Sunday, 26 November 2017

Nguyễn Ngu Í (1921 - 1979)












Nguyễn Ngu Í

tên thật: Nguyễn Hữu Ngư
(20/4/1921 – 18/2/1979)
(là bút hiệu thường dùng được ông viết là Nguiễn Ngu Í, Nguiễn Hữu Ngư), ngoài ra ông còn ký các bút hiệu: Trịnh Nguiên, Tân Fong Hiệb, Phạm Hoàn Mĩ, Trần Hồng Hưng, Lưu Nguiễn, Đ.T.T, Nghê Bá Lý, Ngư Fi Lô Cố

nhà giáo, nhà thơ, nhà báo.











Tiểu sử






Đi học
Nguyễn Ngu Í sinh tại làng Tam Tân (nay là xã Tân Tiến, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận). Cha là Nguyễn Hữu Hoàn, người Hà Tĩnh, một nhà nho trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, bạn của Thái Phiên, Tăng Bạt Hổ. Mẹ là Nghê Thị Mỹ.

Năm 1928, bảy tuổi, Nguyễn Ngu Í phải xa gia đình vào Sài Gòn, học tiểu học ở trường Phú Lâm (Chợ Lớn). Năm 1934-1938, học trường trung học Pétrus Ký. Năm 1941, 20 tuổi, ông đang theo học Trường Sư phạm thì bệnh tâm thần phát xuất lần đầu, phải vào nhà thương Chợ Quán chữa trị. Năm 1942, khỏi bệnh, ông bỏ học và bắt đầu bước chân vào nghề văn, nghề báo.



Vào đời
Sau khi khỏi bệnh, Nguyễn Ngu Í cộng tác với Nam Kỳ tuần báo của Hồ Biểu Chánh, rồi tờ Thanh Niên của Huỳnh Tấn Phát, tham gia việc thành lập Hội truyền bá quốc ngữ Nam Kỳ.

Tháng 8 năm 1945, giữ chức Tổng thư ký đầu tiên của Ủy ban nhân dân cách mạng xã Tam Tân. Tháng 6 năm 1946, ra Hà Nội làm việc ở Phòng thiếu nhi toàn quốc do Lưu Hữu Phước phụ trách. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, vào công tác ở Quảng Ngãi, thì bệnh cũ tái phát nên ông phải về lại quê nhà. Ở Tam Tân, ông sống bằng nghề dạy học và cưới vợ vào ngày 25 tháng 9 năm 1949. Vợ tên Nguyễn Thị Thoại Dung, giáo viên, thi thoảng có sáng tác, ký bút hiệu Thoại Nguyên. Năm 1950, được tin em gái mất, lại quẫn trí.

Năm 1952, cùng vợ về Sài Gòn, trở lại nghề dạy học và viết báo. Năm 1955, tham gia Mặt trận Thống nhất dân tộc gồm Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, chống lại Ngô Đình Diệm. Ông bị bắt và bị đưa đi cải huấn ở trại Tân Hiệp (Biên Hòa). Được trả tự do, ông đi vận động cho "đường lối thứ ba", cho thuyết "trung lập chế" của Hồ Hữu Tường. Năm 1957, cộng tác với tờ Bách khoa và những tờ báo khác như Mai, Sáng dội miền Nam, Hòa đồng, Nghệ thuật...

Năm 1977, vào Dưỡng trí viện Biên Hòa (nay là Bệnh viện tâm thần Trung ương II). Hai năm sau, vào tháng 2 năm 1979, Nguyễn Ngu Í mất. Hiện nay, hài cốt ông đã được cải táng tại quê nhà.



Tác phẩm
Vào những năm 1934-1938, khi đi học ông đã sáng tác thơ. Được giáo sư Phạm Thiều khen là có khiếu về văn chương. Đến khi lìa bỏ cõi đời, Nguyễn Ngu Í đã để lại một số tác phẩm sau:








1
Lịch sử Việt Nam
(Tân Việt, 1956)








2
Khi người chết có mặt
(Ngày Xanh, 1962)








3
Sống và Viết với ...

(Bách khoa, 1966. Gồm tiểu sử và chân dung của 12 nhà văn đương đại)








4
Hồ Thơm-Nguyễn Huệ-Quang Trung
(Về nguồn, 1967)








5
Qê hương

(1969, pha trộn nhiều thể loại văn chương: thơ, truyện, tùy bút, kịch, nhạc, hồi ký, tiểu sử, di chúc...Tác phẩm này được Nguyễn Hiến Lê khen ngợi, Châu Hải Kỳ cho là một "kỳ thư" chưa hề thấy trong văn học Việt Nam.








6
Thơ điên
(1970)








7
Hạnh phúc nơi chính bạn
(tiểu luận, 1970)








8
Suối bùn reo
(hay 15 câu chuyện phụ nữ, phiếm luận, Trí Đăng, 1970)








9
Có những bài thơ I
(do các bác sĩ ở Dưỡng trí viện Biên Hòa in, 1972)













Nhận xét

Giáo sư Trần Văn Khê là một trong những người bạn của Nguyễn Ngu Í, đã viết như sau: Anh Ngư viết văn Pháp rất hay, nhưng anh yêu tiếng Việt, anh lại muốn cho người Việt ai cũng đọc được sách báo nên tham gia rất tích cực phong trào xoá nạn mù chữ. Nguyễn Ngu Í còn sáng tạo ra cách viết chữ quốc ngữ sao cho hợp lý hơn...

Nhà biên khảo Nguyễn Hiến Lê kể: Anh (Nguyễn Ngu Í) căm phẫn xã hội, căm phẫn thời đại, căm phẫn mọi người. Anh có nhiều lý tưởng, nuôi nhiều mộng cao đẹp mà gặp toàn những điều bất như ý, cứ phải cố nén xuống và sức nén càng mạnh thì sức bùng ra cũng càng mạnh... Ông là một cuộc đời đau khổ nhất và cũng đặc biệt nhất trong giới văn nghệ sĩ hiện đại.

Theo nhà văn Sơn Nam thì Nguyễn Ngu Í là một nhà văn nổi tiếng yêu nghề và yêu nước, luôn xót xa vì chuyện đất nước chia đôi. Dường như cả một đời dạy học và hoạt động báo chí ở Sài Gòn, Nguyễn Ngu Í lúc nào cũng trong trạng thái nửa tĩnh nửa điên.

Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc nhận định về thơ của Nguyễn Ngu Í (cũng chính là người cậu của mình):Thơ của ông có thể người ta thích, có thể người ta không thích. Nhưng đọc thơ ông bao giờ cũng có cảm giác rờn rợn. Ông làm thơ rất nhanh, thơ như túa ra, ứa ra, nhiều bài sần sùi; đọc cứ nghe ấm ách nhưng có bài đọc mượt như nhung. Đọc thơ ông mà hịểu ông thì thấy thương, thương một con người có chí, có lòng mà không đạt được những ước nguyện. Rồi thôi, rồi thành tro bụi như hai câu thơ ông viết sẵn cho đời mình: "Bao nhiêu chí trẻ rồi tro bụi / Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi!".

Từ điển văn học (bộ mới) đánh giá:Nguyễn Ngu Í không có những tác phẩm quan trọng, nhưng cả cuộc đời ông là một tác phẩm "kỳ dị" pha trộn lòng yêu nước với chữ nghĩa. Tư tưởng cách tân chữ viết đi đôi với ý chí giải phóng dân tộc ra khỏi cảnh dốt nát, nghèo đói, áp bức của người dân bị trị, ra khỏi cuộc chiến tàn khốc, ra khỏi những bất công của xã hội mà tiền bạc, tham nhũng, phản bội, lừa lọc là những yếu tố chủ đạo. Suốt đời (Nguyễn Ngu Í) xông vào cuộc đấu tranh đó với một ý chí quyết liệt của "người hùng", nhưng tất cả đều vô hiệu, không ai nghe.









Thơ Nguyễn Ngu Í







Má ơi! Con Má điên rồi,
Má còn trông đứng đợi ngồi mà chi?


Con nhìn Má, Má có thấy con không, hở Má?
Đêm khuya rồi, chỉ có Má, con thôi.
Nhà ngủ iên, và cả thế giới loi nhoi
Cũng thiêm thiếp với đất trời mệt mỏi.

Con nhìn Má, Má gầy nhiều, Má hỡi,
Xương, gân này rõ rệt ở tay chân.
Má lại đây, Má, cho con Má nhìn gần,
Coi tóc Má bạc nhiều hay bạc ít.
Má ốm, iếu mà Má tươi, mới chết
Cả lòng con ngào nghẹn lúc này đây.
Em chết, mang cả cháu ngoại đợi từng ngày…
Má đã khóc bao lần trong đạn lửa?
Hẳn Má đã dàu dàu như lá úa,
Nhưng khi ngồi chụp ảnh gởi ra con,
Má bảo: “Mình cố vui, vui nữa, vui hơn,
Cho nó tưởng mình vui, không buồn nữa…”

Con không buồn nữa, Má ơi! Con hứa
Không buồn đâu, vì Má lặng trong,
Vì Má ngồi iên, mà Má vững như trồng,
Ngồi tréo mẩy, tay vịn thành ghế sắt,
(Chiếc ghế sắt mà Thầy sơn dầu hắc,
Từ khi con lên bảy, biết phân li…
Chiếc ghế phiêu lưu, từ Cần-đước xuống ghe đi
Cần-giờ, rồi lên Bến-gỗ,
Rồi lên An-hảo rồi lại lên tàu ra Mường-mán, rồi lội bộ về
Tam-tân. Giặc bố chạy vào rừng,
Giặc bố già thì chạy lung tung,
Mà mặt ghế vẫn bình, chân chưa lảo đảo.)

Má đã khổ vì Thầy bị đày đi Lao-bảo,
Má có đau vì nhà nát, quê lìa,
Má còn sầu vì con ở đâu cia,
Má mới khóc vì con, cháu chết…

Và Nước… Đời Má dường mất hết,
Nhưng mà giờ, Má ngồi đó, vững vàng,
Nhìn chẳng thấy con, Má vẫn tin rằng
Rồi Má gặp con, con gặp Má,
Và rồi nắm tay con, Má sẽ ve vuốt má
Của dâu hiền iên lặng đứng bên con.
Má ngồi iên, Má trong lặng nhìn con,
Con rung động, nhận cái nhìn của Má.

Ù ơ… Ví dầu con Má có sao:
Có điên có dại Má nào bớt thương!



Nguiễn Ngu Í
(Qảng-ngãi, đêm 21-10-1950, khi nhận được ảnh Má và Em
từ Cực-Nam khói lửa gởi ra).








Đên nằm nghe trời mưa

Ngày mai có hạt bắn mầm,
Bụi tro mấy lớp thôi nằm lá mây.

Ngày mai vạn cánh vời bay,

Thuiền tung buồm cuốn, ngàn mây ánh hường.









Về quê ai, tết đầu sau khi ngưng chiến


Gần đến nơi rồi, em thấy chưa?

*
Đường đi lúc lắc, nắng lưa thưa…
Có gì man rợ trong cây, đá,
Em sợ giờ đây, ngỉ cũng vừa.
Xe trâu cút cít, rừng ngiêng bóng,
Bụi trắng xôn xao lớp lớp đùa…
Đến suối, trâu ngừng, vui nước hát,
Mời em hớp một miếng trời ưa (1).
Hết rừng, đến ruộng vườn xanh mộng,
Tiếp cát, chân ai cứ cứ lùa,
Nhưng có anh bên cùng nhịp bước,
Đường dài, đường nặng, rồi cũng thua.
Biển xanh bỗng mở chân trời mát,
Anh đãi em thêm miếng nước dừa
Mát ngọt thanh thanh như phút gặp
Em nhìn mà mắt chẳng đong đưa.

*

Qê chồng em đó, mến thương chưa?




Tân Phong Hiệp – Tết Ất Mùi 1955
Tân Fong Hiệb
(1): nước dừa









Tham khảo thêm về tác giả Nguyễn Ngu Í



Vài dòng trích “Cậu tôi, ông Ngu Í, Nguyễn Hữu Ngư”






(http://www.dohongngoc.com/web/tag/c%E1%BA%ADu-toi-ong-ngu-i-ngui%E1%BB%85n-h%E1%BB%AFu-ng%C6%B0/)

(…) Cậu có những người “em tinh thần”, ai cậu cũng hết lòng thương yêu, giúp đỡ. Tôi nhớ một trong những người em tinh thần mà cậu thương quý nhất là nữ sĩ Minh Đức HT, một người ở trời Tây thỉnh thoảng về thăm, lúc nào cũng nghe cậu nhắc đến với lòng tự hào. Có lẽ một phần do ảnh hưởng của nữ sĩ khả ái này, cậu đã đặt cho những người “em tinh thần” khác, dòng họ Minh nào là Minh Ph, Minh X, Minh Kh… ai cũng có một chữ Minh ở đằng trước cho dễ nhận ra nhau. Có khi cả các Minh gặp nhau trong một buổi họp mặt chung vui. Có lúc cậu đưa tôi đến thăm Minh này Minh khác, với ai cậu cũng có những bài thơ, bức thư viết trên đủ thứ loại giấy từ tờ pelure trang trọng đến một mảnh giấy gói đồ, tờ lịch, đụng đâu viết đó. Tình cảm cậu đối với mọi người như tràn ngập, như bão lũ, làm cho nhiều người choáng ngợp, sợ hãi.

Mợ tôi biết hết. Biết mà không hề ghen. Mợ biết các mối tình lơ mơ của cậu là tình nghệ sĩ, tình điên vì quá dạt dào, không tràn ra thì chắc bệnh sẽ nặng hơn. Mợ thì khoẻ khoắn, can đảm, chịu khó, chấp nhận yêu thương một người tài hoa mà khùng khùng điên điên như cậu, chịu hết trận này đến trận khác, đưa cậu đi hết nhà thương điên này đến nhà thương điên khác, thì mợ xứng đáng cho cậu khen “làm vợ Tú Xương dễ, làm vợ Sào Nam cũng dễ, làm vợ Ngu Í mới thật khó…” Cậu có bài thơ “Kén Vợ” rất tuyệt vời mà tôi không dám viết ra đây, chỉ có mợ tôi là người “thục nữ” dám chấp nhận bài thơ đó (*) Kỷ niệm hai mươi năm ngày cưới cậu làm bài thơ tặng mợ đã sống hai mươi năm “nước lửa” cùng cậu. Cậu than “không có người yêu để gọi em” vì cậu chỉ gọi mợ bằng tên thôi. Và mợ cũng chỉ xưng tên với cậu.(…)

Làm văn, viết báo, cậu có nhiều bút hiệu. Khi thì Trinh Nguiên, để nhớ mối tình đầu với cô Trinh ở quê nhà; Tân Fong Hiệb do ghép địa danh 3 xã Tam Tân, Phong Điền, Hiệp Nghĩa, nơi quê ngoại của cậu và cũng là quê ngoại của tôi. Rồi Ngê Bá Lí, Trần Hồng Hừng, Ki Gob Jó Cì… Viết sử thì Fạm Hoàn Mĩ. Dạy học thì Nguyễn Hữu Ngư. Nhưng nhà báo Nguiễn Ngu Í thì được nhiều người biết đến nhất. Trong danh thiếp, lúc đã nổi tiếng là một ký giả chuyên phỏng vấn các vấn đề văn học nghệ thuật cho tạp chí Bách Khoa thời đó, cậu ghi: Jáo sư, cí jả kông chuiên ngiệb.

Cuộc đời cậu nhiều truân chuyên, tài hoa nhưng mắc bệnh không thể chữa được. Tuổi lớn, cơn điên ngày càng nhặt. Có những đợt cậu nằm Dưỡng trí viện Biên Hoà dài ngày, tưởng đã không qua khỏi. Cậu làm thơ thật nhanh, thật dễ dàng ngay trong lúc lên cơn. Cậu chủ biên tập “Thơ Điên thứ thiệt”, rồi xuất bản tập “Qê hương” để nói về quê mẹ và nơi chôn nhau cắt rún của mình ở Tam Tân. Cậu nhờ tôi viết một bài giới thiệu chung, tôi đã viết bài dẫn nhập cho tập Qê Hương với bút hiệu Giang Hồng Vân. Cậu đã có một vài tác phẩm về sử, đặc biệt là về Quang Trung, về Hồ Quý Ly trong thời gian cậu dạy sử ở trung học. Cậu cũng có vài cuốn tiểu thuyết như “Suối Bùn Reo”, “Khi người chết có mặt” v.v… Nhưng tác phẩm nổi tiếng của cậu là “Sống và Viết với …”, do Ngèi xanh xuất bản, tập hợp các bài phỏng vấn các nhà văn nổi tiếng đương thời mà ai cũng công nhận là tài hoa. Cậu chuẩn bị ra cuốn “Sống và Vẽ với…” phỏng vấn các hoạ sĩ, và “Sống và Đàn với…” phỏng vấn các nhạc sĩ (tất cả đều đã đăng trên báo Bách Khoa). Tiếc thay ý nguyện chưa tròn. Tập thơ tội nghiệp nhất của cậu là tập “Có những bài thơ”, do Trí Đăng xuất bản, in xong ruột, chưa có bìa, không hiểu sao. Rồi tập thơ cũng được cậu tặng bạn bè quen biết mà chẳng cần có bìa như vậy.

Thời cuộc đổi thay, cậu thích nghi cuộc sống một cách khó khăn, khác với mợ dễ dàng thích ứng, cậu như ngày càng ngơ ngác hơn, càng điên hơn. Thế rồi một buổi trưa tháng giêng năm Kỷ Mùi (1979), người nhà mợ báo tin cho tôi biết là cậu đang hấp hối. Tôi vội chạy đến nhà cậu ở Bàu Sen, đường Nguyễn Trãi, chạy lên căn gác ọp ẹp, thấy cậu nằm im như chìm trong giấc ngủ sâu. Mợ đi vắng. Chỉ có con trai cậu, Nguiễn Hữu Nguiên. Tôi làm thủ thuật hồi sinh cấp cứu nhưng vô hiệu. Lần này cậu đi thiệt…

(…) Trước đó, hình như cậu biết trước cái chết của mình, cậu đã viết một bức thư như là một di chúc cho mợ. Cậu ước ao được thả trôi trên một chiếc thuyền nhỏ, đục lủng đáy, nhét nút lại, rồi để thuyền trôi lênh đênh trên biển Thái Bình Dương, để cậu được nhìn trời mây nước cho thỏa thích, rồi rút nút cho thuyền chìm dần và chết trong bụng cá, cho “Ngư về với Cá”. Thế nhưng cậu chết với lửa. Cậu được hỏa táng ở An dưỡng địa Phú Lâm và đưa về đặt kề ông bà và dì Nga ở Ngãnh Tam Tân. Tôi nhớ hai câu thơ từ lâu của cậu:

Bao nhiêu chí trẻ rồi tro bụi
Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi

Và hình như cuộc đời cậu gói ghém vào hai câu đó. Nào chí trẻ, nào tình xa, nào tro bụi. Chí trẻ chắc không ai hơn cậu, muốn vung gươm, muốn dời núi lấp biển đến nỗi hoá điên; tình xa với bạn bè thân thuộc em cháu, với cả những người tình không quen biết, với quê hương Núi Cú Hòn Bà, với quê hương Việt Nam, rồi sau đó là tro bụi. Cậu đã làm câu đối cho mình.

Mấy lượt tung lòng, được gì chăng, hay trong ai ghi uất hận!
Đòi phen nâng bút, còn gì chăng, hay trên cát viết ngu ngơ…

Thế nhưng cậu làm được nhiều hơn cậu tưởng, và những người thân, những bạn bè, em cháu, những người quen biết… không ai không quý mến cậu, không ai không thấy được cái tình của cậu đằm thắm, mênh mông, thành thực, sâu lắng. Những ai gần gũi cậu sẽ cảm nhận được cái tình đó, cái tình vượt lên trên cái tình bình thường. Riêng tôi, tôi luôn nhớ cậu và nhớ những ngày còn thơ, cậu đã thay mẹ tôi, dẫn tôi đến trường học, một ngôi trường tiểu học nhỏ bên bờ sông Cà Ty, Phan Thiết, năm 1952, hiệu trưởng là cô Hồ Thị Tiểu Sính (con Út cụ Hồ Tá Bang).

(Đỗ Hồng Ngọc, 1996)

……………………………………………………………………………..

(*) Tôi được mợ cho phép “công bố” sau khi cậu đã mất 20 năm:
“Ta là người lữ khách không xu
Từ trong bụng mẹ thành thằng ngu
Chí ngốc lỡ làng tan mộng trắng
Ai người thục nữ dám nâng…?

(Bài thơ này được Ông viết trên một mảnh giấy nhỏ rồi lén treo trên cành cây trước nhà Bà mà ông nói là để “Đi hỏi vợ”. Cuối cùng rồi gia đình cũng chấp thuận cho đôi uyên ương!).










Thơ điên Ngu Í




nhà thơ nhà báo Nguyễn Ngu Í



Nhiều người biết đến ông như một nhà báo, Nguiễn Ngu Í, một “cí jả kông chuiên ngiệb” (ký giả không chuyên nghiệp, theo danh thiếp của ông) như ông tự nhận với loạt bài phỏng vấn văn nghệ sĩ rất tài hoa trên tạp chí Bách Khoa; nhiều người biết đến ông như một nhà giáo dạy văn, dạy sử ở nhiều trường tư thục Sài Gòn, nhưng ông, trước hết là một nhà thơ, một người làm thơ đặc biệt hơn bất cứ một người làm thơ nào khác: thơ điên. Thơ ông là cuộc đời riêng ông. Có khi là một tiếng thét uất hận, có khi là một tiếng lòng thổn thức, có khi là nỗi hờn căm, khi khác lại là những tiếng hát dịu dàng âu yếm thiết tha tùy lúc bài thơ được viết giữa các cơn điên hay trong cơn điên, giữa những ngày tháng nằm vùi trong Bệnh viện tâm thần Chợ Quán hay Dưỡng trí viện Biên Hòa.

Cũng viết về trăng, nhưng là Trăng của ông, năm 19 tuổi, một đêm trong nhà thương điên Chợ Quán:

Ta sẽ đánh đầu ta
Vào mặt Trăng bơ sữa
Thì Trăng ơi, em sẽ ngã ngữa tan tành.
Rồi ta nuốt
Mảnh của Trăng vào ruột
Rồi tống ra
Khỏi cơ thể ta mà…

(Van Trăng, 1940)



Ông viết về cái màu trắng, màu của Bệnh viện vẫn luôn ám ảnh ông:

Nhưng mà lạ quá, ôi là lạ
Ngó phía nào đây Trắng cũng theo
Trắng phủ vây tôi, tôi sợ quá
Làm sao trốn Trắng, hỡi người ôi!

(Trắng, 1940)


Hết Chợ Quán tới Biên Hòa, hết vào rồi lại ra, giữa các đợt lên cơn như vậy, ông sống như một người mộng du, đi trên mặt đất mà như đitrên tường cao, trên mái ngói, nghiêng nghiêng, lảo đảo, lênh khênh, lãng đãng… Ông thân thiết với với tất cả các bác sĩ, nhân viên của Bệnh viện tâm thần, của Dưỡng trí viện:

Cũng tưởng một đi không trở lại
Nào ngờ duyên nợ lại dằng dai
Bỗng nhiên sực tỉnh nằm trong “khám”
Khám của lòng ai, ai của ai…

(Bài thơ tái ngộ Dưỡng trí viện, 1966)


Vâng, ông là một người điên, một người điên thứ thiệt, không phải là người giả điên của buổi nhiễu nhương thường thấy, nên ngay trong thời gian nằm ở Dưỡng trí viện Biên Hòa, ông đã cùng những người đồng bệnh ra một tập thơ có tên là “Thơ điên thứ thiệt” (1970), trong đó có Bùi Giáng cùng nhiều “bạn điên” khác của ông. Một tập thơ rất độc đáo, lạ lùng.

Trong một bài thơ ông viết:

Ta đi lang thang
Ta nói tàng tàng
Ta cười nghinh ngang
Ta chửi đàng hoàng
...


(Bài thơ tự giết, 1966)


”Chửi đàng hoàng” quả không phải là chuyện dễ, nhưng với ông thì ông làm được. Nhưng chửi ai? ”Chửi cả và thiên hạ, trong đó có mình”, đó là cái tựa của một bài thơ khác của ông.

Nhưng tại sao điên? Dĩ nhiên là có một số tế bào thần kinh nào đó bị rối loạn, bị xáo trộn, nhưng điều đó không quan trọng, điều quan trọng là cái lòng ông, cái chí ông, cái tình ông đối với cõi đời, với con người, với quê hương và đất nước, với gia đình, bè bạn, anh em... Cái tình đó vĩ đại quá, bao la quá, nên không nhốt được trong những sợi dây thần kinh chật hẹp bình thường của một kiếp người.

Chẳng hạn, có lúc tỉnh táo, ông viết:

Kiếp sau xin cứ làm người
Còn bao nhiêu việc trên đời, còn bao...

(Kiếp sau, 1947)


Ông làm câu đối cho cha mình, ông Giáo Hoàn, người đã tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục:

Mắt mở, đã thấy xiềng nô lệ
Hồn đi, còn mơ gió tự do

(Thầy, 1953)



Rồi khi ông dạy sử, ông viết:

Ba trăm quyển sử to dày
Cũng không sánh được một ngày tự do

(Học và hành, 1955)

Ông viết cho mẹ, có lẽ đây là bài thơ viết về mẹ cảm động nhất ở một người con điên:

Má ơi, con má điên rồi
Má còn trông đứng đợi ngồi mà chi

(Má, 1950)


Năm 1960, trong chuyến về quê cải táng mộ cho song thân, đến Nước Nhỉ, khi nằm nghỉ dưới những tán cây dứa đầy gai nhọn, bên cạnh đống gạch đổ vụn, ông viết một bài thơ nhớ về những người bạn thuở thiếu thời của mình ở quê hương ”Núi Cú Hòn Bà”:

Nằm đây mà ngó lên trời
Lá cây dứa đã mấy đời đong đưa
Nằm đây mà nhớ mơ hồ
Những xanh tóc ấy bây giờ về đâu?

...

Đó là lúc ông đã vào tuổi bốn mươi. Rồi khi đến Ngãnh Tam Tân, nơi quê ngoại của ông, nơi ông đặt sẵn ngôi mộ cho chính mình, ông cảm khái nhìn ra biển xanh, núi biếc, với những hàng dương vi vút gió:

Em có đến... mà không anh đón tiếp
Cát mịn này sẽ mơn trớn gót chân em

Em có đến mà anh không đứng đợi
Biển khơi này sẽ thỏ thẻ chuyện đời anh


Phải rồi, cái quê hương nhỏ bé đó của ông, quê hương Núi Cú Hòn Bà (nay là Lagi- Hàm Tân), nơi mà từ thuở đôi mươi ông đã mang những lý tưởng độc lập tự do về gieo mầm ánh sáng, ông đã không bao giờ quên, mà những người thân yêu ở nơi chốn heo hút đó cũng đã không bao giờ quên ông.

Có một bài thơ khác của ông mà nhiều người cùng quê không mấy ai không nhớ:

Nhè nhẹ sương bông ôm núi lịm
Êm đềm cây cỏ đắm trong mơ
Tiếng chuông đâu bỗng run lòng đá
Ngó xuống trần ai, thấy: mịt mờ

(Từ chùa Núi Cú nhìn xuống Hòn Bà, 1964)


Thơ của ông có thể người ta thích, có thể người ta không thích, nhưng đọc thơ ông bao giờ cũng có một cảm giác rờn rợn. Ông làm thơ rất nhanh, thơ như tự túa ra, ứa ra, nhiều bài sần sùi đọc cứ nghe ấm ách nhưng có những bài mượt như nhung. Đọc thơ ông mà hiểu ông thì thấy thương, thương một con người có chí, có lòng mà không sao đạt được những ước nguyện. Rồi thôi, rồi thành tro bụi như hai câu thơ viết sẵn cho đời mình:

Bao nhiêu chí trẻ rồi tro bụi
Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi


Ông và tôi có tình ruột rà, mẹ tôi và ông là hai chị em con cô cậu ruột. Có lần ông nói hồi tôi mới sinh, ông đã đưa võng và đọc thơ cho tôi nghe! Có lẽ vì vậy mà khi lớn lên, được sống gần gũi ông, tôi luôn được ông sẻ chia những bài thơ, bài văn ông mới viết cùng biết bao chuyện tâm tình không thể ngỏ cùng ai. Nhiều bài thơ ông chép vội trên mảnh giấy gói đồ, phong bì, bao thuốc lá... Nhiều đêm ông lên cơn, đến đập cửa nhà tôi lúc hai ba giờ sáng, đọc thơ cho tôi nghe rồi chửi ”cả và thiên hạ”. Sau đó ông tắm táp, ăn uống chút gì đó rồi khệ nệ ôm một chồng sách ra đi. Trời can cũng không nổi! Hỏi đi đâu, ông nói không biết. Rồi có hôm nghe ông nằm giữa xa lộ Biên Hòa cho xe Mỹ cán, họ bắt ông chở thẳng vào Dưỡng trí viện, hôm khác lại nghe ông bắt đom đóm bọc trong khăn tay làm đèn đi giữa giờ giới nghiêm trong rừng cao su, cũng lại bị bắt đưa vào bệnh viện. Có lần tôi đến thăm ông trong Dưỡng trí viện, thấy ông ngủ say như chết, đưa mấy ngón chân giao chỉ to bè ra ngoáy xoắn vào nhau như tìm hơi ấm, tôi vẽ ngay một bữa ký họa, ông thích lắm nhưng đã làm mất tiêu. Có lần tôi đưa ông vào bệnh viện Chợ Quán, người ta sốc điện cho ông, ông giựt đùng đùng như con cá nằm trên thớt. Sau đó ông bất tỉnh, xụi lơ, tay chân quặt quẹo sùi bọt mép... Rồi khi tỉnh dậy, ông lại làm những bài thơ quái dị, nhiều bài rất hay.

Đọc thơ ông mà thương cho một kiếp người tài hoa, bất đắc chí.

Đỗ Nghê









Làm rõ vài chi tiết về Nguiễn Ngu Í



Gần đây tôi được đọc bài viết “Gặp Nguyễn Ngu Í và Bùi Giáng trong nhà thương điên” trên một trang Web của các bạn Việt kiều ở Ý, thấy có mấy chỗ sai, cần đính chính.

1) Nguyễn Hữu Ngư ( 1921-1979), nhà văn, nhà báo có nhiều bút danh trong đó bút danh Nguiễn Ngu Í ( với I cụt) được nhiều người biết với lọat bài phỏng vấn văn nghệ sĩ rất nổi tiếng trên báo Bách Khoa thập niên 60 tại Sài gòn. (Ông còn có các bút danh như Ngê Bá Lí, Tân Fong Hiệb, Trần Hồng Hừng, Phạm Hòan Mĩ…). Ông có lối viết tiếng Việt rất đặc biệt, rất riêng, gây ít nhiều tranh cãi, ít nhiều khó chịu cho người đọc, nhưng vẫn có cái lý riêng của ông. Thí dụ ông thấy không hợp lý khi ta viết NGA, nhưng lại NGHE (ông sửa lại NGE), GA nhưng GHE (ông sửa lại GE…). Mẹ ông họ Nghê, tên Mỹ,(Nghê Thị Mỹ) ở Tam Tân (Tân Tiến, Thị xã Lagi, Bình Thuận), sau dời về Phong Điền và Hiệp Nghĩa, nay thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Cha ông là nhà giáo Nguyễn Hữu Hoàn gốc Hà Tĩnh, có tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (trong cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục của Nguyễn Hiến Lê có nhắc đến). Cho nên ta thấy bút danh ông có khi là Ngê Bá Lí, Tân Fong Hiệb, Phạm Hoàn Mĩ…


2) Bài viết “ Gặp Nguyễn Ngu Í và Bùi Giáng trong nhà thương điện” nói trên… ghi ông là “nhà báo nông chuyên nghiệp” là không đúng. Ông thường ghi trong danh thiếp: “nhà văn, nhà jáo, nhà báo kông chuiên ngiệb” (tức nhà báo không chuyên nghiệp).

3) Bài viết cũng ghi ông muốn tái bản cuốn “Sống vô vi” của ông là không đúng. Ông không hề có cuốn sách nào có tên là “Sống vô vi” cả! Một trong những cuốn sách đã xuất bản khá nổi tiếng của ông là “ Sống và Viết với…” tập hợp các bài phỏng vấn đăng trên báo Bách Khoa (Lê Ngộ Châu), trong đó có Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Đông Hồ, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Hiến Lê, Hồ Hữu Tường, Sơn Nam, Doãn Quốc Sĩ… Ngoài tập “Sống và Viết với…”, ông còn hai tập bản thảo là “Sống và Vẽ với…”, phỏng vấn các họa sĩ nổi danh đương thời, và “Sống và Đàn với…”, phỏng vấn các nhạc sĩ. Cả hai chưa được xuất bản. (Cách đặt tựa sách của ông cũng rất lạ!).

4) Trong thời gian nằm Dưỡng trí viện Biên Hòa (nay là bệnh viện Tâm thần Đồng Nai), ông cùng các “bạn điên” có ra một tập thơ, lấy tên là “Thơ điên thứ thiệt” rất thú vị, do ông làm Chủ biên. Trong tập thơ có vài bài thơ của Bùi Giáng. Thời đó, ngoài thuốc men, các bác sĩ ở Dưỡng trí viện Biên Hòa còn khuyến khích bệnh nhân làm thơ, vẽ tranh, đánh cờ, lao động tay chân v.v… như một liệu pháp chữa trị tâm bệnh. Khi được hỏi vì sao gọi là “Thơ điên thứ thiệt”, thì ông cười bảo vì lúc này có nhiều người làm thơ giả điên quá! Cho nên ông bảo đảm thơ của ông và các bạn ở Dưỡng trí viện Biên Hòa là “thứ thiệt”!

5) Nguyễn Hữu Ngư (Nguiễn Ngu Í) là một nhà báo, nhà văn, nhà thơ có tài, tác giả tập “Có những bài thơ…” do Nxb Trí Đăng, Saigon 1972 xuật bản, cũng là một trường hợp hy hữu: có ruột mà không có bìa!. Ông là bạn cùng lớp, cùng trường Pétrus Ký với Trần văn Khê, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng… Sau này, gia đình có làm một tập tư liệu về ông- do gia đình và bạn bè viết- rất cảm động Ngu Í Nguyễn Hữu Ngư, qua ký ức người thânn. Tác phẩm này chưa đựơc xuất bản, do bà Nguyễn Thị Thoại Dung, vợ ông, cùng gia đình thực hiện (1996).

Mẹ tôi và ông là chị em cô cậu ruột. Tôi gọi ông bằng cậu. Rất gần gũi, thân thiết. Những điều tôi đựơc biết về ông- với tư cách là người trong gia đình- đã được trình bày ở phần trên, để làm rõ thêm vài chi tiết.

Đỗ Hồng Ngọc














Những Chi Tiết Mới Về Văn Học Qua Phỏng Vấn Của Nguyễn Ngu Í











Trở về








MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nh

















Thursday, 28 September 2017

Tạ Duy Anh
















Tạ Duy Anh


Tên khai sinh: Tạ Việt Dũng
Tạ Viết Đãng ?
(1959 - ......)
bút danh khác: Lão Tạ, Chu Quý, Quý Anh, Bình Tâm.

Nhà văn













Tôi biết và luôn nhớ mình có hai bàn tay
Hà Nội 19/02/2019












Tiểu sử

Nguyên tên khai sinh của ông là Tạ Việt Dũng, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1959. Quê ông ở thôn Cổ Hiền, xã Hoàng Việt, huyện Chương Mỹ, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

Ông từng làm cán bộ giám sát chất lượng bê tông ở Nhà máy thủy điện Hòa Bình, trung sĩ bộ binh ở Lào Cai. Sau đó Tạ Duy Anh tham gia học ở Trường viết văn Nguyễn Du. Trải qua 4 năm học, ông đỗ đầu và được giữ lại làm giảng viên. Hiện ông là biên tập viên tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Tạ Duy Anh trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1993.





















Tác phẩm mới nhất







YÊN TÂM

Đó là cảm giác của tôi khi gập lại trang cuối của cuốn sách này, ĐẤT MỒ CÔI, của Cổ Viên- Tạ Duy Anh. Tôi đã đọc rất từ từ, đọc kỹ, không hẳn là do vốn mình hâm mộ Lao Ta từ khi chưa biết mặt. Mà thực ra từ khá lâu, tôi cũng đã nhen nhóm ý nghĩ có lẽ mình sẽ phải viết một cuốn tiểu thuyết về cái thời kỳ bi thương, khốn nạn bậc nhất của dân Việt, thời CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT...
Tôi cũng đã âm thầm đi hỏi chuyện và thu thập tư liệu. Những gì tôi nghe được rùng rợn hơn trí tưởng tượng rất nhiều.
Tôi đang dằn vặt giữa sẽ viết theo kiểu gì: hư cấu hay không hư cấu ( fiction or nonfiction?)
Bởi viết một cuốn sách về thời kỳ này mà để vượt qua được lưới kiểm duyệt, đến với đông đảo công chúng trong thời điểm này là điều cực kỳ khó khăn. Nhưng nếu in những cuốn sách chỉ có một phần sự thật thôi thì tôi lại không muốn. Vậy nên chỉ còn chọn cách viết tiểu thuyết thông thường, nghĩa là hư cấu ở một góc độ nào đó, nhưng vẫn cố gắng phản ánh được hiện thực, tâm trạng xã hội lúc đó thông qua hành động, diễn biến tâm lý của nhân vật mà thôi...
Tôi đã tâm niệm thế, trước khi đọc cuốn ĐẤT MỒ CÔI. Tôi đặt mua từ bạn Sao Mai về, và đọc lướt qua rất nhanh xem như thế nào. Và tôi quyết định đọc lại, thật chậm rãi, kỹ càng. Tôi có một thói quen: sách mua, sách được bạn bè tặng, đều đọc qua một lần rất nhanh. Xem có gì đáng chú ý thì sẽ đọc kỹ, chậm lại lần nữa, để tìm hiểu sâu hơn về nghệ thuật và ý đồ của tác giả. Và giải trí nữa, dĩ nhiên...
Tôi không bàn về văn phong hay kết cấu cùng cách dựng truyện của tác giả, từ những câu chuyện đau đớn, tàn bạo, ác nghiệt vốn tràn trề trên cái mảnh đất này. Bởi tôi không phải là những nhà lý luận phê bình. Việc đó dành cho các quý vị.
Tôi cũng không bàn sâu về nội dung, về sự mổ xẻ đến tận cùng, về cách đẩy sự việc đến tới hạn mức mà nhiều khi người đọc thông thường sẽ cảm thấy choáng váng. Thậm chí tới mức không tiếp nhận được. Điều này là tùy từng người đọc cảm nhận ra sao, các bạn hãy tự mình làm việc đó. Tự mình cảm nhận những nỗi đau của nhân vật, sự bất hạnh của đồng bào mình trên dải đất này mấy chục năm qua: cắn xé, chém giết, ăn gan uống máu lẫn nhau...rốt cục, vì cái gì? Và bật ra câu hỏi vô cùng đau đớn: để làm gì???
Tôi chỉ muốn nói về cảm nhận của mình, với tư cách của người đọc, chứ không phải là của một bạn văn.
Bởi tôi biết, cải cách ruộng đất là một đề tài đã có nhiều người viết. Nhưng khi Bảo tàng lịch sử Việt Nam tổ chức một cuộc triển lãm về chuyên đề này, được vài hôm, đã nhanh chóng bị các cấp dẹp đi: họ vẫn chưa chịu đựng và chưa nhìn thẳng nổi vào cái sự thật khốc liệt: cuộc cải cách ruộng đất là một cuộc tàn phá dã man toàn bộ hạ tầng kinh tế, văn hóa, con người nước Việt. Nó giáng một đòn trí mạng, gây nên một cú đứt gãy khủng khiếp trong quá trình phát triển của dân tộc! Những người cầm quyền hiện nay, tuy không phải chịu trách nhiệm về điều đó, nhưng họ vẫn chưa dám hay chưa đủ can đảm nhìn thẳng vào sự thật mà những người tiền bối gây ra.
Thế nên tôi hoàn toàn đồng tình với cách viết hiện thực hư cấu của Tạ Duy Anh. Vẫn đủ để chúng ta nhận ra đâu là hình ảnh của những nhân vật là nạn nhân nổi tiếng và ai là thủ phạm tiêu biểu trong câu chuyện bi kịch này. Hình ảnh đau thương của dân tộc này, đồng bào này hiện lên ngồn ngộn, đau đớn, bi thiết, phẫn uất... đầy đủ trong số phận của một gia tộc xuyên suốt từ cụ cố, ông nội, cha, và tôi- người kể chuyện...
Đọc xong cuốn sách đến trang cuối cùng, tôi YÊN TÂM thanh thản gập sách lại. Ông bạn văn Tạ Duy Anh đã làm một công việc quá xuất sắc: trả món nợ chung của giới cầm bút về sự kiện bi thảm CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT bằng việc cho ra đời tiểu thuyết ĐẤT MỒ CÔI! Tôi nghĩ mình không còn phải lăn tăn nghĩ ngợi gì về đề tài này nữa, Tạ Duy Anh đã đóng đinh cho cái sự việc bi thảm này rồi, mình sẽ tập trung trí lực quan tâm những đề tài khác, vốn cũng đang đầy rẫy và ngồn ngộn trong hiện thực cuộc sống quanh ta. Đang kêu gào đòi các nhà văn phải viết!
Sau này, rất có thể còn có những cuốn tiểu thuyết ở dạng phi hư cấu- tiểu thuyết tư liệu, về thời kỳ này ra đời. Nhưng hiện thời vẫn chưa phải lúc. Nhưng bây giờ đọc ĐẤT MỒ CÔI, ta cũng đủ để cảm nhận hết một thời khốn nạn, ngu si, tàn ác...của chính chúng ta, bị lột trần ra dưới ngòi bút sắc lạnh của nhà văn. Tôi cảm nghĩ thế cũng đủ rồi!

Ps: có bạn nói, ĐẤT MỒ CÔI mang âm hưởng BÁU VẬT CỦA ĐỜI, dĩ nhiên là vậy: hiện thực cải cách ruộng đất nó chả phải là sự phóng chiếu, là mô hình, là dập khuôn...từ Tàu sang sao? Hai cuốn sách cùng phản ánh về cái sự bi thảm gần giống nhau của hai nước, cái sự giông giống nào đó nhau là lẽ dĩ nhiên thôi.
Có bạn công khai chỉ trích và không thích cuốn sách này: cũng bình thường thôi, sách, suy cho cùng cũng như một món ăn, như mắm tôm chẳng hạn: có người mê mẩn, nhưng có người bịt mũi quay đi! Với nhà văn, đặc biệt những người như Tạ Duy Anh, thường không vì sự khen chê mà ảnh hưởng, bởi đơn giản họ chỉ làm công việc của mình, chỉ quan tâm đến việc viết được ra mà thôi!

Trần Thanh Cảnh















Đình chỉ phát hành sách mới của Tạ Duy Anh




Mối Chúa
(với bút danh Đãng Khấu)



Đình chỉ phát hành sách mới của Tạ Duy Anh vì đen tối, u ám
Cục Xuất bản, In và Phát hành đánh giá tiểu thuyết "Mối chúa" của Tạ Duy Anh (bút danh Đãng Khấu) có nội dung tiêu cực.

Cục Xuất bản, In và Phát hành vừa yêu cầu Nhà xuất bản Hội Nhà văn đình chỉ phát hành cuốn sách để thẩm định nội dung, có ý kiến của cơ quan chủ quản. Văn bản báo cáo kết quả thẩm định gửi về Cục trước ngày 29/9.

Trước đó, trong công văn do Cục Xuất bản, In và Phát hành ban hành ngày 13/9, Cục nhận xét cuốn Mối chúa đã vạch trần những tiêu cực và bất công trong xã hội. Tuy nhiên, phần lớn nhân vật trong tác phẩm từ thấp đến cao đều đen tối, vô vọng, đau đớn. Qua lời kể của các nhân vật, sách miêu tả một xã hội hầu như chỉ được chỉ huy bởi những kẻ ngu dốt, tham lam, thủ đoạn....

Ngoài ra, Cục cũng cho rằng một số chi tiết trong sách được viết với giọng điệu giễu nhại sâu cay, miêu tả tiêu cực, có phần tô đậm khiến cho hiện thực trở nên u ám.

Mối chúa do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Công ty cổ phần Văn hóa Truyền thông Nhã Nam thực hiện. Theo Công ty cổ phần Văn hóa Truyền thông Nhã Nam, sách tái hiện những vấn đề nóng bỏng của xã hội đương thời: công nghiệp hóa và sự tan vỡ của nông thôn, hình ảnh những bố già quyền lực, thế lực bóng tối, lòng tham và sự bất chấp pháp luật, đạo lý, thân phận của những người nông dân thấp cổ bé họng…



Tạ Duy Anh tên thật là Tạ Viết Đãng, sinh năm 1959 ở Chương Mỹ, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Ông từng xuất bản nhiều tác phẩm như Lão Khổ, Bước qua lời nguyền, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối... Hiện ông là biên tập viên Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

















Tác phẩm đã in












1
Bến Thời Gian
Truyện ngắn
Gã và Nàng








3
Bố Cục Hoàn Hảo









4
Ngày Hội Cuối Cùng






5
Quả Trứng Vàng








6
Ba Đào Ký










7
Truyện Ngắn Chọn Lọc Tạ Duy Anh









8
Đi tìm nhân vật
(tiểu thuyết)

Từng được cấp giấy phép xuất bản năm 2002 của Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, nhưng sau đó vừa ra đã bị cấm phát hành vì bị nhiều ý kiến phê phán thái độ tiếp cận, mô tả đời sống xã hội của tác giả. Bây giờ, trong không khí đổi mới của 15 năm sau, cuốn sách lại được tái bản trở lại.[1]

http://lmvn.com/truyen/index.php?func=viewpost&id=Zcz26iN2Yk2j17Lpa9DLc5GX02dv5phU









9

10
Những Truyện Không Phải Trong Mơ
(truyện vừa)









11
Bức tranh của em gái tôi
(truyện ngắn thiếu nhi)






12
Dưới Bàn Tay Vô Hình
(tự truyện)





13
Vó Ngựa Trở Về





14
Con Dế Ma








15
Bước Qua Lời Nguyền
(tiểu thuyết)











16
Những Giấc Mơ Của Tôi












17
Lão Khổ
Tiểu Thuyết








18
Xưa kia chị đẹp nhất làng
19
Đối thủ còi cọc










20
Làng Quê Đang Biến Mất
Bình luận xã hội









21
Trò Đùa Của Số Phận
Kịch và tiểu thuyết







22
Giã Biệt Bóng Tối








23
Lãng Du








24
Sinh Ra Để Chết




















Giải thưởng

Giải truyện ngắn nông thôn báo Văn nghệ, báo Nông nghiệp và Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức

Giải C cuộc thi truyện ngắn năm 1989-1990 của tạp chí Văn nghệ Quân đội với tác phẩm Xưa kia chị đẹp nhất làng

Giải nhì trong cuộc thi viết "Tương lai vẫy gọi" của báo Thiếu niên Tiền phong cho câu truyện ngắn "Bức tranh của em gái tôi"

Hai giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng cho hai tập truyện: Quả trứng vàng và Vó ngựa trở về

Giải thưởng văn học Thủ đô 2012 cho tập truyện ngắn Lãng du.














Tham khảo thêm về nhà văn Tạ Duy Anh
















Thụy Khuê
Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật


Tạ Duy Anh tên thật là Tạ Việt Dũng, sinh ngày 9/9/1959 tại xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Ðông, đã trải qua những thời kỳ nhập ngũ, giải ngũ, làm việc tại công trường thủy điện Hòa Bình và từ đó bắt đầu viết văn. Theo học trường viết văn Nguyễn Du, tốt nghiệp khóa IV, làm cán bộ giảng dạy tại trường. Tạ Duy Anh là hội viên Hội Nhà Văn từ 1993.

    Mười năm, kể từ truyện ngắn Bước qua lời nguyền viết tại Sông Ðà tháng 4 năm 1989, đến truyện dài Lão Khổ (1992) rồi tiểu thuyết Ði tìm nhân vật (hoàn tất năm 1999). Mười năm, Tạ Duy Anh đã phát triển hai luận đề chính trong tiểu thuyết của mình: lời nguyền và tội ác, qua những hướng khác nhau trong bút pháp cũng như trong cách biến thiên nhân vật. Từ lối viết hiện thực phê phán xã hội trong hai tác phẩm đầu, nhà văn đã đạt được lối viết đa âm trong tiểu thuyết mới nhất: Ði tìm nhân vật (Nxb. Văn Hóa Dân Tộc, 2002, Tiếng Quê Hương tái bản ại Hoa Kỳ, 2003), tác phẩm bị khai trừ khỏi dư luận báo chí và văn học ở Việt Nam, cùng với hồi ký Nhớ lại của Ðào Xuân Quý, khi vừa ra đời.

    Bước qua lời nguyền làm nổi danh tác giả ngay khi được đăng trên báo Văn Nghệ, tháng 11 năm 1989. Tác phẩm xác định một ngòi bút hiện thực sắc sảo, can đảm nhìn lại quá khứ đớn đau của mình, của một thế hệ lớn lên trong hai lớp hận thù: hận thù dòng họ và hận thù giai cấp.
    Một thằng bé muốn bước qua lời nguyền để bênh vực một con bé, lớn lên chúng muốn vượt qua thù hận để bảo vệ tình yêu. Bước qua lời nguyền đánh dấu giai đoạn cuối của thời kỳ đổi mới, nó nằm trong một toàn bộ rộng lớn hơn: khuynh hướng văn học đấu tranh phê phán xã hội, duyệt lại những sai lầm quá khứ, như Những thiên đường mù của Dương Thu Hương, Mảnh đất lắm người nhiều macủa Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng...

    Sau Bước qua lời nguyền, Tạ Duy Anh mở rộng chủ đề "thù hận" hơn nữa trong tiểu thuyết Lão Khổ. Lão Khổ tên thực là Tạ Khổ, bần cố nông chính hiệu, lão cũng sinh ở làng Ðồng như những nhân vật chính của Bước qua lời nguyền và Ði tìm nhân vật. Lão đã đắc lực xây dựng nên cái khổ của mình. Tên lão, là bản chất lão, là con đẻ cái guồng máy mà lão là nguyên nhân tạo dựng, để sau này nó nghiền nát lão.
    Chủ đề thứ hai trong tiểu thuyết Lão Khổ, cũng như trong Ði tìm nhân vật, là sự điều tra tội ác để tìm ra gốc gác những khổ đau của con người. Ðiều tra về những cái chết, những cách chết. Ðiều tra về những lời nguyền, nguyên do nào đã đưa đến những hận thù dòng họ, tiếp sức cho hận thù đấu tranh giai cấp? Căm thù đến từ đâu? Bắt rễ như thế nào? Dinh dưỡng ra sao? Tại sao nó bành trướng và tươi tốt trong khi con người, hết thế hệ này đến thế hệ khác đều tàn tạ gục ngã dưới những cái chết khác nhau, hệ quả của tội ác và trừng phạt.
*

    Ảnh hưởng Dostoievski, Tạ Duy Anh ngày càng đào sâu những vực thẳm của tội lỗi, tìm hiểu những biến thể của tội ác, thăm dò từng nguồn phát sinh để thử trả lời câu hỏi: tại sao nó thế này mà không thế kia?
    Lão Khổ vẫn giữ bút pháp hiện thực cổ điển, Ði tìm nhân vật đã biến chuyển nhiều để tạo ra một hiện thực mới, mà ký ức, hồi ức không còn thụ động, không còn bất động trong mỗi trở về. Trong Ði tìm nhân vật, mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết đều đưa đến những nghi vấn: Ký ức ư? Có phải thế không? Hay chỉ là "lầm lẫn", hay chỉ là tin tức một chiều? Ký ức có trung thành không? Tại sao tôi nhớ cái này mà không nhớ cái kia? Ký ức có thể phản bội vì sự lựa lọc rất đáng ngờ trong "bộ nhớ" của nó.
    Sự nghi ngờ trở thành bạn đồng hành của tác giả, vì vậy độc giả luôn luôn bị đánh động: phải coi chừng, những điều tay ấy kể, có thể rất láo lếu. Tính chất đa âm đến từ đó: ai cũng nói và ai cũng có thể gian, cuộc điều tra sự thật không bao giờ chấm dứt. Tác giả muốn đưa ra một câu hỏi độc đáo, đảo ngược mọi vấn đề, mọi xác định: Tôi là ai? Ai là tôi?
    Bất cứ một sự kiện nào dù đã xẩy ra một cách nhỡn tiền, chỉ mấy phút sau nó sẽ bị trùm lên một đống hỏa mù của dư luận. Dư luận cộng đồng là thứ ám khí lợi hại nhất để xóa bỏ vết tích sự thật, nó là mẹ đẻ của thất thiệt, là máy chế tạo huyền thoại. Một vụ án mạng ư? Có một kẻ đi điều tra ư? Chỉ một vài khắc sau, trên miệng dư luận hàng phố: kẻ điều tra có thể biến thành kẻ gây án mạng. Tính chất lật lọng của đám đông, của cộng đồng đã được Tạ Duy Anh mổ xẻ triệt để. Những guồng máy dựa trên cộng đồng để triệt hạ cá nhân, đã gián tiếp được tác giả điểm chỉ tuy không nêu đích danh.
    Con người, với bản chất ích kỷ, thờ ơ, thường ngoảnh mặt quay đi, "không dính" vào những vụ việc lôi thôi, có thể gây phiền hà cho mình, nhưng vẫn hắn, con người còn vụ lợi, lèm bèm, ưa nói xấu, nên cũng sẵn sàng bôi nhọ, phết hồ vào những điều hắn biết hoặc không biết, vì sợ sệt, vì quyền lợi, vì vô tình, vì ác ý, ... vì tất cả những lý do có thể mường tượng được. Cho nên, anh có thể là anh, mà cũng có thể là người khác. Không ai nhận diện được ai, không ai tự nhận diện được mình, trong cái "cộng đồng" bát nháo mà dối trá, thành thực, đạo đức, tội lỗi... quay cuồng và tiêu diệt lẫn nhau. Tạ Duy Anh muốn kín đáo vạch mặt cái bản chất "cộng đồng" vô trách nhiệm, đầy ám hiệu và phản trắc ấy.
*

    Ði tìm nhân vật mở đầu như một tiểu thuyết trinh thám: Một kẻ tình cờ vớ được mẩu báo, vỏn vẹn mấy hàng: "Nạn nhân là thằng bé đánh giầy, quãng 10-12 tuổi bị một gã đàn ông đâm chết ngay tại chỗ. Hung thủ được tạm mô tả như kẻ mắc chứng thần kinh, ăn mặc sang trọng. Việc truy bắt đang được tiến hành ráo riết."(trang 6)
    Kẻ đang đọc những dòng chữ ấy là tôi, nhân vật chính  trong truyện. Sau này, được biết tôi tên là Chu Quý. Cái tên Chu Quý chỉ được nhắc đến vài lần trong suốt hơn ba trăm trang truyện. Chu Quý tình cờ đọc được mẩu báo, bèn quyết định đi ? Nhập đề rơi ngay vào trường hợp: nhị trùng, tam trùng, tứ trùng... nhân cách mà kẻ đi tìm chính là kẻ bị tìm. Một sự tìm mình, tìm kiếm bản thân. Tôi lùng tôi: Tôi là ai? Tôi là hắn? Hắn "giết" tôi? Tôi đi tìm hắn?
    Những nghi vấn đầu tiên này đã là một bước ngoặt đặt ra cho tiểu thuyết: đi từ xác định đến hoài nghi, đẩy người đọc vào tình trạng: không thể có một sự đọc mà có nhiều sự đọc. Và đó là cái bẫy của tác giả: Tất cả những vấn đề mà "tôi" đặt ra ở đây, đều bất trắc, đều nhiều nghĩa, đều không có gì xác định cả, đến cả nhân vật "chính" cũng không chắc gì đã là một. Nếu bạn chấp nhận một sự "lập lờ" như vậy, thì hãy tiếp tục đi vào tác phẩm, tìm nhân vật. Con đường tìm kiếm này đầy dẫy những câu hỏi như: Hắn là ai? Tại sao hắn lại hành động như vậy? Chiến tranh là gì? Nguyên nhân nào đã dẫn đến những hậu quả như vậy? Cái ác ở đâu mà ra? Tại sao người ta chết? Tại sao người ta giết người? Cái mà Chu Quý gọi là hắn, được trình diện như sau: "Hồi đó hắn xuất hiện trước mắt tôi như một khối đen khổng lồ. Từ cái buổi tối định mệnh ấy, tuổi thơ của tôi vĩnh viễn bị chôn sống. Tôi thấy cha tôi bị cùm giải đi." (trang 41)
    "Tôi chưa bao giờ nhìn vào tận mắt hắn. Sau khi lập mưu đẩy cha tôi vào tù, sau khi biến cha tôi thành thân tàn ma dại, đêm nào hắn cũng lảng vảng quanh nhà tôi khiến cha tôi suy sụp rất nhanh và chết âm thầm trong bóng tối." (trang 161)
    "Có thể là hắn, dưới bộ mặt khác, đã hạ sát thằng bé đánh giầy." (trang 38)
*

    Chân dung vô hình của hắn, như những mảnh puzzle trải dài trong tác phẩm, chỗ chìm, chỗ nổi, chúng mang những mặt nạ khác nhau. Ở trường hợp gã thợ săn, bắn chết người, bị bắt, bị kết án tử hình; khi nghe tuyên án, gã gào lên thê thảm, gã vạch mặt, chỉ tên hắn: "Tôi không có một chút ý muốn giết người. Hắn đã chọn tôi để trốn tội. Trong vụ này hắn đã thắng tất cả chúng ta" (trang 33). Gã nhận mình là thủ phạm, nhưng cố cãi:
    "Tôi không là thủ phạm duy nhất. Tôi hoàn toàn không có ý định giết người... Hắn, một kẻ vô hình, nhưng có mặt ở khắp nơi, ở bất cứ chỗ nào con người có sự ganh ghét  thù hận, đã biến tôi thành công cụ của hắn." (trang 34-35)
    Nhưng khi người ta cho phép gã "được dùng bằng chứng để gỡ tội thì gã chỉ còn biết câm lặng" (trang 34). Gã thợ săn không có bằng chứng. Gã biết gã được hiệp săn chỉ định việc giết người nhưng không biết ngón tay chỉ là ai. Của ai? Nó vô hình, nó là đêm tối.

    Người anh của Chu Quý, tiến sĩ N, cũng đã gặp ngón tay chỉ  đạo ấy trong chiến tranh. Trong một hoàn cảnh cực kỳ tuyệt vọng, tiến sĩ N, nộp đơn tình nguyện vào Nam chiến đấu. "Không một ai hồi đó hiểu được động cơ nhập ngũ của tôi. Tôi quyết định tìm kiếm một cái chết." (trang 127). Trớ trêu của hoàn cảnh, N không chết. Nhưng qua những cái chết mà anh mục kích hoặc anh là tác giả, N khám phá được bản chất và thủ phạm chiến tranh: "Chiến tranh là cơ hội giết người tốt nhất. Khi đạn đã lên nòng rồi thì nó phải tìm ai đó để găm vào thì mới hợp logic. Mình phải tưởng tượng ra những kẻ mình sắp giết là bọn quỷ. Ngón tay trỏ của mình đã bắt đầu tê cứng và nó sẽ cho mình ảo giác là mình không điều khiển được nó. Mọi sự do nó quyết định [...] Ai đó từng bảo rằng, không có đàn ông sẽ không có chiến tranh. Mình sẽ cải chính chỉ cần bọn đàn ông đừng có ngón tay trỏ. Tại sao lại gọi là ngón tay trỏ. Nó dùng để trỏ đường cho ai đó. Nó là vật cụ thể hóa ý nghĩ, ý tưởng đầu tiên. Nhưng ở chiến trường phải gọi nó là ngón tay giết người mới đúng." (trang 134)

    Ngón tay trỏ ở đây, có hình mà không hồn; nó cũng là một loài đêm tối, nó cũng thay hình đổi dạng, nó luôn luôn thay đổi hành tung: Nay là hiệp săn, mai là tổ chức, mốt là guồng máy, có lúc nó là chính nghĩa, có nó nơi là tổ quốc, ... nó như con bạch tuộc nhiều đầu, nó là ... hắn: "Không phải vô cớ mà tôi chuyên đi điều tra về những cái chết. Thực ra vẫn là cuộc truy tìm hắn mà tôi lao vào một cách tuyệt vọng. Có lúc tưởng như tôi đã vẽ được chân dung hắn. Có lúc hắn đã ở trong tầm tay của tôi. Có lúc hắn bị tôi phù phép cho thất điên bát đảo để lộ nguyên hình. Nhưng có lúc hắn biến hóa khôn lường, trở lại ghế phán xét hoặc bảnh bao dưới một chân dung khả ái." (trang 33)

    Muốn theo dõi cuộc truy lùng này, phải lộn ngược về tuổi thơ của Chu Quý. "Tôi không thể nào quên ngày cha tôi bị dẫn đi. Cha tôi mảnh khảnh như một nho sinh, vì thế tôi có cảm giác cơ thể ông bị bẻ nát vụn dưới sức mạnh của mấy gã dân quân [...] sau khi cha quay đi, tôi gào lên hỏi mẹ vì sao cha chịu để người ta trói một cách dễ dàng rồi dắt đi như dắt trâu, liền bị mẹ tôi bịt miệng lại: "Thôi nào, mẹ xin con!" [...]
    Ðiệp khúc mẹ xin con! ăn sâu vào ký ức tôi đến nỗi nó thường vang lên như là "khúc dạo đầu bi tráng" mỗi khi tôi thử tìm cách giải mã những số bí mật của quá khứ."
 (trang 41)
*

    Từ bi kịch này, Chu Quý bước vào đời. Ðó là một cuộc đời hai mặt, mặt hiện thực, va chạm với đời sống hàng ngày của kẻ mang nhiều căn cước: công an, nhà báo, thám tử, điều tra về những cái chết. Ở mặt này, Chu Quý luôn luôn bị lùa vào bẫy: chẳng ai cho hắn một tin tức gì khả dĩ có thể giúp hắn truy lùng được thủ phạm. Không những thế, "cộng đồng" còn trùm lấp lên sự thật -nếu có một cái được gọi là sự thật- bằng nhiều thứ hỏa mù cạm bẫy: của xác thịt, của tiền bạc, của mánh mung, của ham muốn, của đút lót, của đe dọa, của vô tình ..., những tội ác không để lại chứng từ, có thể giết người nhưng không thấy xác, những loại hung thủ vô hình và vô định, chúng cũng là những ... hắn.
    Ngoài cuộc sống nổi, Chu Quý còn cuộc sống chìm: nội tâm. Nội tâm khắt khe, khốc liệt với hắn. Bắt hắn triệt thoái về quá khứ để truy lùng tội ác của chính mình. Tại sao hắn lại hãm hiếp người con gái ấy? Tại sao hắn lại bị liệt dương? Tại sao hắn lại tàn phế, bệnh tật như ngày nay?
    Giữa hai cuộc bố ráp này lộ ra những bộ mặt, những con người đã xây dựng nên màng lưới xã hội: Từ trí thức, nhà văn, bộ đội đến gái điếm, ma cô ... mỗi nhân vật đều có những ẩn mật của đời mình.
    Tiến sĩ N, người anh sinh đôi của Chu Quý, đưa ra một thoại khác về người cha: Vì linh cảm trước thời thế và số mệnh của mình, cho nên ông đã tách rời hai đứa con, N và Chu Quý, từ lúc lọt lòng. Chu Quý được một gia đình khác nuôi nấng. Quả nhiên sau đó người cha bị mắc nạn, bị xử treo cổ hai lần, một lần còn sống và một lần đã chết: "Treo cổ lần thứ hai, sợi dây lút qua lớp thịt đã thối vào tận xương, để cha tôi biết rõ tội trạng mình, do một chị mắt toét vừa bịt mũi vừa đánh vần bản tuyên án." (trang 122)

    Chưa nói về hai anh em "sinh đôi" đã là một trường hợp nhị trùng nhân cách, ngay về người cha, cũng đã "nhân đôi": bố của N chết khác bố của Chu Quý. Vậy họ có một bố hay hai bố? Chu Quý có một bố nuôi và một bố ruột chăng? Cả hai đề bị xử tử? Hay chỉ là chuyện một người mà hai "bộ nhớ" của hai anh em khác nhau? Tiến sĩ N, có thể là bộ mặt thứ nhì của Chu Quý, vì cả hai "anh em" đều tiềm ẩn một chất "hắn", chất bóng tối, chất ma túy, đong đưa giữa giả và thật, giữa tội ác và trừng phạt. Chung quanh họ là những nhân vật đầy nghi vấn, vật vờ trên đường tìm mặt thật của chính mình, một hành trình không bao giờ tới đích: Ông Bân, nhà văn đi tìm nhân vật, là người duy nhất hình như đã tìm thấy: nhân vật của ông chính là Chu Quý, phản diện của bản thân ông.
    Ði tìm nhân vật gồm nhiều tiểu thuyết trong một tiểu thuyết, nhiều "tác giả" trong một tác giả, nhiều nhân vật trong một nhân vật. Trong những "nhân vậy" ấy, Thảo Miên bước ra từ giấc ngủ, một thứ Lolita ngơ ngác, thất lạc trong cuộc đời. Thảo Miên "thành người" từ khi được mục kích những thác loạn dục tình của mẹ. Nàng lao vào vùng cấm địa của "tội lỗi", với bề ngoài băng trinh; Thảo Miên như một tiên nữ sa lầy mà Chu Quý tìm cách giải thoát để xây dựng một tình yêu tuyệt vời, thánh thiện, để có thể tin rằng: ngoài tất cả những xấu xa tàn mạt, con người vẫn còn có tình yêu.
    Nhưng rồi đến cả Thảo Miên cũng chưa chắc là có thật, hay chỉ là giấc ngủ dài, giấc mộng triền miên của Chu Quý, kẻ lạc đường, kẻ vướng sa lầy chưa bao giờ tỉnh mộng?
*

    Những nhân vật của Tạ Duy Anh qua ba tác phẩm, từ hơn mười năm nay, vẫn gắn bó mật thiết với nhau trong một tương quan chặt chẽ: họ hàng, làng nước. Họ xuất thân cùng ở làng Ðồng, họ cùng tiềm ẩn hận thù dòng họ, hận thù giai cấp. Nhưng mỗi tác phẩm có một thực tại khác, một lối viết khác. Những tác phẩm đến sau, dường như chỉ là để "viết lại" các "chuyện" trước một cách mới hơn, mở hơn, kỹ hơn, rốt ráo hơn, nghệ thuật hơn. Ở Tạ Duy Anh, tội ác và trừng phạt nhen nhúm từ căn nguyên: Các hình thức "tội ác" nếu không bắt nguồn từ văn hóa, chính trị, thì ít ra nó cũng được nuôi dưỡng bằng văn hóa chính trị. Chính những truyện cổ tích đã có mầm mống vinh thăng tội ác, ca tụng việc ác giả ác báo, mà Tấm Cám là một ví dụ. Trong những truyện Rùa chạy thi với thỏ hoặc Trí khôn của ta đây, sự lừa bịp được xưng tụng như một thứ "trí khôn" của người Việt. Ở Mỵ Châu Trọng Thủy, tình yêu bị chính nghĩa xử tử. Ðó là những yếu tố thuộc vào "kho tàng" được gọi là "bản sắc dân tộc" mà chúng ta giữ gìn, bảo vệ: chúng đã tố cáo bản sắc thật của người Việt, qua văn hóa.
    Về mặt chính trị, người ta không ngừng tích cực "hiện đại hóa" bộ mặt văn hóa cổ tích đáng sợ ấy trong các chính sách cai trị: Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm, Sửa sai, chiến tranh ... như con đường hành xử chính đáng duy nhất. Chuyên chính (vô sản) và Tấm Cám là một cặp bài trùng: báo thù và quả báo.

    Tạ Duy Anh muốn đề nghị một lối thoát: Con đường bước qua những lời nguyền, bước qua sự trừng phạt, bước qua tội ác để tạo một viễn cảnh sống mà tình yêu không bị đánh đập, chôn vùi, tình yêu được ương mầm, vun vén để sinh sản, để cha truyền con nối.
    Ở Bước qua lời nguyền, tình yêu biểu hiện dưới nét Quý Anh, người con gái địa chủ bị dập vùi trong tai biến gia đình.
    Lão Khổ là một nhân vật đối diện với tòa án lương tâm: xuất thân bần cố, lão đã bị địa chủ hành hạ vì tư thù dòng họ. Rồi khi cờ đến tay, lão phất, lão trả thù, lão giết người, lão lên đến đỉnh cao của quyền lực. Cuối cùng lão cũng bị đào thải. Luật tuần hoàn. Lão đã đi hết "kiếp" của mình, một hành trình tội ác và trừng phạt  mà tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Lão Khổ là nhân vật không ý thức đươc trách nhiệm của mình, bởi lão không đủ khả năng để "ý thức". Lão Khổ là cái bi đát hiện thực được nhà văn nhìn từ bên ngoài.
    Ðến Ði tìm nhân vật, Tạ Duy Anh bước thêm bước nữa. Chu Quý là sự nhập đồng của nhiều nhân vật, hắn là con người, là cái bi đát được nhìn từ bên trong con người. Chu Quý phức tạp hơn lão Khổ, đa âm hơn lão Khổ. Chu Quý xuất thân từ một gia đình trí thức mà người cha đã bị xử tử. Thảm kịch gia đình đã tạo nên một Chu Quý què quặt, bệnh hoạn trong tâm hồn. Hắn muốn thoát ra khỏi bi kịch để thở, để sống, nhưng hắn bất lực. Hắn ý thức được bệnh hoạn của mình, cố tìm mình trong gương chiếu hậu, muốn chữa bệnh nan y cho mình, muốn tìm hiểu sự thực về mình, nhưng cuối cùng, gần tới đích, hắn sợ. Gần chạm tay đến sự thật hắn bỏ cuộc: Chu Quý bị dầy vò giữa hai lực cản: can đảm và hèn nhát. Trải qua những kinh nghiệm kinh hồn, hắn muốn bám víu vào tình yêu; nhưng rút cục tình yêu, hay Thảo Miên, cũng chưa chắc đã là một cái gì thật sự có, hay nàng chỉ là giấc mộng, là ảo tưởng mà Chu Quý tạo ra để tìm một an ủi cuối cùng?


Thụy Khuê
Paris, tháng 3/2003

© Copyright Thuy Khue 2003










Tạ Duy Anh - kẻ bước chưa qua lời nguyền


TP - Từ lâu gã không còn quan tâm đến thời sự văn chương. Mặc ai khen, ai chê, gã cứ sống và viết theo cách của gã. Gã không ghét người chê gã. “Chê người khác là quyền tối cao của công dân và phải để cho họ thực thi cái quyền ấy” - Gã thường bảo vậy. Và cười khẩy với mọi đố kỵ.



Tạ Duy Anh
Ảnh: Nguyễn Đình Toán




Nói chuyện về trẻ con hàng giờ không chán

Bước qua mảnh sân hẹp những xe máy quay ngang xoay dọc, tiến vào cầu thang om om tối của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, tôi đã giật mình bởi tiếng cười ha ha dội từ trên gác xuống.

Tiếng cười quen quen xả hết mọi xì-trét, kèm theo những cú vỗ đùi phành phạch. Phòng Biên tập Văn học trong nước chỉ có mình Tạ Duy Anh đang ngồi.

Hình như gã vừa tiễn ai ra khỏi phòng, mà cũng có thể vừa đọc được điều gì thú vị. Cả nhà xuất bản khả kính chỉ có gã và nhà văn Nguyễn Khắc Trường là có cái cười đặc sắc.

Nguyễn Khắc Trường cười thì người ta vẫn cảm thấy sự oai vệ của cây đa cây đề. Tạ Duy Anh cười thì thấy thoải mái của sự buông thả trắng phơ, tự do và không có gì phải giữ gìn.

Gã mặc áo chim cò hơi khác với ngày thường, ngồi sau chiếc bàn công vụ bình thường, máy vi tính bình thường, ghế xoay tròn, tủ tài liệu bình thường và chồng bản thảo đang làm… chắc cũng bình thường nốt.

Sạch sẽ và tự tin, gã giống như mọi công dân trong vai vị viên chức nhiều trách nhiệm và lương tâm. Gương mặt sáng sủa, mọi đường nét dường như xung đột thái quá. Sắc nét. Nhưng điềm tĩnh có được do sự rèn luyện chật vật nào đấy. Nhưng toát lên sự yên lòng và tin tưởng ở nơi gã. Dù có thể ai vô tình không đẹp, thì hẳn gã cũng không xấu chơi.

Vầng trán thông minh nhưng rộng quá. Tóc hơi ít quá. Mũi hơi thẳng quá, mày rậm, ánh mắt nhanh, sắc và trực diện quá. Ánh mắt như muốn cởi toang lớp lang che đậy của người ta ra rồi lại làm vẻ như chưa biết gì. Nhiều khi tôi cũng ngài ngại bị ánh mắt ấy chiếu trực diện.

- Ô, ông đấy à, ngồi đi.

Một câu đáp đượm tinh thần trung dung, bảo nồng nhiệt cũng được, nói nhạt nhẽo cũng có phần đúng. Gã ngáp dài, vươn vai, văng một bâng quơ vô nghĩa (nếu như ta là chỗ quen biết lâu lâu).

Gã loay hoay một vòng, xốc xốc quần, thao tác pha chè và trong khi vẫn tìm gói chè vứt ở chỗ nào đã vống lên:

- Mẹ khỉ, số ông may thế, vừa kiếm được mấy ấm chè ngon hôm qua.

Đẩy chén nước về phía tôi, ánh mắt gã sắc lẻm quan sát suốt lượt không thèm che đậy.

- Ông xuống đây có gì việc gì dạy dỗ anh em không ? Làm ăn ra sao? Viết lách thế nào ? Bọn trẻ con ngoan và học tốt chứ ?

Ý cuối của câu hỏi, được gã nhấn mạnh với chất giọng đặc biệt. Hình như gã hỏi thăm đến con người khác cũng như là đang nói về con mình. Lạ lùng Tạ Duy Anh, trong các câu chuyện, dù là chuyện phiếm mà có liên quan đến trẻ con thì bao giờ cũng khiến gã say sưa, thiên chân, mắt ngời veo veo trong.

Gã yêu trẻ con, yêu con gã khó mà tưởng tượng. Khi gã nói về các con gã, tôi luôn có cảm giác áy náy là mình không yêu các con mình được như là gã yêu các con gã. Tôi luôn luôn ghen tị với gã về thứ tình yêu này. Dường như là tôi yêu các con mình chưa đủ…

Nếu được lắng nghe, được kích thích, gã có thể nói hàng giờ về các con với tinh thần như đang được nhận thứ ánh sáng từ thiên đường chiếu rọi và tắm gội tự tâm hồn. Gã như rên lên, khi bắt đầu bằng những câu mở đầu: “Hôm qua, thằng Tôm nhà này, con Nhím nhà tôi…” hoặc bất kỳ một hình dung nào khác để chỉ đứa con: ông oắt, thằng lỏi, thằng nhóc, con trời. Và toàn bộ gương mặt gã bừng lên nụ cười rạng rỡ.




Tạ Duy Anh (thứ hai từ trái sang) và các kỹ sư dầu mỏ trên giàn khai thác Đại Hùng,cách đất liền 250 km




Khi kết câu chuyện con trẻ, gã gằn giọng:

- Tôi không hiểu tại sao có những người lớn lại ghét trẻ con ông ạ. Không hiểu những con người đó họ cấu tạo bằng thứ vật chất gì mà lại quái đản như vậy. Người không quí yêu trẻ con chắc chỉ là quái vật…

Tôi biết một lão già thích viết hồi ký, nhà ở cuối ngõ nên có khoảng sân chung tương đối rộng, đủ chỗ cho trẻ con chơi bóng nhựa gôn tôm và đá cầu mỗi khi tan học. Có lẽ cần yên tĩnh, lão ta đã đổ nước đái ngâm bốn góc sân chưa đủ lại còn đập cả vỏ chai rượu Lúa Mới rải mảnh thủy tinh khắp sân.

Gã bỗng tái mặt, nghiến răng, tay nắm xiết, lập bập như muốn xông tới sống mái một phen.

- Thằng cha khốn nạn đó ở đâu?

- Ở đâu thì ông làm gì được lão ta nào? Chẳng lẽ ông định đánh lão ta. Lão vừa có tiền vừa có quyền. Lão chỉ ghét trẻ con chứ chẳng có lỗi nào hết…

- Thì cũng phải chơi lại chứ… ai lại để nó ác thế được. Lộn phải tay tôi mà bắt khi nó đang làm việc đó, thì sống chết tôi phải nhổ vào một bãi vào mặt hoặc tống cho một quả. Rồi muốn đi đâu thì đi…Chẳng qua là cái tiểu cộng đồng quanh đó nhu nhược…và cũng vô cảm nốt…Thế ông ở đâu? Làm gì ? Mà lại chỉ kêu ca suông…

Viết như là sợ không còn cơ hội

Tôi nghĩ thầm: Dào ôi, thì ông viết bao nhiêu trang sách lên án thói tật người đời đấy, liệu có giá trị thực tiễn nào không hay chỉ có giá trị với chính ông và một nhúm bạn nghề, bạn đọc. Thôi thì chẳng qua viết văn cũng là một cái nghề, mà chúng ta buộc phải chọn lựa khi số phận không cho chúng ta cách lao động khác. Đánh nhau tay chân với thiên hạ cũng thua. Đánh bằng chữ thì cũng thua nốt. Loại ấy có bổ đầu nó ra cũng không nhét được chữ vào.

Không, điều đó chắc chỉ đúng với tôi. Là người nổi tiếng, gã có cái quyền hành xử của người nổi tiếng, tôi bì sao được.

Hình như tôi nhớ không lầm, đã nghe gã thổ lộ, bút hiệu Tạ Duy Anh như rơi từ trên trời xuống. Gã viết xong cái truyện đầu tay năm 20 tuổi, trong một căn nhà gạch thủng tứ tung, lại tối om và cứ tự nhiên đề Tạ Duy Anh ở bên dưới. Gã tin vào thiên chức và sứ mệnh nhà văn của mình.

Tôi phục văn chương gã chứ không yêu. Đọc gã tôi bị căng thẳng. Bị hành hạ vì những điều quái đản của con người. Chỉ những con người hành hạ con người. Cảm xúc bị áp đặt và kéo căng ra. Y như tiếp xúc với các tác phẩm của Dostoevsky vậy. Bởi chưởng lực gã mạnh. Hầu hết các tác phẩm ấn tượng của gã đều thấy rõ ràng dấu vết nghiệm sinh từ đời sống thực của cả dòng họ đến sự trải nghiệm đau đớn của chính bản thân. Sự ác của con người.

Gã ngạc nhiên trước cái ác, trước người ác và đi cắt nghĩa lý do. Quyết liệt với cái ác. Văn của gã hừng hực, xoắn vặn ào ạt cuốn băng đi các sự kiện bởi cảm xúc sôi trào trong cơn lên đồng từ lúc mở đến kết cuốn sách. Một độc thoại khó nhọc vận hết khí lực mỗi câu chữ cứ triền miên cắn cấu. Viết như là sợ không còn cơ hội viết văn nữa.

Tôi biết gã lần đầu là do theo người bạn. Cũng đã hơn mười lăm năm. Dạo đó hình như gã bị xuất huyết dạ dày. Người bạn cùng học Viết văn Nguyễn Du đã đại diện một số bạn bè cùng lớp mang đồ vào thăm gã. Bạn gã và cũng là bạn tôi giới thiệu sơ sơ :

- Một tay chơi được mặc dù khó chơi, làm ở Sông Đà, cũng đi lính về, lắm lời đến mức kiêu ngạo, uống rượu giỏi, học giỏi cỡ thủ khoa, và cười thoải mái nhất trên đời. Chắc đang chán đời, xuất huyết dạ dày lần này là thứ tư…

Tôi ngày đó cũng chẳng hơn cọng đu đủ xanh, nhưng cái gã nằm dưỡng bệnh trên chiếc giường khung sắt lốm đốm chấm gỉ đen và drap ngả màu vàng vàng cũng lấm chấm lỗ thủng và những vệt cặn bẩn ố vàng nồng mùi thuốc tẩy thì đúng là cọng đu đủ già héo quắt, võ vàng. Gã nằm bẹp, thở dốc, thiêm thiếp, mong manh giữa những dây truyền dịch.

Không có câu chuyện nào cả. Người bạn ấy đã nắm bàn tay xương xẩu như đọt tre khô của gã như muốn truyền sự chia sẻ gánh đỡ chút ít của những người viết văn thuần tuý về mặt tinh thần nhiều hơn là chiếc phong bì mỏng xẹp.

Tôi đứng bên ái ngại và yên lặng chuẩn bị quay lui.

Thì chính lúc ấy gã cố gắng mở mắt, cái đầu nhúc nhích hướng về bạn tôi, tay chắp trước ngực run run, ánh mắt sáng rực, bạo liệt, ngoan cường đến nóng rẫy. Tôi thầm nghĩ cái tai nạn gã đang gánh chẳng là muỗi gì với những điều gã đã trải. Gã sẽ bình phục bởi tinh thần và nghị lực quyết sống chứ không phải thể chất ọp ẹp kia được bồi bổ dưỡng chất.

Và cái ánh mắt gã hôm ấy, còn ám ảnh tôi mỗi khi đi thăm một ai đó ốm đau. Ánh mắt của con bệnh hình như sẽ quyết định sự sống chết, sự lâu, mau trong điều trị. Chắc bây giờ khi tôi có cơ hội viết ra điều này thì gã mới biết, tôi đã từng theo bạn học của gã đến cái bệnh viện gã đã nằm cấp cứu…

Bẵng đi mấy năm, do những lí do trời ơi đất hỡi mà văn chương làm duyên cớ, tôi xui tôi đến Nhà xuất bản Hội Nhà văn thì đụng gã ngồi lù lù ở chiếc bàn biên tập vô cùng quan trọng. Mà hình ảnh gã thì quý vị đã diện kiến phần đầu câu chuyện.

Nhưng tôi với gã không có duyên làm việc bản thảo với nhau. Một quan hệ song phương lúc đậm lúc nhạt. Tuỳ theo đề tài ngẫu nhiên nào đó. Thường là gã đưa ra những lời bàn sáng suốt và khôn ngoan. Nhưng là của riêng gã. Và không thiếu sự chân thành.

Tôi ngưỡng mộ và trọng thị tài năng, sự nổi tiếng của gã là đương nhiên rồi. Bởi gã đã có những cuốn sách gây tranh cãi trong hậu trường lẫn ngoài thị trường. Hầu như cuốn nào cũng bị cái gọi là “có vấn đề” nhưng rồi phần lớn vẫn ra được. Gã thuộc số ít nhà văn sống được bằng nhuận bút.

Thi thoảng tôi có dịp ghé Hà Nội ngồi với gã, trong không gian bữa trưa kiểu công chức mỗi suất năm mươi nghìn cùng với mọi người. Gọi một chai rượu. Uống đưa đà. Gã cầm trò nói những câu chuyện vui. Và văng tục lem lẻm, ráo như hành bóc. Nhưng lạ, sắc vẻ mặt gã cho thấy rõ ràng sự tục ấy chỉ diễn ra ở bên ngoài miệng gã chứ chẳng liên quan đến con người thực. Tục để cho vui, cho bớt xì-trét cái sự nhàm mòn đời công chức. Nói tục nhưng ngẫm nghĩ sâu xa thì lại thấy thanh, gã hoàn toàn tự chủ về ngôn ngữ.

Ngay cả trong những lúc tràn trề hoà đồng thì gã vẫn có khoảng cách tự tách mình khỏi đám đông ở phía bên trong, ngay cả lúc gã xả cái cười ha ha khơ khơ. Gã sợ đám đông. Dư luận của đám đông có thứ vị kỷ a dua tốt xấu lẫn lộn, gã thấm hơn bao giờ.


Nghề gì cũng đòi hỏi cái đạo của nghề ấy

Hơn một lần tôi thắc mắc, khi thấy gã vẩn vơ gác chân lên bàn. Lổn nhổn những tập sách bìa cứng, chữ nhũ sang trọng phía sau. Cuốn mỏng gió thổi bay, cuốn có thể rơi gãy chân. Và một chồng thư mời họp còn nguyên.

- Này ông, cái cuộc họp quan trọng thế sao không có ông nhỉ?

- Quan trọng với người ta nhưng không quan trọng với tôi.

- Nhưng hôm đó bàn về nghề hay lắm…

- Kính các bác. Nhà cháu không có chuyện gì ở đấy cả.

- Cái gì quan trọng với ông?

- Con. Và những việc mình thích…

- Ngay cả đại hội nhà văn ông được mời mà cũng không đi…

- Thì tôi thấy chẳng có lý do gì để tôi đi dự thêm nữa sau hai lần. Đi dự tôi viết văn hay hơn, sống có ích hơn thì hẳn là tôi sẽ đấu tranh để đi bằng được. Tôi đi chật chỗ người khác.

- Có cực đoan không…

- Ai muốn nghĩ gì thì mặc họ, tôi không quen thanh minh về bất cứ điều gì…

- Cà phê nhé.

- Không.

- Trưa, ngồi với nhau một tí chứ.

- Tôi bận đi đón con. Khỉ thế. Chiều tối ông còn ở lại thì qua nhà tôi lai rai…

- Thôi vậy, tôi ngược vậy.

Bận khác, gặp nhau chốc lát tôi lại phải về. Nhưng chưa kịp quay ra cửa thì gã đã níu lại ấn cho một lô những đống sách bìa cứng chữ nhũ.

- Này biếu ông …

Không chuẩn bị nhận quà, ôm rơi lụp bụp xuống sàn tôi nhặt lên đọc lướt bìa thì rặt là sách đặt hàng. Chẳng hiểu thế nào nữa, gã cho rằng tôi xứng đọc những cuốn sách dầy đặc thành tích sản xuất chiến đấu xây dựng hay là gã muốn dọn cho chỗ làm việc quang đãng hơn…

Không nhận thì phụ mà nhận thì thực tôi cũng không biết để làm gì với những cuốn sách nặng như đá kia. Nên một bên cố ấn, một bên cố từ. Cuối cùng thỏa hiệp là gửi lại tại chỗ, khi nào có điều kiện tôi sẽ rước đi.

Rồi bỗng nhiên gã sung sướng vỗ lên cái trán siêu thực của mình.

- A ha thật may, tôi có cuốn vừa ra ở nhà Kim Đồng, ông mang về cho bọn trẻ nhé.

Đề tặng nắn nót, chữ ký bác Tạ to đùng phóng khoáng. Hắn bảo chỉ có trẻ con là đáng để cho hắn kính trọng. Dĩ nhiên là tôi thích.Vì Tạ Duy Anh là một trong những nhà văn mà các con tôi đọc cùng với Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Thiều...Chúng cũng chẳng phải là những đứa trẻ đặc biệt nhưng say mê đọc các vị này từ năm bảy tám tuổi, một cách hồn nhiên…

Và đặc biệt gã khiến cho tôi tự hào phổng mũi trước vợ con, khi giới thiệu đây là nhà văn Tạ Duy Anh đã có văn tuyển trong giáo khoa thư. Những cuốn sách viết về trẻ con của gã thì ai cũng có thể đọc. Con tôi đọc vì câu chuyện và trực giác tin cậy vào gã, còn tôi đọc vì thấy trái tim nhạy cảm của gã phập phồng loạn nhịp.

Bỗng gã hứng lên rủ tôi đi đâu đó ngồi tào lao. Hết chuyện con cái, văn chương, thế sự rồi đàn bà. Dường như chuyện yêu đương gã chỉ thích thầy dùi người khác thực hiện để gã quan sát chơi chứ cũng chẳng cần để lấy tài liệu viết lách. Bởi gã không mặn mà với thứ văn chương cần đi thực tế. Gần 30 năm nay gã không tham gia bất cứ trại viết nào. Và tình ái thì cũng vậy. Chay tịnh. Gã thề sống chết thề chết, theo thói quen ngoa ngôn. Tôi tin vì đã nghe trực tiếp. Người khác thề tôi ngờ, nhưng không hiểu sao với gã tôi tin như là một lẽ tự nhiên.



Từ trái qua: Các nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế, Tạ Duy Anh, Sao Mai, Nguyễn Khắc Trường


Hồi mới tập lái xe, gã mê ô tô như rồ. Hễ có cơ hội là nhót sang bên kia Hãng phim Hội Nhà văn bàn về ô tô với Hà Phạm Phú. Gã không sợ ô tô. Kể cả loại đại xa, nếu có dịp, gã cũng nhảy lên lái thử. Tôi chỉ còn nhu cầu lái thử xe tăng nữa thôi-có lần gã bảo. Gặp tôi cũng vậy những là tiến, là lùi, là vào cua vòng tránh, vượt lên. Chưa biết “trình” tay lái của gã thế nào, nhưng thi thoảng gã vẫn lấy le:

- Nếu ông về Hà Nội mà có khó khăn trong việc lái xe vào phố thì cứ a lô. Tôi sẽ giúp.

Tôi không hy vọng gã cũng như bất kỳ ông bà nhà văn nào lái xe giúp vào thành phố giờ cao điểm. Đầu giờ sáng điện thoại lôi được các vị ra khỏi giường thì thà thuê luôn taxi. Nhưng chính yếu là chúng tôi đều “ hờn căm” giá xe ô tô trên trời ở Việt Nam. Thi thoảng gã lại giãy lên:-“Ôi trời, mẹ khỉ hôm kia tôi thấy con X6 đẹp long lanh. Nhìn đã thấy sướng, chắc ôm vô lăng phải sướng lắm”. Có lần gã tâm sự rất thích lái xe trên đèo, một bên là núi bên kia là vực thẳm. Không thể tả được cái cảm giác sướng rợn người lúc ấy.

Ngỡ tưởng gã là người chỉ quan tâm những thứ cao siêu, thì ra cũng có lúc trần tục đam mê thói thường như tôi. Tôi cho rằng lùi là việc khó nhất. Bất kể việc gì, tiến xong rồi lùi đều khó. Còn gã, thi tay bo với máy vi tính ngay lần đầu đã vút kim điểm chuẩn, thì lại bàn hay hơn.

- Vấn đề không phải lùi hay tiến, mà ở cái đạo của người lái xe. Nghề gì cũng đòi hỏi cái đạo chuẩn mực của nghề ấy. Vì nghề nào thì cũng phải ngoặt trái, ngoặt phải, tiến, lùi, dừng từ từ, tăng tốc, đủng đỉnh… phanh gấp. Biết cái nhịp của mình…

Đúng là gã tự tin trong văn chương và cũng tự tin đến liều mạng trong sự lái xe. Người dạy gã kể, buổi sáng gã còn chưa biết vị trí các số, vậy mà chiều tan tầm gã đã lái vào một con ngõ cực đông của đường Thanh Xuân. Ngay cả “thầy dậy” ngồi bên cạnh cũng lắc đầu không còn biết nói gì.

Nhận bằng lái hôm trước thì hôm sau gã đã ôm vô lăng con Kia 1.3 đưa nhà văn Nguyễn Khắc Trường từ Hà Nội, qua Việt Trì vòng lên huyện núi Thanh Sơn, thăm nhà văn Sao Mai và tiện thể chuyển tuyển tập cho ông.

Ba trăm cây số đường đô thị, trung du và miền núi mà gã phóng veo veo như tay đua công thức I. Ngồi bên cạnh thấy gã bặm môi méo miệng, nhíu mày, trán lổn nhổn mồ hôi hạt, tôi chết cứng lo sợ. Trong khi Nguyễn Khắc Trường vẫn vô tư khà khà thưởng thức những câu chuyện vui dọc đường.

Nhưng giờ thì ô tô không còn là mối quan tâm của gã. Nhắc đến lái xe bây giờ gã sẽ uể oải như người ta vừa trải qua bữa trưa lỡ nhồi nhét quá nhiều chất đạm. Gã bảo, lái xe ở Hà Nội khiến người ta thiền nhanh hơn là ngồi kiết già! Muốn thấy gã sinh động thì tốt nhất là nói về trẻ con, đàn bà, những tật xấu của người Việt, thói vụ lợi, giả dối của một bộ phận trí thức Việt...

Với tư cách nhà văn trong người biên tập, gã đã hành xử một cách công bằng tinh tế, trong những hoàn cảnh khác nhau. Bài khen mình thì đặt ra ngoài, bài chê thì đàng hoàng để in, dù gã có quyền chủ động. Điều tưởng giản đơn này không phải ai cũng có gan đi tới cùng.

Tạ Duy Anh là ai nhỉ ? Thỉnh thoảng vẫn cợn lên trong tôi câu hỏi như vậy mỗi khi có cớ nghĩ về gã. Một nhà văn tài năng quyết liệt (gã quyết liệt với chính gã) một gã tử tế chơi được nhưng là người lãng mạn vừa phải. Bởi gã quá yêu con trẻ, và sự bình yên của một gia đình. Gã có những lời nguyền bước qua được trong văn chương đã lên án, cắt nghĩa, truy đuổi cái ác tận cùng mỗi trang sách. Nhưng hơn ai hết trong chúng ta, gã biết từ văn chương đến đời sống thực còn cần bao nhiêu là cây cầu bắc qua các dòng sông tăm tối. Mà gã cũng chỉ là một cây cầu...

Tôi gõ cửa bước vào phòng biên tập Văn học trong nước, thì đúng lúc Tạ Duy Anh đi ra. Tôi chưa kịp gì, gã đã xem đồng hồ:

- Bỏ mẹ, đến giờ đi đón bọn trẻ rồi. Hẹn chiều nhé… - Gã nắm tay giật giật - Ôi sao hôm nay bố cháu đẹp giai nhỉ. Ngon lắm! Ông không tin à, tôi thề đấy…

Tạ Duy Anh lại thề. Trong trường hợp này, dù gã không thề thì tôi cũng vẫn muốn tin.


Hồi gia đình Tạ Duy Anh còn ở Tân Mai, có tên trộm trèo tường vào tháo chiếc công-tơ-mét chiếc Cúp 81. Phát hiện tên trộm, gã hắng giọng. Kẻ cắp cuống cuồng nhảy qua tường hòng thoát thân, nhưng tường quá cao không thoát ra nổi, thì gã bỗng hài hước mách nước: “Ngốc ạ, phía sau có bậc đấy, cứ từ từ mà bước qua!”. Vợ gã chạy ra, trách sẵn đá đấy (đống đá to do bọn trẻ thu nhặt về chơi) sao không cho nó một phát. Ôm vai vợ gã cười ha ha:” Người ta đến có rượu thì mời, không thì thôi, sao lại đưa đá ra. Mà nhà mình rượu còn không ấy nhỉ?”.


NGUYỄN THAM THIỆN KẾ













Quyết liệt với chính mình 


Nổi danh ngay từ truyện ngắn đầu tiên Bước qua lời nguyền, nhà văn Tạ Duy Anh thường mang lại cho đời sống văn chương không ít xôn xao mỗi khi tung ra tác phẩm mới. Đầu tháng 3-2008, Tạ Duy Anh trình làng tiểu thuyết Giã biệt bóng tối do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với tác giả về những gì phía sau Giã biệt bóng tối

. Phóng viên: Trước hết, xin chúc mừng anh trở lại văn đàn bằng Giã biệt bóng tối. Với tên tuổi của Tạ Duy Anh, chắc chắn tiểu thuyết này sẽ được đón nhận một cách hào hứng. Với cá nhân anh, Giã biệt bóng tối có ý nghĩa đánh dấu một chặng đường mới không?

- Nhà văn Tạ Duy Anh: Cảm ơn anh đã đọc và có ấn tượng tốt đẹp về tôi và sự nghiệp văn chương của tôi. Chẳng phải ai cũng yêu quý tôi như vậy đâu. Thế nên tôi đâm lo chả biết có được như anh kỳ vọng không? Khi đặt bút viết bất cứ một tác phẩm nào, tôi phải có đủ niềm tin rằng nó chưa hề được thể hiện như vậy ở đâu đó, kể cả của chính mình, thì tôi mới có thể duy trì được cảm hứng và sức lực để “kéo cày” nhiều ngày nhiều tháng liền. Vì vậy, sau Giã biệt bóng tối, nếu tôi còn viết tiếp thì các thủ pháp, cách thể hiện sẽ phải hoàn toàn khác. Tóm lại, với tôi, mỗi cuốn sách chưa viết đều là một chặng đường mới và khi viết xong rồi thì chặng đường đó đã ở phía sau.

. Khi anh vừa theo nghề cầm bút, đã có ngay một truyện ngắn Bước qua lời nguyền vang dội, đến mức giáo sư Hoàng Ngọc Hiến dùng tên gọi ấy để đặt cho cả một dòng văn chương sau đổi mới. Tuy ở hai thể loại khác nhau, nhưng tôi thấy rằng yếu tố quyết liệt trong Giã biệt bóng tối cao hơn Bước qua lời nguyền rất nhiều. Liệu anh đã đủ tự tin để “bước qua lời nguyền” của chính mình?

- Một câu hỏi thật thú vị và dồn tôi vào chỗ khó, nơi chân tường. Trong trường hợp đó, nếu là anh thì anh sẽ làm gì? Còn tôi thì đành liều mình thôi. Tường thì có bức cao, bức thấp. Bức thấp có thể nhún mình bước qua. Còn gặp bức cao, lại có hàng rào gai bao bọc, bên dưới lại nhan nhản cạm bẫy thì phải lấy đà xa để nhảy qua, mà phải nhảy sao cho không bị rơi trở lại. Tức là phải thật quyết liệt với chính mình. Tôi nghĩ là đã trả lời vào câu hỏi của anh cho trường hợp Giã biệt bóng tối.

. Nếu theo lời tự giới thiệu của “người dẫn chuyện” thì Giã biệt bóng tối có phẩm chất “có vẻ như nó là một câu chuyện hoang đường và không phải dành cho người yếu bóng vía”. Thế nhưng, khép lại cuốn sách chưa hẳn là một tiểu thuyết “kinh dị”. Anh có thấy vậy không?

- Vâng, tạng của tôi không hợp cho truyện kinh dị, theo như cách định nghĩa có trong từ điển văn học. Nhưng gây cho người khác sợ không cứ phải là truyện kinh dị. Tôi muốn nói đến khả năng chịu đựng. Anh đọc Bước qua lời nguyền rồi đấy, nó thật hiền lành, giàu tình cảm... vậy mà khi ra đời vẫn khiến có người... sợ? Sẽ lại có những người sợ Giã biệt bóng tối, đúng hơn là không chịu đựng được nó và đương nhiên với tôi, họ là những người yếu bóng vía. Tôi không muốn những người đó trách tôi là đã không ghi cảnh báo trên sản phẩm.

. Khi đặt cạnh hai tiểu thuyết trước đây của anh là Đi tìm nhân vật và Thiên thần sám hối thì Giã biệt bóng tối có bước chuyển biến về bút pháp khá rõ nét. Bên cạnh ưu điểm ấy, liệu anh có chút băn khoăn về tính khái quát và tính “nóng bỏng” giảm sút của Giã biệt bóng tối so với hai tác phẩm trước đó?

- Nghe anh hỏi nhẹ nhàng thế mà tôi cảm thấy bị đè nặng cả ngàn cân về trách nhiệm không phải chỉ với anh, mà còn với độc giả, với chính mình. Vậy là nặng, nhẹ, nóng bỏng hay điềm đạm, đâu chỉ ở mức độ quyết liệt trong ngôn từ mà là khả năng xoáy sâu vào tâm can người khác lời cật vấn về điều mà chúng ta muốn họ quan tâm. Nhưng mà được anh hiểu cho thế thật mừng. Tôi đang lo có người bảo tôi càng già càng cay nghiệt hơn đấy.

. Anh có dòng “tự quảng cáo” rằng: “Nhà văn Tạ Duy Anh, tác giả của tiểu thuyết Sinh ra để chết (chưa công bố)! Thoạt nghe rất ấn tượng. Xin hỏi lại cho rõ, chưa công bố hay chưa chấp bút?

- Tôi sẽ không bao giờ khoe về một tác phẩm nào đó khi vẫn còn một vài dòng phải sửa chữa. Sinh ra để chết hoàn thành từ năm 2005, trước khi tôi bắt tay viết Giã biệt bóng tối một năm. Đó là cuốn tiểu thuyết mà tôi dành cho nhiều sự quan tâm nhất và tôi cũng muốn được nhiều người đọc nhất-so với những tác phẩm của tôi, trước hết vì nó sẽ cho họ sự sảng khoái. Tôi đã sửa đi sửa lại suốt mấy năm qua đến mức phải thề là không sửa nữa kẻo nát cả bản thảo.

. Nghe nói, ngày nào anh cũng viết. Vậy trung bình mỗi ngày anh “cày” được bao nhiêu trang?

- Không phải thế đâu. Ngày nào tôi cũng suy nghĩ về việc viết thì đúng hơn. Tôi nghĩ về tác phẩm nào đó thì lâu, nhưng thể hiện nó rất nhanh. Khi tôi bị cuốn vào bàn viết thì không có ngày, đêm, giờ giấc gì nữa. Có thời kỳ cả tuần tôi không ra khỏi ngõ. Nhiều phen, nửa đêm vợ tôi lên phòng làm việc của tôi nghiêm nghị yêu cầu tôi nghỉ. Nhưng chỉ một lát, thấy tôi cựa quậy trên giường thì lại bảo: Thôi, thà anh làm việc tiếp đi còn đỡ khổ hơn.

. Và thông thường, anh có phải chỉnh sửa lại bản thảo nhiều hay ít?

- Thời gian tôi sửa chữa một tác phẩm thường gấp 5-7 lần thời gian viết nó ra.

. Với thể loại tiểu thuyết mà anh đang theo đuổi, anh cho rằng tiểu thuyết Việt Nam có đáng đồng tiền bát gạo so với thực tế đời sống Việt Nam không?

- Tôi không biết khi độc giả bỏ ra vài chục ngàn đồng để mua một cuốn tiểu thuyết Việt Nam, trong đó có tiểu thuyết của tôi, thì họ có xót như khi bỏ ra ngần ấy tiền mua mấy cốc bia không? Tôi chỉ biết rằng sách ở Việt Nam rất rẻ căn cứ trên giá bìa. Đương nhiên, nếu họ mua xong để lại phải đem ném đi, thì một hào cũng là quá đắt. Vì vậy, phải căn cứ trên từng cuốn sách cụ thể anh ạ. Mà điều này thì tôi không thể biết được.

. Nếu so với tiểu thuyết các nước khác thì tiểu thuyết Việt Nam có đáng để tự hào chưa?

- Là một nhà văn nghiêm túc, cũng như một kinh tế gia nghiêm túc, hay một người bình thường nghiêm túc thì cũng nên thường xuyên nhìn ra bên ngoài để biết mình đang ở đâu. Và theo tôi, thái độ tự trọng sẽ giúp mỗi người cần phải làm gì. Tôi vẫn cho rằng đa phần người Việt đang quá lạm dụng lòng tự hào và tôi cố để không bị gộp chung vào số đó.


LÊ THIẾU NHƠN thực hiện 













NHỮNG KHOẢNH KHẮC KỲ LẠ

Tạ Duy Anh


Trong đời cầm bút, tôi đã trải qua khá nhiều khoảnh khắc kì lạ. Sau mỗi khoảnh khắc ấy thường là một ý tưởng nào đó bỗng nhiên hiện ra để rồi bắt đầu quá trình hình thành một tác phẩm. Một vài tác phẩm suýt gây họa cho tôi. Tuy nhiên, khi nghiệm lại thì thấy đa phần những khoảnh khắc như vậy giống như ân sủng!-Tôi không biết dùng từ nào khác.
Tôi xin kể một vài khoảnh khắc như vậy, những khoảnh khắc thực sự đã thay đổi cuộc đời tôi, chỉ để mua vui bạn đọc và thay cho hy vọng về một năm mới không có những thảm họa động trời (cả thiên tai và nhân tai); thay cho lời cầu mong mưa thuận gió hòa, lòng người bình yên, để chúng ta có đủ sự thanh thản bàn chuyện văn chương chữ nghĩa. Tất cả có 5 phần, phần cuối là nói về khoảnh khắc hình thành nên tiểu thuyết Đất mồ côi.

1-TRONG MỘT ĐÊM ĐEN KỊT
Vì mâu thuẫn, chủ yếu về quan điểm, bố và tôi biệt nhau gần mười năm. Từ Hòa Bình, tôi vào bộ đội, đóng ở Lao Cai mà ông không hề biết. Nhưng rồi trong thời gian tôi tại ngũ thì ở nhà bố bị tai nạn lớn, bắt buộc tôi phải trở về để MỘT MÌNH CHỐNG LẠI MAFIA và tôi đã thắng. (Nếu tôi không trở về, chắc chắn bố tôi bị đẩy ra tòa và chắc chắn ông sẽ vỡ tim ngay trong phiên xử).
Nhưng trong đại họa có đại phúc: Chính vì tai họa trời giáng đó mà bố và tôi làm cuộc đại hòa giải và sau chục năm biền biệt, tôi lại trở về cái làng đầy thù hận của mình. Kẻ đáng chết nhất với tôi hồi trẻ, giờ đây là một ông già bệnh tật, bị con cái ruồng bỏ. Hẳn ông đã nhìn thấy tất cả sự đáng sợ hiện hình ngày một rõ ngay trước mắt, mỗi khi màn đêm đen kịt buông xuống. Thêm vào cái hình ảnh của tôi, kẻ đã từng thề nếu không giết được ông khi quay về làng sẽ không đáng làm người, càng khiến ông cứ như bẹp gí xuống mỗi khi lê lết ra ngoài vì nhu cầu cá nhân. Tôi đã gặp ông trong cái hình ảnh thê lương và đầy tính nhân quả ấy: Ông vừa lết vừa nhấc theo gầu nước, trên đường về nhà. Nó bỗng khiến tôi nghĩ về kiếp con người, về làng quê, về đất nước và rộng hơn, về thế giới này, cũng bằng những ý nghĩ thê thảm. Mấy chục năm hoá ra chẳng nhiều như ta vẫn tưởng. Hình ảnh gã đội trưởng đểu cáng, độc ác, thù hận, đầy kiêu ngạo, hống hách, phách lối tự cho phép mình làm bất cứ việc gì và làm tình làm tội gia đình tôi hơn chục năm trước, bỗng trở nên hài hước hơn là đáng ghét. Cũng là do sự vô minh mà ra. Và trong những hành động tàn bạo của ông ta với chúng tôi, thì gần một nửa có nguyên nhân từ bố tôi. Tôi bỗng muốn cười phá lên bởi cái lời thề độc năm nào, khi tôi còn bé, gầy còm, ốm yếu vừa khóc thầm vừa bóp muốn gẫy những ngón tay xoắn vào nhau vì bất lực, trong khi ông ta giống như một gã khổng lồ vũ khí đầy mình. Giờ đây ông đang nhìn tôi từ phía dưới lên. Hình bóng tôi lờ mờ trong ký ức của ông. Cho đến khi ông nhoẻn cười, nụ cười của người biết mình cùng đường còn kẻ thù thì hùng mạnh gấp bội. Tôi biết trong đầu ông, cái đầu óc chỉ mải thù hận mà thành u tối, đang nghĩ gì. Tôi không muốn ông bị hành hạ lâu hơn, bèn cúi xuống nhấc bổng cái gầu nước ấy lên, bằng sức lực của gã trai còn trẻ, đi về đặt vào túp lều của ông dựng cạnh ngôi nhà một thời giống như sào huyệt của quỷ sứ, nay thuộc về gã con trai bạc ác. Ông không nói gì, chỉ nhìn, bằng ánh mắt cầu xin sự tha thứ. Tôi cũng bỏ đi ngay, vì không chịu nổi sự van xin kiểu ấy. Giá như mấy chục năm trước, ông ta biết, bố tôi biết, những người đã nằm dưới mồ biết điều gì quan trọng với mỗi đời người, hẳn chúng tôi đã không ghét bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình lâu đến thế.
Tuy nhiên, bố tôi thì không nghĩ thế. Ông có lý do để không tha thứ cho kẻ thù của mình. Vì thế, những việc làm của tôi không lọt qua mắt bố và ông phản ứng không cần giữ kẽ: “Tôi cấm anh bôi gio trát trấu vào mặt tôi. Ở cái làng này, sự tử tế là cách tự sát nhanh nhất”. Tôi không muốn lại gây ra thêm một cuộc chiến tranh với bố. Nhưng tôi cũng muốn mọi thứ phải hạ màn. Vở kịch có quá nhiều màn giả tạo với toàn vai quỷ sứ diễn thế đủ chết khiếp rồi. Lần đầu tiên tôi nói với bố: “Họ cũng đáng thương như bố con mình. Họ rất đáng thương bố ạ.” Dĩ nhiên tôi nói thì cứ việc nghe. Nhưng tôi không chỉ nói. Tôi đã nghĩ đúng như thế.
Một buổi tối trời đen kịt, tôi nằm nghe ếch nhái kêu uôm uôm. Tôi bỗng có liên tưởng hình như đó là tiếng kêu buồn bã của những hồn ma, suốt từ khi có cái làng này, có cái dòng họ này. Nó biến tôi tức khắc thành cái gạch nối: Giữa bóng tối và ánh sáng; giữa thù hận và yêu thương; giữa khổ đau và khổ đau tột cùng; giữa những người đã chết-đúng ra là biến mất-với những người sắp chết, đang chết, chưa sinh ra. Tôi sẽ phải hàn gắn mọi sự nham nhở mà cuộc tương tàn để lại. Chính là tôi sẽ phải bước những bước đầu tiên vượt qua thù hận.
Những gì mà số phận sắp đặt, chính là cho tôi có một đêm bừng ngộ để cảm nhận thấy tất cả những điều đó. Trời ạ!-đúng là tôi đã kêu lên, đau đớn và sung sướng-vậy mà mình cứ mò mẫm đi tìm ở tận đâu. Những gì mà một vũ trụ tạo ra, để từ đó tôi có thể tạo ra một vũ trụ theo cách của mình, đã có sẵn với tôi từ khi tôi chưa chui ra khỏi bụng mẹ. Tôi không thể mô tả lại cảm giác tất cả “bỗng rực sáng” trong tâm trí tôi. Chỉ biết rằng tôi đã bật trở dậy, như hành động không thể kìm hãm hơn nữa, vớ cái vỏ bao thuốc lá, viết lên đó mấy chữ tóm tắt chủ đề của một truyện ngắn vừa nảy ra trong đầu. Sau hơn một năm không viết dòng nào, tôi bỗng tìm lại được cảm hứng viết lách, với một tư duy và chiều sâu hoàn toàn khác. Tôi tiếp tục triển khai ý tưởng về truyện ngắn đó trên vỏ bao thuốc thứ hai, bằng cái bút chì. Rồi vỏ bao thứ ba. Những chữ viết ngang, viết dọc kín đặc khiến tôi phải sử dụng thêm cả một tờ lịch nhỏ. Có những đoạn đối thoại rồi sẽ được tôi sử dụng nguyên xi. Sau đó tôi cứ nằm nghe tiếng nỉ non của đêm đen mà không sao ngủ được. Tâm hồn tôi vừa đón nhận một cái gì đó vô cùng to lớn, vô cùng sống động, vô cùng sâu sắc, vô cùng nhân hậu. Tôi muốn ngồi xuống bàn để có thể viết ra những cảm xúc của mình. Nhưng tôi đành chỉ nằm chờ sáng. Cả một ký ức dằng dặc sống lại khiến có lúc tôi ngộp thở. Tôi biết là mình sắp lao vào một cuộc đời mới, đầy ân sủng. Tôi thấy lại sự dào dạt của biết bao nỗi niềm tưởng đã bị vùi kín xuống đáy lòng. Sau này trong một bài trả lời phỏng vấn tôi đã nói, đại ý tôi có một cái làng đủ là một quốc gia, một thế giới và một vũ trụ! Tôi đã bỏ rơi nó, nhưng may thay, ở đúng thời điểm quan trọng nhất trong cuộc đời, tôi đã tìm lại được.
Truyện ngắn đó sau này khi đăng báo Văn Nghệ có cái tên là “Lũ vịt trời”, với nhân vật LÃO KHỔ mà rồi sẽ tiếp tục làm nhân vật chính của tiểu thuyết cùng tên xuất bản năm 1992. Đó cũng là truyện ngắn mở đầu giai đoạn viết mới của tôi. Tôi hoàn toàn bỏ lại những gì dày công viết trước đó, về Thủy điện Hòa Bình, kể cả cuốn tiểu thuyết 300 trang tôi viết dưới căn hầm dã chiến ngay sát bờ biên, tại thị xã Lào Cai năm 1986.

Bìa Lão Khổ, in lần đầu do cố họa sỹ Hoàng Hồng Cẩm vẽ. Ông đã về nhà tôi, đã ngồi uống rượu với bố tôi. Khi vẽ bìa, ông đã cố gắng bám sát khuôn mặt bố tôi ở những nét khổ đau.Cuốn tiểu thuyết này bị cấm tái bản 12 năm.

2-RỤT TAY LẠI Ở GIÂY CUỐI CÙNG

Sau khi tìm lại được MẢNH ĐẤT CỦA MÌNH và sau khi đăng truyện ngắn “Lũ vịt trời”, tôi bắt đầu nuôi ý định viết một truyện ngắn về sự thù hận mà chúng tôi bị dìm vào từ khi lọt lòng. Sự thù hận có từ bao giờ, chúng tôi không biết. Nhưng nó lên đến đỉnh điểm khi bố tôi, vốn là thằng ở chăn trâu cho chánh tổng, từng phải tận mắt chứng kiến hai đứa em mình chết đói, bí mật theo Việt Minh đúng vào khi xã Hoàng Diệu hoàn toàn thuộc vùng tề, chi bộ cộng sản bị xóa trắng. Người ra đầu thú cuối cùng là ông bí thư tên Lân. Ông Vũ Xuân Lan, người cùng xã, huyện ủy viên, được cử về bí mật xây dựng lại phong trào và ông đã bắt liên lạc với bố tôi. Năm 1950, bố tôi mới 24 tuổi, chưa là đảng viên, được cử làm chủ tịch Ủy ban kháng chiến xã, bí thư là ông Vũ Xuân Lan. Khi Đội cải cách kéo về, người bị bắt đầu tiên là ông Vũ Xuân Lan. Người tiếp theo là bố tôi. Ông Vũ Xuân Lan bị Đội cải cách xử tử, còn bố tôi, bị giam tám tháng, chỉ một chút nữa là bị bắn. Ông nội tôi sau đó cũng bị bắt và chỉ được thả khi đã hấp hối.
Nhưng nỗi đau của gia đình tôi chả thấm gì so với nỗi đau của hàng trăm gia đình bị quy là địa chủ. Suốt cả thời bé con tôi đã nghe bố kể về những pha đấu tố rùng rợn mà ông chứng kiến. Mặc dù nói ra miệng là ông ghê sợ cuộc Cải cách ruộng đất, vì nó quá bất nhân, nhưng khi được trả lại mọi quyền chức, ông tiếp tục điên cuồng lao vào thực hiện lý tưởng xóa bỏ giai cấp mà ông tôn thờ, đồng thời trả thù khốc liệt những kẻ từng áp bức ông, trả thù luôn cả con cháu họ.
Sự thù hận quả là có lý do lịch sử của nó. Nhưng nó không có lý do để kéo dài đời này sang đời khác, gây nên biết bao cảnh thê thảm, phá tan mọi thứ tốt đẹp tích tụ qua thời gian. Tôi cần phải tìm một điểm tựa thật vững chắc cho chủ đề mà mình sẽ triển khai. Nó được gợi ý từ những thành tựu tư tưởng mang tinh thần nhân văn mà chúng tôi lần đầu tiếp xúc, dù còn rất hạn chế. Thêm vào đó là những thay đổi trong nhận thức về lịch sử, về con người được kích thích bởi cuộc cải tổ từ Liên Xô, khiến tôi phải tự hỏi và tự tìm câu trả lời cho nhiều vấn đề. Chẳng hạn như câu hỏi sau đây cứ lởn vởn trong đầu tôi: “Những gì bố mình làm, mà mình chứng kiến, với những địa chủ cũ và con cái họ, là đúng hay sai? Họ cùng thời với tôi, vô can với quá khứ, nhưng tại sao không được phép có một chỗ nào xứng đáng trong cuộc đời mới luôn đề cao mục tiêu công bằng, bác ái?”. Những ý nghĩ như vậy cứ dần dần trở thành lời cật vấn xoáy sâu và tâm can tôi. Tuổi thơ chả ai có tội. Tôi biết như vậy nhưng vẫn cứ thấy hối hận bởi những gì mình làm với những đứa con cháu của ông địa chủ một thời. Chúng tôi, tất thảy, đều là trẻ con, đều vô tội, tâm hồn đều lấp lánh, y như những ngôi sao trên trời. Tôi nảy ra ý tưởng coi lũ trẻ là những ngôi sao trên đồng cỏ. Tôi quyết định đặt tên cho cái truyện ngắn mình ấp ủ bấy lâu như vậy: Những ngôi sao trên đồng cỏ. Tôi ý thức rõ ràng đó là truyện ngắn quan trọng, nên việc ngồi xuống bàn, viết những chữ đầu tiên là vô cùng hệ trọng, bởi nó sẽ quyết định sự thành bại của truyện ngắn đó.
Và một buổi sáng đầu năm 1989, hoàn toàn không chủ định, tôi ngồi xuống bàn từ sớm, viết một mạch hàng chục trang giấy có dòng kẻ, thứ chữ nhỏ li ti. Chữ nghĩa cứ như vọt ra, không thể ngăn lại, khiến ngòi bút tôi cuống lên mới kịp. Tôi dừng lại ăn qua loa bữa trưa, rồi lại ngồi ngay vào bàn. Khoảng 5 giờ chiều thì tôi không biết viết thêm bất cứ điều gì nữa, ngoại trừ việc gạch đi cái tên cũ, quả quyết viết xuống dưới dòng chữ Bước qua lời nguyền. Bởi vì cái tên đó hợp với nội dung truyện hơn. Sau đó tôi gần như rơi vào trạng thái hoảng loạn, không biết mình đang làm điều vớ vẩn hay một việc to tát. Thông thường tôi sẽ cất đi một thời gian, rồi mới viết lại lần hai. Sau đó ngâm tiếp một thời gian, mới hoàn chỉnh bằng lần viết thứ ba. Truyện nào tối thiểu tôi cũng viết ba lần. Sau này thì cả tiểu thuyết tôi cũng vẫn tôn trọng thói quen đó, nghĩa là cứ phải viết lần thứ ba mới yên tâm. Nhưng với truyện ngắn Bước qua lời nguyền hồi ấy, có cảm giác nếu cứ để nguyên bản thảo lần một, tôi sẽ không làm được việc gì với nó. Vì thế, chỉ hai ngày sau tôi đã viết lại. Lần này tôi viết trang trọng tên truyện là Bước qua lời nguyền ngay từ đầu. Tôi chép, sửa chữa như mê sảng. Có cảm giác cơ thể tôi bị moi rỗng, hết sạch. Mạch chảy đang tuôn dào dạt liền hẫng lại, như đến đó là cùng đường. Không thể viết thêm từ nào nhưng truyện thì chưa kết thúc.
Khác với lần viết nháp, lần thứ hai này khi đọc lại, tôi thấy chả còn gì hay ho. Nói đúng hơn thì những gì hai hôm trước tôi thấy hay, giờ không còn hay nữa. Nó cứ rời rạc, chả đâu vào đâu. Tôi như người bị rút mất hồn, đầu óc rỗng ra, chỉ muốn tung hê hết. Chỉ chút nữa là tôi xé tan rồi cho một mồi lửa. Nhưng tôi cứ thấy tiếc công sức cả mấy ngày trời. Tôi cố gắng tìm ra một cái kết thúc và nó chỉ khiến tôi thêm bực mình. Không thể nghĩ được gì hơn, tôi đành ghi hàng ngày tháng 26-4-1989 xuống bên dưới, coi như kết thúc. Tôi đứng dậy, quyết rời khỏi bàn và quên đi những gì vừa xảy ra. Tôi tự nhủ, cứ coi như mình viết thêm một truyện hỏng. Hôm sau thì tôi nhét 17 trang viết tay đó xuống đáy một chồng giấy. Tôi không muốn nhìn thấy nó nữa.
Nửa năm sau, tôi có giấy báo trúng tuyển Trường Viết văn Nguyễn Du. Tôi có thói quen, mỗi lần chuyển địa bàn, thì đầu tiên phải hỏa thiêu toàn bộ đám bản thảo, không để rơi một chữ ra ngoài. Lần này rời Hòa Bình về học tại Trường viết văn Nguyễn Du, tôi cũng giữ nguyên thói quen ấy. Cả một tập giấy dày kín đặc chữ lần lượt bị ném vào lửa. Khi cầm bản thảo “Bước qua lời nguyền” trên tay, thấy nó bị dây nước chè nhem nhuốc, tôi đã đưa nó vào sát ngọn lửa. Chỉ cần buông tay ra là mọi chuyện kết thúc. Nhưng chẳng hiểu sao, vào KHOẢNH KHẮC ẤY, tay tôi vội rụt lại. Thay vì đốt, tôi bèn ngồi bệt xuống, đọc nhanh lại những gì mình viết cách đó sáu tháng và…hú hồn!
Nhưng phải khi về học tại trường viết văn Nguyễn Du, một hôm tôi đang lơ mơ ngủ trưa thì bỗng chồm dậy, lục lọi lôi ra bản thảo còn bỏ dở và ngồi viết rất nhanh nốt đoạn cuối, khoảng 600 chữ.
Cho đến nay, truyện ngắn “Bước qua lời nguyền” được in lại khoảng 30 lần trong những ấn bản khác nhau, được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Thái Lan…
Thế mới biết, không chỉ sáng tác khó, mà thẩm văn cũng khó vô cùng. Ngay cả tác giả còn không biết tác phẩm của mình hay hay dở, nói chi bạn đọc. Đó là lý do ít khi tôi chê văn của đồng nghiệp. Mình thấy hay thì khen, không hay thì im lặng. Bởi dù thấy hay hay dở, thì cũng chỉ là theo mình, chỉ vừa đủ đại diện cho mình. Vả lại cũng còn phải để việc cho các nhà phê bình chuyên nghiệp.


3-CHẾT LÂM SÀNG VÀ GẶP NHÂN VẬT

Tôi nuôi khá lâu ý định sẽ viết một cuốn sách nói về nỗi sợ. Tôi vẫn cho rằng nỗi sợ của con người là nguyên nhân đẩy cuộc sống đến trạng thái kinh khủng mà họ tất yếu phải đối mặt như bạo lực, chiến tranh, thói vô cảm, sự dối trá, những cái chết tức tưởi và sự tan rã về đạo đức. Nỗi sợ là nguyên nhân của nạn diệt chủng. Thế giới trước sau cũng bị huỷ diệt nếu không giải thoát nhân loại khỏi nỗi sợ. Đây là chủ đề lớn.
Có lẽ do quá nhọc nhằn kiếm sống và trả nợ tiền mua nhà, hai năm liền tôi bị chảy máu dạ dầy, phải cấp cứu tại bệnh viện Đống Đa. Lần nhập viện thứ 2, năm 1997, tôi bị kết luận là ung thư di căn giai đoạn cuối. Tuy nghe thông báo như vậy, trong khi người thân và bạn bè đều thất thần, (bạn tôi đã bàn việc mua đất để an táng tôi, tại chính địa bàn mà tôi đang sinh sống hiện nay) thì tôi lại chẳng hề tỏ ra sợ hãi, hoang mang, mà chỉ buồn cười. Tôi tự nhủ, mình còn nhiều việc muốn làm, chưa thể chết sớm thế được. Mọi người kéo đến thăm vì “sợ không kịp” trong khi tôi thì vẫn “ủ mưu” về cuốn sách mà mình theo đuổi. Cuối cùng hóa ra chính là bệnh viện…nhầm!
Nhưng sự thay đổi sau một tháng đối mặt với “án tử” thì rất rõ ràng. Nó khiến tôi không thể không nghĩ đến một sự thương xót nào đó đặc biệt dành cho mình, từ ở đâu đó! Tôi thực sự được sinh lại! Nghĩa là cái cuộc đời thứ hai này chỉ nối với cuộc đời thứ nhất bằng thân xác tôi. Còn về phần hồn thì khác hẳn. Từ cuộc đời này tôi nhìn lại cuộc đời trước đây thấy nó giống như một cuộc lưu lạc trong mù mịt thời gian, không gian và ký ức. Trong sự mù mịt đó, tôi không ngớt lầm lẫn. Lầm lẫn liên miên. Lầm lẫn này là kết quả của lầm lẫn khác. Có vô số điều nhỏ mọn, tầm thường, chả đáng gì thì lại trở thành quan trọng, thành mục đích phải đạt tới một cách khổ sở và ngược lại. Cái cuộc đời trước kia tôi là kẻ hiếu thắng, tự kiêu tự đại, vẫn chưa thoát thói cay cú kiểu ăn thua, dễ nổi nóng, cố chấp, háo danh và vẫn bị chi phối bởi thành kiến. Sau cú chết hụt, chuyển sang sống cuộc đời như bây giờ, tôi dần dần nhận ra nhiều thứ quan trọng mà trước đây không thấy và điều đáng ngạc nhiên nhất là những thứ ấy vẫn ở ngay trước mắt.
Có biết bao nhiêu điều tưởng là ghê gớm, tưởng rất quan trọng cho một đời người thì hoá ra rất đáng buồn cười.
Trong thời gian nghỉ dưỡng bệnh, tôi đọc hai cuốn sách, cuốn thứ nhất tên là "Sự phát triển Siêu cá nhân", của Roberto Assagioli, cuốn còn lại có tên “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng” của Đức Giáo Hoàng John Paul II. Thật trùng hợp khi cả hai cuốn sách đều đề cập đến nỗi sợ. Tôi đặc biệt ấn tượng với câu của Thánh Paul: “Nỗi sợ giống như cái gai đâm sâu vào da thịt ta”.
Tôi cảm thấy mình đã tìm ra điểm tựa để bắt đầu. Tuy thế mọi chuyện chỉ sáng rõ trong tôi khi tôi trải qua một biến cố kỳ lạ như sau.
Buổi sáng hôm ấy, vào khoảng nửa cuối năm 1998, tức là gần hai năm sau ngày khỏi bệnh, khi đó gia đình còn ở phố Tân Mai, tôi không đi làm mà ở nhà. (Thời gian đó Trường Viết văn đang khủng hoảng lãnh đạo, hầu như không hoạt động, mỗi tuần tôi ghé qua một lần và cũng chỉ chốc lát). Sau khi đưa các con đến lớp, tôi quay về và bỗng dưng thấy toàn thân rã rời. Cơ thể tôi trong phút chốc chỉ muốn đổ oặt xuống. Tôi còn kịp nghĩ nếu mình không nhanh chóng lên giường, mình sẽ không còn cơ hội đó. Tôi nằm giang hai chân hai tay, như một kẻ mất hết cảm giác sống. Người tôi chảy ra nhão nhoẹt, dính xuống chiếu. Không hiểu sao tôi tin chắc rằng mình sắp chết, chỉ một lát nữa thôi tôi sẽ chết. Đó là cảm giác rất rõ ràng chứ không phải do tôi tưởng tượng ra. Đầu óc tôi còn đủ tỉnh táo để quyết định gọi điện cho vợ, báo cho cô ấy biết là tôi đang chết. “Phải, anh đang chết”-tôi sẽ nói đúng như vậy.
Nhưng tôi không kịp nhấc máy bởi liền ngay đó tôi chìm lút vào một khoảng tối đen ngòm.
Ba tiếng sau tôi tỉnh dậy và việc đầu tiên là chạy ngay đến bên chiếc bàn, quơ vội cây bút viết xiên xẹo dòng chữ: ĐI TÌM NHÂN VẬT.
Lập tức tôi trở lại khỏe khoắn, tỉnh táo như chưa từng xảy ra chuyện gì. Ngày hôm sau tôi bắt đầu ngồi xuống bàn, cắm cúi lia bút viết, cứ như mọi thứ chảy ra theo mực. Khi tôi đứng lên thì trời đã về chiều cùng với khoảng 15 trang giấy học trò, loại có dòng kẻ, kín đặc chữ. Rồi đến chương thứ hai, thứ ba, mỗi chương cũng khoảng ngần ấy trang. Nhưng rồi hai chương đầu đều bị bỏ đi ngay sau đó, vì nó lạc nhịp, không gọi được cảm hứng cũng như ngôn ngữ, nếu cứ tiếp tục theo cái nhịp điệu khấp khểnh đó sẽ chui vào ngõ cụt. Hóa ra nó chỉ làm nhiệm vụ “đề-pa” cho cuốn sách. Chương một trong suốn sách sau này, thực ra là chương thứ ba trong bản thảo ban đầu.
Suốt 4 tháng trời, ngày nào tôi cũng ngồi lỳ bên bàn viết hàng chục tiếng đồng hồ và chỉ đứng dậy khi đến bữa. Hễ giải lao thì tôi dừng lại viết tản văn in báo Nông nghiệp, sau này gom lại thành cuốn sách Ngẫu hứng Sáng-trưa-chiều-tối. Hồi đó tôi viết tay nên việc sửa chữa mất rất nhiều công. Tôi vẫn không khắc phục được thói quen là bản thảo cứ phải sạch tinh. Chỉ cần một chữ bị xoá là tôi chép lại hết trang, để không phải thấy cái chữ bị xoá đó.
Tôi viết say mê, tự mình thấy lạ với những gì mình viết. Mấy chương viết về chiến tranh là nhọc nhằn nhất. Số trang bỏ đi của những chương này bằng cả một phần cuốn sách.
Nhưng đó sẽ là những chương sách suýt gây tai họa lớn cho tôi sau này.
“Đi tìm nhân vật”, sau khi qua gần chục nhà xuất bản bằng cái tên SỢ, đều bị ngăn chặn. Cuối cùng, nhờ sự tài giỏi của ông Dương Tất Thắng, nó lọt qua Nhà xuất bản văn hóa Dân tộc với cái tên ban đầu của mình, đúng vào lúc cả ông giám đốc và ông trưởng phòng-cũng là người đứng tên biên tập-chuẩn bị nghỉ hưu.
Nhưng nó vừa phát hành được khoảng 10 ngày, thì lập tức bị đình chỉ. Văn phòng Tổng bí thư, Văn phòng Chủ tịch nước, Cơ quan A, cơ quan B… đều yêu cầu Nhà xuất bản đưa sách lên để họ thẩm định và cho ý kiến. Khi được cán bộ NXB thông báo như vậy, tôi chỉ thấy khoái chí, mà không hề biết rằng mối nguy hiểm đang ngày một áp sát mình.
Sau này một đại tá an ninh (giờ ông ấy đã là tướng hai sao), sau vài lần “tiếp cận” tôi, kể với tôi rằng, hồi đó có hẳn cả một cuộc họp liên ngành và quyết định bắt tác giả tống giam chỉ còn chờ phê chuẩn. “Hung hăng nhất là lão D, đồng nghiệp của ông”-ông đại tá bảo thêm và hỏi: “Ông có biết tay đó không?” Khi tôi lắc đầu bảo có nghe tên những không quen, thì ông đại tá nói tiếp: “Tay đó nóng ruột muốn tống ngay ông vào tù”.
Vẫn theo viên đại tá nay đã là tướng, khi Hội nghị sắp chính thức bắt đầu thì bất ngờ một ông “to thứ mười lăm đất nước” bước vào. Ông ấy nói là chuẩn bị đi công tác, biết có cuộc họp này, chỉ ghé qua phát biểu vài lời. Câu đầu tiên ông ấy bảo Tạ Duy Anh là một người tử tế, một nhà văn có trách nhiệm, một người rất yêu nước…Ông to vật mà nói thế về ông, coi như ý kiến chỉ đạo, cấm bàn cãi, thì còn bàn chuyện bắt bớ gì nữa…
(Khi “ông to thứ mười lăm đất nước” về hưu, qua nhà thơ D.T, ông mời chúng tôi đến nhà ông uống rượu, để ông có dịp nói lại với tôi chuyện cấm “Đi tìm nhân vật”. Tưởng tôi chưa biết chuyện ông cứu tôi, ông đã kể lại đúng như những gì tôi nghe từ viên đại tá an ninh).
Năm 2003 ông Nguyễn Minh Cần, khi đó đang ở Mat-xcơva, đã chuyển “Đi tìm nhân vật” cho nhóm làm sách Tiếng quê hương ở Hoa Kỳ in lại. Năm 2017, tức là sau 15 năm, “Đi tìm nhân vật” mới được phép tái bản trong nước.


4- BỊ BIẾN THÀNH “NGƯỜI KHÁC”

Truyện ngắn “Người khác” của tôi in lần đầu trên số Tết Nhâm Ngọ, báo Gia đình và xã hội. Báo ra buổi sáng, thì buổi chiều đã rộ lên tin đồn nội dung của nó ám chỉ “không thể rõ ràng hơn” nhằm bôi nhọ một ông lãnh đạo tối cao. Hôm sau thì nhiều ban ngành ở trung ương trong tình trạng như vừa xảy ra “đảo chính”. Lập tức có đề nghị phải xử lý hình sự tác giả, vì tội “láo xược”. Tôi nghe một anh bạn thân với giới an ninh kể lại, trong lòng tuyệt đối không hề bợn lên chút sợ hãi, mà chỉ muốn ôm bụng cười.
Một câu chuyện khôi hài có lẽ chỉ xảy ra ở nước ta.
Nguyên do là thế này. Trước đó tôi có một truyện thiếu nhi được Ban soạn thảo đưa vào giảng dạy chính thức ở trường phổ thông, sách ngữ văn lớp sáu, chương trình cải cách. Để phục vụ mục đích giảng dạy, Bộ giáo dục chủ trương làm bộ ảnh chân dung cỡ lớn một số tác giả có tác phẩm trong sách giáo khoa, kèm theo tiểu sử in riêng ở một tờ áp-phích. Lần ấy có Tố Hữu, Đoàn Giỏi, Nguyễn Tuân, Trần Đăng Khoa, Đích-ken, A. Đô-đê…và tôi, tổng cộng khoảng chục người. Ảnh thì có người của Bộ đến tận nhà chụp. Tiểu sử tóm tắt tác giả do một ông tiến sỹ viết, kèm theo ít tác phẩm.
Vì cẩn thận nên sau khi có bản in mẫu, những người thực hiện bèn đến tận nhà đưa cho tôi kiểm tra giúp lần cuối xem có sai sót gì không. Chính vì thế mà tôi phát hiện ra họ ghi sai tên thật của tôi. Tên thật của tôi là Tạ Viết Đãng, thì trong phần tiểu sử ghi là Tạ Viết Dũng, do họ lấy theo Kỷ yếu Hội nhà văn. Tôi bèn lấy bút sửa lại, coi đó như cơ hội đính chính tên mình. Người của Bộ giáo dục rối rít cảm ơn tôi, bảo nếu không có tôi thì họ lại làm sai lần nữa theo quyển Kỷ yếu.
Nhưng chỉ vài hôm sau chính ông ấy quay lại, lần này mặt phiền muộn bảo với tôi: “Chúng tôi nghĩ kỹ rồi, anh đành mang tên thật là Dũng thôi”. Tôi hỏi: “Sao lại kỳ thế?” Ông ta giải thích: “Kỷ yếu của Hội nhà văn in là Dũng, mọi người đều nghĩ tên anh là Dũng, nay nếu chúng tôi sửa thành Đãng, thì họ không nghĩ Hội nhà văn sai, mà nghĩ chúng tôi làm ẩu, quan liêu, tắc trách, chỉ có việc chép lại cái tên cũng không xong. Chắc chắn họ sẽ nghĩ như vậy mà chúng tôi thì không biết làm sao để có thể thanh minh được”.
Tôi nghe xong thì muốn cười phá lên. Tôi bảo lại bằng giọng vui đùa: “Thế chả lẽ tôi không được mang chính cái tên bố mẹ đặt cho, mà phải mang tên của người khác ư”. Ông của Bộ Giáo dục bảo: “Chính chúng tôi cũng thấy buồn cười nhưng không có cách nào, đành thế vậy, anh đành tạm là người khác vậy”. Cuối cùng, nghĩ mãi, tôi đưa cho họ một giải pháp là không cần ghi tên thật, chỉ ghi bút danh thôi. Họ chấp nhận như một lối thoát khả dĩ nhất. Thế là trong tư liệu Bộ giáo dục dùng làm giáo cụ trực quan gửi cho tất cả các trường Trung học cơ sở, tôi chỉ có tên Tạ Duy Anh.
Khi ông của Bộ Giáo dục về rồi, tôi cứ ngẫm mãi về chuyện đó, vừa buồn cười vừa bực mình. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc, tôi nảy ra tứ truyện với cái tên Người khác. Tôi ngồi ngay xuống bàn và cứ như thể chép ra một chuyện mà mình thuộc lầu trong đầu. Khi chép lại và so với bản in sau này, hầu như tôi không sửa chữa, thêm thắt cắt xén gì mấy.
“Có một người đàn ông, vì sự lầm lẫn của đám đông mà vô tình trở thành người có lý lịch và gốc gác hoàn toàn khác, khác rất xa so với nguồn gốc xuất thân của anh ta. Lúc đầu anh ta chỉ nghĩ đó như một sự cố. Nhưng sống dưới cái lý lịch của người khác (do đám đông tưởng tượng ra rồi gán cho), anh ta được hưởng biết bao nhiêu quyền lợi, danh tiếng cùng với sự trọng vọng. Anh ta nhanh chóng trở thành người của công chúng, thần tượng của hàng triệu người trẻ tuổi với hàng loạt việc làm phi thường cũng do đám đông tưởng tượng ra rồi gán cho anh ta. Sau đó anh ta thấy mình là chính NGƯỜI KHÁC ấy từ khi nào không biết. Mọi chuyện cứ thế cuốn anh ta ngày một xa gốc gác thật của mình.
Anh ta cũng định thây kệ sự nhầm lẫn của thiên hạ, coi như một thứ lộc trời ban.
Nhưng rồi một sự việc xảy ra khiến lương tâm anh ta bị phán xét nghiêm khắc. Anh ta quyết định viết cuốn hồi ký, kể lại toàn bộ sự thật, rằng bố anh ta chẳng phải là ông tai to mặt lớn nào cả, mà chỉ là ông dân cày. Bản thân anh ta cũng chẳng có tí tài cán nào như mọi người vẫn nghĩ. Rằng phải sống dưới cái vỏ bọc NGƯỜI KHÁC khiến ạnh ta chả ngày nào được sống thực sự…Viết xong anh ta quyết định đem đến một nhà xuất bản có tay giám đốc là chỗ quen biết. Ông giám đốc đón tiếp anh ta, thần tượng của công chúng, một cách vô cùng nồng hậu. Ông đưa ngay ra dự định sẽ in số lượng cực lớn, làm truyền thông rầm rộ để quảng bá. Nhưng sau khi mang về đọc và biết nội dung là bản thú nhận về nguồn gốc thật của tác giả, thì tay giám đốc không dám in, vì không thể trở thành kẻ đồng phạm làm sụp đổ trước mắt đám đông một thần tượng lớn. Ông giám đốc van xin anh ta tha cho ông, sau khi nói rõ sự tình như vậy. Rằng ông ta không muốn bị nguyền rủa hoặc ăn trứng thối vì đã bôi nhọ thần tượng của hàng triệu người. Đám đông sẽ không tha cho ông ta. Nghe xong, anh ta cố vật nài ông giám đốc cho anh ta một cơ hội để về lại với chính bản thân mình.
Nhưng ông giám đốc vẫn chỉ một mực van xin. Cuối cùng anh ta lên cơn khùng điên đấm ông giám đốc tới tấp, khiến ông ngã xuống sàn nhà, máu me tung tóe. Anh ta nói ra miệng là anh ta sẽ đi tự tử. Nghe thấy thế, dù đầu óc đang quay cuồng vì những cú đấm trời giáng, ông giám đốc vẫn cố vùng dậy ôm ghì lấy chân anh ta, tiếp tục van xin anh ta đừng chết. Anh ta điên tiết quát lên: “Bố mày thích chết chả lẽ cũng không được?” Ông giám đốc cố nghển cổ lên nói: "Không được".
Rồi mới gục xuống.
Kết truyện nhân vật đành tiếp tục nghiêm trang trong vai diễn và anh ta cảm thấy như mang theo một nghiệt án” (Lúc đầu tôi định đặt tên truyện là Nghiệt án).
Đại loại truyện có nội dung như vậy. Những gì tôi gán ghép cho nhân vật phải mang thân phận người khác phần lớn lấy từ chính bản thân tôi. Khi viết tôi chỉ nghĩ đến mình, nhất là tình tiết tôi nhập học muộn và bị mọi người thêu dệt là con ông lớn. Những hành động của nhân vật cũng chủ yếu lấy từ chính những việc tôi làm trong thời gian học Trung cấp kỹ thuật ở Hòa Bình.
Nói tóm lại, truyện ngắn Người khác là hình thức tôi tự nhạo chính mình.
Thế mà tôi lại bị quy là viết truyện ám chỉ một lãnh đạo cỡ bự. Nhân vật của tôi có lý lịch giống tới 90% ông bự kia-như lời một cán bộ ngành an ninh-nhất là chi tiết bị đồn là con cụ lớn, rồi cũng lên rừng phát nương trồng sắn. Chệch vào đâu được, vì nhân vật cỡ bự kia xuất thân từ nghề lâm nghiệp...! Tổng biên tập báo là nhà thơ Trần Quang Quý, có tên trong đoàn đi thăm quan Hoa Kỳ với tôi theo lời mời của Bộ ngoại giao Mỹ, nửa đêm gọi cho tôi, giọng lo lắng cứ hỏi xem khi viết tôi có nghĩ tí gì đến nhân vật bự kia không. Tôi bật cười bảo tôi còn không coi ông ta có mặt trên đời, nếu có nghĩ thì chỉ nghĩ đến đàn bà thôi. Ông tổng biên tập sau đó bỏ chuyến đi Hoa Kỳ theo lời khuyên của lãnh đạo Bộ, để ở nhà lo giải quyết vụ việc.
Một buổi sáng, sau khi truyện Người khác gây ầm ĩ khoảng hơn chục ngày, tôi đang ngồi viết thì có chuông điện thoại. Tôi nhấc máy, nghe rõ tiếng đầu dây bên kia là nhà văn Vũ Hữu Sự, cứ rối rít hỏi đi hỏi lại: “Có phải tiên sinh đấy không?” Tôi trả lời đến lần thứ ba là chính tôi đây, Vũ Hữu Sự vẫn hỏi thêm: “Nhưng tiên sinh đang ở nhà đấy chứ” khiến tôi bật cười. Bấy giờ Sự mới thở trút ra: “Vậy thì tôi yên tâm rồi. Tôi vừa ngồi ở báo Đại đoàn kết, nghe ông TBH bảo công an đã bắt TDA sáng nay. Tôi cãi là sáng nay tôi còn thấy ông ấy đưa con đi học. TBH một mực khẳng định là tiên sinh chính thức bị bắt rồi, còn nói rõ họ chở đi bằng xe Xit-đờ-ca. Tôi vội phóng về nhà và gọi hỏi xem thực hư thế nào”.
Tôi nghe Sự nói vậy thì cười phá lên. Nhưng sau đó là một nỗi buồn mênh mông...Ôi cái kiếp nghệ sỹ ở xứ này?
Mãi sau này tôi mới biết không phải vô cớ mà ông TBH lại nói thế với Vũ Hữu Sự. Ông ta có thông tin về việc đó từ trước. Mọi chuyện chỉ dừng lại, khi một ông lớn, sau này chính là “ông to thứ mười lăm đất nước” như cách diễn đạt của ngài đại tá an ninh mà tôi có nói đến ở kỳ trước, đã gạt đề nghị “vớ vẩn” kia đi, với lập luận: “Cứ đọc theo lối suy diễn thế thì còn gọi gì là sáng tác văn học”.


5-MÓN QUÀ TẶNG VÀ TIỂU THUYẾT ĐẤT MỒ CÔI

Tôi luôn bị ám ảnh bởi những sự kiện lịch sử của đất nước gắn với chiến tranh, chết chóc, ly tán, thù hận. Tôi mắc bệnh nghĩ và cứ nghĩ triền miên về những thực tế ấy. Tôi biết rõ rằng, nhiều dân tộc trên thế giới, trước khi đạt đến trình độ văn minh để có thể cùng sống trong hòa bình, trong tình hữu ái, cũng từng trải qua nội chiến, thù hận, phân biệt chủng tộc. Nhưng những người cùng một giống nòi, sống chung một lãnh thổ giết nhau, hành hạ nhau, bức hại nhau trong hòa bình suốt hàng thế kỉ (vừa mới đây là sự kiện Đồng Tâm), thì người Việt chắc chắn là một ví dụ điển hình.
Tôi nhắc lại là giết nhau trong hòa bình, để phân biệt với giết nhau trong chiến tranh, vốn là điều khó tránh.
Hàng chục ngàn người, toàn là những tinh hoa, bị giết chết một cách kinh hoàng chỉ sau chưa đầy hai năm Cải cách ruộng đất, khi họ cũng đã góp phần để giải phóng đất nước khỏi ngoại xâm.
Vài triệu người đi tị nạn, trong đó gần nửa triệu mất xác dưới biển khi đất nước đã im tiếng súng.
Cùng là từ một bọc chui ra, nhưng hàng triệu người được giáo dục phải coi hàng triệu người khác là kẻ thù?
Đặt những biến cố vừa kể bên cạnh huyền thoại cùng sinh ra từ một bọc, không biết cảm giác của bạn thế nào, còn tôi thì thấy nực cười, buồn đau và nghi ngờ.
Cùng với sự nghi ngờ ấy, luôn xuất hiện những câu hỏi:
-Người Việt hiền hay ác?
- Vì sao người Việt, nhờ nương tựa nhau mà sống sót qua muôn vàn thiên tai, địch họa, nhân họa nhưng lại luôn sẵn sàng nồi da xáo thịt nhau?
-Đói khổ, hèn mọn có phải là định mệnh của dân tộc này?
-Căn tính của người Việt là gì?
-Vì sao Nho, Đạo, Phật, tư tưởng cộng sản dễ dàng nhập tịch Việt, trong khi Thiên chúa giáo, với nền tảng giáo lý chặt chẽ, đầy tính nhân văn và tinh thần tự do… thì bị xua đuổi, bức hại?
-Chủ nghĩa cộng sản là đại phúc hay đại họa với dân tộc này?
-Một dân tộc háo danh phản ánh sự thiếu khuyết điều gì về phẩm giá, đức tin, sự trưởng thành về văn hóa và nó liên quan thế nào với việc cái ác luôn tìm thấy môi trường thuận lợi để hoành hành?
Ngoài ra là hàng chục, hàng trăm câu hỏi khác cứ bám chặt lấy từng khoảnh khắc sống của tôi, nhiều phen khiến tôi mệt rã rời.
Suốt hơn ba mươi năm, kể từ khi viết Lão Khổ, thực ra tôi chỉ làm mỗi một việc là truy tìm, truy nã ÁC TÍNH người Việt, rất hay được lịch sử đồng lõa, phụ họa, che giấu, khuyến khích! Tôi hoàn toàn tin lời một nhà văn lớn của nhân loại, khi ông ấy bảo rằng, mỗi nhà văn suốt đời thực ra chỉ viết duy nhất một cuốn sách. Với tôi, cuốn sách đó đã có SÁU CHƯƠNG, gồm:
Chương một: Lão Khổ.
Chương hai: Đi tìm nhân vật.
Chương ba: Thiên thần sám hối.
Chương bốn: Sinh ra để chết.
Chương năm: Giã biệt bóng tối.
Chương sáu: Mối chúa.
Nhưng với cả SÁU CHƯƠNG, hễ mỗi lần đặt dấu chấm hết cho “MỘT CHƯƠNG” nào đó, tôi lập tức cứ cảm thấy chưa thể dừng lại, hình như mục tiêu vẫn ở phía trước và vì thế cuộc truy đuổi chưa thể kết thúc. Nó cần phải có thêm chương nữa, là CHƯƠNG THỨ BẢY.
Thực ra gọi CHƯƠNG BẢY là xét thứ tự xuất bản, chứ tôi nghĩ về “Đất mồ côi” từ khá lâu. Thời gian thai nghén nó cũng lâu hơn bất cứ cuốn tiểu thuyết nào trước đó.
Nhưng tất cả vẫn chỉ cứ ở dạng sơ thảo, các nhân vật, sự kiện chưa có một trụ bám vững chắc nên cứ rời rạc, không thể tự lớn lên được.
Cho đến khi một sự kiện rất bình thường nhưng lại vô cùng quan trọng bất ngờ xảy ra với tôi.
Năm 2014, tôi cho xuất bản cuốn sách có tên “Làng quê đang biến mất”, gồm 66 bài bình luận xã hội tôi viết cho báo Công lý Xã hội trong suốt một năm. Cả đối tác Nhã Nam và tôi đều không ngờ cuốn sách thu hút mối quan tâm mạnh mẽ của bạn đọc đến thế. Trong số những người thích cuốn sách, có đại tá quân đội đã về hưu BĐH (Tôi viết tắt, vì ông không muốn tôi nhắc đến ông ở bất cứ đâu?). Một hôm ông bất ngờ đến thăm tôi, để nói rằng ông thích tôi từ lâu và tiện thể xin chữ kí cho vài cuốn sách mà ông nói ông mua tặng bạn bè, hàng xóm. Chúng tôi lần đầu biết nhau nhưng nhanh chóng thân nhau. Từ đó, thỉnh thoảng đi đâu qua khu vực gần cơ quan tôi, ông lại ghé thăm tôi, lần nào cũng kèm theo một món quà. Có lần là hẳn một chai rượu Nga hiệu Beluga khá đắt tiền, nói là quà tặng của bạn đọc.
Chúng tôi tiếp tục đẩy mối thân tình lên một cấp mới. Mỗi lần đến thăm tôi, nghe tôi nói oang oang về nhiều điều cấm kị, ông có vẻ bất an. Có hôm đang rôm rả trò chuyện, ông bất ngờ đứng dậy cáo lỗi, nói là có việc đột xuất. Tôi hiểu tâm trạng ông nhưng không biết vì sao nó lại thế?
Buổi sáng hôm ấy, tôi vừa vào phòng làm việc thì đại tá BĐH đến, đặt lên bàn tôi một gói quà. Tôi đưa mắt có ý hỏi ông cái gì trong đó, thì ông bảo tôi mở ra sẽ thấy. Và nó là một con dấu, cùng hộp mực đỏ đựng trong chiếc túi vải nhỏ. Thấy tôi tỏ vẻ thích thú, ông cũng rất hào hứng, nói là ông đã chọn hiệu làm con dấu đẹp nhất Hà Nội để khắc nó. Ông bảo trong Hán tự, chữ “anh” có nhiều nghĩa, ông chọn nghĩa “anh hùng”! Để tôi yên tâm, ông bảo ông đã thuê giám định, có đảm bảo hẳn hoi.
Trước một món quà quá bất ngờ, tôi vô cùng xúc động. Tôi bèn kể lể huyên thuyên về những chuyện liên quan đến việc viết lách, trong đó có lịch sử tai ương gia đình, bản thân…đã khiến tôi cả đời lúc nào cũng nghĩ ngợi, đến mức trụi hết cả tóc. Tôi nói về nỗi oan ức của bố tôi, là nguyên mẫu nhân vật Lão Khổ trong tiểu thuyết cùng tên mà ông cũng đã đọc, rồi chuyện bạn chiến đấu của bố tôi chết đau thương, rồi chuyện chúng tôi bị trả thù….
Tôi cứ nói thao thao bất tuyệt mà không để ý mặt ông BĐH méo xệch đi như người bị trúng gió. Một vẻ mặt khổ đau vĩnh cửu, hoặc không thể diễn tả bằng ngôn từ nỗi đau đớn mà ông phải mang theo. Chỉ thấy ông lồng lộn đi lại như con hổ bị cầm tù! Mãi sau ông mới nuốt nuốt xuống cục gì đó, nuốt rất khó khăn, tay xua xua một lúc lâu mới nói được thành lời với tôi như sau: “Không thấm vào đâu, không thấm vào đâu…”. Rồi lại nuốt nuốt, mắt trợn lên để nuốt, tay vuốt ngực vì khó thở...
Chờ cho ông qua cơn nghẹn ngào, tôi đưa cho ông chén trà. Ông đón nhưng dằn mạnh xuống bàn. Hàng phút chúng tôi im lặng.
Hóa ra bố ông vốn là cán bộ quân đội, bị bôi nhọ, bị vu cáo để cuối cùng bị đưa về quê xử tử nhân có cuộc Cải cách ruộng đất.
Lúc đó ông BĐH mới chưa đầy chục tuổi. Ông phải ngày ngày chứng kiến cảnh bố bị trói, bị hành hạ và cuối cùng bị kết án tử hình, bởi chính những bà con thân thích. Đúng vào hôm bố ông bị đưa ra bãi bắn, thì có lệnh tạm hoãn thi hành án, ban xuống từ trên huyện. Nhưng những người trong Đội cải cách và đám cán bộ xã cùng dân làng, vốn hàng ngày đều là anh em họ mạc, thân tình, sống hiền lành, thì cứ muốn giết bố ông bằng được (Ông H. nói rằng ông không hiểu vì lẽ gì, động cơ nào khiến họ làm thế, vì bố ông chẳng thù hằn gì với họ), nên họ nghĩ ra kế bắt giam thằng liên lạc. Chờ xử tử bố ông xong mới thả ra. Sau này họ báo cáo lên cấp trên là thằng liên lạc về muộn quá, khi mọi việc đã xong xuôi.
Tôi nghe đến đó thì bỗng thấy rùng mình, một cú rùng mình không thể nào giải thích được, vì nó không chỉ khiến da tôi nổi gai gạo, mà còn làm bừng lên trong tôi một tia sáng cực mạnh. Tôi hỏi hiện mộ bố ông ở đâu, ông bảo Nho Quan, tôi bèn đề nghị được đi viếng cụ. Ông BĐH nói rất cảm ơn tôi, nhưng cho ông thời gian thu xếp. Khi ông đại tá ra về, tôi không còn muốn làm bất cứ việc gì.
Ngay sau đó tôi về thẳng nhà và ngồi xuống bàn viết.
Chưa có cuốn sách nào tôi mất nhiều sức lực, tâm lực như khi viết Đất mồ côi. Bản thảo lần một và bản thảo lần hai đã khác nhau một trời một vực. Nếu so với bản cuối cùng-bản in thành sách, chắc nó chỉ còn vài chục phần trăm. Việc sửa chữa ngốn mất của tôi gần hai năm. Bản thảo tôi đưa cho họa sỹ làm bìa từ trước đó một năm rưỡi là bản thảo thứ ba. Nhưng cho đến khi tranh bìa hoàn thành, đã có thêm bốn lần bản thảo nữa được in ra.
Vì lần nào cũng cứ nghĩ là lần cuối, nên tôi đều phô-tô thành 5 bản, khiến số bản thảo chất lại thành một đống cao ngang thân. Nếu đem cân lên, chắc chắn nhiều hơn số cân của tác giả! Khi sách chính thức ra đời, tôi nhờ người chuyển cho nhà ông hàng xóm để ông đun bánh chưng. Hôm mang bánh sang biếu gia đình tôi, ông bảo số giấy tôi cho ông đun được cả tiếng đồng hồ. Và lắc đầu: “Nhìn mà khiếp cho cái nghề của ông!”
Ông hàng xóm lưỡng lự định nói gì thêm, nhưng rồi chỉ cười cười vẻ thương hại. Chắc ông ấy không nỡ bảo “đánh đĩ thế chả đủ tiền son phấn”.














Trở về








MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.