và sự thật sẽ bừng nở dù trong hoàn cảnh éo le.
Ông kể lại cuộc đời mình và những suy ngẫm từ lý tưởng cộng sản đến sự phê phán, thể hiện khát vọng tự do và “tỉnh ngộ chính trị”.
2
Mặt Thật
(1993)
Tập hồi ký chính trị hé lộ “khuôn mặt thật” của chế độ, ghi nhận chi tiết những suy nghĩ, nỗi lòng và những ghi chép, ký ức cá nhân trong suốt hơn 4 thập kỷ tham gia Đảng và Quân đội.
Chia làm ba phần: "Cỗ máy nghiền" (các định kiến, hệ thống chính trị), "Những hồ sơ chưa khép" (những vụ án và nỗi khổ trong xã hội), và "Tầng lớp quan chức đặc quyền" (bàn về cơ chế tập trung quyền lực và lợi ích nhóm).
3
Thao Thức Cùng Quê Hương
(2015–2018)
Tuyển tập gần 200 bài phân tích, nhận định về tình hình thời sự trong nước, phản ánh cái nhìn trầm tĩnh và sâu sắc sau nhiều năm sống lưu vong.
Không theo chủ đề cố định, mỗi bài là một phản hồi trực tiếp với biến cố chính trị—trong nước hay quốc tế—liên quan đến Việt Nam.
4
Mây Mù Thế Kỷ
Bùi Tín là một nhân vật gây nhiều tranh cãi trong lịch sử Việt Nam hiện đại, với cuộc đời chia làm hai giai đoạn đối lập rõ rệt: từ một sĩ quan và nhà báo cao cấp của Quân đội Nhân dân Việt Nam đến một người đối lập chính trị sống lưu vong.
Tóm tắt đời hoạt động:
1. Xuất thân và tham gia kháng chiến (1927 – 1954)
Sinh năm 1927 tại làng Nghi Lộc, Nghệ An.
Là con trai cụ Bùi Bằng Đoàn, nguyên Thượng thư triều Nguyễn, sau là Trưởng ban Thường trực Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tham gia Việt Minh từ năm 1945, là một trong những thanh niên trí thức được gửi đi học quân sự ở Trung Quốc.
Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với vai trò sĩ quan tuyên huấn.
2. Sự nghiệp trong quân đội và báo chí (1954 – 1987)
Sau Hiệp định Genève 1954, làm việc tại báo Quân đội Nhân dân, dần lên chức Phó Tổng biên tập.
Giữ quân hàm Đại tá, là phóng viên chiến trường trong Chiến tranh Việt Nam.
Tháng 4/1975, ông có mặt tại Dinh Độc Lập khi Sài Gòn thất thủ, nổi tiếng với bức ảnh ghi lại cảnh tiếp nhận sự đầu hàng của chính quyền VNCH. (?)
Từng là thành viên Ban biên tập Nhân Dân Chủ Nhật và tham gia công tác đối ngoại báo chí.
3. Bước ngoặt và ra nước ngoài (1988 – 1990)
Cuối thập niên 1980, Bùi Tín bắt đầu công khai phê phán chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền và tham nhũng.
Năm 1990, ông sang Pháp dự hội thảo báo chí và quyết định ở lại, tuyên bố từ bỏ Đảng và chế độ.
4. Hoạt động đối lập ở hải ngoại (1990 – 2018)
Định cư tại Paris, trở thành một trong những tiếng nói phê phán chính quyền Việt Nam bằng các bài báo, phỏng vấn, và hồi ký.
Tác phẩm tiêu biểu: Mặt thật, Hoa xuyên tuyết, Thao thức cùng quê hương
Viết cho các báo và đài hải ngoại, tham gia hội thảo quốc tế về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.
Nhiều người coi ông là “người phản tỉnh dũng cảm”, nhưng cũng có người chỉ trích ông là “kẻ phản bội” vì quá khứ từng tham gia chiến tranh và tuyên truyền cho chế độ.
5. Qua đời
Mất ngày 11/8/2018 tại Paris, hưởng thọ 90 tuổi.
Trong văn học Việt Nam đương đại, Bùi Tín không phải là một “nhà văn” theo nghĩa truyền thống, nhưng ông có một vai trò đặc thù mà khó ai thay thế — đứng giữa nhân chứng lịch sử và tác giả văn học tư liệu.
---
1. Thể loại và vị trí
Tác phẩm của Bùi Tín chủ yếu thuộc loại hồi ký – phê phán – ký sự lịch sử, chứ không phải tiểu thuyết hay truyện ngắn hư cấu.
Điểm đặc biệt: Ông lấy chính trải nghiệm của mình trong vai trò đại tá, nhà báo cao cấp của chế độ cộng sản, để viết lại những gì ông chứng kiến — đây là “nguyên liệu sống” mà không nhà văn hư cấu nào có thể tái tạo hoàn toàn.
Trong văn học Việt Nam, ông thuộc nhóm “văn học phản tỉnh” cùng với một số tác giả khác như Vũ Thư Hiên (Đêm giữa ban ngày), Dương Thu Hương (Những thiên đường mù), hay Trần Mạnh Hảo (phê bình – chính luận).
---
2. Đóng góp về mặt văn học
Tính tư liệu: Văn của Bùi Tín cung cấp dữ kiện và lời kể từ người trong cuộc, giúp văn học ghi nhận một phần sự thật lịch sử vốn bị kiểm duyệt.
Giọng văn trực diện: Không vòng vo, không ẩn dụ nhiều; trọng tâm là minh bạch hóa sự kiện. Điều này khiến tác phẩm vừa mang hơi hướng báo chí, vừa giữ được yếu tố văn chương qua sự chọn lọc chi tiết và cách dẫn truyện.
Vai trò “người mở đường”: Việc ông rời bỏ chế độ và viết hồi ký đã góp phần mở rộng không gian tự do cho văn học hải ngoại, phá thế độc quyền diễn ngôn của văn học trong nước.
---
3. Giá trị văn học – lịch sử song hành
Ở khía cạnh lịch sử, tác phẩm của ông là “tư liệu sống” phục vụ nghiên cứu xã hội – chính trị Việt Nam hậu 1945.
Ở khía cạnh văn học, chúng là minh chứng cho một dạng văn chương sự thật (non-fiction literature) mang tính nhân chứng, nơi tác giả không chỉ thuật lại mà còn suy tư, chất vấn, và tự phê bình.
Nhiều nhà phê bình coi đây là một nhánh quan trọng của văn học lưu vong, bổ sung cho tiếng nói của những người “đi ra từ bên kia chiến tuyến”.
---
4. Hạn chế
Do thiên về phê phán chính trị, tác phẩm đôi khi thiếu chiều sâu nghệ thuật thuần túy so với văn học hư cấu.
Một số độc giả cho rằng Bùi Tín vẫn còn giữ khoảng cách hoặc né tránh phân tích sâu những nhân vật lãnh đạo mà ông từng kính trọng, nên giá trị văn học – lịch sử chưa đạt mức “tận cùng sự thật”.
---
Bốn khuôn mặt – Bốn đường biên của hồi ký Việt Nam hiện đại
Bùi Tín – Tô Hoài – Nguyễn Khải – Dương Thu Hương
Hồi ký, trong văn học Việt Nam thế kỷ XX và đầu XXI, là thể loại đứng giữa hai áp lực: trung thành với ký ức cá nhân và đối diện với sự thật lịch sử. Mỗi nhà văn, nhà báo khi cầm bút đều phải tự chọn cho mình một vị trí – trong hay ngoài vòng kiểm soát chính trị, gần hay xa khoảng cách nghệ thuật. Trong dòng chảy này, bốn cái tên Bùi Tín, Tô Hoài, Nguyễn Khải và Dương Thu Hương tiêu biểu cho bốn cách trả lời khác nhau trước cùng một câu hỏi: “Viết để làm gì, và viết cho ai?”. Họ không chỉ khác nhau ở xuất phát điểm, mà còn ở cách biến hồi ký thành công cụ lưu giữ ký ức, bày tỏ thái độ, và khẳng định cái tôi.
---
Bùi Tín – từ đại tá Quân đội Nhân dân và Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, trở thành người cầm bút lưu vong ở Pháp – viết hồi ký như một bản khai sự thật. Trong Mặt thật (1993)[1] và Hoa xuyên tuyết (2000)[2], ông gạt bỏ thủ pháp mỹ thuật, thay vào đó là văn phong báo chí, trực diện, lạnh lùng: “Tôi không thể tiếp tục sống trong một hệ thống mà mọi sự thật đều phải đi qua cửa kiểm duyệt”[1, tr.12]. Ở ông, hồi ký là “văn bản tố cáo” và “tư liệu mật” nhiều hơn là tác phẩm văn học. Giá trị nằm ở tính sử liệu, nhưng sự khô cứng của ngôn từ khiến tác phẩm ít hấp dẫn người đọc tìm kiếm cảm xúc thẩm mỹ.
Tô Hoài – một đời cầm bút từ Dế mèn phiêu lưu ký đến Cát bụi chân ai (1992)[3] – cho thấy hồi ký cũng có thể là một tác phẩm văn học hoàn chỉnh. Ông dựng chân dung văn nghệ sĩ, tái hiện bối cảnh xã hội bằng chi tiết đời thường, dí dỏm, tinh tế: “Anh Nam Cao hay ngồi trầm ngâm, đôi mắt buồn như sắp kể một câu chuyện dài”[3, tr.45]. Chính trị hiện diện như bối cảnh mờ, không phải trung tâm. Hồi ký của Tô Hoài lưu giữ ký ức văn hóa và nhân tình hơn là bản án thời cuộc.
Nguyễn Khải – với Đi tìm cái tôi đã mất (2001)[4] – đứng ở vị trí trung gian: hồi ký như một cuộc tự vấn. Ông tự phơi bày quá trình nhận thức, nhận lỗi trước lịch sử: “Tôi đã viết không ít để minh họa, nhưng khi thời thế thay đổi, tôi thấy mình bị bỏ lại phía sau”[4, tr.18]. Văn phong hòa quyện tự sự với triết luận, tạo ra giá trị tư tưởng nhiều hơn giá trị thông tin chính trị. Đây là chân dung một nhà văn chính thống đang tự điều chỉnh mình trước cơn sóng đổi thay.
Dương Thu Hương – như Bùi Tín – cũng lưu vong ở Paris, nhưng con đường lại khác hẳn: bà tiểu thuyết hóa ký ức. Trong Những thiên đường mù (1988)[5] và Tiểu thuyết vô đề (2000)[6], ký ức chính trị được hòa tan vào hư cấu, giàu hình ảnh và cảm xúc. Ngôn từ sắc lạnh: “Chúng tôi được dạy rằng sự thật là thứ nguy hiểm nhất”[5, tr.27], hình ảnh dồn dập, cảm xúc dữ dội khiến tác phẩm vừa mang tính tố cáo, vừa chạm tới tầm vóc văn học quốc tế. Ở bà, hồi ức chính trị và văn chương hòa làm một.
Nếu Bùi Tín và Dương Thu Hương đại diện cho hồi ký và hồi ức chính trị ngoài nước – một người nghiêng về tài liệu, một người nghiêng về văn chương – thì Tô Hoài và Nguyễn Khải cho thấy khả năng của hồi ký trong nước khi khắc họa đời sống và nhân tình nhưng tránh va chạm trực diện với quyền lực.
Bốn người, bốn giọng nói, cùng vẽ nên bản đồ đa sắc của hồi ký Việt Nam: từ bản khai lịch sử, bức tranh đời thường, cuộc tự vấn trí thức, đến tiểu thuyết hóa ký ức – tất cả đều phản chiếu một thời đại mà con người phải vừa sống, vừa viết, vừa trả giá cho những gì mình tin là sự thật. Chính sự đa dạng này khiến hồi ký Việt Nam không chỉ là phụ lục của lịch sử, mà còn là một phần của văn học – nơi tiếng nói cá nhân vẫn vang lên dù bị giới hạn, lưu vong, hay kiểm duyệt. Bốn khuôn mặt ấy, dù đứng ở những chiến tuyến khác nhau, đều khẳng định một điều: ký ức cá nhân và ký ức dân tộc, một khi đã thành chữ, sẽ sống lâu hơn mọi biến động chính trị và quyền lực.
MDTG ST
---
Tài liệu tham khảo
[1] Bùi Tín, Mặt thật, NXB Tiếng Quê Hương, Paris, 1993.
[2] Bùi Tín, Hoa xuyên tuyết, NXB Tiếng Quê Hương, Paris, 2000.
[3] Tô Hoài, Cát bụi chân ai, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1992.
[4] Nguyễn Khải, Đi tìm cái tôi đã mất, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001.
[5] Dương Thu Hương, Những thiên đường mù, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1988.
[6] Dương Thu Hương, Tiểu thuyết vô đề, NXB Tiếng Quê Hương, Paris, 2000.
ÔNG BÙI TÍN KỂ CÂU CHUYỆN ÉO LE VỀ GIA ĐÌNH BÀ TRỊNH VĂN BÔ…
Bùi Tín
Hôm nay, từ Paris, tôi nhận được tin buồn. Bà Trịnh Văn Bô, nhà kinh doanh thành đạt đã trút hơi thở cuối cùng ở Hà Nội, đại thọ 103 tuổi.
Tôi buồn vì tôi coi bà là bà chị
thân thiết có lòng nhân ái, yêu nước tuyệt vời.
Tôi buồn vì bà đã nhiều lần tâm sự với tôi về hoàn cảnh éo le của bà và nhờ tôi giúp đỡ từ những năm 1976-1980 nhưng tôi không sao làm bà vui lòng.
Năm 1990 trước khi sang Pháp tôi đã đến chào bà như một niềm ân hận và thương cảm đối với một bà chị có tấm lòng nhân hậu và lòng yêu nước tột đỉnh đang ở trong tình trạng uất hận mà vẫn lạc quan, tươi cười.
Tôi xin kể tóm tắt nguồn cơn với các bạn, nhất là với các đảng viên cộng sản để có thể hiểu rõ thêm cái bản chất của đảng này và tự tìm ra kết luận.
Bà Trịnh Văn Bô, tên khai sinh là Hoàng Thị Minh Hồ, là bà chủ hiệu Tơ lụa Phúc Lợi, phố Hàng Ngang, khu phố cổ Hà Nội. Bà là doanh nhân thành đạt lớn. Bà tham gia phong trào Việt Minh bí mật năm 1944, nhiều lần góp những món tiền lớn cho phong trào, từ 1 vạn đến 8 vạn đồng bạc Đông dương.
Tháng 8/1945 bà tình nguyện đón ông Hồ Chí Minh từ chiến khu miền Bắc về ở ngôi nhà mình ở 48 Hàng Ngang. Ông đã ở đây hơn 1 tháng, viết Tuyên Ngôn Độc Lập tại đây.
Sau đó bà biếu tặng cả ngôi nhà này thành Bảo tàng cấp Nhà nước cho đến nay.
Trong Tuần lễ vàng, bà góp hàng nghìn lạng vàng, gần bằng ngân sách tiếp thu của chế độ cũ. Tổng cộng số vàng bà góp là trên 5 nghìn lạng.
Tất cả áo quần mới tươm tất của ông Hồ, các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp….mặc trong ngày 2/9/1945 đều do bà cung cấp.
Hồi ấy nhiều người coi bà là
«Bộ trưởng tài chính» của nước Việt Nam độc lập.
Sau này bà sinh hoạt trong đảng Xã hội do đảng cộng sản lập ra để vận động các trí thức, nhà kinh doanh cũng như trong Hội Liên hiệp Phụ nữ.
Điều không may đối với bà là năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chính phủ từ Việt Bắc trở về Hà Nội, Bộ Quốc phòng yêu cầu mượn tạm ngôi nhà rộng lớn của bà ở số nhà 34 phố Hoàng Diệu gần Cột Cờ, sát khu vực quân sự của Bộ Quốc phòng.
Bản giao kèo cho mượn trong 2 năm (từ 1954 đến 1956) có chữ ký cam kết của đại tướng Hoàng Văn Thái, tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân. Chính gia đình ông Thái đến ở ngôi nhà ấy. Quá hạn, năm 1957, 1958 bà Trịnh Văn Bô ngỏ ý «xin lại» ngôi nhà cũ của mình nhưng ông Thái và bộ Quốc phòng không trả lời.
Lúc này gia đình ông bà Trịnh Văn Bô đã có 7 người con, đều lập gia đình, có đúng 30 cháu và chắt, tất cả 40 người ở tại ngôi nhà cũ chật chội 24 phố Nguyễn Gia Thiều, gần hồ Ha Le, nơi tôi ghé thăm bà trước khi sang Pháp.
Điều làm cho ông bà Bô cay đắng rồi oán hận là vào năm 1978, đại tướng Hoàng Văn Thái được cấp nơi ở mới trong ngôi nhà lớn xây riêng cho cấp tướng ở khu Liễu Giai, nhưng ông không trả lại nhà cho ông bà Bô.
Ngôi biệt thự 34 phố Hoàng Diệu vẫn là nơi ở của cặp quý tử Võ Điện Biên, con đầu của đại tướng Võ Nguyên Giáp và vợ là con gái đầu của đại tướng Hoàng Văn Thái.
Năm 1988, ông Bô ốm nặng, qua đời trong niềm ân hận trên đây. Trong buổi dự đám tang ông, bà Bô đã khóc khi gặp tôi và yêu cầu tôi giúp, sau khi ông bà đã gửi hơn 20 lá đơn cho mọi cửa.
Tôi đã in thêm các đơn của bà, gửi cho vợ chồng tuớng Giáp, vợ chồng tướng Thái, cho Ban kiểm tra trung ương đảng, cho đại tướng Chu Huy Mân ở Tổng cục chính trị, nhưng đều vô hiệu.
Cho đến tháng 6/1989 bà Bô mới nhận được công văn do ông Đỗ Mười nhân danh Thủ tướng ký, yêu cầu Bộ Quốc phòng trả lại ngôi nhà trên cho bà Bô. Công văn này chờ hoài vẫn không hiệu quả.
Tháng 7 năm 1990 chính Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo ký công văn yêu cầu Bộ Quốc phòng sớm trả lại nhà trên, nhưng rồi cũng như nước đổ đầu vịt.
Cho đến năm 1993 Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phó thủ tướng Phan Văn Khải yêu cầu có cuộc họp liên tịch giữa Ủy ban Hành chính Thủ đô, Sở nhà đất Hà Nội và Bộ Quốc phòng để giải quyết xong xuôi một vấn đề dân sự đã kéo quá dài này.
Cuộc họp có kết luận nhưng rồi không ai chấp hành, không có ai có thể cưỡng chế việc thi hành. Một thái độ ù lỳ, bất chấp luật pháp, bất chấp đạo đức của kẻ có uy quyền đảng trị!
Cho đến tận tháng 10 năm 2003, gia đình, con cháu bà Bô mới quyết định làm liều khi đã bị dồn đến chân tường.
Tận dụng khi gia đình người ở ngôi nhà đi vắng, chỉ có một bộ đội gác gần đó, con cháu bà Bô cõng bà - bà cụ 90 tuổi già yếu đã nghễnh ngãng liều đột nhập vào ngôi nhà, mang «Bằng khoán điền thổ» gốc, trưng ra, với một giải lụa mang dòng chữ: «Vui mừng trở về ngôi nhà cũ.» ký tên: Gia đình Trịnh Văn Bô.
Tôi được tin này, đã lập tức gọi điện thoại về mừng bà chị và con cháu đã giành lại được ngôi nhà của mình, các cháu thuật lại cho bà bằng cách viết ra, vì tai bà đã điếc hẳn!
Sau này anh Trần Duy Nghĩa, con cố thị trưởng Thủ đô, bác sĩ Trần Duy Hưng là bạn cực thân của gia đình bà Bô từ Pháp trở về Việt Nam, có dịp đến thăm bà cụ Bô kể cho tôi chuyện cơ mật của gia đình. Đó là khi tự mình trở về nhà, bà Bô đã dự liệu sẽ liều mình nếu như bà bị đuổi khỏi ngôi nhà thân yêu của chính mình. Bà đã bảo con bà mang theo một can đầy xăng để liều sống chết với lẽ phải, sống chết với nhà cửa, với con cháu ruột thịt của mình.
Thế nhưng thật là may mắn và hạnh phúc, can xăng đã không cần dùng đến.
Bài báo này như một nén hương thắp trên mộ của bà Trịnh Văn Bô, bà chị của tôi đầy lòng nhân ái, yêu nước đến tột đỉnh, từng tự cho mình một phương châm sống, là «Trong buôn bán, nếu có lời chỉ nên giữ lại 7 phần mười làm vốn, để ra 3 phần mười làm từ thiện.
Còn khi đất nước cần thì nên hiến hết không tính toán, chỉ giữ chút ít để sống và kinh doanh tiếp.»
Bài học cho đảng viên tham nhũng ở khắp nơi hiện nay, cho các doanh nhân mới.
Một nhà kinh doanh yêu nước đến tột cùng, yêu nhân dân đến thế là cùng!
Xin bà chị mỉm cười, yên nghỉ trên cõi vĩnh hằng.
Bùi Tín
Ông bà Trịnh Văn Bô
Bà Trịnh Văn Bô trước khi qua đời
Căn nhà số 48 Hàng Ngang
ÔNG BÙI TÍN (1927-2018)
-Trần Nhung (*)
Tôi có gần 10 năm làm việc gần ông Bùi Tín nên biết đôi điều về ông. Năm 1973, tôi về báo QĐND thì ông vừa thôi Trưởng phòng Thời sự để làm Phó TBT báo, nhận quân hàm Thượng tá sau khi hoàn thành tốt nhiệm vụ trong phái đoàn quân sự hỗn hợp bốn bên thi hành Hiệp định Paris về VN. Tuy nhiên phòng làm việc của ông cạnh phòng làm việc của chúng tôi nên ngày nào ông cũng ghé qua một vài lần chuyện trò vui vẻ.
.
- Một người lịch lãm, hấp dẫn. Ông nói nhẹ nhàng, lúc nào cũng có nụ cười hé mở tươi tắn. Chuyện của ông chỉ xoay quanh báo chí và các cuộc ông gặp cấp trên nên hấp dẫn lớp trẻ mới vào nghề báo. Ông lại hay gợi mở về kinh nghiệm về đề tài, cách thức viết báo rất chân tình, nên ngay lần gặp đầu tiên tôi đã quí mến và ngưỡng mộ ông.
- Ông được ưu ái và may mắn. Xuất thân danh gia vọng tộc, bố ông là cụ Bùi Bằng Đoàn, Thượng thư triều đình Huế, sau năm 1946 là Chủ tịch Quốc hội, từng họa thơ Đường với Cụ Hồ. Có người bố như thế, lại có tài nên ông rất được quân đội ưu ái. Tham gia quân đội nhưng ông không phải ra trận hay giao công việc khó khăn vất vả mà ở tuyến sau nên lành lặn qua các cuộc chiến tranh. Ông may mắn nên thăng tiến đều đặn nên mới hơn 40 tuổi đã là Thượng tá, thời những năm 1970 là rất hiếm chứ không như sau này thăng cấp hàm rất nhanh như quí tử một vị Bộ trưởng Quốc phòng thích chơi xe sang chưa thành thạo đội ngũ đã là đại tá.
.
- Hào hoa, thành thực. Ông đẹp trai, có tài, khéo nói nên được nhiều người đẹp yêu. Mặc dù ông có gia đình mơ ước với người vợ đoan trang, dịu dàng, hai con, một trai, một gái nhưng gia đình nhiều khi không yên ấm. Khi ông chuyển sang báo Nhân Dân, ông để quên hòm sách và sổ tay ghi chép ở phòng tôi. Một lần dọn kho bán giấy báo cũ, mới phát hiện ra. Tôi thấy mấy cuốn sổ ghi chép và một bản tự kiểm điểm ở chi bộ. Ông tự nhận quan hệ nam nữ sai trái dù không ai biết.
.
Ấy là một lần hành quân qua một bản ở chân Đèo Khế, Tuyên Quang vào chiều tối, trong lúc dừng nghỉ vài giờ mà ông kịp cưa đổ một cô người Tày chồng đi vắng và xin nhận kỷ luật. Bí thư chi bộ là ông Hoàng Thế Dũng, một trong 4 trung đoàn trưởng đầu tiên của quân đội ta, một trí thức uyên bác, nên thông cảm cho qua. (Sau này ông Dũng dính án vụ án xét lại chống Đảng, bị tù hơn 10 năm, năm 2000, đến họp mặt, bị đột quỵ chết ngay trên bàn làm việc của tôi. Chuyện này cũng hay). Nhiều chuyện khó kể hết.
.
Năm 1986, với tư cách Phó TBT báo Nhân Dân, ông lên dự 5 năm thành lập Quân Đoàn 26 ở Cao Bằng. Đến giờ liên hoan, không thấy ông đâu vì ông và một nữ thanh tú đang say sưa giao lưu giữa ngàn xanh và chim muông ca hát. Tôi theo TBT báo QĐ (cùng đi còn có nhà báo Trần Hữu Tòng) lên dự nên được nhờ dẫn vài cảnh vệ vào rừng cạnh đó tìm ông nên thấy cảnh này. Ở báo Nhân Dân cũng lắm chuyện hay nhưng sếp Nhân Dân cũng hào hoa nên ông vô tư bình an.
.
- Nhà báo VIP. Ông quen biết rất nhiều lãnh đạo nên dễ dàng tiếp cận nhiều chuyện thâm cung và thuận lợi cho công việc làm báo. Cứ lãnh đạo là ông gọi cụ dù có ông bằng tuổi hay hơn ông vài tuổi. Ông Trần Đĩnh viết Đèn cù rất gai góc, phải đưa sang Mỹ để in phác họa rõ nét tính cách ông Bùi Tín chỉ bằng một chi tiết. Khi TBT Lê Duẩn đến thăm báo Nhân Dân, có anh nhà báo tay ôm cuốn Lê-nin dày cộp và cuốn “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng”, của TBT Lê Duẩn, cứ lăng xăng đi cạnh TBT. Khi chụp ảnh dưới gốc cây đa, anh ta cố len lên đứng cạnh TBT Lê Duẩn. Trần Đĩnh không nêu tên nhưng ai cũng biết là Bùi Tín.
.
- Vì sao Bùi Tín bỏ chạy sang Pháp? Tiếp xúc nhiều với phương Tây, Bùi Tín sớm bất đồng chính kiến về nhiều vấn đề của Đảng và Nhà nước VN. Những năm 1990, Liên Xô tan rã, các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, Bùi Tín cảm nhận VN cũng sẽ sụp đổ nhưng chưa thể nhanh. Vì thế, ông bí mật liên hệ với một nhà báo Pháp tìm cách bỏ nước ra đi. Nhân hội báo Nhân Đạo của Đảng cộng sản Pháp ông xin đi. Cùng đi có nhà văn Nguyễn Đình Thi. Để tiết kiệm, hai ông xin ở nhờ ĐSQ ta ở Paris. Xong hội báo, ông Thi về còn Bùi Tín ở lại xin cư trú chính trị.
.
Vì sao ông ra đi? Theo tôi có ba lý do. Cái chính là bất đồng chính kiến. Hai là ông bất mãn do bị bị nhắc nhở sau vụ ông, ông Vũ Kỳ, Thư ký của Bác Hồ và ông Bùi Đình Kế, Viện Lich sử Đảng tự ý công bố toàn văn Di chúc Bác Hồ, đặt Bộ Chính trị vào việc đã rồi, rất mất uy tín (có hai điểm về Bác đề nghị miễn thuế nông nghiệp và hỏa táng trong Di chúc đã công bố năm 1969 bị cắt đi). Ba là chuyện buồn gia đình.
.
- Có ý kiến cho rằng, ông thân, thuộc phe Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông chẳng thân ai và theo phe nào mà làm quen ai là lãnh đạo là vì ông. Sau khi ông bị điều vào làm Cục phó Cục Tuyên huấn TCCT, ông không thích vì tính ông tự do. Ngày đầu vào nhận chức, cảnh vệ không cho ông vào cơ quan vì đầu tóc bù xù, yêu cầu ông phải cắt tóc ngắn. Thế nên ở được vài tuần ông tìm cách xin chuyển công tác. Ông đến gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, được khuyên chấp hành sự phân công của tổ chức. Ông sang gặp ông Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Ông Thọ gọi điện cho ông Hoàng Tùng, TBT báo Nhân Dân, xếp ông chức Phó TBT, phu trách tờ Nhân Dân Chủ Nhật.
.
- Tác phẩm chính diện, phản diện đều hay.
Bùi Tín có tài, kiến thức sâu rộng, giỏi ngoại ngữ, thành thạo viết được sách bằng tiếng Anh và Pháp. Thời trong nước ông có nhiều tác phẩm báo chí nổi tiếng, như các sách Dưới bóng tòa Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, Hỏi chuyện giặc lái Mỹ, Chuyện ở Đoàn quân sự hỗn hợp... Thời lưu vong gần 30 năm ở Pháp, ông viết “Mặt thật”, “Hoa xuyên tuyết”, cùng nhiều tác phẩm khác. Gác sang bên chuyện chính trị, các sách này đọc rất hấp dẫn.
.
- Sống lưu vong vong giữa hai làn đạn. Ở Pháp, ông sống trong nơm nớp lo sợ. Vì phe ta cho ông là kẻ thù, phản bội. Phe Việt kiều chống Cộng nghi ông là Việt Cộng trá hàng để dò la họ. Việt kiều chân chính thì khinh miệt ông vì cho ông hèn nhát không dám ở lại trong nước đấu tranh.
.
- Chết trong cô đơn. Lúc lâm trọng bệnh, một góa phụ Pháp chăm lo và được ông ủy thác lo mai táng. Tro cốt ông được lưu giữ ở một ngôi chùa của người Việt... Con gái ông là Bùi Bạch Liên xin mang về VN mà chưa được…
Tôi có gặp ông ở Paris ngày 8-5-1995 khi ông đang ở bờ sông Seine, gần tháp Ép-phen.
Hai anh em ngồi trong quán cà phê nói chuyện khá lâu. Khi chia tay, tôi bảo:
- Thời ở báo QĐND, bọn em mơ được như bác. Giá bác cứ ở lại mà thẳng thắn góp ý như TS Phan Đình Diệu thì có sao đâu. Ông cười rồi bắt tay chia tay, vẻ đượm buồn.
_____
Tác giả Trần Nhung là đại tá, cựu TBT báo Cựu Chiến binh VN.
Trung tá Bùi Tín, thành viên trong Ban Liên hợp Quân sự 4 bên, nói chuyện với quân nhân Hoa Kỳ Richard Springman, bị bắt ngày 25/5/1970), một trong 28 tù binh Mỹ được trả tự do vào ngày 12/2/1973.
Hs Phan Nguyên, Ns Lê Văn Khoa, nhà báo Bùi Tín
Cali 2017
Trở về
MDTG là một webblog mở để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.





.jpg)










