Saturday, 28 February 2015

Thụy An (1916 - 1989)




















Thụy An

Lưu Thị Yến
(1916 - 1989)
Hưởng thọ 73 tuổi
Nhà văn, Nhà thơ, Nhà báo



























Mặc gió rụng tóc xanh từng sợi

Tung ra xa bay với mây trời

Mặc cho nắng dãi mưa phơi

Mặc cho muối đã mặn mòi lòng sương
Mặc bao cuộc hưng tàn phế đổi
Vẫn đăm đăm một đợi, một chờ
Mẹ con hoá đá trơ trơ
Mẹ là tin tưởng, con là tương lai.


Đó là tâm trạng Tô Thị hoá đá, mà cũng là tâm trạng của tôi suốt 15 năm cho đến mãi mãi.


Thụy An

























Chân dung Thụy An 1942



Thụy An tên thật là Lưu Thị Yến (1916-1989), là một nhà văn và là người phụ nữ duy nhất bị kết án tù, rồi tự chọc mù một mắt của mình, do bị tố cáo là gián điệp, phản động trong vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm tại Việt Nam.













Tiểu sử



Thụy An sinh tại Hà Nội, nhưng quê gốc ở làng Hòa Xá, quận Vân Đình, tỉnh Hà Đông, là con ông Lưu Tiến Ích và bà Phùng Thị Tôn.



Có khiếu thơ văn từ nhỏ nên năm 13 tuổi, bà đã có thơ đăng trên báo Nam Phong (1929) và 3 năm sau, lại nhận được giải thưởng văn chương của Triều đình nhà Nguyễn.



Chồng Lưu Thị Yến là nhà văn, nhà giáo Bùi Nhung bút hiệu là Băng Dương, em ruột học giả Bùi Kỷ. Nhưng sau khi bà sinh được 6 người con, thì ly thân với chồng từ 1949. Người (tình?) của Lưu Thị Yến là ông Đỗ Đình Đạo, một nhân vật quan trọng của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau ông Đỗ Đình Đạo chết vì một nguyên do còn nhiều nghi vấn.



Trong thời kỳ Nhân Văn–Giai Phẩm, nhà văn Phan Khôi nhận Lưu Thị Yến là con nuôi. sau khi báo Nhân Văn và Giai Phẩm bị đình bản, bà bị bắt năm 1958 và trong phiên tòa ngày 21 tháng 1 năm 1960 xét xử bà tại Hà Nội, nhiều nhân chứng đều cho rằng bà đã có ảnh hưởng không nhỏ đối với một số văn nghệ sĩ tham gia phong trào này. Tuy nhiên, những người trong cuộc như Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt phủ nhận sự tham gia của bà trong nhóm.


Năm 1973, Lưu Thị Yến cùng với Nguyễn Hữu Đang, cũng bị tù vì vụ Nhân Văn–Giai Phẩm, được thả trong diện "Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris". Vào thành phố Hồ Chí Minh, bà quy y ở Chùa Quảng Hương Già Lam năm 1987 và mất năm 1989, tại nhà riêng ở đường Lê Văn Sỹ



Nghiệp văn

Thụy An đã từng làm chủ nhiệm những tờ Đàn Bà Mới (Sài Gòn), Phụ Nữ Tân Văn (Sài Gòn), Đàn Bà (Hà Nội), đã từng là quyền giám đốc Việt Tấn Xã và phóng viên chiến trường.

Về mặt sáng tác, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại cho biết:Tác giả Thụy An vốn là một nhà thơ. Tôi đã đọc thơ của Thụy An trong Phụ Nữ Tân Văn, trong Đàn bà mới và trong tuần báo Đàn bà.

Đánh giá về tiểu thuyết Một linh hồn của Thụy An, Vũ Ngọc Phan viết:Một linh hồn chính là một tiểu thuyết tình cảm, tả những tính tình rất ngây thơ, rất trong sáng của Vân, một cô gái giàu lòng tín ngưỡng và giống như một bông sen, tuy " gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"…Nhưng đọc Một linh hồn, người ta nhận thấy điều này không được thiết thực: Hà Nội chưa có cái trình độ có một gái giang hồ sang trọng như Bảy Thanh, có lẽ tác giả đã đem cái khung cảnh Nam Kỳ, là nơi tác giả đã từng ở lâu năm, ra đất Bắc. Điều thứ hai nữa là đọc Một linh hồn, người ta vẫn chưa có cảm tưởng mình sống trong truyện cùng các nhân vật. Có lẽ Thụy an đã tả Bảy Thanh bằng những nét bút thô bạo quá và tả Vân bằng những nét mềm yếu quá chăng?Tuy vậy, Một linh hồn cũng đáng kể là một tiểu thuyết xuất sắc của phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay: tác giả đã giàu tưởng tượng, truyện lại xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn.


Thụy An và vụ Nhân văn-Giai Phẩm

Về vai trò của Lưu Thị Yến trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Bàng Sĩ Nguyên cho biết: Thụy An là người phụ nữ duy nhất - ở trong hay ở ngoài phong trào - bị kết án là "gián điệp". Bà là một trường hợp đặc biệt, theo Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang, bà không ở trong Nhân Văn Giai Phẩm, vậy mà tên bà được nêu lên hàng đầu trong "hàng ngũ phản động" với nhãn hiệu "Con phù thuỷ xảo quyệt" và những lời lẽ độc địa nhất dành cho bà: "Như vắt ngửi thấy máu, Thụy An như rắn bò tới các câu lạc bộ Hội Nhà văn phun nọc độc mạt sát chế độ ta bần cùng hoá nhân dân"Vậy, vụ án Thụy An có phải là một vụ án chính trị? Hay là một sự quy kết oan uổng?

Ông Nguyễn Hữu Đang nói nguyên văn như sau: Bà Thụy An không tham gia gì vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cả. Bà ấy không viết một bài, một câu, một chữ nào cho Nhân Văn cả. Bà ấy cũng không hề mách nước, bàn bạc gì với người khác hay với tôi bao giờ cả. Không, không hề có, tuy rằng có quan hệ, thỉnh thoảng có gặp nhau, cũng nói chuyện.

Nhà thơ Lê Đạt cũng có khẳng định:Tôi nhắc lại một lần nữa là chị Thụy An chưa bao giờ ở trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cả. Nhưng chị Thụy An rất thân với anh em trong Nhân Văn Giai Phẩm và đặc biệt là thân với tôi. Người ta buộc tội chị Thụy An, người ta cứ buộc tội mập mờ thế thôi, nhưng tội chính của chị Thụy An là thế này: Là gián điệp cài lại để lũng đoạn nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Nhưng cho đến khi tôi biết thì tôi cũng chẳng thấy chị ấy viết bài nào cho Nhân Văn Giai Phẩm cả. Thế mà chị ấy đối với tôi thì lại rất quý, chị ấy luôn luôn mua đồ đạc cho tôi, cho vợ con tôi, và tôi cũng chẳng thấy chị ấy bàn với tôi về việc viết một bài nào cho Nhân Văn Giai Phẩm cả. Thế cho nên việc ấy tôi cho cũng là một cái oan rất lớn.Tôi có thể bảo đảm 100% chị ấy không phải là gián điệp. Tại vì thế này: Nếu là gián điệp thì phải có chứng cớ chứ! Chị nhận tiền của ai? Nhận tiền ở đâu? Liên lạc với ai? Cho đến bây giờ tôi vẫn thấy đó là một câu hỏi mà nhà nước chưa trả lời tôi được. Chưa có chứng cớ thì làm sao có thể kết luận người ta là gián điệp được. Thì cứ cho tôi là người mù mờ đi, tôi bị chị mua chuộc đi. Tôi nhớ lại tất cả cuộc đời của tôi, thì chị ấy chưa mua chuộc tôi lần nào cả. Và chị ấy chỉ giúp đỡ tôi rất nhiều. Cho nên đến bây giờ tôi thấy là: Riêng về trường hợp chị Thụy An, tôi vẫn rất ân hận. Tại vì chúng tôi đã được phục hồi nhưng chị Thụy An chưa được phục hồi gì cả. Mà một trong những tội lớn nhất của chị ấy là mua chuộc tôi. Thì như các bạn đã biết, tôi chưa từng cảm thấy bị mua chuộc mà chắc cũng chưa ai mua chuộc được tôi. Cho nên tôi thấy riêng tôi bây giờ nói những dòng này, tôi vẫn khao khát và thiết tha có một dịp nào đó, người ta phục hồi chị Thụy An một cách chính thức. Không có thì riêng tôi, tôi đối với chị Thụy An, tôi vẫn cho là món nợ. Còn về chị Thụy An, tôi phải nói thế này: Chị Thụy An là một người rất giỏi. Chị ấy là một trong những cây bút nữ đầu tiên của Việt Nam. Mà theo tôi, chị Thụy An nói kín hở cho tôi biết, thì chị ấy đã từng tham gia kháng chiến! Việc liên lạc với kháng chiến trong thời ấy thì mình mất mối là chuyện bình thường, mà mất mối thì mình không thể chứng minh được. Bây giờ cũng đã lâu rồi, đã gần 50 năm rồi. Tôi thấy chúng ta có thể mở những kho tài liệu ra để buộc tội hoặc minh oan cho một người cho rõ ràng và khi mình đặt rõ ràng về phận vị rồi thì mình phải trả lại danh dự cho người ta. Và lúc đó chúng ta hãy bàn đến vấn đề chị Thụy An đóng góp gì trong cái phong trào thời ấy. Lúc đó chúng ta có đủ bình tĩnh hơn để bàn về vấn đề này. Riêng tôi thì không bao giờ tôi quên công của chị Thụy An đối với tôi cả.



Chú thích

Theo web Hợp lưu

-Ông Bùi Nhung hai lần làm giám đốc đài phát thanh Hà Nội từ 1948-49, và 1951-52, rồi giám đốc đài phát thanh Hải Phòng năm 1954 (trong thời gian 180 ngày trước khi vỹ tuyến 17 đóng lại).
-Sinh 7 con, một người mất sớm, còn lại là: An Dương (1934), Thụy Băng (1937), Thư Linh (1938), Dương Chi (1939), Ngọc Trinh (1943) và Châu Công (1945).
-Không ly dị vì cả hai đều theo đạo công giáo.
-Thụy An và Đỗ Đình Đạo chia tay năm 1952. Nhưng đến 1954, khi Đỗ Đình Đạo bị đầu độc chết, dư luận buộc tội bà giết chồng,
-Năm 2004 Lê Đạt tuyên bố trên RFI phủ nhận bà ở trong Nhân Văn Giai Phẩm và tỏ rõ sự kính trọng và lòng tri ân đối với Thụy An
-Theo báo Nhân dân (13-23 tháng 04 năm 1958 trích trong Shawn McHale, Journal of Asian Studies 61: 1, 2002, tr. 19), bà bị kết tội có quan hệ gần gũi với gia đình tướng De Lattre de Tassigny và Giám đốc Sở Mật vụ Pháp Marty, và là nhân tình của một nhân vật trong Việt Nam Quốc dân Đảng [1]










Thơ





Lời toà soạn của tạp chí Trăm Hoa: Bài thơ chiếc lược của chị Thuỵ An sáng tác đã gần một năm nay. Theo lời chị thì bài này từ lâu đã được đưa cho Hội Văn nghệ và nhà xuất bản Văn nghệ. Hội Văn nghệ không có ý kiến gì. Các bạn trong nhà xuất bản thì nhận xét thấy “tương đối khá” và chuyển sang Vụ Văn hoá đại chúng đề nghị cho in vào loại phổ thông. Nhưng Vụ Văn hoá đại chúng lại cho rằng bài thơ không hay, có trả lời rằng: “Những bài thơ loại này chúng tôi có nhiều, vậy xin trả lại...” 

Trăm Hoa được đọc “Chiếc lược”, nhận thấy bài thơ thể loại này rất hiếm. Thật là một bài thơ giá trị. Chúng tôi rất mong nhận được nhũng bài thơ như thế này của chị Thuỵ An cũng như của các bạn khác, để vườn hoa được thêm nhiều hương sắc. 






Chiếc lược



Lược em bé nhỏ
Lược em thanh thanh
Công ai đẽo gỗ chuốt thành
Để em chải mớ tóc xanh rà rà
Tóc em nuột nà
Em chửa muốn rời tay lược
Lược với tóc vân vi thỉ thót
Những năm dài mơ ước khát khao. 


Tóc khi cun cút trái đào
Chiếc lược trong ô cô hàng xén
Thường đêm hiển hiện trong mơ
Lược không đáng giá vài xu
U vẫn khất lần khất lữa
Khất ngày tóc chấm đầu vai
Đói cơm đói cháo, anh oi!
Ước gì nuôi được tóc dài cho mau
U dỗ: “Con sang hầu cụ Chánh
Kiếm cơm ăn nhẹ gánh cho u
Cuối năm công bớt vài xu
Con mua lược chải tha hồ đẹp xinh”.
Em đem mơ ước đinh ninh
Về thẳng nhà địa chủ
Em đem mái tóc xanh
Về thẳng nhà địa chủ
Hơi trâu thay hơi mẹ
Đòn vọt thay áo cơm
Đêm nằm gỡ cỏ gỡ rơm
Bám đầy trên tóc
Hẹn với tóc cuối năm mua lược
Làm tốt làm xinh
Năm lại năm tóc đã cuốn vành
Thấy cô hàng xén mà đành ngoảnh đi
Nóng tai tiếng riễu tiếng chê
Con đầu bù quạ đánh
Áo tả tơi trăm mảnh
Hở cả ngực cả vai
Em càng biết hổ ngươi
Càng xót xa tủi cực
Đầu có bao nhiêu tóc
Là bấy nhiêu tội tình
Nhưng địa chủ tàn ác
Không cấm nổi tóc xanh

Đêm kia trăng rộn mái đình
Bỗng xui em nhớ tuổi mình tròn trăng
Chỉ thô khíu vội áo quần
Em tưng bừng đi hội
Chợt nhớ đầu bù tóc rối
Chùn bước thủi thủi phận mình
Hội làng đông ả đông anh
Em muốn chút xinh, chút lịch
Mượn trộm lược của con mẹ Chánh
Chải vội chải vàng
Tóc bóng mặt gương
Đầu ngôi thẳng tắp
Ra đình che nón rách
Tìm nơi tốt nhất ngồi nghe
Tiếng hát giao duyên gió động cành tre
Gió đưa cành trúc tình ngơ ngẩn tình:
“Hỡi cô tóc tựa mây xanh
Đầu ngôi như sợi chỉ mành mới ngâm
Có duyên xa cũng như gần...”
Em thẹn cúi gầm không hát đối
Nhưng từ đấy suốt trong đám hội
Bốn mắt trộm nhìn nhau
Lòng muốn nói trăm câu
Muốn hội dài mãi mãi
Trống rã đám, ai còn hát với:
“Hẹn xuân sau ta lại với mình
Xuân sau tóc hẳn thêm xanh
Đường ngôi bắc nhịp cho mình gặp ta”

Xuân sau áo rách sơ
Không tài gì khíu vá
Tóc rối bù tổ quạ
Lấp mất cả đường ngôi
Địa chủ ăn cướp công tôi
Tiền đâu mua lược đi chơi hội làng?
Trống đình giục nhớ giục thương
Gió đưa tiếng hát trách hờn của ai:
“Hẹn lời lời lại đơn sai
Đường ngôi rẽ lệch duyên hài đôi ta”
Vẳng nghe tiếng hát
Nước mắt như mưa
Cảm thương tóc rối đầu bù
Lấy gì dáng sớm duyên trưa với chàng?
Ai ngăn được kén đừng vàng?
Ai ngăn được suốt đừng ràng với thoi?
Em nửa sợ nửa vui
Lại đi mượn trộm lược
Nghe trống giục tay run lập cập
Chiếc lược rơi đánh chát xuống sân
Thế là tai hoạ khôn ngăn
Vợ thằng Chánh túm lấy em đạp đánh
Đánh chưa đã nó còn ác khoảnh
Lấy dao cau gọt sạch tóc mai
Sót công mười mấy năm trời
Cơm thiu cháo hẩm tôi nuôi tóc thề
Ngoài đình tiếng hát não nề
“Tưởng dêm mở hội đi về có nhau
Bây giờ lược chẳng giắt đầu
Hội vui thiên hạ phải đâu của mình
Anh về tát nước thâu canh
Ngắm sao mà hỏi sao đành phụ nhau”
Em quên tóc cụt, đòn đau
Chạy vùng lên đình Thượng
Ai vì tôi ngăn cản
Cho ai đừng bỏ về
Đường đồng nhạt ánh sao khuya
In dài chiếc bóng
Dầu nửa trọc nửa buông sông tóc
Áo quần tơi tả xác xơ
Khác gì xác quỷ hồn ma
Chạy ra đám hội để mà nát ai
Em nức nở từng hồi.
Nằm vật bờ ruộng thấp
Khóc sưng vù đôi mắt
Chẳng thấy Bụt hiện lên.

Hôm nay trống nổi liền liền
Tiếng gọi đi chia quả thực
Vợ chồng thằng Chánh thất nhân ác đức
Rẽ lứa duyên em
Đã gục xuống bùn đen
Không bao giờ ngóc nữa
Em đã hồng đôi má
Em đã thắm đôi môi
Tóc em lại mọc dài
Em đi nhận quả thực
Em chọn thêm chiếc lược
Về chải mãi chải hoài
Chúng chị em chớ cười
Em se sua làm dáng
Mười mấy năm mộng tưởng
Giờ lược mới về tay
Hẳn tiếng hát từ nay
Không bao giờ đứt khúc
Mái tóc mây em cài vành lược
Em ra đồng tát nước gầu đôi
Nhịp gầu tiếng hát đầy vơi
“Ước gì anh hoá lược cài tóc em
Tóc với lược liền liền sớm tối
Như ruộng đồng ở mãi với ta”
Nước rềnh giăng ngả đầu bờ
Mạ non gặp nước đôi vừa xứng đôi...

Thuỵ An (Cuối tháng chạp năm Mùi)

Nguồn: Trăm Hoa, ngày 4 tháng 11 năm 1956. Bản điện tử do talawas thực hiện.












Sao Lại Mùa Thu


Năm ấy xuân vừa mười sáu
Mộng trinh bừng nở má tơ
Môi đào cười rung mắt biếc
Xôn xao lắm gã học trò




Tay mềm ngoan ngoan cắp sách
Nghỉ hè theo học lớp riêng
Anh giáo trẻ mà mô phạm
“Các cô phải học cho siêng”




Vâng dạ bên ngoài lấy lệ
Ra về khúc khích bảo nhau
“Khéo gét anh Đồ Xứ Nghệ
Hơn mình mấy tí tuổi đầu




Đã thế...” Một chương - trình nghịch
Phăng phăng được thảo ra liền
Mấy cô dẩu mồm, đanh đá
“Muốn siêng anh sẽ được siêng”.




Bài học cho chừng trang rưỡi
Mà hôm anh gọi đọc bài
Lập tức thao thao bất tuyệt
Liến mồm đọc mãi không thôi.




Liên tiếp cô nầy cô khác
Đọc không dứt đoạn cầm hơi
Phút ngạc nhiên rồi, anh hiểu
Run run anh giận tái môi




Lớp học tan trong tẻ lạnh
Học trò lầm lũi bước ra,
Mắt anh tối sầm tức, tủi
Thương anh có kẻ trở vô




Đã có lời gì qua lại?
Giữa đôi thầy giáo học trò
Thầy vốn mang thân hàn sĩ
Trò nhiều tình cảm vẩn vơ




Chỉ biết kể từ buổi ấy
Lớp riêng ghi một ý riêng.
Trò gái chanh chua đáo để
Làm thinh, anh vẫn thản nhiên




Lặng lẽ nhìn vào góc khuất
Long lanh đôi mắt to đen
Đôi mắt vuốt ve an ủi:
“Binh anh có tấm lòng em”




Hai tháng, chao! đi chóng quá
Qua rồi lớp học nghỉ hè
Những người kia thôi chẳng tiếc
Nhìn em mắt chẳng nỡ lìa




Quê anh xa trong Xứ Nghệ
Núi cao, sông thật là sâu
Hung hãn vọng vào tiếng bể
Hờn căm rít ngọn gió Lào




Anh mang trùng dương giận dữ
Anh mang hoang-dại khô- khan
Dìu dịu mùa Thu xứ Bắc
Dạy anh biết thú mơ màng.




Đẹp là mắt người em gái
Nhìn vai áo rách rưng rưng
Đẹp là bàn tay mềm mại
Đôi khi vuốt trán nóng bừng




Em thương cảnh anh hàn sĩ
E rằng trọ học không lương
Em về kèo nài Thầy, Mẹ
Để cho anh giảng bài trường




Hận quá lòng em mười sáu
Dịu sao thương những là thương
Ngây thơ em đâu có biết
Mắt anh hừng trí bốn phương




Tay run nắm hồn dân tộc
Tóc xòa vương hận non sông
Môi bặm tai nghe rên xiết
Áo cơm đọa dưới cùm gông




Máu anh chẩy giòng uất hận
Anh là thù của chữ thương
Rạt về mùa Thu Hà-Nội
Sao lòng anh bỗng vương vương




Sao bỗng vui niềm trưởng giả
Ánh đèn sáng mái đầu tơ
Khô khan chàng trai Xứ Nghệ
Có chiều lại biết làm thơ.




Có chiều nhìn bàn tay trắng
Bút cầm trên giấy nhẹ đưa
Ám tả anh ngừng, quên đọc
Rằng: Em có nghĩ bao giờ




Về thăm quê anh trong đó
Ngắm nhìn Hồng Lĩnh cao cao
Hùng vĩ chín mươi chín ngọn
Khí thiêng sản xuất anh hào.




Em cười ròn tan buồng học:
“Em yêu Hà-nội mà thôi”
Lơ đãng ảo huyền cất bước
Thời gian bóng đổ u hoài




Nhưng anh vẫn chăm rèn cặp
Và em vẫn cố học hành
Rồi anh bắt đầu dẫn dắt
Dạy em khui lửa bất bình




Oán hận réo sôi lòng đất
Đời chưa vẽ nét đan thanh
Công lý tù đầy uất uất
Miếng cơm ngẹn họng nhân sinh




Anh mơ buổi mai nhân loại
Anh mơ cháy rực mắt sâu
Anh mơ lõm đôi gò má
Anh mơ tóc chĩu mái đầu




Ngoan ngoãn là người em gái
Cùng anh chung một mối mơ
Cùng anh chia niềm uất hận
Tương lai nhân lọai hẹn hò




Đổi thay cũng người em ấy
Mấy chiều chẳng đến học anh
Bóng vẽ lê mình gác xép
Tiếp phong thư nhỏ giật mình”




“Em sắp lấy chồng, anh ạ
Mừng em anh có gì không?”
Cười gằn, phong thư xé nhỏ
Xé tơi những ngón tay hồng.




Ghê cái mùa thu Hà-nội
Hững hờ mấy lá vàng bay
Ru nỗi buồn câm phố vắng
Lê chân vẹt mấy gót giầy.




Anh những âu vui duyên mới
Lâu lâu chợt nhớ tới anh
Môi đào nhoẻn cười hóm hỉnh:
“Hẳn là anh ấy giận mình”




Nhẩm tính thăm anh một buổi
Chần chừ nay hẹn đến mai
Riêng những tấm lòng phơi phới
Thời gian thâu vắn chẳng dài




Vun vút thoi bay cửa sổ
Mùa thu qua mấy mùa thu
Em đã con bồng con bế
Vô tình quên hết bạn xưa




Để có hôm kia một buổi
Trời cuồng trút hết gió mưa
Kẻ lớn trong nhà xa vắng
Mình em nghe đổ phong ba




Anh bỗng hiện ngoài khung cửa
Xé trời tiếng sét nổ theo
Mắt cháy hừng hừng cuồng nhiệt,
Nhếch môi nửa hận nửa kiêu




(Run rẩy thương lòng thiếu phụ
Phút giây bừng hiểu muộn rồi
Cúi mặt lắng nghe ân hận
Tràn dâng khóe mắt đầu môi.)




Anh đã nói gì anh hỡi!
Em nghe loáng thoáng mơ hồ
Tình lỡ sầu theo nửa mộng
Hẹn về toàn thắng mùa Thu




Mùa Thu mùa Thu về đây
Có người ghìm mộng trong tay
Có người mang hia chiến thắng
Đi tìm em của những ngày.




Em đã khác rồi, em đã...
Biển dâu này lại biển dâu
Vừa mới rụng tàn thế hệ
Ai còn “Hải thị thấn lân”?




Thôi nhe, ừ em về bên ấy
Mỏi rồi, chơi cuộc hú tim
Đã rẽ đôi giòng lý tưởng




Hương xưa: ngọc đắm châu chìm
Em còn hẹn hò Hậu Kiếp
Anh không tin chuyện luân hồi
Lai sinh em chờ người đó
Kiếp này anh mộng cùng ai?



*




Mưa gió nấc câu tương biệt
Ai nhìn theo hút Tiêu Lang?
Ai đếm bước chân lưu lạc
Ai chờ nghe khúc khải hoàn.



Nguyên Quy (Thụy An)
(Nguồn: motgoctroi.com)




























Truyện ngắn 


Giết chó




1.





Mới tinh mơ ở cái ao đầu xóm đã diễn ra một quang cảnh rộn rịp y như quang cảnh hôm ba mươi Tết. Mấy cái cầu bắc chung quanh ao đông nghịt những người, và người nào cũng bận một công việc giống nhau: làm thịt chó. Mặt ao loáng màu máu đỏ, và ngầu lên những bọt bẩn. Vài túm lông vàng, đen, trắng trôi lập lờ trên mặt nước. Một mùi tanh tanh khăn khẳn xông lên, dính trong không khí ẩm ướt như không chịu tản đi. Nhưng có vẻ không ai ngửi thấy. Họ vẫn mải miết làm, bàn tay thoăn thoắt rất thành thạo. Dao đưa đến đâu màu da trắng tái gần như xám xanh trên thân mình con vật lộ dần đến đấy. Những người ra sớm xong công việc làm lông rồi thì họ làm đến bộ lòng. Mớ ruột dơ cao lên ngoằn ngoèo, họ lấy tay tuốt từ trên xuống, những vật dơ bẩn trong ruột phòi ra, họ vẩy tay, hất xuống ao. Nước ao động đậy, những chú cá bé dạn dĩ ngoi lên đớp đớp.


Trên bờ ao, đó đây vài đống rác được nhóm lên thui những con chó đã làm lông và cọ rửa sạch sẽ. Trong mùi khói khét lẹt từng lúc lại sực nức mùi thịt thơm. Những cái hít ra hít vào, thưởng thức. Mỗi người nói một câu:

- Chà! Thơm điếc mũi.

- Tớ chảy nước rãi rồi.

Anh Hương đang dúng mình con chó xuống ao, bỗng hốt hoảng kêu lên:

- Bỏ mẹ! Quên không dặn nó đi lấy rượu. Hôm nay cả làng "mộc-tồn" thế này thì rượu bà Tư Gù đủ bán thế chó nào được. Có ai về bảo hộ mẹ cu nó nhà tôi chạy đi lấy rượu ngay cho tôi không? Hết mẹ nó rồi cũng nên.

Anh ta nhìn ngang nhìn ngửa. Rồi gọi rối rít:

- Cu Tời ơi! Mày về bảo hộ tao cái, chóng chốc tao cho khúc dồi.

Thằng Cu nguây nguẩy:

- Tôi chả ăn. Nhà tôi hôm nay cũng khối dồi.

Nó điềm nhiên ngoặt hai tay ra phía sau ôm lấy gáy, đứng xem anh nó làm con chó của nhà nó.

- Mẹ kiếp, làm bộ! Bên bác Trưởng mua rượu chưa? Chưa mua thì mua dùm em nửa chai nhân thể nhé.

Bác Trưởng vừa nghiêng đầu, cúi xuống vai áo chùi đôi mắt ướt chàn chụa vì khói vừa oang oang đáp trong khi hai tay vẫn lăn giở mình con chó trên ngọn lửa cho vàng đều.

- Bu nó mua từ hôm qua kia chứ ạ. Chứ hôm nay đông người mua thế này thì gọi là bà Tư Gù bà ấy bỏ muối vào mắt mà lấy tiền.

Bác Hương làm vội làm vàng cho xong công việc, đặt con chó vào rổ, đứng lên, lách sau lưng những người ngồi liên tiếp hàng dài trên cầu ao, đi lên bờ. Những người ngồi dưới lại dồn vào phía trong, nhường chỗ ngoài cùng cho người khác ở trên bờ bước xuống. Chiếc cầu tre kẽo kẹt rún lên rún xuống!

Từ trong xóm luôn luôn những chân người huỳnh huỵch chạy ra phía ao, tay người nào cũng ôm một cải rổ đựng toàn một thứ chó. Có con vừa chọc tiết xong máu chưa đông kịp rỏ dòng dòng xuống đường, điểm những vết đen thẫm trên đất và đỏ tía trên cỏ xanh.

Bờ ao thì mỗi lúc một đông thêm. Người đứng chờ trên bờ dục* người ngồi dưới cầu.

- Phiên phiến một tí anh em ơi. Còn cho người khác làm chứ!

Tức thì dưới cầu nhao nhao đáp lại:

- Không làm thì chơi đấy à? Rét bỏ mẹ cóng cả tay, ai còn thèm ngồi găm cơ chứ.

Những người đã có chỗ ngồi yên trí rồi, chuyện nở như gạo rang:

- Ừ! Sao các ông ấy không để thong thả làm dần, lần lượt từng xóm. Ai lại cho có 24 tiếng đồng hồ bao giờ! Mà bao nhiêu là chó.

Người khác phụ họa:

- Giá cứ để làm lần lượt có phải hay bao nhiêu không. Gọi là cứ chén hàng tháng. Nay nhà bác, mai nhà tôi, ăn đụng. Chứ thế này thì ăn dốn!
- Ấy có thế này thì vợ con mới được một vài miếng. Chứ lần lượt mời nhau ăn đụng thì chỉ chui vào mồm các bố cu cả.
Mọi người cười ha hả, rồi lại tiếp tục:
- Bắt giết gấp thế này thì có nhà dễ phải giết đến bốn năm con một lúc ấy nhỉ.
- Của nợ! Ai làm thế. Bán bớt đi chứ. Không trông phiên chợ sáng qua đấy à? Trên thì người dưới thì chó.
- Gớm? Cái bác phải gió! Ví với von!
Câu chuyện quanh quanh mãi về mấy con chó mà không hết. Cho đến xế trưa, ngoài ao vẫn còn người mang chó ra làm. Trong xóm tiếng dao thớt lát chát nghe mãi như hình có âm điệu đáp gọi lẫn nhau. Trẻ con thì thụt như đèn cù trên đường xóm. Chúng được sai đi vay củ giềng, xin nắm lá, mua cút rượu. Mấy anh cùng đinh trong làng không có lấy con chó để giết với thôn xóm làm vui, hôm nay tha hồ mà ăn ghẹ, ăn phò, đem những chuyện chó béo chó gầy, dựa mận nấu khéo, nấu vụng, kháo hết nhà này sang nhà khác. Tiếng cười nói vang vang khắp mọi nhà. Họ quên trong chén rượu, miếng thịt, những tiếng súng đại bác, liên thanh mỗi ngày một nghe rõ hơn như tiến dần về phía làng.


2.



Bác Hương giã cơn say rượu thì đã gần nửa đêm. Bác mở mắt, thần trí đê mê không nhận rõ được mình nằm đâu. Bác quơ tay chung quanh. Trong bóng tối tay bác đụng phải thằng cu Tí, con trai bác, nằm uốn cong người, co quắp như con tôm để lấy thêm hơi ấm. Bác đã bắt đầu tinh tỉnh, nhớ bữa chén hồi chiều, bữa chén còn lại của bữa chén buổi sáng. Và lúc ấy bác mới biết cổ họng bác khô nóng và lưỡi thì cộm lên. Bác nghĩ đến tích nước dưới gậm bàn thờ để giải cái khát đang đốt cháy họng. Bác ngồi dậy, đặt hai chân xuống đất. Nhưng bác bỗng giật mình, đờ đẫn cả người. Sao mà lại im lặng thế này. Không phải chỉ im lặng ở trong khu nhà bác, xóm bác mà bác có cảm tưởng cái yên lặng ấy từ đâu đâu lan đến, bao trùm khắp làng, khắp cả thiên hạ. Bác rờn rợn quơ tay sờ đứa con như để tìm một cái gì là sinh khí, một cái gì thủ thân. Bác nghĩ đến vợ nằm trong buồng, bác đặt chân xuống đất, rón rén men dần vào buồng, bước đi thật êm, thật nhẹ như sợ khua động những cái gì rất ghê rợn lố nhố rình nấp trong cái yên lặng dị thường này.

Bác đến sát bên giương vợ, sẽ lay vợ đang ngáy đều đều. Tiếng ngáy quen thuộc khiến bác thấy vừng lòng đôi chút. Bác gái từ từ thức giấc, làu nhàu :

- Cái gì thế. Gớm hơi rượu sặc lên, không ai chịu được.

Tuy nói thế nhưng bác cũng giở mình, nhích vào phía trong nhường chỗ cho chồng. Bác Hương còn lòng dạ nào mà nằm xuống. Bác chỉ ghé ngồi khe khẽ bảo vợ:

- U mày ạ! Dậy! Tao bảo cái này.

Giọng thầm thì ẩn dấu một sự gì quan trọng và sợ hãi. Bác gái chột dạ nghĩ ngay đến chuyện cướp, chuyện trộm; chuyện mặt trận đã tới làng. Bác vùng trở dậy rất ý tứ cho cái dát giường khỏi loạt soạt. Trống ngực đập thình thịch, bác ghé sát mặt bác giai:

- Làm sao hở! Nhà nó?

- U mày nghe xem.

Bác gái lắng tai đợi nghe tiếng khoét vách, đào ngạch, tiếng chân người rồn rập ngoài hè, ngoài vườn. Chẳng thấy gì cả. Bác chỉ thấy một sự yên lặng như tờ. Một sự yên lặng lạ lùng chưa từng thấy bao giờ. Bác nói, giọng tự nhiên thầm thì trong hơi thở, gấp khúc:

- Có gì đâu. Mà đêm nay trong làng làm sao ấy nhỉ. Im phăng phắc!

Bác bỗng nhớ đến lệnh tản cư đã rao từ mấy hôm nay và chợt có ý nghĩ trong khi bác ngủ tất cả làng đã bốc đồn đi rồi còn trơ lại gia đình bác giữa một cái làng bỏ hoang. Bác hốt hoảng rên nho nhỏ:

- Làm thế nào bây giò? Nhà nó châm đèn lên cho tôi nhặt nhạnh rồi ta cùng kéo đi thôi, chứ ở đây chịu chết à?

Bác Hương cố nghĩ, mới hiểu vợ định nói gì. Bác đáp:

- Không phải thế. Cả làng nhà nào vẫn ở yên nhà ấy. Nhưng u mày nghe mà xem. Thin thít như cái năm động giời ấy. Tao rợn quá!

- Phỉ thui! Chỉ nói dại! Bỏ mắm bỏ muối vào miệng ấy!

Nhưng bác cũng lây cái rợn của chồng rồi. Bác tưởng tượng như ngoài ngõ vắng, các bà, các cô đang đi gieo hoa rắc đậu, những đoàn âm binh đang đi bắt lính trần gian. Bác rợn tóc gáy. Đúng là cảnh tượng năm xưa làng có dịch-khí ngày chết năm, mười người. Đêm đến, làng xóm cũng lặng tờ như thế này. Không một tiếng chó sủa. Người ta bảo những con chó sợ đoàn âm binh núp cả vào một chỗ im thin thít. Nghĩ đến những con chó, bác chợt liên tưởng [...?] thoắt trút hết sợ hãi trong lòng bác. Bác nằm kềnh xuống giường, cười:

- Rõ nợ! Giết hết cả chó rồi thì làm gì đường ngõ, làng xóm chả im phăng phắc kia chứ. Thật thần hồn nát thần tính, phương ngôn nói không sai.

Bác Hương nghe rõ từng lời của vợ. Bác bỗng tức mình. Ừ sao bác không sớm nghĩ ra thế mà lại để cho vợ nghĩ mất trước. Bác thèn thẹn cho sự yếu bóng vía của mình, nên khi bác gái dục *:

- "Thôi nằm xuống ngủ đi", bác gắt:

- Cứ việc ngủ. Tao còn thức.

Tuy biết vợ nói đúng. Nhưng cái yên lặng khác thường vẫn làm bác ngạc nhiên như hình chưa quen. Bác lại lần ra nhà ngoài sờ soạng tìm cái đĩa đựng dầu rồi lấy đóm hút một điếu thuốc lào. Ánh lửa phập phùi, tiếng điếu lọc sọc, gợi cho bác một cảnh tượng ấm cúng. Nhưng bác vẫn không thấy vững lòng. Bác cảm như thiếu một cái gì, nhớ một cái gì, không đầy đủ như mọi đêm bác vẫn hay thức giấc để hút điếu thuốc: Thiếu cái gì? Nhớ cái gì? Bác nghĩ ra rồi. Bác nhớ một tiếng động rất quen thuộc, mật thiết với bác như một phần đời của bác. Tiếng động của con chó rùng mình vẫy đầu vẫy tai trong bóng tối khi thấy chủ thức giậy hút thuốc thì lách mình qua liếp cửa mà vào, lấy chân gãi lông soàn soạt rồi gừ gừ nhàu nhàu nằm bẹp dưới chân chủ.
Chả bao giờ bác chú ý đến những con chó bác đã nuôi cả, những con Vàng, con Vện, con Mực, con Bông không biết bao nhiêu con đã sống, đã chết, đã bị làm thịt trong gian nhà bếp của bác. Nhưng đêm nay, những cử động của những con vật ấy bỗng linh hoạt hiển nhiên trong trí bác. Bất giác bác nhìn ra phía cửa liếp hồi hộp cho một sự xuất hiện tất nhiên phải có, thì đêm mới là đêm, cũng như đêm thì phải có bóng tối vậy. Nhưng im lìm cả. Lờ mờ bức cửa liếp đứng sừng sững, bất động như một cái gì đã chết. Phía ngoài cái liếp cũng là sự chết nữa. Bác cảm xúc rõ rệt như thế. Một tai họa lớn lao sắp sửa gieo xuống làng bác, đang bắt đầu gieo như là kinh mạt-kiếp năm kia năm kìa bác đã nghe: "Gà không gáy, chó không sủa, rắn rết bò ra đầy đường".
Ba tiếng "chó không sủa" gợi lên trong tưởng tượng bác tất cả sự hoang vắng rùng rợn, sự hủy hoại thảm thê, những tai nạn không phải sẽ chỉ do người gây ra, mà ghê gớm hơn, là lại do cả những sức mạnh huyền bí âm u nào giáng xuống. Những chuyện quái đản, tai trời ách đất ở đâu cứ nhắc dần trong trí nhớ bác, những chuyện của các bô lão kể ở những quán nước đầu làng, giữa khói thuốc lào và khói nước chè tươi nghi ngút. Và nghe kể thì những chuyện ấy xẩy ra bao giờ cũng có điềm gở báo trước. Cái việc giết chó này chính là một điềm gở. Bác bỗng giận sao người ta lại dại dột thế, lại bắt giết chó dại "y như là người tự dưng xé khăn trắng trong nhà vậy". "Rồi mà xem, còn là vô khối thiên tai". Bác thầm đe thế và tự mình lại đâm lo với lời mình đe.
Bác vớ chiếc điếu châm đóm hút. Điếu thuốc này sao mà say, say nhè nhẹ thôi, trí nhớ bác còn đủ sáng suốt nghĩ ngợi lờ mờ. Bác lại nghĩ đến con chó, con chó bác giết hồi sáng. Kể từ khi biết cầm con dao chọc vào cổ con chó, bác giết đã nhiều chó rồi, giết hộ hàng xóm, giết chó nhà bác nuôi. Nhưng bây giờ bác mới động lòng thương đến con chó này là một. Bác nhớ tiếng kêu ằng ặc, hai con mắt thảm thiết của nó hồi sáng. Lòng bác se se. Bác khó chịu với cái cảm giác ấy và thấy cần phải tợp một ngụm rượu. Người ta đến là lạ. Con chó làm hại thế quái nào được nước được non mà phải giết đi. Giết hết giống rồi, thì còn lấy đâu ra chó. Con chó dùng để giữ nhà, dùng để dành, khi giỗ, tết, có công, có việc thì lôi ra mà làm chén. Nó cũng như con lợn. Bao nhiêu là ích lợi. Mới lại từ nãy suy nghĩ bác cứ quanh quẩn mãi với điều nhận xét này mà chắc chẳng bao giờ bác dám nói với ai là con chó cần cho một cái làng và một cái nhà hơn cả con người ta nữa. Không có chó, hình như cái nhà không ra cái nhà, cái làng không ra cái làng. Trong sân nhà, hay ngoài ngõ xóm có mươi con chó nhùng nhằng có phải vui biết chừng nào! Rõ là một cái làng, một cái nhà có vượng khí. Chứ thế này, quạnh quẽ, lạnh lẽo như nhà thiếu-chủ sau đám tang vậy.


3.



Bác cứ rờn rợn, nơm nớp không sao yên tâm đi nằm được nữa. Bác mong cho trời chóng sáng, cho gà lên tiếng gáy. Sốt ruột quá, bác lại muốn chạy ra nhòm qua kẽ liếp xem phương đông trời đã hung hung tí nào chưa. Nhưng ngồi đang ấm chỗ, bác ngài ngại. Bỗng bác giật mình nhổm hẳn người lên. Tiếng chó ở đâu oăng oẳng sủa, sủa từng gióng một. Con chó có vẻ vừa sủa vừa nghe ngóng đợi chờ những tiếng sủa đáp lại của các bạn đồng giống.

Phút ngạc nhiên thoáng qua, nghe tiếng chó sủa bác Hương thấy tỉnh táo cả người vững lòng vững dạ. Bác mạnh bạo đứng lên, ra nhấc cánh cửa liếp ra hè. Tiếng chó sủa lên như đã xua đuổi hết cái yên lặng rợn người của thôn xóm. Bây giờ thì bác thấy quang cảnh lại y nguyên như mọi đêm, bình tĩnh và ấm cúng. Nhưng rồi bác chợt nghĩ ra một điều gì, bác cúi xuống nhặt một hòn đất ném vào phía chó đang sủa, bác lẩm bẩm:

- Mẹ kiếp! Chó của nhà nào?

- Ừ chó của nhà nào? Bác tự hỏi.

Cả làng đã giết sạch chó rồi kia mà. Bác chắc chắn thế. Gọi là một con chó nhách cũng không còn. Thế thì chó của ai mới được chứ? Bác phừng phừng tức giận cái kẻ nào mà lại dám giữ một con chó trong khi chó của tất cả mọi nhà đều đã bị bắn, bị thịt? Phía chó sủa là phía chợ Nhà, nhưng ai ở xóm chợ? À thôi, bác nghĩ ra rồi. Chính là con chó của lão ăn mày đêm đêm vẫn nằm nhờ trong quán chợ. Bác cáu lắm, hậm hực quay vào khép cửa liếp rồi đi thẳng vào buồng vợ. Bác thấy vợ đã ngồi lù lù trên giường.

- Bố nó đấy à? Chó đâu sủa thế?

Bác đáp:

- Chó của lão ăn mày ngoài chợ. Láo quá. Cả làng đến chết về con chó ấy chứ không chơi. Phải giết ngay mới được.

Bác gái yên trí lại nằm xuống, bảo chồng:

- Gớm có mỗi con chó mà làm như là con hùm con beo không bằng! Giết chó của ông lão thì ông lão còn biết đằng nào mà lần. Giời cho mình còn có mắt.

Bác gắt vợ:

- Thôi đừng nhân đức bà tú Đễ! Để rồi chết cả làng ấy à. Việc nước không phải chuyện đùa. Không thương lão ăn mày mù thì gọi là cứ bắn nốt cả lão ấy chứ lị! Muốn làm phản à?

Bác nói thì lại nghe một mình chứ. Bác gái nói rứt miệng, đã lăn ngay phò phò ngáy được rồi. Bác Hương ngả lưng bên cạnh vợ, vẫn tức tối con chó thỉnh thoảng lại cứ tiếng một mà sủa. Bác nghĩ có thể vì một con chó này mà cả làng chết hết chứ không còn một mống. Không biết những người có phận sự giữ an-ninh cho làng có nghe tiếng chó sủa không? Bác mong cho mau sáng để bác đi báo các nhà chức trách. Phen này thì bác "hặc" cả họ ấy chứ? Làm việc sơ sót đến thế à? Tự dưng bác thấy mình thành quan trọng lạ. Con chó vẫn sủa, dáng chừng tưởng đã nghe thấy tiếng bạn đồng giống trong cái vang âm rội lại của chính tiếng của mình sủa, nên tiếng sủa, lần này có vẻ hí hửng lắm.

Bác Hương cười:

- Ừ sủa đi con ạ! Cứ sủa đi. Mai thì con vào nồi con ạ!

Bác liên tưởng ngay đến món dựa mận, rồi lang bang cố nhớ xem con chó của lão ăn mày mù béo hay gầy. Đôi khi qua chợ bác vẫn gặp lão ăn mày và con chó. Nhưng bác để ý làm gì. Chhắc là phải gầy. Lão ăn mày còn chả có đủ ăn thì con chó béo với ai. Nhưng cũng có thể béo! Lão đi xin khắp mấy làng ở vùng này. Ăn sao hết! Con chó của lão béo hẳn đi chứ. Bác đã dịu dịu. Bác nghĩ đến mai sớm bác sẽ bảo Trương Sóc, Tư Thu cứ việc ra chợ mà tịch thu con chó của lão ăn mày! Thế là bác làm ơn làm nghĩa cho làng đấy, chứ tưởng! Còn lão ăn mày mù? Ngỏ cho lão biết là tốt. Không thì thí cho lão vài đồng bạc. Bác Hương khoái trá như đã giải quyết xong một vấn đề quan trọng rắc rối. Bác thiếp đi trong khi đang dở tính đến chỗ mai có nên nước vài gắp chả hay cứ dựa mận tuốt... tuốt cả.





(*) dục: Theo Việt Nam Tự Điển của Lê V Đức, Lê Ngọc Trụ, phải viết gi, giục giã:

- Trống tan canh mấy hồi giục giã (Cung Oán);

- Lòng ta ta đã chắc rồi, Nào ai giục đứng giục ngồi mà nao (Ca Dao).


Thụy An Hoàng Dân



Nguồn: Tạp chí Khởi Hành số 77, tháng 3.2003






Bà Mẹ, Cô Con và Mớ Tóc

THỤY AN







Thân kính tặng chị Trần Trọng Kim, tặng Diệu Chương sau này đọc cho Diệu Khuê nghe.





1.



Tiếng chân cô con gái đi lại cồm cộp trên sàn gác: những bước chân đi nóng nẩy, hậm hực chỉ định gây sự.

Hai vợ chồng già ngồi dưới buồng ăn lắng nghe, vẻ lo âu hiện trên nét mặt.

Ông nhìn bà:

- Nó giở chứng đấy.

Bà gắt, không phải gắt với ông, mà gắt vì bà đang bực dọc:

- Mặc kệ nó. Con với cái! Chỉ tại ông chiều nó lắm vào.

Ô hay! Sao lại tại tôi? Cả bà nữa chứ.

Bà Đốc không cãi được nữa. Bà chiều con cũng chả kém gì ông. Nếu có lỗi thì là lỗi ở cả hai ông bà. Nhưng lỗi gì? Nói thế đấy thôi, cho có chuyện, chớ chẳng bao giờ ông bà Đốc lại cho sự nuông chiều con là một điều lỗi. Ông bà sinh con một bề, hiếm hoi có mỗi một cô con gái, thì làm sao mà không chiều quý cho được. Nhất cô con lại có một tư chất thông minh, đã du học ngoại quốc về, đem cho ông bà Đốc một mối tự hào hãnh diện. Riêng ông Đốc càng thấy hãnh diện vì con hơn. Ông là một học giả có tiếng tăm trong xã hội. Không có con trai để kế tiếp chí cầu học, ông an ủi có được cô con gái mà tài học và thông minh xứng đáng là con của ông. Nhưng cô con đi du học về chẳng những đem theo sự hãnh diện cho bố mẹ mà thôi, cô cũng đem lại rất nhiều sự trẻ trung vui vẻ trong cái gia đình cổ kính ấy.



Ríu rít như chim, lanh lẹn như sóc, tính khí thất thường luôn luôn thay đổi, lại ích kỷ, như hòn đá nam châm, chỉ thu hút tất cả những sự chú ý của những kẻ quanh mình, cô con gái tung tăng gieo khắp nhà nào là cười, nào là hát, nào là hờn dỗi, nào là bông đùa dí dỏm, nào là ấm cúng dịu đàng cùng những sự săn sóc lặt vặt mà êm đềm. Cô khiến cho ông cha học giả phải nhớ rằng sự sinh thú ở đời không phải chỉ có trong những cuốn đã vùi đầu vào, mà sinh thú thật, sinh thú nhất là tiếng cười, tiếng khóc của cô con, là ở sự chiều con và dỗ dành con. Cô khiến bà mẹ tính tình điềm đạm theo khuôn phép ngàn xưa nhận thấy tình mẹ con bộc lộ càng thêm thân ái và cái tân thời cũng lắm điều hay. Ông bà trộn lộn cái tuổi già khắc khổ vào cái tuổi thơ ngây nhẩy nhót của cô. Tình thương yêu thân mật đã làm biến hết những cuộc xung đột mới cũ thường gặp rất gay go ở những gia đình khác.

2.

Ấy gia đình ấy đang ở trong cái tình trạng như thế thì xẩy ra câu chuyện mà ta đã mở đầu trên kia. Chuyện bắt đầu như thế này:

Có con tân thời như thế, lại du học như thế, mà vẫn giữ được mớ tóc giài trong khi những thiếu nữ khác, quanh cô, không nhiễm chút học mới, chẳng đi ngoại quốc bao giờ, đã cắt, đã uốn tóc cả rồi. Tại sao? Có lẽ tại cô không nghĩ đến chuyện cắt tóc bao giờ. À có, khi còn du học ngoại quốc, một giáo sư của cô đã nhắc cô nên hớt các tóc giài đi như các bạn đồng học cho tiện. Cô đã từ chối phắt, biết rằng bố mẹ cô, nhất là mẹ cô, không bao giờ bằng lòng. Mà khi ở xa mẹ, cô không muốn làm phiền lòng mẹ. Cô du học về, mấy năm rồi, vẫn giữ nguyên mớ tóc giài mà nay cô kết thành bím vòng ra sau gáy thành con số 8 đặt ngang. Cũng là một lối trang điểm tóc chiết trung giữa sự hớt ngắn rồi uốn và sự quấn theo lối Huế. Ông bố, bà mẹ thảng hoặc có trông thấy trong đám học trò cô- khi đó cô đã giậy học tư ở nhà- hay bạn cô, một người nào có cái đầu uốn quăn lên, cũng chỉ hạ một lời bình phẩm bâng quơ hết sức khách quan:
- Người đàn bà Việt Nam đẹp một phần vì cái tóc giài, cắt đi mất cả đẹp.
Cô Thanh cũng ừ hữ qua loa. Cả ba người không ai nghĩ đến một ngày kia cô Thanh lại có ý tưởng cắt tóc, uốn tóc như những cô nọ.
Vậy mà có một ngày cô Thanh nghĩ đến. Vào một buổi chiều khi mẹ cô đang nằm đọc Tam Quốc, và gần đấy cha cô đang lúi húi nghiên cứu vấn đề trên trời dưới đất gì đó. Cô bước vào ào ạt như gió bão. Ông bố vội buông cây bút, bà mẹ cuốn sách, cùng nghểnh trông cô, ngóng đợi, vì bao giờ, đi đâu về, thế nào cô cũng có một câu chuyện, bất cứ là chuyện gì, làm cho ông bố phải cười nhăn rúm thêm hai má và bà mẹ hay quen thói giữ gìn, cười ha hả thật to, chấm dứt cái giờ suông tẻ giữa đôi vợ chồng già. Hôm nay cô không có chuyện gỉ cả, cô liếc nhìn cha, có vẻ như muốn gạt ông vào một bên, cô tiến gần lại giường mẹ, tay vuốt má mẹ ngả ngớn:
- Mợ ạ, con cắt tóc nhé.
Cô chỉ nói với mẹ thôi. Há phải vì cô cho câu chuyện đó là chuyện riêng đàn bà. Cô chỉ nói với mẹ, vì cô thừa hiểu rằng trong câu chuyện này sự khó khăn cô có gặp phải sẽ là ở mẹ cô mà thôi. Và chuyện gì mà không thế ông bố già tuy nóng tính, song cô mua chuộc rất dễ, cầm chắc như là bao giờ cũng về phe với cô. Duy còn bà mẹ thì ghê gớm lắm, hiền lành ít nói, song dai dẳng phải kiên tâm mới thắng được bà. Cô đã từng phen chịu thua vì những lời mát mẻ, những sự phàn nàn hay làm cho to chuyện của bà.
Cô nhắc lại:
- Mợ ạ. con cắt tóc nhé!
Bà mẹ đã nghe thấy rồi. Bà lặng đi một giây. Vẫn biết cô con gái lắm khi trêu ghẹo bà, đã phát biểu những ý muốn rất quái gở, nhưng mà chỉ chốc lát bà biết ngay, đằng này giọng nói cô, vẻ mặt cô có cái gì khiến bà hiểu cô không nói đùa.
Bà thong thả ngồi giậy, vẻ mặt nguội lạnh. Đó là dấu hiệu bà sắp hờn giận. Bà ngảnh sang nhìn ông, vì ngồi hơi xa đang chú ý xem mẹ con nói gì... Bà dằn giọng mát mẻ:
- Kìa ông, ông nghe con ông nói gì không
- Cái gì?
Thanh không trả lời, cô hiểu rồi. Cuộc chiến đấu đã mở đầu và gay go hơn cô dự tưởng. Cô phải khôn khéo đứng cho vững thế, không nên nói năng hấp tấp.
Bà mẹ đợi con tự nhắc lại lời nói. Sau cùng bà đành lên tiếng:
- Cô ấy đòi cắt tóc - và sợ chồng chưa nghe rõ, bà nhắc thêm: cắt để uốn!
Ông bố nhìn con, nhìn vợ, thong thả nói:
- Thôi đừng vô lý nữa.
Ông nói chưa hết câu quay lại cắm cúi viết. Cô thấy câu nói của ông cũng vô lý nốt, vì bâng quơ quá.
Nhưng cô biết cơ hội chưa thuận tiện.
Cô bỏ ra phòng ngoài, hát hổng như không có chuyện gì, song trong đầu cô con gái bướng bỉnh nuông chiều đã sắp cả một chương trình tấn công mà phương thế không phải là không rồi rào. Bà mẹ trong này lại nằm xuống đọc sách, song cầm sách làm vì, trong đầu bà phân vân muôn mối, mà bởi óc giản dị bà chỉ thấy một cách đối phó cho bà là rất hiệu lực: Mình cứ không bằng lòng thì nó làm gì?
Bà quên rằng đã bao nhiêu lần trước những yêu xách của con, bà cũng đã quyết định thế, tin chắc ở quyền lực làm mẹ của bà. Nhưng chuyện này là chuyện can hệ nhất từ trước tới giờ, quyền lực của bà hẳn phải được kiêng nể. Những sự nhượng bộ trước, bà cho là toàn chuyện con nít, không đáng kể.

3.

Từ hôm ấy, những cơn trái tính dằn dỗi của cô con bỗng tăng lên. Suốt ngày cô kêu rức đầu, nằm im ỉm trên giường. Học trò đến học, cô tạ sự ốm, cho nghỉ hết. Cô tránh không hay nói năng dàn mặt bố mẹ nữa, nhất là trong bữa ăn. Hai ông bà đối diện trước bàn ăn lặng tờ, ăn bỗng thấy nhạt cả mồm miệng. Có vỉ vơi mời được cô xuống ăn, cô cũng chỉ và vài ba miếng rồi đứng lên.
Đó là những phương sách không mới nhưng lần này cô dùng lâu nhất. Mỗi khi dỗi bố mẹ, cô chỉ lánh mặt một chút và vào cái lúc bất ngờ nhất, cô bất thình lình chạy lại ôm cổ mẹ, thỏ thẻ với cha, làm lành. Mà cũng lần này ông bà Đốc cũng mới có một thái độ thụ động lâu như thế. Là vì cả ba cùng không thốt ra một lần nào câu chuyện cắt tóc, nguyên nhân chính cuộc hờn dỗi kỳ này của cô con.
Tình thế kéo giài, cô Thanh nhịn hẳn từng hai bữa liền. Bà Đốc vẫn vờ như không biết nguyên cớ vì đâu, săn sóc về một phương diện khác:
- Hay là con làm sao? Con để cậu đưa con đi đốc tờ nhé.
Cô Thanh dậm chân trên nệm giường:
- Không, con không làm sao cả. Mặc con.
Hết mẹ dỗ dành, lại đến bố cũng một luận điệu như thế! Ý nghĩ cả bố lẫn mẹ đã đồng tình với nhau áp dụng một phương pháp đối phó với mình, làm cô càng bực tức. Nhưng cô vẫn giữ vững lập trường của cô và tăng thêm sự tấn công.
Cô rên hừ hừ, kêu sốt, kêu mệt, kêu đau bụng mà vì ăn uống thất thường người cô có quả gầy đi, đêm đêm vẫn ngủ đẫy giấc, song nếu có sực tỉnh, cô nhất định không ngủ lại dễ dàng như mọi khi nữa, cô cố chống mắt, thức dậy, đi đi, lại lại khua guốc, khua giép kéo ghế kéo bàn, làm thình thình, có ý đánh thức bố mẹ nằm buồng trong, cho biết cô đang có điều gì thắc mắc không ngủ được đây.
Bà mẹ đoán biết tâm lý cô, toan mặc xác.
Ông bố chất phác hơn và cũng dễ mềm lòng hơn lọ mọ giậy:
- Cái gì thế con? Làm sao mà con không ngủ?
- Ối giời ơi! Cậu mặc con, cậu ngủ đi không thì con chết ngay bây giờ đây này.
Ông bố bắt đầu nghĩ ngợi. Ông đã quên phắt câu chuyện cô đòi cắt tóc hôm nọ, và ông cũng không thể nào hiểu được chỉ vì một mớ tóc cắt hay để mà người ta phải tự đầy ải, làm rầy rà quá đến thế!

Luôn mấy hôm sau cô không ăn một tí gì, trừ vài cân cam vắt nước. "Cứ thế này mãi thì mẻ cũng phải chết." Ông bà chưa từng nghĩ rằng người ta có thể uống nước cam cũng sống mà là lối sống vệ sinh nhất. Rồi đến một buổi sáng chả hiểu nghĩ sao cô lại uống thuốc sổ. Thuốc sổ nhẹ liều mà cũng công hiệu quá, và vốn lại ăn đói mấy ngày rồi, cô mệt lả hẳn đi, đến trưa thì nằm lịm. Ông bà bấy giờ mới lo sợ thực tình, ông băn khoăn hỏi riêng bà:
- Thế là nghĩa lý gì? Hay nó thương yêu ai?
Ông gạt bỏ ngay ý nghĩ đó. Con ông thừa biết bố mẹ yêu chiều là ngần nào. Nếu bố mẹ cô có là tể tướng, cô có đòi lấy anh Trương Chi, bố mẹ cô cũng gả phắt ngay, không dám đợi cho cô phải đến ốm tương tư.
Bà đáp:
- Tôi hiểu rồi. Nó chỉ đòi cắt tóc mà biết tôi không bằng lòng nên giở chứng đấy thôi.
Ông cúi đầu nghĩ ngợi. Ông là một học giả tồn cổ, các bè bạn rất cổ kính của ông sẽ nghĩ sao khi thấy ông thì giảng đạo Khổng, Mạnh, bảo tồn quốc túy, quốc hồn mà con gái ông thì lại cắt tóc cụt ngủn như me tây?
Hai ông bà thừ mặt nhìn nhau không biết nghĩ cách nào. Tiếng giép khua thình lình trên gác.
- Hay cứ chiều nó cho xong tội xong nợ đi
Ông rụt rè nói. Bà Đốc mát mẻ ngay:
- Phải bố con ông gì mà chả đống ý với nhau, bênh nhau chầm chập. Tôi thì kể vào đâu!
Ông làm lành:
- Là tôi nói thế chứ còn tùy bà, chuyện mẹ con bà thì mặc bà.
Ông cũng hiểu chút ít tâm lý. Ông mà bênh cô con thì bà sẽ dỗi ngay, dỗi dai hơn. Bà trầm ngâm, thực ra bà đã băn khoăn, khổ sở ngay từ hôm cô con đòi cắt tóc. Tuy bà tin ở quyền làm mẹ của bà, nhưng bà cũng biết nó mong manh lắm, cô con gái bà đã muốn gì thì quyết đòi cho kỳ được. Bà tuy đối phó mà đã tự biết trước là thua rồi.

4.

Trong những ngày cô giận dỗi nằm nhà, cô không còn kết tóc nữa, cô buông xõa nó xuống thành một mớ óng, giài cho tới bụng chân. Bà đã nhiều lần đứng trước buồng trong mà ngắm trộm mớ tóc ấy. Chưa bao giờ bà lại chú ý đến mớ tóc của cô như thế. Gợi trong lòng bà ý nghĩ một ngày kia mớ tóc này, cô sẽ cắt bỏ đi, bà bỗng thấy tha thiết đến nó. Bà nhận ra nó đẹp làm sao, đen lánh, óng ả và bà tự kiêu chính nhờ công bà săn sóc nó mới được giài tốt thế này. Cùng một lúc những kỷ niệm liên can đến mớ tóc được moi ra từ một chỗ só sỉnh nào khuất lấp nhất trong tâm khảm của bà. Bà thấy lại trước mắt cái ngày cô còn bé tí teo, mớ tóc mới còn là hai trái đào bỏ lửng. Rồi khi cô lên năm, lên sáu bà thường ẵm vào lòng cho bác thợ húi thành kiểu bôm bê, trông cô như đứa trẻ con Nhật Bản.
Những kỷ niệm khác vào tuổi thơ ấu của cô nhân đấy rồn rập hiện ra hiện ra, tràn ngập lòng bà, mối tình mẫu tử của thủa ấy, khác hẳn tình mẫu tử bây giờ. Một tình mẫu tử ấm áp che chở bao la mà bà là cái vũ trụ của cô, đôi mắt cô thơ dại chỉ biết trông cậy, nhìn thẳng vào bà. Bây giờ tình thương yêu ấy mất tính cách che chở đi rồi. Bà đã thôi không còn là cái vũ trụ của cô nữa. Vũ trụ của cô bây giờ là cái ngoại giới to rộng kia, bà không thể quan niệm được. Đôi cánh con gà mẹ không còn đủ rộng để ấp ủ che chở cho con gà con đã lớn. Bà nghĩ thế thì ngao ngán mà lại kiêu hãnh. Ngao ngán thấy mình đối với con đã thành vô dụng mà kiêu hãnh vì thấy con sung sức để che chở cho tuổi già của mình.
Con bé Nhật-bản của bà ngày một lớn dần. Tóc đã giở dang, bà phải năng gội chải luôn luôn. Bà nhớ mùi nước bồ kết, rễ trầm bà đã gội đầu cho cô con thuở ấy.
Bây giờ thì mẹ con bà vẫn dùng một thứ nước ấy đế gội đầu nhưng bà thấy thứ nước ấy vào thuở ấy có một mùi thơm khác bây giờ, một mùi thơm bà không thể thấy nữa. Rồi có một lần mái tóc của cô Thanh lại gợi sự chú ý đặc biệt của bà ít lâu. Đó là lần mà bà thấy cô Thanh không để tóc xõa nữa, quấn lên đầu theo lối Huế! Vành tóc quấn khéo quá, trông cô rõ là một thiếu nữ dậy thì, không còn bé bỏng nữa. Mỗi lần bà nhìn vành tóc của cô, bà lại vừa vui mừng, vừa nơm nớp lo sợ một điều gì đó rất vu vơ, mà bà cũng không tự giải rõ ràng bao giờ. Đến quãng đó thì cô đi du học. Bà lại quên riêng mớ tóc, để theo rõi trong trí tưởng cả toàn thể hình thân cô con gái sống giữa đám người xa lạ...
Cô vẫn đứng bên cửa sổ, mặt bầu bậu nhìn ra ngoài trời, dường như cô muốn bắt cả trời phải chịu đựng sự bực tức của cô. Bà Đốc vẫn đứng buồng trong, lặng im ngắm mớ tóc dài buông xõa sau lưng cô. Mớ tóc phấp phới, nô rỡn với làn gió lộng. Ánh sáng suối chảy trên mớ tóc như tráng một lần men bóng. "Tóc như thế mà đòi cắt" bà tiếc và bất bình. Ra lũ gái mới chả hiểu gì cả. Sao cái đầu lại có thể cụt thun lủn, xoắn tít như đầu bụt ốc? Không, cô con của bà không thể hợp với một cái đầu dơ dáng như thế được. Trông kìa: cô đẹp làm sao với mớ tóc dài óng mượt! Chỉ trông mớ tóc phía sau lưng cũng đủ đẹp rồi, có khác gì một bức rèm sóng sánh che phủ ý nhị con người không? Người đàn bà mà tóc cụt lủn thì chơ chẽn quá. Bà nghĩ đến đấy mắt không rời mớ tóc buông thả như một tấm lĩnh đen dệt bằng những sợi tơ mảnh nhất. Bất thình lình cô quay lại nhìn bà. Bà không kịp đưa mắt đi nơi khác. Cô đã trông thấy bà ngắm mớ tóc của cô rồi. Cô bèn vơ tóc lại, vò xoắn trong tay. Bà bỗng thấy hồn bà đau nhói dường như những sợi tóc mảnh rẻ kia đang biết đau đớn trong tay cô dằn vặt và nó truyền cái đau sang tâm hồn bà vậy.
Từ từ bà tiến đến bên cô, tay gỡ nhẹ nắm tóc, bà dịu dàng nói:
- Mấy hôm nay con mệt, tóc rối cả, lại đây mợ chải cho.
Cô nguây nguẩy:
- Kệ, cho nó rối, con không chải.
Cô cũng ngạc nhiên vì tự bao năm mẹ cô đã thôi không chải tóc cho rồi.
Bà cố dìu cô lại phía giường, nằn nì:
- Không, lại đây mợ chải hộ.
Bà không biết cô đang dằn dỗi. Bà thấy thèm thấy cần được rờ mó, được ve vuốt mớ tóc của cô. Cô đã chịu ngồi xuống giường, buông tất cả nắm tóc ra sau lưng. Bà cầm chiếc lược trên mớ tóc. Bà còn lấy tay ve vuốt chán! Làn tóc trơn tuột và mát dịu dưới tay bà. Lòng bà rung động thắm thiết. Tóc của con bà, khí huyết của bà đang quằn quại bừng sinh lực trong bàn tay bà nắm níu. Những sợi tóc bỗng biến thành da thịt, thành một thân hình mũm mĩm bà phải cắn, phải ghì riết trong lòng mới đủ thỏa mãn tình thương yêu. Nước mắt bà rưng rưng.
Ngay khi ấy cô nhè nhẹ lên tiếng:
- Nhé mợ nhé, cho con cắt tóc nhé.
Con cắt rồi mợ giữ lại làm cái độn thì cũng có mất đi đâu.
Bà "ừ". Bà không hiểu cô nói cái gì, giây phút nặng cảm xúc chìu mến, bà muốn đắm đuối trôi theo, không muốn gây nên một cái gì phản động, ngay là bằng sự thốt ra một tiếng "không" có nghĩa chối từ phản kháng.

5.

Cô Thanh đã xuống ăn cơm, đều bữa. Không khí trong nhà rộn rịp hẳn lên. Bao giờ chẳng thế sau mỗi trận hờn dỗi mà cô được phần đắc thắng thì cô vui vẻ gớm ghê, chiều chuộng bố mẹ từng ly từng chút: nào phẩy bụi xếp sách cho cậu, nào nhổ tóc sâu cho mợ, làm sởi lợi trẻ trung hẳn đôi tấm lòng già, những khi ấy cũng quên phắt hẳn mình đã phải hy sinh bao nhiêu là thành kiến để nhượng bộ cô con. Sau cơn mưa, buổi đẹp trời trong gia đình ấy quang quẻ tuyệt vời không còn di tích nhỏ của cơn mưa vừa qua. Nhưng lần này thì bà Đốc vẫn giữ vẻ ủ rột âu sầu mà những mơn trớn, những lời dí dỏm của cô con không làm tan biến được.
Thảng hoặc cô con nói một câu chuyện ngộ nghĩnh quá, thấy ông chồng vui thú cười và chờ mình cười theo cho tiếng cười được hoàn toàn trọn điệu, thì bà cũng cố gượng nhếch mép để hé một nụ cười nhạt nhẽo, thảm hại. Từ hôm thốt ra tiếng "ừ" ưng thuận cho cô con hớt tóc, bà cứ buồn bã ngẩn ngơ như thế.
Ông Đốc biết rằng bà đã miễn cưỡng mà ưng thuận, ông chỉ còn biết an ủi vợ:
- Mợ đã cho nó cắt tóc thì mợ vui lên để tôi khỏi áy náy.
Đối với ông, ông không có ý kiến gì cố chấp quá về sự cắt hay để tóc của cô Thanh. Giá cô để tóc giài thì ông thích hơn, nhưng cô đòi cắt ngắn đi, ông cũng ưng thuận. Miễn cô vẫn là cô Thanh, cô con gái quý đã đem cái buổi bình minh rực rỡ chiếu vào cái buổi chiều đời âm u của ông là được rồi. ông dùng thêm lý lẽ nữa:
- Với lại chả cho nó cắt bây giờ thì khi nó lấy chồng, chồng nó muốn bắt nó cắt, mình cũng chả giữ được.
Bà đáp:
- Vâng tôi cũng biết thế.
Giọng dịu nhĩu như biết thân biết phận. Cả hai ông bà cùng đưa mắt nhìn nhau, cũng cảm thấy sự bất lực của mình, của tuổi già trước một sức bồng khởi mãnh tiến của tuổi thanh xuân, nó vùng vẫy, nó đòi buông thả, những ngón tay già răn reo, run rẩy không sao nắm giữ lại được, không sao in dấu vết uy quyền lên nó được nữa.
Ông nói thêm:
- Đã cho nó cắt thì sớm hay muộn cũng thế. Để nó cắt xong đi!
Bà cũng biết thế. Song bà trù trừ vì hy vọng cô con tính tình thất thường, một buổi sáng kia cô sẽ đổi ý, tuyên bố không đi cắt tóc nữa. Điều mong đó bà phải nhận là mộng ảo rồi. Cô Thanh dự định chủ nhật sau sẽ cắt tóc. Bà toan nói:
- Để còn xem ngày đã chứ. Xem ngày nào hợp.
Nhưng bà đã nghe trước thấy tiếng cười chế riễu ròn tan của cô con gái. Nó có biết đâu cái ngày nó cắt tóc là một cái ngày đánh dấu một cái gì rất khác thường trong lòng bà, một biến cố phải được cử hành vào một ngày một giờ đã lựa chọn trước. Bà đành im, bà muốn tỏ cho cô biết bà cũng theo kịp được cô trên con đường duy tân ở một phương diện nào.
Bà nói luôn một ý nghĩ khác:
- Nhưng trước khi cắt tóc, cô phải chụp cho tôi một cái ảnh.
Cô tủm tỉm cười. Bà bỗng dưng ngượng nghịu. Những cảm tình nhỏ nhoi nhưng ý nghĩ của bà cũng không được cô con gái tha không chế riễu. Bà bẽn lẽn nói thêm:
- Mà gọi thợ về nhà chụp, tôi muốn chụp lúc cô gội đầu xong, sữa tóc ra.
Cô cười ròn rã:
- Gớm mợ tôi có óc thơ gớm!

6.

Hai mẹ con trước khi đi đến hiệu, còn cãi nhau một lần nữa. Cô thì muốn đi một mình. Bà nhất định đòi theo. Quả thực náo nức đòi cắt tóc cho được nhưng đến lúc nhất định đi cho người ta cắt thì cô bỗng xúc động bối rối. Cô không muốn phân tích tìm hiểu mối xúc động bối rối đó ra sao. Cô chỉ biết cô khó chịu, bứt rứt và cả không muốn có ai bên cạnh khi cô đến hiệu cả. Bà không nghe, cô gắt:
- Mợ đi làm gì mới được chứ. Cô bịa thêm: với lại người ta cắt trong phòng riêng có máy điện không cho người khác vào đâu
Bà đáp:
- Cô đừng lòe tôi. Tôi đã hỏi bà Tham, bà ấy vẫn theo con Đức đến hiệu xem người ta uốn tóc nó.
Cô phì cười rồi lại gắt:
- Nhưng con không muốn mợ đi
- Tao cứ đi
- Không, người ta cười cho.
Bà Đốc đỏ mặt, dồn một thôi:
- Ai cười, ai cười? Một là mày để tao đi. Hai là mày đừng cắt tóc.
Má bà bốc nóng. Hai mắt bà mọng mọng. Cô Thanh vùng vằng bước ra xe, bà Đốc lẽo đẽo theo sau, cô làu nhàu:
- Biết thế này con cứ đi cắt bất thình lình, mợ cũng chả nói con vào đâu được. Đằng nào mợ cũng bằng lòng rồi kia mà!
Bà Đốc không đáp, quắc mắt nhìn con. Cô Thanh hiểu nếu cô cứ tự tiện làm như lời cô nói, thì không bao giờ bà Đốc sẽ tha thứ cho cô cả. Gần đến hiệu rồi, Thanh bỗng cười bảo me:
- Mợ vui lên nào, ai lại mợ buồn thế kia, người ta cười mất.
Bà gắt:
- Cười! Cười! Sao lúc nào mày cũng sợ người ta cười? Tao không vui có được không?
Cô Thanh ngồi im. Cô không sợ người ta cười, cô đã nói tránh ra thế. Cô đã trông thấy cái hiệu cô định tới cắt tóc. Ở đấy cô sắp làm một cử chỉ không biết có phải là vô lý hay cuồng dại không' Chỉ biết cái việc mà cô náo nức chờ nay cô thấy nó làm sao ấy. Cô bàng hoàng, phân vân, phải tìm một lời khuyến khích, một ý biểu tình, cô mới có đủ can đảm thi hành. Sự ấy cô không thể tìm thấy ở vẻ mặt buồn bã của bà mẹ. Cô thấy mình bơ vơ lạc lõng, không biết bấu víu vào đâu, đâm ra oán mẹ. Hai mẹ con bước vào trong hiệu vẻ mặt hầm hầm như định gây sự với ai. Cô Thanh tiến đến người đầm chủ hiệu hỏi rất nhanh:
- Tôi đã hẹn với bà từ hôm nọ. Bà sửa soạn đủ chưa?
- Sẵn sàng rồi xin mời cô vào.

Cô Thanh run chân theo người chủ hiệu vào buồng trong. Bà Đốc theo bén gót. Phòng trong trần thiết cực kỳ lịch sự, sạch sẽ tinh vi những khí cụ máy móc mạ kền bóng ngời thi sáng với tấm gương to treo trên tường trước mỗi bàn hớt tóc. Không khí gian phòng tuy có tiếng máy điện sè sè chạy đều một dịp, vẫn có vẻ bình lặng làm yên tịnh được thần trí náo động của Thanh. Lại thêm nhìn thấy có vài ba thiếu nữ đang ngồi sửa sang mái tóc, cô Thanh bình tĩnh hẳn, không còn sao suyến nữa. Cô dạn dĩ bước vào, ngồi lên ghế trong một căn buồng ngăn với các buồng bên khác bằng những bức rèm nhung xanh. Trước khi ngồi xuống cô nhìn mẹ, mỉm một nụ cười, nụ cười đắc thắng, nụ cười tự tin thẳng dong.
Bà Đốc kẻo ghế ngồi sau lưng cô. Tâm trí bà đang bị thu hút vào một ý nghĩ nên bà không tò mò nhìn ngắm những khí cụ làm tóc rất lạ mắt ở chung quanh, cô Thanh thoăn thoắt bỏ hết những găm, kẹp, sổ mớ tóc ra, mớ tóc buông xuống quá đất. Người đầm chủ hiệu kêu lên: "Tóc đẹp quá"
Bà Đốc không hiểu tiếng Pháp nhưng nhìn trong gương thấy đôi mắt thán phục, giọng nói bồng bột của người đầm, bà cũng biết đó là một câu khen ngợi thật tình. Bà tự phụ mà càng chua sót nhìn mớ tóc. Người đầm còn nói nhiều nữa tay cứ vân vê mớ tóc như chơi đùa với nó. Chắc là người ấy đang láy lại những câu khen ngợi và biết đâu đang dỗ dành cô Thanh không nên cắt mái tóc đẹp như thế này, phí đi. Bà đã mong manh hy vọng. Giữa lúc ấy thì một người thợ đàn ông bước vào tay bưng một cái khay mạ kền. Bà Đốc nghển nhìn thấy đựng nào kéo, nào tông-đơ bóng loáng. Bà bỗng lạnh mình. Những chiếc kéo như để mổ cắt vào da thịt chứ không phải để làm một công việc giản dị là cắt tóc, và người thợ húi, người đầm mặc áo khoác trắng bà trông cũng giống những bọn đốc-tờ, y tá chuyên môn đi mổ da rạch thịt sắp đem con bà cắt, thái. Chiếc khay để xuống va chạm vào mặt bàn vang một tiếng kim khí ngắn và lạnh. Người thợ vén tay áo blouse lên. Trông có khác gì quân đồ tể. Bà Đốc vừa ghê tởm vừa sợ hãi. Bác thợ đứng sau cô Thanh, giơ chiếc kéo lên, bầm bập đầu kéo, dao lên vai tiếng lách tách. Cô Thanh nhìn trong gương thấy tất cả củ chỉ của người thợ, khi thấy chiếc kéo giơ lên bậm bập như dọa nạt, cô thốt kêu "Mợ". Tiếng kêu xoáy vào lòng bà Đốc, tiếng kêu cầu cứu. Tiếng kêu hồi bé thơ khi con gặp cái gì sợ hãi, mợ đáp lại bằng cánh tay mở rộng ra ôm ấp... Nhưng nay giữa mợ và con có người đầm, có người thợ, có tất cả cái phòng tân thời này nó đều khác hẳn cái phong thái ngày xưa, nó ngăn giữ lại không cho con lan sả vào lòng mợ dù mợ có muốn giơ tay ra ủ ấp che trở lấy con.

7.

Bà Đốc đành ngồi lặng im, nhìn con trong gương, đôi mắt chứa chan một niềm sót thương, bất lực. Nhưng cô Thanh trong gương đã lại tươi cười bình tĩnh rồi. Phút xúc động hoảng hốt thoắt qua ngay. Chiếc kéo bập xuống tóc. Cử chỉ nhanh biến, cả bà Đốc lẫn cô Thanh đều không kịp nhận thấy. Liền đấy trong tay người thợ đã nắm một nắm tóc giài rời hẳn ra, và định đặt trên bàn. Bà Đốc vội đón lấy. Vài ba sợi tóc lọt tay rơi tuột xuống đất, đen lánh trên nền gạch trắng bong. Tay bà Đốc cầm nắm tóc run run. Những sợi tóc quằn quại trong tay bà như biết rẫy rụa đau đớn. Lòng bà nao nao không khóc được, nhưng sót sa đến mực lặng đi... Một nắm, lại một nắm nữa người thợ trao vào tay bà. Tiếng kéo sạo sạo trong tóc, gờn gợn lên da thịt bà. Bà không dám nhìn vào trong gương xem vẻ mặt cô con nữa. Bà cúi xuống sắp mớ tóc đặt ngang lên trên đùi. Khi ngẩng lên bà vô tình nhìn vào trong gương và hoảng hốt thấy một vẻ mặt bà chưa từng thấy bao giờ của cô Thanh.
Hai mắt cô nhắm nghiền, cái đầu ngả về phía sau như lả đi hết sinh lực, da mặt tai tái, bằng lặng, chứa chan một niềm chịu đựng của kẻ tử vì đạo ngồi chịu cực hình. Chưa bao giờ con bà có vẻ đau đớn mà cam chịu như thế. Bà không giữ nổi được niềm thương sót tái tê đang bóp thắt trái tim bà. Bà kêu lên thảng thốt:
- Thanh! Thanh!
Người thợ húi ngạc nhiên dừng tay. Thanh mở choàng mắt sẽ ngóc đầu lên mỉm cười:
- Mợ... Có gì đâu...
Tiếng cô dịu dàng mà nho nhỏ như buồn bã tiếc hận. Còn có nắm tóc giài phía bên trái nữa là xong. Không, bà Đốc không chịu được nhát kéo cuối cùng này nữa. Cũng như cô con trong gương, bà nhắm nghiền mắt. Phải có cái gì thay đổi lớn lao lắm, lúc bà mở mắt ra, món tóc cuối cùng người thợ đã đặt trong tay bà. Bà mở mắt. Có phải là cái đầu của cô con gái bà ở trong gương kia không? Không... không phải, cả cái người thiếu nữ trong gương kia nữa đã mất hết dấu buồn rầu ngẩn tiếc hồi nẫy mà lại mang cái vẻ dương dương tự đắc, cũng không phải là con gái bà. Có một cái gì vừa rẽ đôi, vừa rẽ hẳn liên lạc của bà với người thiếu nữ ấy. Lòng bà chua sót, mắt bà mọng mọng. Bà cúi xuống nhẹ nhàng và khéo léo cuốn mớ tóc lại bỏ vào cái khăn trắng đem theo. Bà vơ nhặt cả những sợi tóc rơi vãi trên đất, nhét vào khăn. Bà buộc khăn lại, thong thả đứng lên ra khỏi phòng.
Cô Thanh gọi:
- Ơ kìa, mợ, mợ đi đâu đấy, không chờ con nữa à?
Bà không đáp. Tiếng gọi ấy lạ tai bà, người thiếu nữ bà để lại sau lưng bà trong cái phòng tối tân đó, không phải là con bà nữa. Con bà đây, ở trong chiếc khăn này bà ôm trong tay. Ngồi trên xe bà đặt gói tóc trên lòng, gượng nhẹ cẩn thận như đặt một đứa trẻ sơ sinh hay một cái xác chết. Bà hé mở một góc khăn nhìn những sợi tóc cuộn tròn, bóng láng. Nước mắt bà trào ra lặng lẽ.


(Trong Bốn Mớ Tóc, phát hành 24.7.1950)



Thụy An
Nguồn: Tạp chí Khởi Hành số 185 tháng 3.2012




































Chuyện bố, mẹ, bé và con búp bê





Bố chải tóc cho Bé xong, liền lấy cái gương giơ trước mặt Bé: “Con gái của bố soi xem này, có xỉnh xình xinh không nào!” Bé nhìn vào gương, lắc đầu bên phải, lắc đầu bên trái, ngoe nguẩy hai cái đuôi sam tí tẹo, ngọn thót như đuôi chuột, có buộc hai chiếc nơ đỏ, giống như hai cánh hoa rất to, đóng khuôn lấy mặt Bé. Bé nhoẻn miệng cười, vẻ bằng lòng lắm. 



Bố vẫn chịu khó lồng ngón tay vào cái móc sau chiếc gương, giữ cho Bé soi. Bé nghĩ: “Phải vẽ con bé trong gương này. Một khoanh tròn to là mặt, hai chấm tròn nhỏ là mắt, một vạch dài xuống là mũi, một khoanh tròn vừa nữa là miệng. Con Bé nó lại cười, mình phải vẽ cả mấy chiếc răng. Còn hai cái nơ đỏ nữa, lấy gì mà tô màu?” Thò hộp bút chì nào mẹ mua cho, Bé cũng làm cùn cụt. Bé nhớ ra rồi. Bé bỏ gương chạy tót lên bàn, vớ cái bút chì đỏ to gộc của bố, thủ luôn vào nách rồi mới ra hỏi bố: “Cho Bé mượn chiếc bút chì đỏ bố nhé”. Bố ngần ngừ: “Ừ, nhưng mà để đấy, con đi chơi với bố kia mà”. 



Lập tức Bé bỏ rơi cả cái bút chì và con bé trong gương định vẽ. Bé nhẩy cẫng lên bố: “Rồi bố mua kem cho Bé, bố nhớ.” Miệng Bé tắc lẻm, đánh choẹt một cái: Kem thì còn phải kể. Cắn khấc một cục, buốt lanh lưỡi, rụt cả đầu cả cổ, cục kem tan dần ngọt lự... Thật không gì bằng kem, vừa được ăn lại vừa được chơi với nó. Bố cũng thích kem lắm nhớ! Hai bố con, hai que kem ngồi ở ghế bờ Hồ, nhẩn nha... Chao, những lúc ấy sao mà Bé yêu bố thế. Bé không cần mẹ, mẹ cứ việc đi công tác, xa nhà bao nhiêu đêm, Bé cũng không cần, kem và bố là đủ rồi... 



Mẹ thì ghét kem lắm. Mẹ bảo: “Bé ăn kem, chỉ tổ té re”. Nghĩ thế, mặt Bé đỏ đỏ. Thôi, thèm vào, chả nhớ chuyện xấu hổ ấy. Bé níu chặt bàn tay bố, thỏ thẻ: “Hôm nay bố mua kem xanh bố nhé!” Bố trả lời: “Bố mua cho bé một thứ còn thích hơn kem cơ. Đố bé biết là cái gì nào?” Trí khôn ngắn ngủn của Bé đoán làm sao được. Bé bảo: “Con chỉ thích kem thôi”. Bố quệt má Bé: “Con nhà khờ dại quá”. 

Hai bố con lại ngồi trên ghế trông ra hồ. Bố cũng mua kem cho Bé như mọi khi, chiếc kem xanh mà Bé đang ao ước. Nhưng khác mọi khi, hôm nay bố không ăn. Bé nghĩ: hay tại Bé chọn kem xanh, bố không biết ăn chăng? Lập tức, Bé thẩy que kem giả chú bán kem: “Bé ăn kem “tắng” cơ, cho bố ăn mấy”. Bố hiểu lòng thảo của Bé, bố ấn lại que kem xanh vào tay bé, hôn chụt má Bé, hít hà: “Con gái tôi, con gái tôi, khôn láu quá!” Bé chẳng hiểu ra sao nữa. Hồi nãy bố vừa chê Bé dại khờ xong. 

Bố ngồi bên cạnh Bé, không ngớt ngắm Bé, bố tư lự lắm. Bé có vẻ rất bằng lòng, rất sung sướng với chiếc kem. Bé không còn một đòi hỏi nào, một mơ ước nào khác! Vậy thì bố có nên cứ mua cho Bé cái mà bố bảo là còn “hơn cả kem không?” Bố bỗng thấy những nét phả phê hớn hở trên mặt Bé mờ dần, nhường chỗ cho nhũng nét phụng phịu thèm muốn hôm nào bố và mẹ dắt Bé đi xem búp bê Tiệp-khắc ở cửa hàng Mậu dịch Tràng–Tiền. 

Lần thứ nhất Bé nhìn thấy những búp bê to và đẹp đến thế, biết thức biết ngủ. Bé thích nhất cái con bê có hai đuôi sam vắt vẻo như Bé. Nó cũng có áo mới bằng vải hoa như Bé. Bé bảo mẹ mở tủ lấy bê cho Bé mang về. Mẹ sùy: “Phải có tiền mua chứ”. Bé trỏ vào túi tay của mẹ: “Tiền trong ấy đấy thôi.” Bố bảo: “Ngần ấy không đủ, phải có nhiều hơn thế.” Bé đứng ngẩn người, gọi thầm bê: “Bê ơi! Bê ra đây với tôi... tôi cho ăn kem”. Bê bị nhốt trong tủ kính, không nhúc nhích. Bé thương bê quá, thèm bê hơn thèm kem. Nhưng phải nhiều tiền mới mua được bê thì… chịu thôi. 

Những việc, những lời xẩy ra quanh Bé, lọt vào tai Bé đã làm cho Bé biết được rằng: những cái gì nhiều tiền thì bố, mẹ chưa mua được, còn đợi để chính phủ giàu đã, nhân dân giàu đã. Đến Bé muốn ăn hai chiếc kem, bố cũng bảo: “Hạn quà cho con chỉ có một trăm thôi, đợi chính phủ giàu, nhân dân giàu, con tha hồ ăn.” Bé quay lại hỏi bố: “Bố ơi! Thế bao giờ chính phủ giàu, nhân dân giàu hả bố?” Bố thuận miệng đáp: “Ít nữa thôi.” 

Ít nữa thôi với Bé là lâu lắm. Bé thì muốn có bê ngay bây giờ. Bé cứ đứng thần ra ngắm. Bố mẹ giục không đi. Mẹ sốt ruột doạ: “Này người ta sắp đóng cửa hàng đấy. Hay Bé ở đây một mình với búp bê.” Bé yêu bê thật, nhưng ở đây một mình với bao nhiêu cái lạ này, lỡ bị nhốt vào cái tủ như bê thì Bé chịu thôi, sợ lắm. Bé đành thủi thủi theo bố mẹ đi. Chỗ lông mày giao nhau lửng đỏ, triệu chứng Bé chỉ chờ cơ hội là khóc. 

Về nhà, Bé cũng còn ngơ ngẩn nhớ Búp-bê, ôm cái gối dài của Bé nựng nịu. Tối đi ngủ Bé không rời con búp bê tưởng tượng. Bố mẹ suy nghĩ lắm. Mẹ chép miệng: “Tội nghiệp, nó thèm con búp bê quá, chắc ngủ mê cũng thấy.” Vì chuyện con búp bê, bố, mẹ mới nhận ra một điều là lấy nhau chín năm rồi, đã có mụn con là bé đấy, lên bảy tuổi, đã biết về nhau tất cả mọi nỗi khổ cực vất vả, nhất là từ trong cuộc phát động quần chúng hồi đầu năm ngoái ở quê nhà, cả bố cũng được về phối hợp đấu tranh, thế mà vẫn còn một cái khổ mẹ chưa nói với bố. 

Mẹ kể: “Chả phải bây giờ ra Hà Nội công tác, em mới được ngắm búp bê to như thế này đâu. Em nhìn thấy từ ngày xưa, em chỉ nhỉnh hơn cái Bé nhà ta một hai tuổi. Nhìn con búp bê của con lão chủ đồn điền ấy mà. Bố con nó về chơi đồn điền, búp bê để ngoài ô tô hòm, cửa kính đóng kín. Em trèo lên bệ xe nhìn vào. Con búp bê to như đứa bé mới đẻ. Em nghĩ giá được bế một cái, nhịn ăn cả tháng cũng được. Bất đồ, mải ngắm thì bố con thằng chủ điền ra, mở cửa xe đằng trước, leo lên. Em chỉ còn kịp ngồi thụp xuống bệ, chưa nhảy được ra thì thằng chủ mở máy cho xe chạy, hất em ngã sóng xoài xuống đường, đầu va vào đá toạc mảng to, còn cái sẹo đây này.” 

Mẹ nhấc bàn tay bố, luồn qua tóc sau ót, sờ chiếc sẹo, tóc không bao giờ mọc nữa. Mẹ nghe tiếng ực ực, không biết có phải tiếng bố khóc hay tiếng Bé thổn thức trong mơ. Kết quả câu chuyện là gần về sáng, bố mẹ bảo nhau: “Thôi kỳ truy lĩnh này, hai vợ chồng thế nào cũng có hai phiếu mua hàng mậu dịch, sẽ nhịn một phần mua cho Bé con búp bê. Con đã có áo hoa, giày da, nơ buộc tóc. Con còn phải có búp bê chơi.” 

Bố mẹ quyết định thì bên gối Bé thiêm thiếp giấc nồng. Nhưng càng gần ngày được nhận truy lĩnh, bố thấy mẹ hình như có vẻ giãn quyết định ra. Không hẳn là mẹ bảo không mua búp bê cho bé nữa, mẹ chỉ dáo lên nhũng thứ cần phải mua với hai phiếu mua hàng, đại để như vải, ấm nhôm, thau chậu. Mẹ bảo: “Rồi sắp một cái thau cũ không đủ đâu.” Tính nhũng thứ mẹ muốn mua thì đến bốn phiếu mua hàng cũng hết. Bố vốn tính tẩm ngẩm, cứ để cho mẹ toan tính. Bố cũng không nhắc gì chuyện con búp bê hai người đã ước hẹn thầm với Bé. 

Cho đến chiều nay, bố về nhà với tấm phiếu mua hàng trong túi. Bố chải đầu làm dáng cho con gái, dắt con gái đi, lén mẹ. Thế nào bố cũng mua cho con gái bố con búp bê. Bố không sợ người khác mua mất. Chị bán hàng đã bảo bố: “Mậu dịch biết thế nào cũng có nhiều người bố mua búp bê cho con nên mậu dịch đặt mua bên Tiệp Khắc về nhiều lắm. Bố chợt mỉm cười: “Một nông dân Việt Nam mua búp bê của Tiệp Khắc cho con chơi. Du thật. Chuyện ấy ngày xưa có ai dám nghĩ đến không?” Bố bảo Bé: “Đi con!” Bé lơn tơn cạnh bố. Ăn hết que kem rồi, nghe chân đi kém dẻo dai. Bố nhấc bổng bé lên, như nhấc bổng chiếc ba-lô. Hai bố con vào Mậu dịch. 

Bé nhẩy cẫng, trụt khỏi tay bố. Con búp bê của Bé vẫn ở trong tủ. Khác cái, lần này bê đứng mãi chắc mỏi chân, đã ngồi xuống rồi, chân duỗi dài ra như đang dở chơi nu na nu nống. Bé dán mũi vào cửa kính, tìm chuyện nói với búp bê. Chợt một bàn tay lạ kéo Bé lùi xa cửa kính, thò tay vào trong tủ, nhấc đúng bê của Bé ra và đặt vào tay Bé. Bé ôm lấy không chút ngỡ ngàng. Bé nhìn bố khoe: “Bố ơi! Cô này cho con búp bê”. Cô bán hàng cười: “Bố em mua cho em đấy!” Bé cuống quít dục bố: “Về bố, về bố, về khoe mẹ!” 

Hai tay Bé khư khư ôm búp bê vào ngực. Có lúc Bé quên cả bố đi bên cạnh. Bé còn mải nói chuyện với bê. Rằng: “Bê về nhà phải ngoan nhé, đừng quấy mẹ, mẹ hay mắng lắm. Khi nào mẹ mắng thì túm lấy quần bố. Mẹ đi công tác đã có bố ở nhà, bố đi công tác đã có mẹ, cả mẹ cả bố cùng đi thì đã có các cô, các chú, nhiều cô nhiều chú lắm.” 

Bé mới nói chuyện đến đấy thì đã lại đến Bờ Hồ rồi. Bố nói: “Nghỉ một tý, Bé ạ”. Bé đồng ý ngay, được dịp cho bê xem bờ hồ. Bê ở lâu trong tủ kính chắc nóng lắm. Bé đưa bê ra bờ cỏ sát hồ. Hai chị em ngồi giãi thẻ, ngảnh mặt ra hồ ngắm cảnh. 

Bố ngồi xuống thì lấy tay vỗ đùi, một cử chỉ đã thành thói quen từ khi thương tích ở đùi của bố bị trong một cuộc xung kích đồn Tây được mổ ra lấy đạn đã lành. Vết thương cũng đồng thời đổi bố từ một chiến sĩ chiến đấu thành một thương binh chuyển ngành và làm cho bố đi một quãng đường là thấy mỏi mỏi. Nhưng bây giờ bố ngồi nghỉ, còn vì bỗng thấy ngại gặp mẹ, ngại nghe mẹ phê bình. Phê bình đúng hẳn chứ. Thực tế bố mẹ đã đến mức mua đồ chơi đắt tiền hàng vạn bạc cho con đâu. Kế hoạch 56 chưa xong, mọi người còn thắt lưng buộc bụng, nhà còn thiếu đồ thiết dụng... một vạn bạc là... hai yến rưỡi gạo. Bố nhìn Bé đang cười rúc rích với búp bê. Bố bèn nhẩm lại nhũng lý lẽ đanh thép để tự bào chữa: cái sẹo trên đầu mẹ, vết thương ở đầu gối bố, tất cả để cho Bé được sung sướng. Bố không ngại gặp mẹ nữa. 

Bố vừa toan gọi Bé đi về, thì mẹ từ đâu ùa tới, đặt phịch một gói lên lòng bố, tíu tít: 

“Về đến nhà không thấy bố con đâu, biết ngay lại chỉ ra đây. Anh mở xem..." 

Chưa hết câu, lại gọi Bé: 

"Bé ơi! Lại đây! Lại đây!" 

Bé ôm con búp bê khệ nệ bước lại. Mẹ nhìn con búp bê trong tay Bé, đờ người, thốt tiếng: “Ơ hay!...” Bố mở gói ra thấy con búp bê cũng: “Ơ hay!” Duy chỉ có Bé không ngạc nhiên gì cả, reo một tràng dài: “A! Cả mẹ cũng mua búp bê cho Bé nữa!” Bé điềm nhiên dang tay ôm nốt con búp bê mẹ vừa mang lại, đi về chỗ cũ, đặt song song xuống cỏ. Con bố bên này, con mẹ bên này. Sao hai con giống nhau thế. Bé lầm rồi đây này. Bé thích con bê của bố hơn. Nó đã thân với Bé trước. Bé phải làm thế nào để khỏi lẫn với con của mẹ? Bé nghĩ nhạy lắm. Bé sẽ tháo nơ đỏ của Bé buộc sau lưng cho bê bố làm khăn quàng đỏ. Bé bảo con bê mẹ mua: “Còn mày đến sau phải quàng khăn đỏ sau nghe chưa?” 

Bé liếc nhìn mẹ. Mẹ mà biết thì mẹ giận đấy. Mà mẹ đang giận thật, có điều là mẹ đang giận bố chứ không phải đang giận Bé. Mẹ nói lầm bầm. Bố cũng nói lầm bầm. Bé nghe loáng thoáng những lời gắt gưởi: lãng phí, đem giả đi, đừng trẻ con, mua rồi còn đem giả, trẻ con lắm vào. 

Nghe đến câu chiều con thì Bé chán quá, không nghe nữa. Vì Bé nghe mãi rồi. Có lúc thì là bố cự mẹ thế, lúc thì mẹ cự bố thế, nguy hiểm là có lúc cả hai cùng nhận lỗi với nhau là đã chiều Bé. Thật làm Bé nghĩ phen này có dễ cả bố lẫn mẹ cùng sẽ ghét mình. Nhưng chỉ một lát, phi bố tất mẹ lại ôm bé nựng nịu, quà quà bánh bánh cho Bé. Người lớn, chịu, không hiểu họ ra sao cả. 

Bố mẹ thôi không lầm bầm nữa nhưng lại thừ ra, mặt bố cau lại, mặt mẹ đỏ phừng phừng. Hai bê của bé mà cũng giống thế kia thì xấu quá. Bé không thích đâu. Bé nhìn hai bê thần người nghĩ ngợi: nếu hai bê mà cãi nhau thì Bé làm thế nào nhỉ? 

Bé nghĩ một lát đứng phắt dậy ôm một con – bây giờ thì con của bố hay con của mẹ cũng chẳng hề gì. Bé phăng phăng chạy lại trước mặt mẹ, đặt vào lòng mẹ, nói một hơi: 

Hai con bê này nó cứ cãi nhau con không dỗ được, con giả mẹ con này để mẹ cho em bé trong bụng. 

Bố mẹ nhin nhau một giây rồi cùng phá lên cười. 

Tiếng cười của bố mẹ làm sao gợn cả sóng Hồ Gươm... Mấy con chim trên cành vội cất cánh bay, đánh rơi lộp độp trên đầu Bé những đốm trắng trắng... Khách qua lại lây cái cười của bố mẹ cũng nhoẻn miệng cười theo.


Nguồn: Trăm Hoa, ngày 25 tháng 11 năm 1956. Bản điện tử do talawas thực hiện.













Truyện ngắn Thụy An: 

TRƯỜNG HỢP TÒNG QUÂN CỦA THIẾU ÚY NGUYỄN LÂM


Thế là hắn tỉnh dậy, bất chợt miệng hắn đang lắp bắp: “Je suis fier … je suis fier…” (1) Hình như trong mơ, hắn nhớ mãi không ra câu nói tiếp, nên vừa tỉnh, hắn vội đọc trơn tru: “Je suis fier d’ avoir offer ten holocauste à ma patrie et la France un de mes fils” (2) Bài đáp từ hắn mới đọc hồi chiều trước mộ con hắn, hắn đã quên thế nào được. Rồi làm như thức dậy chỉ cốt khảo trí nhớ, thấy không suy suyển gì, hắn yên tâm ngủ lại.

Chưa thiếp hẳn mà tiếng ngáy của hắn đã nổi lên, khò khò khoan nhặt, tai hắn vẫn thấp thoáng nghe, và óc hắn lang bang nghĩ đến con nhân tình pa-ri-diên bé bỏng từng ví tiếng ngáy của hắn du dương như tiếng thủy triều lên xuống. Con bé có đôi môi cong. Đôi vú cũng cong lên theo chiều môi. Tiếng ngáy của hắn dộ cao gừ gừ như tiếng thở dài. Mắt díp chặt.

Bỗng cả người hắn giật nẩy lên, mắt mở choàng. Rõ ràng có ngón tay vừa búng vào mí mắt hắn. Thế là nghĩa lý gì? Trong gian phòng và chiếc giường rộng chỉ có độc mình hắn, không lẽ hồn con hắn hiện về trêu cợt. Hắn không tin có ma, mà ví phỏng có thực, con hắn cũng không dám tinhg nghịch đến thế. Hắn là người cha nghiêm khắc, thằng Lâm mới chết có hai ngày, hắn chưa quên điều đó.

Hắn xoay người, tìm một chiều nằm thuận tiện hơn. Đầu hắn đang rức như búa bổ. Hắn cần ngủ. Luôn hai hôm nay, hắn đã nhược người vì những bổn phận của một tang chủ thuộc giới cầm đầu Bắc Việt, con lại chết trên bãi chiến trường “chống cộng sản Việt Minh”. Thằng bé đã mồ yên mả đẹp. Còn hắn bảy giờ sáng mai phải có mặt ở sân bay Bạch Mai, cùng với bọn tướng tá Pháp đi kinh lý mặt trận Nam Định, chính nơi con hắn tử nạn. Hắn cần lấy lại sức để lúc ấy trước mặt mọi người, giữ được cái vẻ “mang nỗi đau đớn vĩ đại một cách uy nghi và gan dạ”, đúng như lời viên sĩ quan đại diện quân đội viễn chinh đã ca tụng hắn trong bài điếu văn đọc trươc mộ con hắn.

Cái vẻ ấy hắn đã học được ở nhiều sĩ quan cao cấp Pháp có con bị đạn Việt Minh bắn gục ngay trong trận do bố chỉ huy. Nghĩa là có vẻ buồn nghiêm trang, giọng nói hơi trễ nải, khóe mắt ngùi ngùi, nhận những lời phân ưu một cách kẻ cả, cám ơn phớt qua rồi lảng sang chuyện khác. Hắn phân vân không biết có nên bắt chước bọn quan thầy ấy, cả việc cầm chiếc ba-toong không… Trong trường hợp tang tóc này, chiếc ba-toong thật là đắc vị. Ra điều tâm hồn đau đớn lắm, gục rũ xuống phải có chiếc ba-toong vực đỡ mới giữ được vẻ uy nghi, gan dạ. “Con người” biết bao! Thiên hạ nhìn vào sẽ ái ngại, thương cảm. Thuật câu nhân tâm, hắn tự phụ không kém Carnégie bên Mỹ. (3)

Những ý nghĩ như đàn kiến bò miên man trong đầu óc làm đôi mắt hắn gờ gờ. Chợt ngón tay lại búng nẩy ra. Lần này trống ngực hắn đổ hồi, gân thái dương giật mạnh. Hắn linh cảm có sự khác thường. Kẻ thù thừa dịp tang tóc, dinh cơ trễ nải canh phòng, định ám hại hắn cũng nên. Nhưng vào được phòng hắn, phải bước qua hai vệ sĩ, trung thành với hắn hơn hai con béc-giê đêm đêm nằm canh trước phòng ngủ của hắn. Mắt hắn đảo khắp gian phòng sáng ánh trăng thượng tuần rõ từng góc tường kẹt tủ. Đảo đến những khuôn cửa kính chạy dài suốt bề mặt gian phòng hắn há miệng suýt kêu… Bên ngoài áp vào cửa kính những con mắt dài có đuôi đen đặc những đồng tử đang nghiêng nghé chớp nháy, động cửa đòi vào. Tay hắn lẩy bẩy tìm bấm điện. Đèn bật sáng choang. Những con mắt chỉ là những lá cây ngọc lan hắt bóng lên mặt kính. Ánh sáng lại đánh thức, khua to những âm thanh thiêm thiếp trong bóng tối, đưa lọt vào tai hắn tiếng khóc rền rĩ. Nghe tưởng từ đâu xa vẳng tới, thoắt lại quanh quất ngay bên. Mang máng giống tiếng thằng Lâm. Hắn rợn người nhận ra chính tiếng khóc ấy đã xói vào giấc ngủ của hắn, búng nẩy mi mắt hắn.

Hắn ngồi nhỏm dậy, mở tủ đầu giường lấy chai cô-nhắc rót luôn mấy cốc uống. Rượu vào, đầu càng rức, nhưng người hắn trấn tĩnh hơn, sống lưng bớt ớn lạnh, và miệng lưỡi thuần lại. Hắn nghiêm nghị gọi: “Lâm ơi! Đêm hôm mày về quấy cậu làm gì! Mai cậu kinh lý chỗ mày bị nạn, mày hãy về đấy trước mà đón cậu”.

Hắn đi lại mở tung cửa sổ, như để hồn con hắn lấy lối ra. Tiếng khóc liền ùa vào, to dội. Tiếng của vợ hắn khóc con từ dưới phòng khách vẳng lên. Hắn cau mày. Ngót ba chục năm hắn luôn luôn nghe tiếng vợ khóc. Người đàn bà ấy từ khi lấy hắn, hình như không làm việc gì ngoài việc khóc. Khóc vì mẹ chồng cay nghiệt, khóc vì chồng chơi bời. Bây giờ tiếng khóc cũng không làm cho thần kinh hắn bớt dấm dứt.

Dưới đường, ngoài cửa dinh, tên lính gác bồng súng đang dòm vào trong tò mò nghe. Hắn càng bực mình như hồi chiều hắn đã bực mình vì vợ hắn cứ lăn lộn kêu gào bên mộ con, giữa lúc bài điếu văn tới đoạn: “mang nỗi đau đớn vĩ đại một cách uy nghi gan dạ”.

Hắn đóng sạp cửa sổ. Người lính gác nhìn lên, thấy hắn, vội quay lưng, lủi vào vọng canh. Hắn xăm xăm xuống phòng khách. Mỗi bước chân động lên thái dương nhức buốt. Nếu vợ hắn không im, hắn sẽ không tài nào ngủ được. Mai đến quỵ.

Hai tay ôm đầu, hắn đứng cửa phòng bảo vợ đang ngồi phục trước bàn thờ con:

– Mợ! Người chết rồi, không lấy lại được. Mợ nên về buồng nghỉ đi.

Vợ nghe tiếng chồng, nín bặt, nhưng vẫn ngồi nguyên chỗ, tóc xõa che kín lưng. Buồng nực mùi hoa úa bày la liệt trên bàn thờ, chồng chất cả dưới đất. Hoa, bọn thuộc hạ các nơi xa không về kịp đám, mới đem phúng hồi tối. Hắn nói them:

– Mợ cũng nên an ủi là thằng Lâm chết danh chết giá. Quốc ca, quốc kỳ, đủ cả. Lại truy tặng huân chương. Bố tôi xưa tứ trụ triều đình cũng chả được thế. Mợ còn nhớ đấy chứ…

Hắn đến gần bàn thờ, nhìn bức ảnh thằng con mặt non măng, người bé nhỏ, bộ quân phục thiếu úy mặc trên người trông loạc choạc như bộ quần áo đi mượn để chụp ảnh chơi, hay để hóa trang làm trò trong một cuộc thi trá hình. Hắn sửa ngay ngắn lại tấm huân chương treo dưới bức ảnh, thở dài:

– Thằng bé này không có phúc tướng. Tử vi của nó, mẹ mượn thày tướng nào xem cũng bảo nó phi bần tắc yểu…

– Câm ngay! Đừng nhắc đến mẹ mày nữa. Mẹ con mày giết con tao!

Hắn trố mắt kinh ngạc nhìn người vợ vụt đứng phắt dậy, xông đến trước mặt hắn, hàm răng nghiến chặt như đã ngoạm vào da thịt hắn. Hắn tỉnh ngay cơn kinh ngạc, một tay vội giơ ra đề phòng cử chỉ bạo động của vợ, một tay quơ chiếc chân nến trên bàn thờ, ra tay trước. Vợ hắn kêu thất thanh “Lâm ơi!” Hắn cười gằm trong bụng: “Mày gọi nó để dọa ông à! Ông cho mày xuống âm phủ mẹ con gặp nhau một thể”. Mắt hắn ngước lên, chợt gặp mắt thằng Lâm trong ảnh, lừ lừ nhìn hắn. Cái nhìn thản nhiên mặc kệ của đứa trẻ không hiểu những việc mình chứng kiến, hay tự biết mình không thể can thiệp được, nhưng vẫn chăm chăm theo dõi, không bỏ sót một chi tiết nhỏ, như ghi giữ để dành lại, ngẫm nghĩ về sau. Hắn bàng hoàng. Con mắt ấy, thằng Lâm vẫn có từ ngày bé, có cả trong những lúc đứng nhìn bố hành hạ mẹ; con mắt thường làm hắn điên tiết dừng tay đánh vợ, quát đuổi nó đi nơi khác.

Nhưng dù nó đã chạy trốn rồi, hắn biết một lát nó sẽ mon men trở lại, và cứ con mắt ấy, nhìn nữa… Lớn lên nó vẫn nhìn hắn như thế, có hắn, có nó, hắn đang làm gì, quay lại, thế nào cũng bất chợt nó nhìn hắn… Cho đến bây giờ lại cái nhìn ấy, người thợ ảnh ghi vĩnh viễn trên bức ảnh sau trót của nó dùng làm ảnh thờ, để nó lại tiếp tục chứng kiến bố mẹ xung đột nhau.

Hắn ngồi phịch xuống ghế trước bàn thờ:

– Nhà đang có việc tôi để tội đấy cho mợ.

Vợ hắn chồm lên:

– Để tội cho tao? Còn tao thì tao không để yên cho cái tội mẹ con mày giết con, giết cháu.

A, thế này thì quá lắm. Chưa bao giờ vợ hắn dám xưng mày tao với hắn, dám nói nặng lời với mẹ chồng. Thị điên rồi chắc. Hắn đứng dậy… Dầu sao cũng phải giữ nếp nhà. Đôi mắt thằng Lâm liền dõi theo hắn lăm lăm như đôi ống kính ảnh giơ sẵn để chụp. Hắn nhích phía nào ống ảnh chuyển theo phía ấy… Hắn biết hắn đang bị hãm trong vòng nhỡn giới của ống ảnh, không thể nào lánh lên gác được. Phải để nó thu những hình những nét nào đấy của hắn đã, y như bọn phóng viên nhiếp ảnh bám sát hắn, chụp hắn, trong mỗi cuộc kinh lý. Chỉ khác, hắn biết bọn phóng viên nhiếp ảnh ghi những dáng điệu cử chỉ nào đẹp nhất của hắn và họ chụp để đăng báo, tuyên truyền, toàn những việc có lợi cho uy tín của hắn. Còn đôi ống ảnh câm lặng này, hắn cảm thấy nó bất chấp hắn, dấu kín những cái nó ghi được để đe dọa về sau, bắt hắn phải e dè nơm nớp. Tự dưng hắn phân tích được rõ ràng cái cảm giác từ bé đến lớn, thằng Lâm với con mắt nhìn kỳ lạ, đã gieo cho hắn như một ám ảnh.

Hắn ngó ảnh con, giận giữ:

– Tại sao mày cứ nhìn cậu thế? Mày nhìn để làm gì?

Câu hỏi chỉ thốt trong cuống họng mà hắn nghe oang oang khắp phòng đập vào tai hắn nhức nhối. Miệng thằng Lâm mím chặt không trả lời hắn. Lúc nó còn sống, hắn đã không căn vặn. Giờ, nó đem điều bí mật ấy xuống mộ. Cái chết che chở cho nó những cơn lôi đình thịnh nộ của bố. nó thản nhiên đứng trên bàn thờ ngó thẳng mặt bố.

Hắn lại nói thầm:

– Mày có biết cậu ghét mày cũng vì cái nhìn của mày không?

Hắn gai người, rõ ràng thằng Lâm đang trả lời hắn qua tiếng nói hằn học của mẹ nó:

– Cậu ghét thằng Lâm bắt nó tòng quân vì nó xấu xí nhất nhà, học kém nhất nhà, vì hồi đẻ nó cậu đang muốn bỏ mẹ con nó. Để lấy con nhân tình trên Hà Nội. Lấy không được lại bị con đĩ theo thằng khác đi Sài Gòn cuỗm của cậu hết tiền bán nhà, tiền bán ô tô. Cậu ghét tôi, cậu ghét lây nó…

Hắn đứng phắt dậy, mắt thằng Lâm lại trì hắn xuống… Hắn lẩm bẩm:

– Không phải… không phải, nó cũng là một đầu con.

– Một đầu con à! Có vong linh nó kia cậu còn dám nói thế à? Cậu có nhớ cái tối hôm hai nhăm tháng ba không? Hôm giỗ bố cậu ấy, mẹ con cậu bàn gì với nhau không? Bàn xem trong năm thằng con, biết thằng nào vào quân đội quốc gia. Cậu bảo giá không làm chính trị thì thôi có thể rẫy tiền chạy cho cả năm đứa khỏi động viên, nhưng cậu là chính khách cao cấp, không có một đứa tòng quân không xong, sợ phe đảng khác có cớ gièm pha và còn để bọn Pháp trông vào. Mẹ con cậu bàn nhau, cân nhắc…

Đầu hắn nhức như sắp vỡ đôi. Hắn bưng lấy trán mà nói:

– Nhức đầu lắm. Im đi. Lính gác ngoài kia nghe thấy…

Thằng Lâm không im. Hắn đang sống, tiếng nói của hắn chỉ tắc ở cuống họng. Thằng Lâm đã chết, bất động trong bức ảnh mà nó vẫn nói dẽo dọt:

– Mẹ con cậu không chọn thằng Phan vì nó đã đỗ cử nhân, nó đang ở Pháp, mẹ con cậu cần nó để vận động, giao thiệp bên ấy, nó có thớ người. Mẹ cậu bảo thêm, thằng Phan là cháu đích tôn nối dõi tông đường họ Nguyễn. Nuôi nó nên tấm nên món như thế rồi, không mỗi chốc…

Hắn ngẩng nhìn thằng Lâm, hoảng hốt. Từ ngày nó bé, hắn vẫn sợ con mắt nó là đúng lắm. Con mắt ống ảnh của nó theo dõi, rình mò hắn khắp nơi, không những chỉ ghi cử động, còn thu cả lời nói của hắn. Bây giờ ống ảnh đang phóng Ra những hình những tiếng nó đã thu được, thành cuốn phim nói, bắt tai hắn nghe, bắt cả mắt hắn nhìn.

Đúng rồi, tối hôm hai nhăm tháng ba, mẹ hắn ngồi góc kia, hắn ngồi đối diện. Mẹ hắn minh mẫn sáng suốt hơn bao giờ, hắn vừa ngỏ câu chuyện chọn một đứa tòng quân, mẹ hắn đã bàn đâu ra đấy. Bảy mươi tuổi mà mẹ hắn vẫn sắc sảo như ngày bốn, năm mươi, một tay làm quan cho chồng, trông coi năm bảy ấp, điều khiển mấy dinh cơ. Về già thoát khỏi cuộc cách mạng tháng Tám, thoát khỏi vùng kháng chiến, mẹ hắn giống một cây cổ thụ đã thành tinh, tự bật gốc rễ khỏi cái tỉnh sinh cơ lập nghiệp hàng ngót thế kỷ để bốc lên Hà Nội. Tại đấy, một lớp thực dân mới đang tụ tập lớp quan lại phong kiến do bọn thực dân cũ, toàn quyền, thống sứ, công sứ tạo nên, để thếp lại vàng son dùng làm tay chân cho chắc ý. Mẹ hắn lợi dụng ngay cơ hội, mau chóng gây được một thế lực cho hắn. Có thế bên trong rồi, mẹ ở lại vun quén, con sang Pháp cầu viện vây cánh. Ở Pháp hơn một năm về, hắn đã nghiễm nhiên thành một chính khách dự vào công việc cầm đầu Bắc Việt. Cho nên mỗi việc nhỏ to, hắn đều bàn với mẹ. Hắn chỉ tin tài cố vấn của mẹ. Cũng lại mẹ hắn duyệt đến thằng thứ hai, thằng Thường:

– Nó đang học luật, được miễn động viên. Dại gì lại ngửa tay xin việc. Tao xem ý con gái ông tổng trưởng Thanh tháng trước theo bố ra đây, có vẻ mê cậu chàng lắm, về vẫn viết thư ra. Ông tổng trưởng Thanh là chủ đồn điền lớn, có hàng dẫy nhà ở Sài Gòn. Nội các kỳ này thay đổi, ông ta có cơ làm thủ tướng không chừng. Cậu phải dành cho tôi thằng Thường vào cái đám ấy.

Hắn phục mẹ, không việc gì không biết. Còn hơn cả đám thám tử riêng của hắn.

– Thế còn thằng Quý, thằng Vũ…

Mẹ hắn cười xòa, nhe hai hàm răng còn cắm nguyên trên lợi:

– Đứa nào động đến hai thằng cháu vàng cháu bạc của tao đấy. Thằng Quý tử vi “tam hỏa liên châu” (3) đấy nhé, đủ quyền đủ lộc, gọi là sau này cậu có thua mạt chược, ru-lét (4) ức triệu nó cũng giả cho cậu như bay. Còn thằng Vũ có cái sống trâu giữa trán là có tất, phú, quý, thọ, khang. Cơ đồ họ Nguyễn sau này phát ở nó đấy…

Hắn cúi xuống dấu cái mỉm cười hoài nghi. Mẹ hắn có sáng suốt cũng chỉ tới chừng mực nào. Riêng hắn không tin lắm vào cơ đồ họ Nguyễn mai sau. Cái túi đồng bằng Bắc Bộ, Việt Minh ngày càng thắt, họ Nguyễn sẽ như một thứ đựng trong đó, bắn phọt đi nơi khác. Pháp, Mỹ, Phi châu… Con đường phiêu lưu… Hắn khó lòng tưởng tượng cơ đồ họ Nguyễn lại có thể phát được ở những nơi ấy. Cầu sống ung dung là may… Và muốn thế, bây giờ phải biết nhân cơ hội làm giàu, làm giàu… không từ một thủ đoạn, một hy sinh nào. Mặt hắn co lại, môi mím chặt. Hắn nhìn lên và thấy tất cả những ý nghĩ quyết liệt thầm kín của hắn đang soi trên nét mặt của mẹ hắn… Quai hàm mẹ hắn bạnh ra nhai trầu nhóp nhép như đang ngốn ngấu một mưu đồ ghê gớm… Hắn bỗng hồi hộp, biết rằng mẹ hắn ngừng nhai, là mưu kia cũng vừa chín nục. Quả nhiên nhả miếng bã trầu ra, mẹ hắn nói:

– Nhà này có một đứa xoay sang võ cũng hay. Thằng Lâm không có khiếu học, cho theo học nữa chỉ tổ vất vả…

Hắn không nói gì… Nghĩa là hắn đồng tình với mẹ để thằng Lâm tòng quân.

Cuốn phim bỗng ngừng lại giữa sự yên lặng ghê rợn của phiên tòa vừa tuyên xong án tử hình.

Vợ hắn không khóc được nữa. Nỗi phẫn uất tung ra cặn lại sự chua xót làm giọng người đàn bà chìm hẳn xuống:

– Tôi ở bên ngoài, tôi nghe thấy hết. Tôi đẻ ra cả năm thằng: Phan, Thường, Lâm, Quý, Vũ mà mẹ con người ta bàn bạc tính mạng của chúng nó không thèm hỏi đến tôi một lời… Đợi còn mình cậu, tôi vào van xin cậu đừng bắt thằng Lâm động viên, tôi chỉ còn có mình nó, mẹ con có gì than thở với nhau. Mấy thằng kia, thằng thì cậu tống đi Pháp, thằng thì mẹ cậu dậy khinh tôi… Chỉ còn mỗi thằng Lâm nó xót tôi… Thế mà cậu không nghe, cậu bảo: “Có đi lính thay được nó thì đi”. Giời ơi! Nếu tôi thay được các con tôi, tôi không đợi ai bảo…

Cơn rức đầu kinh niên đã tới mực độ không chịu được. Hắn gục xuống tay ghế. Vợ hắn đã thôi không xưng mày tao với hắn nữa, nhưng giọng vợ hắn dịu đi càng sắc nhọn như những mũi dùi xiên vào tai hắn. Hắn nói:

– Thằng Lâm nó cũng thích tòng quân. Bảo nó đi, nó có nói gì đâu!

– Vì nó sợ cậu, vì cậu bảo nó vào Thủ Đức học ra, cậu sẽ xin cho nó giải ngũ hay làm việc văn phòng, không phải đi trận…

– Tôi… tôi cũng đang vận động.

Hắn cố ngẩng đầu lên nói với thằng Lâm. Hai mắt thằng Lâm vẫn giữ cái nhìn cũ, thản nhiên và lăm lăm, lời chống chế của hắn dù thật dù dối cũng không hề động được tới… Hắn bỗng lúng túng như người ném ra một món đồ mà không ai thèm nhận, bỏ lửng, trơ trẽn…

Hắn gượng cãi:

– Nó không thích đánh nhau mà tháng trước nó lại được tuyên dương vì dám anh dũng một mình một xe jeep xông vào vùng Việt Minh sâu sáu bảy cây số…

Vợ hắn nhìn chòng chọc vào mặt hắn, khinh bỉ:

– Anh dũng! Nó không biết anh dũng! Lần ấy nó tìm đường ra với Việt Minh… Nó không muốn đem thân hứng đỡ đạn cho cả nhà… cho… cho…

Vợ hắn đứng lên, giật phắt tấm bội tinh xuống:

– Để làm gì cho ức vong hồn nó.

Hắn nhỏm người lên… Cơn đau nhức lại chúi hắn xuống… Hắn không còn cả sức để tỏ sự ngạc nhiên việc đứa con trai đã có lần suýt làm hại hắn. Hắn không còn cả sức để nhặt tấm bội tinh lên. Cơ thể hắn cực kỳ mỏi mệt. Giá có chiếc ba-toong vực đỡ, hắn cũng không đứng lên nổi… Mắt hắn mờ đi hay sao mà trông ra mọi sự vật chung quanh hắn đều lềnh bềnh mờ xám như làn khói hương tỏa trên đám hoa úa.

Chỉ hai con mắt thằng Lâm sao cứ bám riết lấy hắn, sao tiếng nói của vợ hắn không buông tha hắn. Nhưng chính hắn cũng đang cần hai thứ ám ảnh đó. Mắt thằng Lâm biến đi, tiếng nói vợ hắn im đi… Cái gì sẽ còn lại với hắn?

“Nói đi? Nói nữa về thằng Lâm đi, mợ”. Hắn giục thầm trong lòng… Hắn đang đuổi theo một người khách qua chơi nhà hắn. Người ấy bỏ đi rồi, mới có người giới thiệu với hắn, hắn mới nhớ còn có rất nhiều chuyện phải nói với khách. Chẳng hạn, khách đến nhà hắn làm gì? Chẳng hạn, nếu đuổi kịp, hắn cần vạch lại áo thằng Lâm, người khách ấy, xem có phải đúng nó có một nốt ruồi to ở mạng sườn tay phải như hắn không… Nhưng đường dài vun vút… Lại có người lính bồng súng ngăn chặn hắn. Chân hắn thì bủn nhủn như đã rút hết xương sống.

Mấy cốc rượu bây giờ mới thật ngấm hay sao. Hắn đang lảo đảo trên những con sóng ngầm với cảm giác sắp chết đuối. Cả vợ hắn ngồi nép dưới góc bàn thờ kia cũng sắp lún xuống nước. Hắn thương lắm. Nhưng hắn không giơ tay cứu được. Tiếng nói của vợ hắn vọng lên chới với nghẹn sặc:

– Mìn nào Việt Minh đặt. Chính bà, chính bố đặt để giết cháu, giết con đấy. Thế mà con tôi vẫn hiếu hạnh… Con tôi sợ đào ngũ ra ngoài kia thì bố bị liên lụy, bố ghét bỏ thêm… Nó vẫn biết từ bé nó không được bố thương yêu, nên cố chiều bố.

Hắn đã gần ngụp… Câu nói cuối cùng của vợ hắn bỗng như một tiếng gọi làm hắn lại cựa quậy đầu ngẩng lên, cố ngoi khỏi mặt nước… Hắn vừa chợt hiểu một điều rất lạ lùng. Mắt hắn liền bám lấy mắt thằng Lâm như bám neo bờ.

Thằng Lâm từ trong ảnh bước ra càng đến gần hắn càng bé lại dần dần, bộ binh phục thiếu úy trút đi đâu mất, mặc mỗi chiếc quần yếm, mẹ nó cẩn thận còn may hổng đít, dù nó đã lên sáu lên bảy. Nó đứng nép chỗ bậc cửa nhìn hắn, vẫn cái nhìn hắn ghét nhưng tay nó cầm chặt đôi guốc của hắn. Hắn vừa cởi giầy ra, nhanh như cắt, nó chạy vào đặt đôi guốc dưới chân hắn, rồi lại chạy vút ra nấp bậc cửa nhìn hắn như cũ.

Có một hôm – sao tự dưng hắn nhớ lại rõ rệt như đang diễn ra trước mắt – thằng Lâm vừa đặt guốc xuống, hắn nắm ngay nó, bế nó lên ống chân, đu đưa. Thằng Lâm cười khanh khách, nó ngửa mặt ra đằng sau nhìn hắn, đôi mắt long lanh ngời sáng. Cái vẻ ngạc nhiên rình mò biến đâu mất.

Nhưng chỉ có một lần ấy thôi, hắn âu yếm thằng Lâm. Rồi sau đó, đôi mắt thằng Lâm lại trở lại vẻ thản nhiên rình mò, đúng như trên ảnh kia. Bây giờ thì hắn vụt hiểu, vẻ rình mò của cái nhìn từ ngày bé, rình đúng lúc đặt đôi guốc vào chân bố, rình một dịp nữa để bố đu đưa trên ống chân.

Hắn khóc nấc lên. Con hắn chết đã hai ngày, lúc ấy hắn mới khóc…

THỤY AN

Nguồn:
Văn, tuần báo của Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội, s. 26 (1.11.1957), tr. 4-5.

Chú thích:
(1) “Je suis fier … je suis fier…” (chữ Pháp): Tôi tự hào… tôi tự hào…
(2) “Je suis fier d’ avoir offer ten holocauste à ma patrie et la France un de mes fils” (chữ Pháp): Tôi tự hào đã hiến làm vật hy sinh cho nước Pháp và cho tổ quốc tôi một đứa con.
(3) Một tướng quý nhất trong tử vi.
(4) Một môn cờ bạc 1 ăn 35.














Tham khảo thêm về tác giả Thụy An



















Wednesday, 19 April 2006

Trích từ Tuyển tập “Thụy An 1945 - 1954 -1975”
của Bùi Thụy Băng











Đơn thỉnh cầu Chính Phủ Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phục hồi quyền công dân Việt Nam của Bà Lưu Thị Yến, bút hiệu Thụy An.



Thưa Thủ Tướng,


Tôi, Bùi Thụy Băng, là một trong 6 người con của Bà Lưu Thị Yến, bút hiệu Thụy An. Năm 1958, Cơ quan trung ương Đảng cộng sản Việt Nam cấu kết với một số thành viên cao cấp của Ban Văn Hóa, đã vô cớ bắt giam Bà Thụy An vào nhà tù Hỏa Lò ở Hà-Nội. Mãi đến đầu năm 1960 Đảng cộng sản Việt Nam, qua tòa án Nhân Dân, mới kết tội Mẹ tôi là gián điệp cho ngoại bang (Pháp, Mỹ). Với tội danh không có chứng cớ đó, Mẹ tôi lãnh án 15 năm khổ sai chung thân, biệt xứ, và cấm không được viết lách, sáng tác. Nhưng dù sinh sống ở giữa bốn bức tường hay tại các trại cải tạo, Mẹ tôi vẫn sáng tác bằng trí nhớ. Sau khi mãn hạn tù đầy, Mẹ tôi được phép trở về quê quán (Hòa Xá-Vân Đình) cuối năm 1973. Đến năm 1976 Mẹ tôi mới được xum họp với người Mẹ già. Tháng 6 năm 1989, 73 tuổi, Mẹ tôi qua đời để lại cho con , cháu, chắt, (chưa tưng gặp từ 1954), biết bao nhiêu là tác phẩm.Nay Chính phủ (NCHXHCNVN) nhiệm kỳ Quốc hội khóa 2002-2007, sắp hết, tôi xin phép được gửi đến Thủ Tướng bài viết “Thụy An: Đất Nước và Phụ Nữ Việt Nam” như là một lời kêu oan của Mẹ tôi. Tôi mong Thủ Tướng sẽ nhớ lại những chuyện cổ tích như Châu Long, Trọng Thủy - Mỵ Châu, Trầu Cau, Thiếu Phụ Nam Xương v..v.. do Mẹ tôi sáng tác bằng trí nhớ để nói lên tâm trạng của Mẹ tôi đã phải trải qua “15 năm tân khổ”.

Nay kính, ký tên Bùi Thụy Băng
Ngày 14, 4, 2006, tại tiều bang Georgia, Hoa Kỳ



Đất nước ta đang có cuộc đổi mới nghiêm túc, đổi mới tư duy trong các lãnh vực. Văn học, nghệ thuật đã được soi rọi. Một số nhà làm nghệ thuật bị dồn nén bấy lâu, đã có tiếng nói. Nhưng tôi bị bỏ quên, mà tôi cũng chỉ mong được quên, một khi đã bị “bôi tên, gọt họ ở nơi miếu đường”. Tôi đang sống cô đơn, nhưng yên ổn trên đất nước tôi yêu mến.

Tôi rất tự ti mặc cảm, yêu thương đất nước thiết tha, nhưng khi có sự đổi mới tư duy thì tôi lại hoài nghi, tự hỏi “ánh sáng này có phải của tôi chăng?” nên tôi vẫn cẩn tắc vô ưu cả từ lời nói đến chữ viết. “Lão giả an chi”, tôi chỉ có thể hưởng cảnh đời bên con, cháu, chắt của tôi, nhưng tôi già rồi (73 tuổi), đến làm sao được với con cháu?, nên thư tôi viết gửi ông sẽ rất lủng củng, không trình tự, sáng sủa. Các bản của tôi đều sản xuất trong 15 năm đoạn trường tân khổ, nên không bản nào không mang sắc thái, tâm trạng nhà tù, như khi ông đọc câu chuyện Vợ Cóc, ngay đoạn đầu, đến câu anh đồ:

Đang đi mải nghĩ vần thơ
Hương thơm lúa mới như ru tâm tình.

Tôi bị bí, không biết chuyển thế nào để anh đồ và cô Cóc gặp nhau. Đi cung, tôi vẫn băn khoăn. Ông Chấp pháp đập bàn, la: “Tôi đang hỏi cung chị, chị nghĩ đâu đâu. Nên chú ý để khai báo chứ.” Tiếng la làm tôi giật mình, bật ra ý thơ và câu thơ cho anh đồ gặp nàng Cóc được tự nhiên:

Hương thơm lúa mới như ru tâm tình.
Chợt nghe tiếng gọi ới anh
Đi thì cúi xuống chớ dành ngảnh lên.

Thế là nàng Cóc ra mắt anh đồ. Tôi để cặp uyên ương trò chuyện với nhau, tôi lại nghiêm chỉnh khai báo.

Nhưng khi ông Chấp pháp bực mình với tôi chưa đáp ứng như ý ông chờ đợi, tưởng tôi cón dối quanh, ông nói:

-”Chị đối phó sao nổi? Tập thể chúng tôi có cả mấy chục cái đầu, còn chị nhớ chị chỉ có một cái đầu thôi.”

Câu nói gây cho tôi một ấn tượng sâu xa và khiếp hãi cái đa số, nên khi viết Triệu Trinh Nương, trong trận giao chiến với Đông Ngô, tôi nhớ câu nói đó, viết:

Họp nhau lại hai mươi tướng tốt
Bàn kế mưu giết một nữ nhi.

Ở Tô Thị, tâm trạng của người mẹ cõng con trên lưng đi giữa rừng khuya, hãi hùng đấn ngất sỉu, nhưng sực nhớ chồng trên đỉnh núi:

Nhớ con thơ đang gối trên lưng
Biển xanh đang ngóng đang trông
Giơ tay vung ngọn đuốc hồng cháy to.

Tôi cũng vậy, tôi còn cha mẹ già, đàn con nhỏ trên vai, tôi không được chết, phải cố mà sống, đợi cái ngày Tô-Thị:

Mặc gió rụng tóc xanh từng xợi
Tung ra xa bay với mây trôi
Mặc cho nắng vãi mưa phơi
Mặc cho muối đã mặn mòi lòng sương.
Mặc bao cuộc hưng tàn phế đổi
Vẫn đăm đăm một đợi một chờ
Mẹ con hóa đá trơ trơ
Mẹ là Tin Tưởng, con là Tương Lai.

Đó là tâm trạng Tô Thị hóa đá, mà cũng là tâm trạng của tôi suốt 15 năm cho đến mãi mãi. 

Ông cứ đọc tất cả 16 bản (Chuyện cổ tích dân gian) của tôi, đều gặêp những câu như thế, nó gần như một tập Nhật Ký trong tù. Đặc điểm các chuyện cổ dân gian của ta là tôn vinh người đàn bà mà khắp thế giới cổ kim, đông tây, không xã hội nào người đàn bà được tôn vinh như thế. Tôn vinh không phải vì giới tính, với bản chất dịu dàng, tình tứ, nhu thuận, mà vì đàn bà Việt xưa nay có ý thức hy sinh vì nghĩa lớn. Không phải đến thời Bà Trưng, Triệu mới chứng tỏ như câu thơ của Bùi Kỷ:

“Lạc nữ do truyền tỉ muội hùng.”

mà ngay từ thuở mới lập quốc, Tiên Dong Công Chúa đã quyết cùng Đồng Chử không dám cãi lệnh Vua cha, quyết ở lại bờ bãi hoang vu, chiêu mộ dân nghèo, biết đổi một cõi chân chim bóng đá thành nơi kẻ chợ phồn vinh, làm giầu đất nước. Rồi khi nghe Vua cha cất quân hỏi tội thì không đánh lại quân triều, mà cùng chồng “đằng vân lên trời” để tránh máu đổ thịt rơi, máu mủ tương tàn. Cái ý thức đại nhân, đại nghĩa đó từ truyền thuyết trở thành truyền thống.

Đến Hai Bà Trưng và đoàn nữ binh của Hai Bà, truyền thống càng thêm được khẳng định, trở thành phổ biến: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Thời có giặc thì thế, còn bình thường, đàn bà dân giả cũng biết vì nghĩa lớn. Châu Long 3 năm nuôi bạn thay chồng, chẳng phải chỉ vì lòng yêu chồng mà còn muốn đào tạo một nhân tài cho đất nước. Một con cóc tầm thường, một tố nữ trong tranh, cũng biết hóa thành người nuôi anh đồ nghèo học hành đỗ đạt làm quan, giúp dân, giúp nước. Công Chúa Huyền Trân cam lòng lấy chồng Hời để đem Châu Ô, Lý ve,à làm rộng biên cương đất nước mà khỏi tốn máu xương. Nữ tướng Bùi Thị Xuân hiên ngang để tứ tượng phanh thây sau khi đã xỉ mắng gia huy tên Vua cõng rắn cắn gà nhà. Truyền thống đến hôm nay ta vẫn có những Cô Bắc, Cô Giang, Út Tịch, Tạ Thị Kiều, Võ Thị Sáu, và bên cạnh đó là những bà mẹ, bà vợ đằng đẵng bao năm nuôi chồng ở trong nhà tù, hy sinh vì nghĩa, vì chồng con. Dù ở nhà tù phe tuyến nào, họ cũng vẫn đáng kính. Biết bao ông chồng giữ được khí tiết, bất hợp tác với giặc là nhờ các bà nội tướng gánh vác hộ gia đình. Tất cả họ đều là của báu chung của dân tộc, không phải của riêng phe phái nào. Chỉ người đàn bà Việt Nam sẵn truyền thống hy sinh vì nghĩa, vì nhân mới thể hiện được ngay trong thân phận mình một thứ nhân văn, nhân bản rất độc đáo và hết sức tế nhị, tinh vi của dân tộc. Đó là bị chết oan mà không hề tự hỏi oan trái bởi đâu, cứ hồn nhiên mà chấp nhận như 1 món quà tự nhiên được ai đó, cũng không hề biết là ai, dành cho mình. Một thứ thụ động không phải vô ý thức mà thực sự là ý thức. Ý thức mình cần phải chết như thế mới bảo đảm được hạnh phúc cho mình, cho những người mình yêu thương.

Trong chuyện Chầu Cau, đó là người chị dâu vô tội, hoàn toàn không biết mối tình của em trai chồng đối với mình. Thấy em bỏ nhà đi. chồng bỏ nhà đi tìm em, thì mình cũng bỏ nhà đi tìm chồng, tìm em. Rồi khi đã kiệt lực kiếm tìm, nàng tới được chỗ chồng và em đã chết hóa ra hòn đá tảng và cây cau. Hai người thân yêu nhất đời đã chết, lẽ tất nhiên nàng cũng chết, song cái chết gần như tự nguyện, rất thanh thản, êm ái:

Trèo đèo, vượt núi, qua sông
Tới đây là hết, là xong hành trình.
Tới đây tình đã gặp tình
Tới đây gặp mái gia đình yêu thương.
Cây ru đá, đá mát sương
Ru em, nay lại ru nàng triền miên.
Đá nâng giấc ngủ êm đềm

Cảnh này lại lập lại trong Vợ Chồng Trương, một người vợ trẻ xa chồng lâu năm, đêm đêm ngồi dưới ngọn đèn, chỏ bóng mình tỏa trên vách tường mà nói dối con đó là bóng cha nó. Dối con mà cũng dối lòng. Nỗi nhớ nhung của một thiếu phụ nông thôn đã được tả một cách tình tứ, lãng mạn còn hơn bất cứ một bài thơ thinh Đường nào. Rồi khi bị chồng xỉ vả nàng có ngoại tình, bắt nàng phải dời nha ra đi, bỏ con ở lại. Nàng cũng phải ra đi mà không biết oan trái từ đâu? Ai là kẻ vu cho nàng tội ngoại tình? Nàng không biết. Người chồng không nói với nàng người tố giác nàng là đứa con. Đầøu óc bị tai họa bất ngờ làm hoang mang, nàng chưa nhận định rõ rệt thìđã tới dòng sông. Nhìn xuống nước, thấy có bóng ngọn đèn chài. Nàng không nghĩ đến cảnh chồng xỉ nhục đuổi đi mà chỉ nhớ đến ngọn đèn, dưới ngọn đèn ấy nàng chỏ bóng cha cho đứa con, mà cũng là bóng của chồng nàng nhập làm một với bóng nàng, nàng liền nhào xuống đáy sông ôm lấy chồng con và ngọn đèn đoàn viên, ngọn đèn hy vọng. Người đàn bà yêu chồng một cách thủy chung, tình tứ như thế, thương con đến tự gợi ra một hình ảnh lãng mạn như thế phải được chết như thế để gỡ cho chồng khỏi cái tội bức tử vợ, gỡ cho đứa con thơ dại cái tội vô tình giết mẹ.

Từ hai chuyện dân gian đó, người ta đặt ra câu hỏi: Trong một vụ án mạng, trước một cái chết bất bình thường, thế nào cũng phải có thủ phạm chính, có kẻ chịu trách nhiệm nhiều ít, gần xa. Vậy trong chuyện Chầu Cau, ai là kẻ có tội nhất? Chẳng có ai cả. Người em vì tình yêu vô vọng mà chết, người anh vì thương em mà chết theo em, người vợ thì chết vì chồng và em đã chết. Cả 3 cái chết đều tự nguyện dù họ chết mỗi người một cách. Người em thì mòn mỏi, người chồng thì chết cách vũ bão, người vợ, kẻ nạnnhân mà không hề nghĩ mình là nạn nhân phải được chết tốt đẹp nhất.

Vợ Chàng Trương cũng vậy:
Nàng không chết giữa dòng oan
Chết trong dòng ngọt yêu thương đợi chờ.
Nhân văn, nhân đạo Việt Nam muốn thế, đòi hỏi thế, và nhắn một lời cho tất cả các nền pháp lý thế gian này:

Đừng thấy khói là tuyên bố dứt khoát phải có lửa, thấy án mạng thì dứt khoát phải có thủ phạm. Con người còn nhiều tâm lý cũng không hiểu nổi huống gì pháp lý định chẻ ngọn tóc làm tư để tìm một giải đáp hợp lý trí con người.

Ký tên: Thụy An, 19 -8- 1987 - Gia Định, VN
Trân trọng cám ơn Thủ Tướng Phan Văn Khải























Thụy Khuê

Nhân Văn Giai Phẩm
Chương 8

Thụy An



Thụy An là khuôn mặt nổi trội, bị kết án nặng nề nhất. Trường hợp của bà giống như một bi kịch Hy Lạp, và cho đến nay, chưa mấy ai hiểu được những khúc mắc ở bên trong.


Thụy An là ai?








Là phụ nữ duy nhất, không viết bài cho NVGP, nhưng tên bà bị nêu lên hàng đầu trong "hàng ngũ phản động", bà bị quy kết là "gián điệp quốc tế", lãnh án 15 năm tù cùng với Nguyễn Hữu Đang. Những lời thoá mạ nhơ bẩn nhất dành cho bà "Con phù thủy xảo quyệt" cùng những lời lẽ độc địa nhất: "Như vắt ngửi thấy máu, Thụy An như rắn bò tới các câu lạc bộ Hội Nhà văn phun nọc độc mạt sát chế độ ta bần cùng hoá nhân dân" (Bàng Sĩ Nguyên, BNVGPTTADL, trang 120).

Tại sao lại có sự căm thù ghê gớm đối với nhà thơ, nhà văn, nhà báo phụ nữ tiên phong của Việt Nam? Người đầu tiên thực hiện nữ quyền bằng ngòi bút và hành động. Người chủ trương giải phóng phụ nữ không bằng lý thuyết mà bằng việc làm. Người xác định vị trí phụ nữ như một công dân tự do, thấm nhuần tinh thần dân chủ.

Đáng lẽ bà phải có chỗ đứng xứng đáng trên văn đàn, bởi bà là nhà báo đầu tiên chủ trương các tờ Đàn bà mới, tại Sài gòn, từ 1934, và Đàn bà, Hà Nội, 1937. Bà là nhà văn nữ tiên phong với tiểu thuyết Một linh hồn, 1942. Nhưng cho đến nay, chính quyền chưa hề trả lại cho bà phần danh dự bị bôi nhọ trong hơn nửa thế kỷ, với những lời nhục mạ tàn nhẫn, một cái án 15 năm phi lý, và cho đến chết bà vẫn chưa hề được phục hồi danh dự.

Để tìm hiểu về Thụy An con người và tác phẩm, chúng tôi đã liên lạc với hai con bà, ông Bùi Thụy Băng, nguyên chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Atlanta Việt Báo, tại Hoa Kỳ; bà Bùi Thư Linh, tại Paris; và sử dụng bản tiểu sử Thụy An do Trinh Tiên (bạn thân của Thụy An) viết ngay sau khi Thụy An qua đời năm 1987, nhưng đến 1998, gia đình mới nhận được, đăng trên Atlanta Việt Báo Xuân Ất Dậu, 2005.

Thụy An (bút hiệu khác: Thụy An Hoàng Dân), tên thật là Lưu Thị Yến, sinh năm 1916 tại Hà nội, là con ông bà Lưu Tiến Ích và Phùng Thị Tôn, quê gốc làng Hoà Xá, quận Vân Đình, tỉnh Hà Đông. Thuở nhỏ học trường Hàng Cót, Hà nội. Năm 1929, 13 tuổi, Yến đã có thơ đăng trên Nam Phong. 1932, 16 tuổi, được giải thưởng văn chương của Triều đình Huế. Năm 1934, 18 tuổi, Thụy An kết hôn với Bùi Nhung, nhà văn kiêm nhà giáo, bút hiệu Băng Dương, là em ruột học giả Bùi Kỷ và bà Trần Trọng Kim, sinh 7 con, một người mất sớm: An Dương (1934), Thụy Băng (1937), Thư Linh (1938), Dương Chi (1939), Ngọc Trinh (1943) và Châu Công (1945). Ông Bùi Nhung hai lần làm giám đốc đài phát thanh Hà Nội từ 1948-49, và 1951-52, rồi giám đốc đài phát thanh Hải Phòng năm 1954 (trong thời gian 180 ngày trước khi vỹ tuyến 17 khép lại).

Cũng năm 1934, 18 tuổi, Thụy An bắt đầu nghề báo, cùng chồng lập tuần báoĐàn bà mới ở Sàigòn. 1937, ra Hà Nội, chủ trương tờ Đàn Bà. Theo Trinh Tiên, năm 1939, bà làm chủ nhiệm báo Phụ Nữ Tân Văn ở Sài gòn. Trong chiến tranh Việt -Pháp, Thụy An là phóng viên chiến tranh, tham dự nhiều cuộc nhảy dù ra mặt trận để cung cấp tài liệu cho báo chí. 1954, bà giữ chức quyền giám đốc Việt Tấn Xã.

Thụy An - Băng Dương sống ly thân từ 1949, nhưng không ly dị vì cả hai đều theo đạo công giáo. Bà có quan hệ mật thiết với ông Đỗ Đình Đạo, một nhân vật quan trọng của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông Đỗ Đình Đạo được coi như người chồng thứ nhì. Thụy An và Đỗ Đình Đạo chia tay năm 1952. Nhưng đến 1954, khi Đỗ Đình Đạo bị đầu độc chết, dư luận buộc tội bà giết chồng, và chính những lời vu cáo này, sẽ được thổi phồng và sử dụng chống bà sau 1954.

Về biệt hiệu Thụy An Hoàng Dân, Bùi Thụy Băng, giải thích: Phan Khôi và Thụy An là hai người bạn vong niên từ lâu (Thụy An kém Phan Khôi 29 tuổi). Biệt hiệu Chương Dân của Phan Khôi và Hoàng Dân của Thụy An, là cùng để tưởng niệm đến một người anh hùng, có tên là Chương Hoàng Dân hay Hoàng Chương Dân.








Tác phẩm






Thụy An là tiểu thuyết gia phụ nữ duy nhất được Vũ Ngọc Phan lựa chọn trong bộ Nhà văn hiện đại, với tác phẩm Một linh hồn (xuất bản 1943). Trong bài phê bình dài dành cho tác phẩm Một linh hồn, Vũ Ngọc Phan nhận định: "Là một nhà thơ, nhưng bà là người đi tiên phong trong địa hạt tiểu thuyết với cuốn Một linh hồn" và ông kết luận "Một linh hồn cũng đáng kể là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt nam từ trước đến nay, tác giả đã giàu tưởng tượng, truyện lại xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn".

Về cuốn tiểu thuyết thứ nhì, Bốn mớ tóc (1952), Trinh Tiên nhận xét:"Đây là tập truyện gồm nhiều đoản tác: "Một thương", "Bà mẹ", "Cô con", "Mớ tóc"... Tác giả cố ý nêu cuộc sống dân tộc trong buổi giao thời, mọi sinh hoạt đan che nhau giữa mới và cũ. Điển hình như một mái tóc phụ nữ. Cổ thì để dài vấn trần hoặc vấn khăn búi tó; mới thì cắt ngắn hoặc uốn quăn..." (Tiểu sử Thụy An, Trinh Tiên, Atlanta Việt Báo Xuân Ất Dậu, 2005).

Truyện ngắn của Thụy An in rải rác trên các báo hàng ngày tại Hà Nội. Một vài truyện được ghi lại như: Giết chó (in lại trên Khởi Hành, Hoa Kỳ, số 77, tháng 3/2003; in lần đầu trên Tạp chí Phổ thông của hội cựu sinh viên trường Luật Hà Nội, số 19-20 tháng 6-7/1953). Phần lớn, chưa tìm lại được như: Chiếc cầu chân chó, Les vingt cinq meilleures histoires du monde bằng tiếng Pháp, do Hội Văn Bút Quốc Tế xuất bản năm 1954 hoặc 55. Một cuốn sách bà viết về gia đình, gửi một tờ báo ở San José in năm 1985. Tác phẩm Vợ chồng...

Lại Nguyên Ân sưu tầm được một số tác phẩm của Thụy An trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, đã công bố trên Talawas, gồm những bài: "Nhân xem phim "Anh gắng nuôi con, đặt lại vấn đề Tân hiện thực", tiểu luận phê bình điện ảnh (Văn Nghệ, số 142, 11/10/1956) Chuyện bố, mẹ, bé và con búp bê, truyện ngắn (Trăm Hoa, 25/11/56), Chiếc lược, thơ (Trăm Hoa, 2/12/56). Trong thời kỳ Nhân Văn, bà có in một tập truyện ngắn, theo bài buộc tội của Vũ Đức Phúc, có những truyện như: Trường hợp tòng quân của thiếu úy Lâm, Bích-xu-ra...



Thơ văn sáng tác trong tù

Trong bài "Thụy An, mẹ chúng tôi" viết cuối năm 1988, sáu tháng trước khi mất, dùng giọng các con để viết về mình, bà có nói đến việc sáng tác trong tù:

"Bên cạnh cái án đó là nỗi đau khổ của một người mẹ lìa xa con cái 30 năm trời, chưa hề biết mặt 17 đứa cháu nội, ngoại, cũng chưa được ẵm đứa chắt đầu tiên vừa mới ra đời. (...) Lại cũng cần phải nói ngay, không vì bị 15 năm mất tự do và treo bút vô thời hạn mà Mẹ chúng tôi phải "tìm tự do", tìm "đất sống" cho những thứ mình viết ra hầu hết trong thời gian bị tù. [Ý bà muốn nói việc in sách tại hải ngoại]

Khởi sự bị giam cầm, Mẹ chúng tôi trong một thời gian ngắn có bị khủng hoảng tinh thần trước tai biến bất ngờ quá ư to lớn đối với một người đàn bà. Song Mẹ chúng tôi đã kịp thời trấn tĩnh lại, nhận tai biến như một cái Nghiệp (...) Mẹ chúng tôi coi tai biến như một cái giá phải trả cho cho sự may mắn được làm người, mà lại làm người Việt Nam có một thứ ngôn ngữ "đẹp nhất trần đời", dễ học nhất thế giới, có sức diễn đạt truyền cảm, thẩm thấu suốt tâm hồn dân tộc đến nỗi:

Một người mẹ không biết một chữ A,Cũng biết hát những lời thơ hay nhất" (thơ Thụy An trong Trường Ca Tiếng Mẹ)

(...) Từ ngày anh em chúng tôi biết đọc, Mẹ chúng tôi vẫn tự hẹn sẽ kể cho các con nghe những chuyện cổ tích Việt Nam để khối óc trinh tuyền của con cái được thâm nhập ngay tính nhân hậu, hiền hoà, thơ và mộng, trí và dũng của dân tộc... Thời kỳ mẹ chúng tôi có ý định này, vào thập niên 30-40, chính là thời kỳ văn học Việt Nam đang tiến lên hiện đại hoá cả hình thức lẫn nội dung, một sự tất yếu phải nhiệt liệt đón chào. Chỉ tiếc một điều, trên con đường hiện đại hoá, những vốn cổ dân tộc: Trê Cóc, Lục Súc Tranh Công. Vợ Cóc, Vợ Tranh, Châu Long, Tô Thị, v.v... bị lãng quên...Thế rồi suốt 20 năm sau, cuốn vào thời cuộc thế giới, của đất nước và nghề báo chí, Mẹ chúng tôi chưa thực hiện được ý định. Phải đợi vào nhà tù Cộng sản, Mẹ chúng tôi mới khởi công làm cái việc tha thiết nhất một đời..." (Atlanta Việt Báo, 15/12/2004)

Như vậy, những sáng tác trong tù của bà có thể rất phong phú, ngoài 16 truyện cổ tích Việt Nam viết bằng thơ, bà vừa nhắc đến, nói lên chí khí và tâm sự của mình mà bà coi như tập "Nhật ký trong tù", còn có tiểu thuyết và biên khảo. Thơ của bà cũng trong tình trạng tứ tán thất lạc. Theo Trinh Tiên: "Thụy An sáng tác thơ cũng rất nhiều, phần đăng rải rác trên các báo, phần vẫn còn trong bản thảo. Bài thơ trường thiên tựa đề "Sao lại mùa thu". Rồi như bài "Ân thiên nhất đẳng" tặng Thái Bằng có giọng ca thiên phú độc đáo...". Về các sách chưa xuất bản, Trinh Tiên nhắc đến 2 cuốn tiểu thuyết: Người lãnh tụ, Phiên chợ trời Đanh Xuyên, và 2 cuốn biên khảo: Bùi Thị XuânVợ chàng Trương,có lẽ đó những sách bà đã viết trong tù, không biết bây giờ thất lạc ở đâu.

Những lời buộc tội



Phiên tòa tại Hà Nội (19/01/1960) xét xử vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Từ trái sang phải: Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Thuỵ An, Phan Tại và Lê Nguyên Chí.


(Ảnh tư liệu : DR)



Trong những lời buộc tội, có hai loại: loại vô bằng chứng kiểu "gián điệp quốc tế", "tay sai Mỹ-Diệm"... có thể gán cho ai cũng được, không cần bàn đến. Loại thứ nhì dựa trên một vài sự kiện có thực rồi khuếch trương lên, chính loại này đã tác hại lên danh dự của Thụy An. Loại này xoay quanh ba dữ kiện:

- Bà quen nhiều người Pháp.

- Bà di chuyển thường xuyên trên trục Nam-Bắc.

- Người ta đồn bà giết ông Đỗ Đình Đạo, một yếu nhân của VNQĐD, để tỏ "lòng trung thành" với cách mạng.



Xuân Dung viết:

"Hồi Hà Nội tạm chiếm, nó bỏ Băng Dương, hiện nay là tay chân "đắc lực" của Mỹ-Diệm, và lấy Đỗ Đình Đạo (một tên Quốc dân đảng đã từng chống lại chính quyền dân chủ nhân dân và tàn sát đồng bào ta ở Vĩnh Yên, Phúc Yên hồi Cách mạng tháng Tám). Lúc này tên phản quốc Đạo đang chỉ huy những đội "quân thứ hành chính lưu động" của Pháp chuyên đi càn quét các vùng. Và nó được Đạo nâng đỡ, cất nhắc lên chức quyền Giám đốc Việt tấn xã của ngụy quyền.

Một tờ báo xuất bản thời ngụy quyền, ra ngày 8/8/1954 có viết: "thường thường bà Thụy An đi lại trên đường hàng không Hà-nội- Sài-gòn nhiều lần và hành tung bí mật như đời sống riêng của bà..."

Hàng tung của con mẹ phù thủy ấy là đi máy bay dự các cuộc nhảy dù và ra khắp các mặt trận để cung cấp tin tức cho nhiều đài và báo địch; còn đời sống riêng là luôn luôn ra vào buồng những thằng Tát-xi-nhi, Cô-nhi... Cuối 1953, nó liên lạc chặt chẽ với tụi tơ-rốt-kít Hồ hữu Tường và cổ động tích cực cho báo Đông phương với nội dung tuyên truyền thuyết "trung lập chế" (trung lập hay chính là tay sai cho đế quốc?).

Trước hoà bình lập lại ít ngày, đùng một cái, người ta nghe tin Thụy An giết Đỗ Đình Đạo; mà lúc đó có tờ báo trong Hà-nội đã nêu lên với một đầu đề lớn "Tiền, tình hay chính trị". Vì gì thì vì, có điều nhất định không vì chế độ dân chủ nhân dân của chúng ta rồi! Đỗ Đính Đạo tên trùm GAMO (quân thứ hành chính lưu động) vừa bị giết được hai ngày, có người (hiện đương ở Hà - nội) lại trông thấy Thụy An ngồi chung xe với tên tướng giặc Cô- Nhi, ấy là chưa kể còn có tin nó vào Sài-gòn rồi lại trở ra Hà-nội, 1 tháng trước khi tiếp quản. Giải phóng thủ đô, nhiều người lạ lùng vì sự có mặt của con này. Riêng cái việc xuống Hải- phòng khi ta chưa tiếp quản, rồi lại về Hà- nội một cách đàng hoàng cũng đủ cho chúng ta suy nghĩ (...) Việc đầu tiên là luôn luôn lấy việc giết Đạo để tỏ lòng "trung thành" với cách mạng" (Xuân Dung, Con phù thủy xảo quyệt: Thụy An, báo Thủ Đô 23/4/58; Bọn Nhân Văn Giai Phẩm Trước Toà Án Dư Luận, trang 42-43).

Cách viết trên đây rất thâm độc: tác giả dựa vào một vài sự kiện có thật như việc Thụy An hay ra vào Nam Bắc, và cái chết bí mật của Đỗ Đình Đạo, được báo chí loan tin, để tạo cho người đọc cái cảm tưởng là mọi việc có thật; nhưng lại chêm vào những chữ: nghe tin, có người trông thấy, ấy là chưa kể... để chứng tỏ mình (người viết) vô can. Không kể những điểm vô lý như: Nếu ông Đạo là trùm GAMO của Pháp thì sao Thụy An lại không bị Pháp bắt, vì giết Đỗ Đình Đạo, mà lại đàng hoàng đi xe với tướng Cogny? Việc bà "luôn luôn lấy việc giết Đạo để tỏ lòng trung thành với cách mạng" thật đáng ngờ, vì trong những phát biểu của Thụy An, cho đến lúc chết, chưa bao giờ bà "tỏ lòng trung thành với cách mạng".

Tất cả những lời đồn đại ác ý làm cho bà bị mang tiếng "giết chồng", sau này trong bài tự thú, Phùng Quán viết "tôi có biết Thụy An trước đây đã giết chồng" và cả Lê Đạt cũng viết "lúc đầu rất ghê tởm Thụy An". Tiếng oan "giết chồng" là bi kịch đầu tiên của Thụy An.


Gia cảnh Thụy An và cái chết của Đỗ Đình Đạo

Bùi Thụy Băng cho biết về hoàn cảnh gia đình và tình trạng sức khỏe của người mẹ: "Là đứa con trai thứ nhì, tôi là người gần mẹ tôi nhất vì từ năm 1943 trở đi mẹ tôi bệnh tật luôn luôn. Mới 6 tuổi tôi đã trông nom mẹ tôi. Anh cả tôi là Bùi An Dương bị bệnh hen suyễn từ khi mới sinh ra nên rất yếu đuối và mẹ tôi đã cho anh An Dương khi chưa đầy một tuổi, làm con nuôi ông bà Trần Trọng Kim (cụ Bùi Kỷ và bà Trần Trọng Kim là anh, chị ruột của ba chúng tôi)". (Điện thư ngày 15/12/2004)



Thụy An và Băng Dương ly thân từ năm 1949. Tại sao?

-Vì cha tôi không trung thành, ông có nhiều bà khác. (Bùi Thư Linh, điện thoại ngày 17/10/2009)

Sau khi ly thân, ai nuôi các con?

- Mẹ nuôi các con, nhờ bà ngoại giúp đỡ, bác (gái) Trần Trọng Kim cho vay tiền, nhưng mẹ vất vả lắm. (Bùi Thư Linh, nt)

Khi nào thì gia đình vào Nam?

- Năm 1952, đi bằng tàu thủy. Mẹ thường đi về Sàigòn- Hà Nội bằng máy bay, nhưng vé máy bay cho cả nhà đắt lắm, Mẹ mua vé tàu thủy cho các con, nhờ người cậu dẫn vào Sài-gòn. (Bùi Thư Linh, nt)

Đến năm 1954, Bùi Thư Linh (16 tuổi) đi Pháp, tại sao?

- Tôi bị bệnh lao xương, Mẹ gửi tôi đi Pháp chữa bệnh ngày 20/5/1954.

Nhưng gia đình túng thiếu, lấy tiền đâu ra?

- Đi theo diện Pupille de la Nation (Nghiã tử Quốc gia), chính phủ Pháp lo hết.(Bùi Thư Linh, nt)

- Tại sao Thụy An đem gia đình vào Sàigòn năm 1952?

Bùi Thụy Băng: Vì ông Đỗ Đình Đạo. [Có thể hiểu là năm 1952 Thụy An đã chia tay với Đỗ Đình Đạo, và muốn tránh, bà đem các con vào sống tại Sài gòn].

- Tại sao Thụy An đã vào Sài gòn năm 1952, lại còn trở ra Hà Nội, trước ngày tiếp quản? [Hội nghị Genève ký: 20/7/1954. Việt Minh tiếp quản Hà nội: 10/10/1954, và tiếp quản Hải phòng: 13/5/1955]
- Bùi Thụy Băng: "Từ năm 1952, Thụy An đã vào Nam, tại vì ông Đỗ Đình Đạo. Ông Đỗ Đình Đạo là Giám Đốc Quân Thứ Lưu Động của Việt Nam Quốc Dân Đảng từ 1950 đến 1954. Ông Đỗ Đình Đạo còn là bạn thân của ông cụ tôi, trước khi mất, ông vẫn còn liên lạc với ông cụ tôi. Sau trận Điện Biên Phủ, ông Đỗ Đình Đạo có lệnh của VNQĐD, phải ở lại Hà Nội để chống Việt Minh. Nhưng mẹ tôi không biết chuyện đó. Nửa tháng trước khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội, tôi (lúc đó 17 tuổi) đưa bà cụ ra phi trường Sài Gòn để đi Hà Nội. Bà cụ tôi ra Hà Nội vì tưởng rằng ông Đỗ Đình Đạo đã đi rồi. Bà cụ tôi nghĩ rằng ông ĐĐĐ không còn ở Hà Nội".(Điện thoại, 16/12/2004)
- Thụy An ra Hà Nội với mục đích gì?
- Bùi Thụy Băng: Bà cụ tôi ra Bắc, với hai mục đích:
- Về quê mình để thu thập tất cả những gì quý báu nhất trong nhà ông ngoại tôi.- Thứ nhì, bà cụ tôi muốn đặt cái bản doanh chống lại chính quyền ở Hoà Xá. (Điện thoại, 16/12/2004).
Nhờ những chi tiết trên đây, cuộc đời của Thụy An sáng tỏ hơn: người phụ nữ ấy làm nghề báo để nuôi 6 con; là phóng viên chiến tranh, ở cương vị quyền giám đốc Việt Tấn Xã, bà vào Nam ra Bắc thường xuyên; bà quen biết những người như Sainteny (đại sứ), các tướng Tassigny, Cogny... và cũng nhờ họ, bà xin được cho con gái sang Pháp chữa bệnh lao xương. Nhưng cũng chính vì việc con gái sang Pháp với diện Pupille de la Nation mà sau này trong vụ án NVGP, bà lại càng bị quy kết làm "gián điệp" cho Pháp.
Như vậy, khi ra Bắc, Thụy An đã có chủ đích chính trị: đặt bản doanh chống chính quyền cộng sản ở Hoà Xá là quê hương bà, nơi có những người tin cẩn nhất, và Hoà Xá cũng là một trong những làng có truyền thống chống cộng. Với hành động này, Thụy An trở thành nhà văn đầu tiên tổ chức chống lại chính quyền cộng sản, trong lòng chế độ.
Bà không ở trong tổ chức của VNQDĐ, vì bà không biết Đỗ Đình Đạo đã có nhiệm vụ ở lại chống Việt minh. Vậy bà ra Bắc, là theo chỉ thị của chính mình: "Tình nhà, tình nước bời bời / Mẹ năn nỉ giữa, nước đòi thiết tha". Và như lời Bùi Thư Linh: "Mẹ thương các con lắm nhưng mẹ vẫn có cái lý tưởng của mẹ, không bỏ được".
Ở thời điểm 1954, hầu hết mọi người VN đều nghĩ việc chia đôi đất nước sẽ chỉ trong một vài năm. Vì vậy, Thụy An đã nhờ mẹ trông nom các con để ra Bắc hoạt động. Bà không ngờ đến cái chết của Đỗ Đình Đạo; cũng không ngờ Nam Bắc chia đôi 20 năm; và lại càng không ngờ chính mình bị rơi vào 15 năm tù tội.
Về cái chết của Đỗ Đình Đạo, Bùi Thụy Băng cho biết:

"Lúc đó, tôi từ Sài Gòn, ép bố tôi, còn đang là Giám Đốc Đài Phát Thanh Hải Phòng, phải ký sự vụ lệnh cho tôi đáp máy bay ra Hải Phòng rồi lấy xe lửa ra Hà Nội gặp mẹ tôi, vì cái chết của nhà cách mệnh VNQĐD Đỗ Đình Đạo.Nếu bà cụ tôi đầu độc ĐĐĐ, thì chính quyền Pháp điều tra biết, họ cũng bắt ngay. Khi truyện xẩy ra, ông ĐĐĐ ở nhà bà cụ tôi [ở Hà Nội] mà bà cụ tôi cũng không biết. Nhà hai chị em mẹ tôi ở chung. Có thể bà dì tôi đã cho ông Đỗ Đình Đạo trú ngụ (để trốn tránh) mà mẹ tôi không biết. Khi ông Đỗ Đình Đạo bị đầu độc thì mẹ tôi đương ở Hoà Xá với một người bạn là bác Phụng, ở Ngõ Nhà Do (Impasse d' Identité)". Mẹ tôi còn nói: "Bác chết nhưng mà xác bác chết còn thơm hơn người sống". Mặc dù không bị bắt, nhưng Thụy An vẫn bị mang tiếng "đầu độc chồng": "Đến anh tôi còn giận, không để hình mẹ tôi trong nhà". (Điện thoại, 16/12/2004).



Tuổi trẻ thơ mộng

Trong bài tiểu sử Thụy An, Trinh Tiên viết:

"Hè 1932, cô Yến được cha mẹ cho học tư thêm. Thày giáo là một hàn sĩ người Quảng Bình, dáng dấp mảnh khảnh đầy vẻ cương nghị.(...) Ông thầy giáo trẻ ấy đã bị trò Yến cùng các bạn trêu chọc gọi là "Anh đồ Nghệ". Hơn thế, Yến còn làm thơ nhạo báng dí dỏm:

Khéo ghét anh đồ xứ Nghệ Hơn mình mấy tí tuổi đầu?" (trích bài "Sao lại mùa thu" của Thụy An)

(...). Nhưng chàng trai xứ Quảng này không chỉ là một hàn sĩ hay một nhà mô phạm đơn thuần, mà còn là một người yêu nước thiết tha, một nhà cách mạng chân chính. Cho nên trong những bài giảng đã gieo ảnh hưởng không ít đến lớp học trò(...) Hơn thế nữa, chính người thầy giáo trẻ ấy lại là một chiến sĩ hoạt động trong bóng tối. Chúng ta hãy lắng nghe lời thơ giới thiệu của Thụy An về người anh hùng đó:


Hung hãn vọng vào tiếng bể
Hờn căm rít ngọn gió Lào
Anh mang trùng dương giận dữ
Anh mang hoang dại khô khan.

Và như:


Mắt anh hừng trí bốn phương

Tay run nắm hồn dân tộc
Tóc xòa vương hận núi sông
Môi bậm tai nghe rên xiết
Áo cơm dọa dưới cùm gông!



Thật sự, Thụy An đã hấp thụ tư tưởng cách mạng qua Thầy đồ Nghệ:

... Rồi anh bắt đầu dẫn dắt

Dạy em khui lửa bất bình

Oán hận réo sôi lòng đất

Công lý tù đầy uất uất Miếng cơm nghẹn họng nhân sinh... (Trích: Sao lại mùa thu).

Thoảng chốc, lớp hè vài tháng trôi qua. Thày trò bịn rịn chia tay. Riêng thiếu nữ Thụy An còn nghe lòng vương chút bâng khuâng, diệu vợi... Nhưng lại là chút bâng khuâng rất nhẹ nhàng lờ lững... nó đã thoảng qua ngay trong lứa tuổi 16 thơ ngây ấy...Và cũng bởi rằng: "làm thinh... anh vẫn thản nhiên..." Còn chăng chút lưu luyến ở tâm hồn Thụy An là niềm cảm phục trang thanh nhiên chí khí, cô đã kết ý thơ thành chuỗi nguyện cầu:

Nguyện mình hoá vải hoá bông

Thấm lau giòng máu anh hùng thơm tho

Máu anh đã rửa quốc thù Máu anh viết trước bài ca khải hoàn (thơ Thụy An)"

(Trích tiểu sử Thụy An của Trinh Tiên, bđd)

Bùi Thụy Băng cho biết thêm:

"Người thày giáo đề cập ở đây là Tướng Võ Nguyên Giáp. Khoảng 1930, ông ngoại của tôi đã mướn người thầy giáo sử địa Võ Nguyên Giáp về nhà kèm má tôi học. Năm 1933, má tôi theo thầy vô Nam - Ông Võ Nguyên Giáp muốn đưa bà cụ tôi sang Trung Hoa. Nhưng má tôi lại gặp ba tôi ở Sài gòn và hai người lấy nhau, sanh ra anh cả tôi là Bùi An Dương, năm 1934. Lúc đó ba má tôi đã xuất bản tuần báo Đàn Bà Mới, nên má tôi trở về Hà Nội cho Anh tôi làm con nuôi ông bà Trần Trọng Kim, để vô Nam tiếp tục lo tờ tuần báo. Năm 1937, ba má tôi trở ra Hà Nội sanh ra tôi là Bùi Thụy Băng" (Bùi Thụy Băng, điện thư 15/9/2004)

Theo tiểu sử chính thức, Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 (hơn Thụy An 5 tuổi). Năm 1931 ông ra Hà Nội học trường Albert Sarraut, sau đó học Luật. Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Quang Thái, năm 1934 (bà Thái chết trong hỏa lò Hà Nội năm 1943).

Như vậy, khoảng 1931-32, Võ Nguyên Giáp có thể đã dạy kèm Lưu Thị Yến, tại nhà. Và đến hè 1932, nếu những lời ghi của Trinh Tiên là đúng, thì cô Yến và các bạn còn học thêm Võ Nguyên Giáp trong một lớp hè. Bài thơ dài Sao lại mùa thu của Thụy An, được Trinh Tiên trích dẫn, nói rõ không khí lớp hè năm đó và sự "quyến luyến" mà trò Yến dành cho người thày, đã gieo rắc vào tâm hồn cô gái 16, lý tưởng "cứu nước". Lưu Thị Yến, lúc đó 16-17 tuổi, cũng đã nổi tiếng vì có thơ đăng trên Nam Phong và được "giải thưởng văn học của triều đình". Sự việc này hư thật ra sao, chưa có tài liệu chứng minh rõ ràng, nhưng trong bài phỏng vấn, Lê Đạt nói một câu khá nhiều ý nghiã: "Chị Thụy An còn nói kín hở cho tôi biết rằng chị ấy đã từng tham gia kháng chiến! Việc liên lạc với kháng chiến trong thời ấy thì mình mất mối là chuyện bình thường, mà mất mối thì mình không thể chứng minh được."Điều chắc chắn là qua những câu thơ trong bài Sao lại mùa thu, Thụy An đã nói lên lòng ái quốc của chính mình với những lời thơ bất khuất: Tay run nắm hồn dân tộc / Tóc xòa vương hận núi sông / Môi bậm tai nghe rên xiết / Áo cơm dọa dưới cùm gông!



Chí khí Thụy An

Bài Tôi về quên mất cả xuân sang, ký ngày 5 tháng 11 âm lịch 1951, viết tạng vợ chồng Trinh Tiên, là một bài trường ca, nói lên chí khí của Thụy An. Bài thơ dài kể chuyện một đêm xuân ở Sài Gòn, nhớ Hà Nội, nhà thơ bước vào vũ trường, gặp người vũ nữ ngày xưa là em gái bạn. Người vũ nữ kể lại bi kịch của gia đình mình: Mẹ nàng có ba người con, sống trong êm ấm. Bỗng đâu, phong ba xẩy đến:

"Năm đi cho tháng theo lần,

Mà trong êm đã ngấm ngầm phong ba.

Gió cuốn lật úp sơn hà,

Màn che trướng rủ bỗng ra dãi dàu,

Gió đưa khăn gói về đâu?

Con đường vô định trước sau còn dài

- Tình nhà, tình nước bời bời
Mẹ năn nỉ giữa, nước đòi thiết tha.
Đã đành nghiã nặng mẹ cha
Nỡ vô tình lúc nước nhà ngửa nghiêng?
Chịu sinh làm gái vô quyên,
Nỡ mang cái tiếng yếu mềm, bó tay?
Ầm tiếng súng Sơn Tây vẳng lại,
Sôi má hồng, quăng thói nữ nhi,
Chị em phận sự hai chia
Em nuôi mẹ, chị ra đi chiến trường.
Lần thứ nhất mở đường ly tán,
Cũng từ đây, hoạn nạn gieo neo:
Nhìn nhau lặn suối, trèo đèo
Mẹ già em nhỏ đến điều gian truân.

Rồi người chị cả hy sinh trên chiến địa:

Tin đâu sét đánh thình lình
Chị yêu thôi đã bỏ mình phương xa,
Nơi chiến địa xác hoa phơi giãi,
Bài điếu văn cú gọi hồn ma
Một đi lià cửa lià nhà
Một đi thế cũng kể là trăm năm.

Người mẹ và hai con còn lại, cuốn trong gió lốc:

Thân vong gia giật dờ cánh gió...
Đoạn thảm thương lần giở thêm trang:
Một đêm đang lúc mơ màng,
Thức ra giặc đã khắp làng bao vây.
Mẹ con chúi bụi cây ẩn nấp
Đạn nổ tung, trời sập đất nhào...
Tỉnh ra tủi nhục làm sao!
Tấm thân thôi đã lọt vào tanh hôi!
Bên mình, mẹ vẫn ngồi mà chết
Đầu văng xa, máu thịt bét be
Xác em nguyên vẹn nằm kề
Tay níu mẹ, sợ đường về lạc chăng?
Chưa kịp khóc thì quân lang sói
Đã lôi em về mãi đồn xa...
Nhục thay là phận đàn bà
Trong cơn binh lửa mà sa tay thù!!
Thôi gập sách! Để cho kết liễu
Đoạn về sau thừa hiểu là đây"
Dứt lời, chỉ khẽ nhíu mày,
Lạnh khô đôi mắt. Bóng ngày vừa tan...

Bài ca hùng tráng, bi thương, ít có trong thời kháng chiến, nói lên tất cả những khía cạnh con người của Thụy An. Giọng thơ mạnh mẽ, quyết liệt: "Gió cuốn lật úp sơn hà". Hai chữ lật úp thật là vũ bão, tuyệt vời. Rồi sự phân chia tình nước, tình nhà trong suốt cuộc đời bà: vừa nuôi 6 con, vừa có chí lớn:"Tình nhà, tình nước bời bời / Mẹ năn nỉ giữa, nước đòi thiết tha". Sự lựa chọn của người phụ nữ trước tình thế đất nước: "Nỡ vô tình lúc nước nhà ngửa nghiêng? Nỡ mang cái tiếng yếu mềm, bó tay? Sự căm phẫn của người nữ anh hùng: Sôi má hồng, quăng thói nữ nhi. Cái chết khốc liệt và của người nữ chiến sĩ: Nơi chiến địa xác hoa phơi giãi / Bài điếu văn cú gọi hồn ma. Quang cảnh kinh hoàng chết chóc của người dân mất nước: Bên mình, mẹ vẫn ngồi mà chết / Đầu văng xa, máu thịt bét be / Xác em nguyên vẹn nằm kề / Tay níu mẹ, sợ đường về lạc chăng?

Thơ Thụy An nói lên chí khí của bà, nói lên sự quyết liệt khi cần phải quyết liệt, nói lên cái hận mất nước, sự không chịu bó tay của người phụ nữ. Sáng tác của bà từ truyện cổ tích đến truyện ngắn, tiểu luận, và nhất là thơ, đã quét sạch những dòng nhơ bẩn viết về bà, giải thích tại sao Thụy An không chịu lùi bước trước cường quyền và bạo lực.

Thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm
Những nhà văn, nhà trí thức được mời vào nhóm NVGP, là những người đi theo kháng chiến từ những ngày đầu, kể cả những người không cộng sản như Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường. Thụy An vì ở trong thành, nên không được mời vào NVGP, như Lê Đạt đã xác nhận.

Nhưng trong thời kỳ NVGP, bà thường xuyên ra vào các hội văn nghệ, và có ảnh hưởng không nhỏ đối với những văn nghệ sĩ trẻ tham gia NVGP. Bà liên lạc, nâng đỡ tinh thần, tích cực giúp đỡ anh em Nhân Văn, đặc biệt gia đình Lê Đạt.

Lê Đạt viết trong lời "tự thú":

"Âm mưu của Đang sau này là biến thành nhà xuất bản Minh Đức thành nhà in đối lập với Hội Nhà văn và tập họp nhóm Nhân văn quanh nhà Minh Đức. Cũng giai đoạn này nổi bật vai trò Thụy An. Nhà Thụy An, Phan Tại như một câu lạc bộ.

Về Hà nội tôi rất ghê tởm Thụy An. Nhưng sau khi bài thơ “Nhân câu chuyện mấy người tự tử” Thụy An tìm gặp tôi rất niềm nở và mời đến nhà bảo có nhiều sách mới.

Một thời gian dài tôi không đến. Nhưng từ sau khi “Cửa hàng Lê Đạt”, tôi bị khai trừ khỏi Đảng, tôi bắt đầu lui tới đó.(...) Thụy An đưa vợ tôi đi may áo, đi mua vải, may áo cho con tôi và đi lấy cả một chiếc giường cũi cho con tôi. Thụy An nghiễm nhiên trở thành thân thuộc với cả gia đình tôi. Mỗi lần tôi gặp Thụy An sau khi nói chuyện về tư sản, tiểu thương bất mãn, chuẩn bị đi Nam, các tin BBC về hiệp thương, lại kể chuyện Tassigny, chuyện các phóng viên chiến tranh, các tiểu thuyết tư sản, và sau hết đả kích vào sự lãnh đạo của Đảng cho là hạn chế sự phát triển của tài năng. Mỗi lần ở nhà Thụy An ra là mỗi lần tôi thấy mình tài giỏi thêm, oán Đảng thêm và chán nản thêm". (Văn Nghệ số 12, tháng 5/1958, Số đặc biệt thứ hai chống Nhân Văn Giai Phẩm)

Thụy An dạy Phùng Quán học tiếng Pháp và tiếng Anh. Ảnh hưởng của Thụy An đối với các nhà văn trẻ rất lớn, nhờ kiến thức và tài thuyết phục, bà mở cửa cho họ vào với tác phẩm văn học Tây phương, vào kịch trường và điện ảnh. Thời kỳ ấy, Thụy An ở chung nhà với Phan Tại. Theo Nguyễn Hữu Đang, bà thuê những phim như Hamlet về chiếu. Bà cùng Phan Tại, dựng kịch Topaze của Marcel Pagnol...

Phùng Quán viết trong lời "tự thú":

"Còn học Pháp và Anh văn thì tôi học với con mụ Thụy An, và do đó tôi bắt đầu thân với mụ từ đấy. Khi được tin tôi đã ra bộ đội thì hắn tỏ vẻ rất săn sóc đến việc học của tôi. Tháng đầu tôi còn bận viết thì mỗi lần gặp tôi hắn đều thúc dục sao không đi học đi, tôi sẽ dậy cho Quán một tuần bốn tiếng đồng hồ. Tháng thứ hai tôi đến học với hắn, cùng với một người bạn của tôi là sinh viên. Trước khi đến học, tôi có biết Thụy An trước đây đã giết chồng, làm phóng viên chiến tranh cho Pháp, đã đi máy bay lên Điện biên phủ. Nhưng đến lúc này thì bản chất cách mạng của tôi đã không còn gì nữa, nên tôi thấy những việc làm của mụ ta là việc thường. Đến học với hắn, tôi tỏ ý phục, và mỗi ngày một cảm tình hơn. Tôi gọi hắn là chị với tất cả nghĩa của nó." (Văn Nghệ số 12, tháng 5/1958)

Những lời Lê Đạt tuyên bố trên RFI 2004, tỏ rõ sự kính trọng và lòng tri ân của ông đối với Thụy An:

"Chị Thụy An chưa bao giờ ở trong Nhân Văn Giai Phẩm cả, đó là dứt khoát. Nhưng chị Thụy An rất thân với anh em trong Nhân Văn Giai Phẩm và đặc biệt là thân với tôi".

"Tôi có thể bảo đảm 100% chị ấy không phải là gián điệp. Tại vì thế này: Nếu là gián điệp thì phải có chứng cớ chứ! Chị nhận tiền của ai? Nhận tiền ở đâu? Liên lạc với ai? Cho đến bây giờ tôi vẫn thấy đó là một câu hỏi mà nhà nước chưa trả lời tôi được".

"Tôi vẫn khao khát và thiết tha có một dịp nào đó, người ta phục hồi chị Thụy An một cách chính thức. Không có thì riêng tôi, đối với chị Thụy An, tôi vẫn cho là món nợ. (...) Riêng tôi không bao giờ tôi quên công của chị Thụy An đối với tôi cả."



Bị bắt, Thụy An tự chọc mù một mắt.

Thụy An bị bắt ở đâu?

Bùi Thụy Băng, cho biết:

"Tôi nghe nói bà cụ tôi bị bắt ở Hoà Xá. Nhưng theo lời ông cụ tôi thì bị bắt ở Phủ Lý. Tại sao lại như vậy? Bởi vì khi thấy lâm nguy, biết mình bị theo dõi, Thụy An thường di chuyển giữa Hà Nam-Phủ Lý (quê chồng) và Hoà Xá-Vân Đình (quê mình) để trốn tránh".

Về việc bà chọc mù mắt, dư luận chính thức loan rằng bà bị tai nạn ở mắt, khi đi lao động cải tạo.

Chúng tôi hỏi nhà thơ Lê Đạt, người rất thân với bà trong suốt hành trình Nhân Văn Giai Phẩm: có phải trong Hỏa Lò chị Thụy An tự chọc mù mắt? Lê Đạt lặng lẽ gật đầu, không thêm một lời nào cả.
Bùi Thụy Băng cho biết: "Trong số những bài viết về bà cụ tôi, có bài của Trần Minh, ở Bên Úc, tựa đề "Nhân văn giai phẩm, một tư trào, một tội ác" đăng trong Giai phẩm (Việt Báo) xuân Tân Tỵ 2001, là chính xác nhất. Với những chi tiết mà chính tôi trước đây cũng không biết: Vào Hoả Lò chưa được 3 tháng thì bà cụ tôi chọc mắt. Lý do là bởi phải ra hỏi cung, đứng trước lá cờ đỏ sao vàng, người ta bắt bà cụ tôi phải cúi xuống, nhưng bà cụ không cúi. Vào nhà giam, không có bút viết, bà cụ tôi lấy cái đinh guốc, viết lên tường lời phản kháng:" Chọc mù mắt để không phải nhìn thấy cái chế độ này nữa". Sau này có một người cũng bị giam tại căn phòng đó, đọc được và ghi lại, một vài nhà văn có chép lại câu này trên sách báo". (Điện thoại ngày16/12/2004).
Thụy An bị giam tại Hoả Lò Hà nội từ tháng 3/1957; đến 19/1/1960, bà bị đưa ra tòa cùng với Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại và Lê Nguyên Chí. Theo Nguyễn Hưu Đang, giam ở Hà Nội, rồi chuyển lên Yên Bái. Thụy An viết: "Vào thời điểm mẹ thụ án từ 1958 đến 1973, suốt 15 năm (chỉ trừ hai năm giam cứu ở Hoả Lò, Hà Nội, mẹ bị thẩm cung gắt gao, một cuộc đấu trí - không có trọng tài- giữa pháp luật do các ông chấp pháp đại diện và mẹ, người bị can)" (Thụy An viết cho các con, Atlanta Việt Báo, 15/12/2004).



Những năm tháng cuối

Tháng 10/1974 Thụy An được thả theo diện "Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris", cùng với Nguyễn Hữu Đang. Bà bị trả về quản thúc ở Hoà Xá. Trên đường giải về làng, khi người ta đẩy xuống xe tù, bà bị ném đá.

Năm 1976, nhờ em trai là Lưu Duy Trác xin cho vào Nam đoàn tụ với gia đình, bà được vào sống với mẹ tại Gia định. Các con bà đã rời nước từ trước, chỉ có Bùi Thụy Băng ở lại đến 28/4/75. Năm 1987, Thụy An theo người bạn gái Trinh Tiên đến chùa Quảng Hương Già Lam xin thọ lễ quy y. Được hoà thượng Thích Trí Thủ ban cho pháp danh Nguyên Quy.

Bùi Thụy Băng tìm mọi cách vận động cho mẹ sang Mỹ đoàn tụ gia đình, qua văn phòng ông Trần Sĩ Lương, đại diện chính phủ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, và các toà Đại Sứ VN, đều không có hiệu quả. Trong thư phúc đáp của ông Lương, có câu: "Trường hợp mẹ của ông chưa được giải quyết. Tôi mong ông cứ yên tâm chờ đợi".

Đầu năm 1987, Thụy An đã yếu lắm, Bùi Thụy Băng chụp lá thư của ông Trần Sĩ Lương gửi về cho mẹ. Bà trả lời con: Mẹ không muốn con liên lạc với các Toà Đại Sứ như thế, và bà thêm: "Con đừng chửi mẹ!". Kèm theo là bức thư dài, bà trả lời ông TSL, mở đầu bằng những hàng như sau:

"Tôi rất xúc động được đọc thư ông viết cho Bùi Thụy Băng, con trai tôi, về việc T.A mẹ hắn, muốn nhờ cậy ông.

Ông đã trả lời không một hứa hẹn dứt khoát (tôi hiểu rõ tất phải như thế, càng tất phải như thế, khi là chuyện văn chương), nhưng dầu sao cũng đã là một lời đáp lại tiếng kêu gọi, kêu oan... của tôi... muốn thêm hình dung từ nào cũng đều có nghiã cả.

Cám ơn, cám ơn. Tôi đón nhận với tâm trạng một tù nhân bị kẹp lâu ngày, một mình giữa bốn bức tường hẹp, thèm được nghe tiếng người. Chợt có tiếng lịch kịch ở phòng bên cạnh (có lẽ chỉ là một con chuột chạy)."

Và bà kết luận lá thư bằng những hàng sau đây:



"Ở Tô Thị, tâm trạng của người mẹ cõng con trên lưng đi giữa rừng khuya, hãi hùng đến nỗi ngất sỉu, nhưng sực nhớ chồng trên đỉnh núi:



Nhớ con thơ đang gối trên lưng

Biển xanh đang ngóng đang trông

Giơ tay vung ngọn đuốc hồng cháy to.
Tôi cũng vậy, tôi còn cha mẹ già, đàn con nhỏ trên vai, tôi không được chết, phải cố mà sống, đợi cái ngày Tô Thị:
Mặc gió rụng tóc xanh từng sợi
Tung ra xa bay với mây trời
Mặc cho nắng dãi mưa phơi
Mặc cho muối đã mặn mòi lòng sương
Mặc bao cuộc hưng tàn phế đổi
Vẫn đăm đăm một đợi, một chờ
Mẹ con hoá đá trơ trơ
Mẹ là tin tưởng, con là tương lai.

Đó là tâm trạng Tô Thị hoá đá, mà cũng là tâm trạng của tôi suốt 15 năm cho đến mãi mãi. Ông cứ đọc tất cả 16 bản của tôi, đều gặp những câu như thế, nó gần như một tập Nhật Ký Trong Tù... "

Bà mất ngày 10/6/1989, tại nhà riêng ở đường Lê Văn Sỹ, Sài Gòn.














Nghi Án 60 Năm
Trần Gia Phụng







Thụy An



Cách đây sáu chục năm, trước khi Việt Minh cộng sản tiếp thu Hà Nội (10-10-1954), tại thành phố nầy xảy ra vụ án mạng ông Đỗ Đình Đạo, một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, mà cho đến nay chưa biết ai là thủ phạm, nhưng lại ảnh hưởng lâu dài đến cuộc đời của nữ văn sĩ Thụy An.


1.- NỮ VĂN SĨ THỤY AN

Bà Thụy An tên thật là Lưu Thị Yến, sinh ngày 24 tháng 8 năm bính thìn (21-9-1916), con gái đầu của ông Lưu Tiến Ích và bà Phùng Thị Tôn, người làng Hòa Xá, huyện Ứng Hòa, Hà Đông. Bà từ trần tại Sài Gòn ngày 7 tháng 5 năm Kỷ Tỵ (10-6-1989), thọ 74 tuổi (tuổi ta), pháp danh Nguyên Quy. (Theo tộc phả Bùi tộc Châu Cầu, Phủ Lý, Hà Nam.)

Năm 1934, lúc 18 tuổi, bà kết hôn với ông Bùi Nhung (1907-1987). Bùi Nhung là con cụ Bùi Thức (tiến sĩ Nho học), người Châu Cầu, Phủ Lý, Hà Nam, và là em ông Bùi Kỷ (phó bảng Nho học), và cũng là em bà Bùi Thị Tuất tức bà Trần Trọng Kim. Hai ông bà Bùi Nhung-Thụy An có sáu người con là Bùi An Dương, Bùi Thụy Băng, Bùi Thu Linh (nữ), Bùi Dương Chi, Bùi Ngọc Trinh (nữ) và Bùi Châu Công.

Sau khi sinh người con út, Thụy An sống ly thân với Bùi Nhung, nhưng không ly dị. Lý do vì lúc đó, Bùi Nhung liên hệ tình cảm với bà Lưu Thị Trạch, tên thường gọi là Việt. Bà Trạch hay Việt là em ruột bà Thụy An, nên Thụy An im lặng rút lui, nhường chồng cho em.

Bùi Nhung là nhà văn, nhà giáo, bút hiệu Băng Dương, đã từng làm giám đốc Đài phát thanh Hà Nội năm 1948-1949 và sau đó 1951-1954. Bùi Nhung còn làm giám đốc đài phát thanh Hải Phòng năm 1954, trong thời gian 300 ngày trước khi Hải Phòng bị Việt Minh tiếp thu. (Việt Minh tiếp thu Hải Phòng ngày 13-5-1955.) Trong thời gian nầy, xảy ra vụ án mạng Đỗ Đình Đạo ngày 29-7-1954. Bà Thụy An bị nghi ngờ và bị bắt giữ ở nhà ga xe hỏa gần Hải Phòng. Bùi Nhung biết được, đã đến thăm bà Thụy An.

Bà Thụy An là nữ tiểu thuyết gia duy nhất có tên trong bộ sách Nhà văn hiện đại do Vũ Ngọc Phan biên soạn. Bộ sách nầy gồm 4 quyển, do Tủ sách Tao Đàn, Nxb. Tân Dân ấn hành tại Hà Nội từ năm 1942 đến năm 1945, đánh số trang liên tục, trong đó quyển tư viết về các tiểu thuyết gia. Bộ sách nầy về sau được tái bản nhiều lần. Vũ Ngọc Phan cho rằng tiểu thuyết Một linh hồn(xuất bản 1943) của bà Thụy An là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam trước năm 1945.

Ngoài tài làm thơ và viết tiểu thuyết, bà Thụy An còn làm báo, viết phóng sư. Sau khi kết hôn, Thụy An cùng chồng vào Sài Gòn lập ra tuần báo Đàn Bà Mới. Bùi Nhung làm giám đốc chính trị(directeur politique), còn Thụy An làm giám đốc kiêm chủ bút (directrice et rédactrice-en-chef).

Tại Sài Gòn, lúc đầu báo quán Đàn Bà Mới nằm trên đường Leman. (Đường Leman về sau là đường Cao Bá Nhạ, quận 1.) Sau đó, báo quán đổi qua số 43 đường Galliéni. (Đường Galliéni về sau đổi thành đường Trần Hưng Đạo.) Báo Đàn Bà Mới xuất bản hàng tuần vào ngày Thứ Bảy, ra số đầu tiên (số 1) ngày Thứ Bảy 1-12-1934. Khi đổi trụ sở qua đường Galliéni, Đàn Bà Mới cũng đổi ngày ra là Thứ Hai hằng tuần. Số cuối cùng (số 95) ra ngày Thứ Sáu 4-6-1937.

Năm 1938, bà Thụy An ra Hà Nội, xuất bản tuần báo Đàn Bà, phát hành vào ngày Thứ Sáu hàng tuần, số đầu ra ngày 16-2-1938 và số cuối vào tháng 4-1939. Tòa soạn tuần báo Đàn Bà đặt trên đường Wiélé. (Đường nầy về sau đổi thành đường Tô Hiến Thành.)

Theo bà Bùi Ngọc Trinh, con gái của bà Thụy An, thì Thụy An từng làm Giám đốc Vietnam Press, nhưng theo người cháu của bà Thụy An thì ông biết chắc chắn Thụy An có làm việc choVietnam Press, nhưng không rõ chức vụ. (Nói chuyện với ông Quyền tại San Jose ngày 8-7-2014.)

Cũng theo nguồn tin trong gia đình, thì vào năm 1951, Thụy An đưa bốn trong sáu người con, vào sinh sống ở Sài Gòn. Đó là An Dương, Thu Linh, Ngọc Trinh và Châu Công. Hai người còn lại là Thụy Băng và Dương Chi sống với ông Bùi Nhung và bà vợ sau của ông Nhung.




Không được biết do tình trạng gia đình, hay do công việc, Thụy An lúc nầy hay ra vào Sài Gòn – Hà Nội. Theo lời kể của Bùi Thụy Băng, con trai bà Thụy An, thì khoảng nửa tháng trước khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội, Thụy An từ Sài Gòn ra Hà Nội. (Thụy Khuê, Nhân văn Giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, Virginia: Nxb. Tiếng Quê Hương, 2012, tr. 179.) Tuy nhiên, Việt Minh tiếp thu Hà Nội ngày 10-10-1954. Nếu nửa tháng trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội tức khoảng cuối tháng 9. Trong khi đó, Đỗ Đình Đạo chết ngày 29-7-1954. Lúc đó, Thụy An đã có mặt tại Hà Nội. Vậy Thụy An phải ra Hà Nội trước ngày nầy. Nếu trước nửa tháng thì có thể trước ngày ký kết hiệp định Genève 20-7-1954. Đây là chuyến đi cuối cùng của Thụy An vì sau đó bà mắc nạn và ở lại đất Bắc.




Văn nghiệp bà Thụy An khá phong phú. Bà có thơ đăng trên tạp chí Nam Phong năm 13 tuổi (1929). Bà làm nhiều thơ nhưng không in thành tập. Về tiểu thuyết, ngoài truyện dài Một linh hồn, bà xuất bản hai tập truyện ngắn là Vợ chồng (25 câu chuyện về hạnh phúc gia đình) và Bốn mớ tóc. Bìa sau của tập truyện ngắn Bốn mớ tóc có in dòng quảng cáo: Đón đọc Nhà lãnh tụ, là sách bà Thụy An dự tính sẽ viết về Đỗ Đình Đạo.

Thụy An còn nhiều tác phẩm viết sau năm 1954 ở Bắc Việt Nam và cả trong thời gian ở tù vì vụ Nhân văn Giai phẩm, chưa được ấn hành. Dầu bị xáo trộn trong gia đình, Thụy An vẫn tiếp tục hoạt động báo chí, sáng tác văn thơ, nhưng bất ngờ bà bị mắc nạn vào nghi án về cái chết của người bạn gia đình là Đỗ Đình Đạo.

2.- ĐỖ ĐÌNH ĐẠO BỊ ĐỘT TỬ

Đỗ Đình Đạo sinh ngày 17-7-1911 tại Hà Nội, là con của cụ Đỗ Đình Tiến (bị Việt Minh giết)và cháu nội của Đô thống Đỗ Đình Thuật. Ông gia nhập Đại Việt Dân Chính Đảng do Nguyễn Tường Tam thành lập năm 1938, rồi gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Năm 1952, thủ tướng chính phủ Quốc Gia Việt Nam là Nguyễn Văn Tâm giao cho Đỗ Đình Đạo chỉ huy Đoàn Quân Thứ Lưu Động (Groupe Administratif Mobile en Opération viết tắt là GAMO) ở Bắc Việt. Trước hiệp định Genève, Việt Nam chưa bị chia hai, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ ngày 7-7-1954. Hai ngày sau (7-7-1954), ông Diệm bổ nhiệm Hoàng Cơ Bình làm đại biểu chính phủ tại Bắc Việt kiêm chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ Bắc Việt. Uỷ ban nầy còn có Trần Trung Dung làm uỷ viên dân sự và thiếu tướng Nguyễn Văn Vận làm uỷ viên quân sự, chính thức hoạt động ngày 12-7-1954. Hoàng Cơ Bình mời Đỗ Đình Đạo vào Uỷ ban Bảo vệ Bắc Việt, có thể vì ông Đạo đang chỉ huy binh đoàn GAMO, nắm trong tay lực lượng quân sự.

Những người lúc đó ở Hà Nội cũng như ở Hải Phòng, chuẩn bị di cư vào Nam, cho biết là đã được tin Đỗ Đình Đạo bị ám hại vào cuối tháng 7-1954. Trong sách Việt Nam Quốc Dân Đảng, tác giả Hoàng Văn Đào xác định Đỗ Đình Đạo đột ngột từ trần tại nhà số 1 đường Tuyên Quang, Hà Nội tối 29-7-1954. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ II, Sài Gòn: 1970, tr. 489.)

Đường Tuyên Quang về sau đổi thành đường Cao Bá Quát. Ngôi nhà nầy là nhà của bà Thụy An. Lúc đó, Hà Nội vẫn còn thuộc chính quyền Quốc Gia Việt Nam. Nhà đương cuộc tìm thấy Đỗ Đình Đạo bị đột tử một mình trong nhà bà Thụy An, nên truy tìm bà để mở cuộc điều tra và chận bắt bà tại ga xe lửa nhỏ gần Hải Dương.

Được tin nầy, báo chí Hà Nội liền chạy những bài phóng sự về cái chết của Đỗ Đình Đạo, có tựa đề nóng bỏng, giật gân, nhằm hấp dẫn độc giả: Vụ án vì TÌNH, TIỀN HAY CHÍNH TRỊ? Báo chí còn cho biết bản khám nghiệm pháp y tử thi Đỗ Đình Đạo do bác sĩ Phán ký tên, kết luận rằng ông Đạo bị chết vì chất độc cyanure de mercure. (Theo lời người con ông Đạo.)

Khi Đỗ Đình Đạo bất ngờ từ trần, bà Đỗ Đình Đạo cùng 12 người con đang sinh sống ở Sài Gòn. Được hung tin, bà Đạo ngất xỉu, đau yếu. Chị của ông Đạo cùng người con gái đầu của ông Đạo, lúc đó 22 tuổi, từ Sài Gòn ra Hà Nội, lo việc tang ma cho nạn nhân.

Dựa vào những bài phóng sự trên báo chí, nhiều câu chuyện chung quanh cái chết của Đỗ Đình Đạo được bàn tán, nhất là mối liên hệ giữa Đỗ Đình Đạo với người chủ nhà là Thụy An.

3.- LIÊN HỆ GIỮA THỤY AN VÀ ĐỖ ĐÌNH ĐẠO

Để thấy rõ mối liên hệ giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo, trước hết cần chú ý là Đỗ Đình Đạo không phải chỉ là bạn của Thụy An, mà còn là bạn với cả Bùi Nhung, chồng bà Thụy An.

Về phía Thụy An, tuy sống ly thân với Bùi Nhung, nhưng bà không ly dị chồng. Thụy An đã im lặng hy sinh hạnh phúc của mình cho em ruột mình, và vẫn còn thương yêu chồng con nên không đoạn tuyệt chồng mà bà chỉ tự ý sống ly thân, chứ không phải bà ly thân vì phán quyết của tòa án. Đây là sự hy sinh mà ít phụ nữ có thể chịu đựng được.

Về phía Đỗ Đình Đạo, ông là một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, chỉ huy một binh đoàn lớn. Ông giao thiệp rộng, và ông cũng là bạn của Bùi Nhung. Ông không thể tự mình làm hại đến tình bạn và cũng là tình đồng chí với Bùi Nhung. Chắc chắn Đỗ Đình Đạo không dại gì có mối liên hệ bất chính với Thụy An để bị mang tai tiếng, mất bạn bè, mất đồng chí, còn bị giới chính trị, dân chúng và ngay cả binh đoàn GAMO, chê cười, khinh dễ mình, làm suy giảm niềm tin của mọi người.

Đỗ Đình Đạo có vợ và 12 người con. Người con đầu sinh năm 1932 và người con út sinh năm 1954, ngay trước khi Đỗ Đình Đạo qua đời. Đỗ Đình Đạo chăm sóc gia đình, vợ con rất chu đáo. Gia đình ông hạnh phúc. Các con ông Đạo xác nhận ông Đạo là chỗ thân tình với hai ông bà Bùi Nhung và Thụy An, chứ ông không phải là tình nhân của Thụy An.

Trong gia đình Bùi Nhung, người cháu của Bùi Nhung cho biết rằng Thụy An và Bùi Nhung đều là bạn của Đỗ Đình Đạo. Vảo đầu năm 1954, người cháu nầy sống trong nhà của Bùi Nhung ở Ngõ Nhà Đo (Hà Nội). Người nầy thấy Đỗ Đình Đạo thỉnh thoảng đến nhà Bùi Nhung, nhưng để theo dõi tin tức thời sự hơn là chuyện tình cảm. Người nầy khá kính trọng Đỗ Đình Đạo, cũng đã từng gặp gỡ riêng tư và có một lần đi xem hát giải trí ở Hà Nội với Đỗ Đình Đạo.

Như thế, trong thực tế, không hề có liên hệ tình cảm nam nữ giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo. Cũng trong thực tế, những hoạt động cá nhân của hai bên cho thấy đây là mối liên hệ bạn bè và nhất là chính trị lúc bấy giờ. Các con cháu trong gia đình của cả hai bên, lúc đó đã khôn lớn, có người học lớp Đệ tứ (lúc đó học lớp đệ tứ tức lớp 9 là khá lớn tuổi), có người học năm cuối bậc trung học (chuẩn bị thi tú tài), biết quan sát, cũng chẳng thấy có dấu hiệu tình cảm gì giữa hai bên. (Người viết hỏi chuyện riêng biệt con cháu hai bên.)

Ngang đây vấn đề liên hệ bạn bè giữa Thụy An và Đỗ Đình Đạo đã khá rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “quan hệ vợ chồng”(?) như Việt Minh cộng sản tuyên tuyền khi kết án Thụy An và một số sách báo sau nầy viết lại.

4.- NGHI ÁN VỤ ĐỖ ĐÌNH ĐẠO BỊ ĐỘT TỬ?

Có một câu hỏi mà chắc chắn nhiều người đặt ra là tại sao Đỗ Đình Đạo bị đột tử tối 29-7-1954 tại nhà Thụy An? Lúc đó, Thụy An vừa từ Sài Gòn ra Hà Nội vì mục đích là để kiếm cách cứu Bùi Việt Quốc là con của Bùi Nhung với người vợ sau là Lưu Thị Trạch, em gái bà Thụy An. Bùi Nhung đang làm giám đốc Đài phát Hà Nội. Bùi Việt Quốc bị Việt Minh bắt cóc để áp lực Bùi Nhung không được di chuyển đài Phát thanh Hà Nội xuống Hải Phòng để tiếp tục tiếng nói của chính phủ Quốc Gia Việt Nam trước khi cộng sản tiếp thu Hải Phòng (13-5-1955), rồi mang vào Nam Việt Nam. Ngoài ra, Thụy An còn ra Hà Nội nhằm thông báo cho Đỗ Đình Đạo một số tin tức và diễn tiến chính trị ở Sài Gòn.

Khi Đỗ Đình Đạo bị đột tử trong nhà bà Thụy An, thì thủ tục đầu tiên chính quyền Hà Nội, thuộc chính phủ Quốc Gia Việt Nam, phải tìm chủ nhà để mở cuộc điều tra. Chủ nhà chính là bà Thụy An. Vụ án mới chỉ bắt đầu tiến hành, cuộc điều tra chưa kết thúc, chưa đưa ra xét xử trước tòa án. Đây mới chỉ là nghi án, chưa có kết luận gì cả, nhưng do đề tài báo chí TÌNH, TIỀN HAY CHÍNH TRỊ, nên nhiều dư luận đồn đoán lan truyền.

Một trong những lời đồn đoán quan trọng là người ta nghi ngờ phải chăng Thụy An làm việc cho Việt Minh cộng sản, nên nhận lệnh giết Đỗ Đình Đạo là một lãnh tụ quốc gia? Tuy nhiên, nếu Thụy An theo lệnh của Việt Minh giết Đỗ Đình Đạo, thì sau khi hành động, Thụy An phải tìm đường trốn vào mật khu của Việt Minh để được an toàn. Lúc đó Việt Minh đang bao vây Hà Nội và chờ đợi ngày tiếp thu. Đàng nầy, không có chuyện Thụy An trốn theo Việt Minh.

Ngoài ra, cuộc sống của Thụy An trước cũng như sau khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội (10-10-1954), cho thấy rằng trước sau Thụy An chẳng liên lạc gì với Việt Minh, cũng không cộng tác với Việt Minh. Chẳng những thế, Việt Minh còn trù dập và vu cáo Thụy An làm gián điệp cho Pháp trong vụ án Nhân văn Giai phẩm năm 1960.

Sau nầy, chính Thụy An cũng thổ lộ là bà không biết ai giết Đỗ Đình Đạo? Cần chú ý thêm là khi xuất bản tập truyện ngắn Bốn mớ tóc, Thụy An cho in trên bìa sau sách nầy dòng quảng cáo: Đón đọc Nhà lãnh tụ, là sách bà Thụy An dự tính sẽ viết để ca tụng Đỗ Đình Đạo. Như thế, xét cho cùng, nếu không giúp đỡ Đỗ Đình Đạo, người bạn của gia đình, thì Thụy An chẳng có lý do gì để đầu độc Đỗ Đình Đạo. Bà giết ông Đạo để làm gì? Chẳng vì tình, cũng chẳng vì tiền, mà cũng chẳng vì tranh chấp chính trị?

Thực tế, dư luận chung lúc đó cho rằng chính Việt Minh đã ám sát Đỗ Đình Đạo. Việt Minh vốn chủ trương giết tiềm lực, tiêu diệt tất cả những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc, có khả năng đối kháng với Việt Minh. Từ năm 1945, nhiều lãnh tụ quốc gia bị Việt Minh thanh toán mà không vết tích như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, Trương Tử Anh, Nguyễn Hữu Thanh (Lý Đông A), Nhượng Tống…

5.- THỤY AN BỎ TRỐN

Theo lời bà Thụy An sau nầy kể lại cho người cháu của ông Bùi Nhung, thì ngày 29-7-1954, Đỗ Đình Đạo mượn nhà Thụy An để tổ chức hội họp. Tin trong gia đình bà Thụy An cho biết hôm đó là một cuộc họp chính trị, có người không muốn dùng công sở của chính phủ, cũng không muốn thuê các nhà hàng hay khách sạn vì sợ lộ bí mật, nên ông Đạo mới mượn nhà bà Thụy An để tổ chức hội nghị, tức địa điểm trung lập. (Nói chuyện với ông Q., cháu Bùi Nhung ngày 8-7-2014.)

Cũng tin trong gia đình, Đỗ Đình Đạo bị đột tử tối 29-7-1954, thì sáng ngày hôm sau, Thụy An về nhà. Bà thấy Đỗ Đình Đạo đã chết, nằm ngay ngắn, trên bàn có một bát (tô) miến, mà về sau nhà đương cuộc Hà Nội nói là có chất độc. Bà Thụy An không biết ai đã giết Đỗ Đình Đạo, hay Đỗ Đình Đạo tự sát, nhưng trước tình trạng nầy, bà hoảng sợ bỏ trốn.

Trên chuyến tàu hỏa từ Hà Nội đi Hải Phòng, Thụy An bị bắt tại một nhà ga nhỏ cuối cùng trước khi đến Hải Phòng, và bị tạm giữ ngay tại đó, trong một căn phòng, bên ngoài do một người da đen, bận thường phục canh gác. Vì vậy Thụy An không biết cơ quan nào đã bắt mình: Phòng nhì Pháp, hay sở Liêm phóng (Công an), hoặc Cảnh sát?

Được tin vợ bị bắt, Bùi Nhung liền tìm đến thăm. Ông Nhung nói với vợ đại ý rằng ông không đủ thế lực và khả năng để bảo lãnh Thụy An ra khỏi tù. Bà hãy đợi xem tình hình, rồi sẽ liệu định sau. Thụy An liền nhờ Bùi Nhung mua giúp cho bà một chai rượu Tây (Pháp), để bà tặng cho người canh gác, nhằm nhờ ông ta giúp đỡ khi có việc cần. Bùi Nhung làm theo lời vợ yêu cầu. Bà Thụy An tặng chai rượu cho người canh gác. Tối hôm đó, người da đen canh gác uống rượu say. Bà Thụy An lợi dụng cơ hội bỏ trốn. (Toàn bộ câu chuyện về cái chết ông Đạo và bà Thụy An bị bắt, bỏ trốn theo lời bà Thụy An kể lại cho người cháu tên là Q. năm 1988. Ông Q. nói chuyện với người viết tại San Jose ngày 8-7-2014.)

Thụy An kể rằng khi người tây đen đang say sưa , bà xin đi nhà vệ sinh (cầu tiêu), rồi chui xuống lổ hầm nhà vệ sinh và bỏ trốn ra ngoài. Bà đến nhà một người bạn gần đó tắm rửa và thay áo quần, rồi theo xe hỏa trở ngược về Hà Nội.

Thời bấy giờ, loại cầu tiêu phổ thông là cầu tiêu đổ thùng. Cầu tiêu xây cao, phía dưới là một hầm cầu, xây kín 3 phía, còn chừa một phía làm cửa. Trong hầm cầu đặt một cái thùng để đựng chất uế thải. Mỗi tối hay sáng sớm, một người phu đổ thùng đến mở cửa, thay thùng cũ, đặt một thùng khác thế vào. Vì không dội nước, nên cái lỗ cầu thường rộng để khỏi bị dính khi đi cầu. Nhờ vậy, Thụy An mới chui xuống được hầm cầu để bỏ trốn.

Khi chính quyền Quốc Gia Việt Nam di chuyển vào Nam sau hiệp định Genève, hồ sơ vụ việc Đỗ Đình Đạo và Thụy An được Tòa thượng thẩm Hà Nội chuyển vào Tòa thượng thẩm Huế. Trong hồ sơ nầy, đến đoạn Thụy An bỏ trốn, thì người ta ghi rằng bà Thụy An trổ nóc cầu tiêu để thoát thân. (Theo lời kể của ông M. Đ.N. tức giáo sư Nguyễn Hữu Thứ, chánh án Tòa thượng thẩm Huế. Giáo sư Thứ kể cho người viết là ông đã tận mắt đọc lại hồ sơ nầy.)

Như thế là hai nguồn tin riêng biệt (tòa án và Thụy An) đều cho biết rằng Thụy An bỏ trốn sau khi vào cầu tiêu. Chỉ khác nhau là phía tòa án cho rằng Thụy An trổ nóc nhà cầu mà ra, còn Thụy An tự kể là đã chui xuống hầm cầu trốn đi. Thực ra sức vóc phụ nữ thì khó có thể trổ nóc để thoát thân và trước viễn cảnh bị giam cầm, Thụy An phải chấp nhận chui hầm cầu dầu thiếu vệ sinh và hôi hám để bỏ trốn.

Do bị chính quyền Quốc Gia Việt Nam truy nã, Thụy An lo ngại, không dám di cư vào Nam Việt Nam mà đành phải ở lại Bắc Việt Nam, trong khi Bùi Nhung và con cái đều vào Nam. Sau đó, tại Bắc Việt Nam, Thụy An lại bị liên hệ vào một vụ án khác. (Vào Nam Việt Nam, Bùi Nhung xuất bản năm 1965 tập hồi ký Thối nát, về giai đoạn 1945-1954.)

6.- THỤY AN VÀ VỤ ÁN NHÂN VĂN GIAI PHẨM

Sau năm 1954, tại Bắc Việt Nam nhà văn lão thành Phan Khôi chia giới văn nghệ sĩ Hà Nội thành hai thành phần rõ rệt: 1) Nhóm “lãnh đạo văn nghệ” hay những “ông quan văn nghệ”, viết văn theo lệnh của đảng Lao Động (LĐ tức đảng Cộng Sản), được đảng LĐ tin cậy, giao nhiệm vụ chỉ huy, đứng đầu là Tố Hữu. 2) Nhóm “quần chúng văn nghệ” là những thành phần còn lại, yêu tự do dân chủ, không muốn gò bó trong giáo điều và sự quản lý của “lãnh đạo văn nghệ.” Nhóm thứ hai đông đảo hơn, vận động cởi trói văn nghệ. Cao điểm của cuộc vận động là các báo Giai Phẩm và Nhân Văn xuất hiện năm 1956.

Đảng LĐ liền trấn áp, tổ chức học tập, bắt bớ, tù đày những văn nghệ sĩ phản kháng. Thế nhưng vẫn chưa đủ. Thụy An không tham gia và không viết bài cho cả hai báo Giai Phẩm vàNhân Văn, vẫn bị bắt giam tại ngục thất Hỏa lò Hà Nội vì bị cộng sản cho rằng bà tác động mạnh đến hai nhóm nầy. Khi viên công an cộng sản hỏi cung, y nói với bà Thụy An rằng: “Chị có mù đâu mà không thấy chế độ tốt đẹp ra sao, lại không giác ngộ và mất tin tưởng ở chế độ, trong đầu chứa chấp toàn ý tưởng phản động.” Trở về lại phòng giam, Thụy An tự chọc mù một mắt. Cán bộ trai giam hỏi Thụy An lý do vì sao tự chọc mù một mắt, bà trả lời: “Chế độ của các anh nhìn một mắt cũng đã thấy quá nhiều cái xấu xa chịu không nổi rồi, để cả hai mắt chắc tôi không sống nổi.” (Thụy An kể chuyện cho người cháu là ông Q.) Đúng là đàn bà dễ có mấy tay!

Ngày 21-1-1960, Thụy An bị Tòa án cộng sản kết tội 15 năm tù giam, vì bị tố cáo là tiếp tay cho cả hai nhóm Giai phẩm và Nhân văn, và làm gián điệp cho Pháp. Tuy nhiên, theo Thụy An, vụ án nầy chỉ là sự trả thù cá nhân của Tố Hữu mà thôi. Thụy An kể rằng trong một lần gặp nhau ở Hội nhà văn Hà Nội, Tố Hữu nói với Thụy An: “Tôi thấy chị làm thơ cũng khá, sao không đưa cho báo đăng?” Thụy An liền trả lời: “Thơ thì chỉ có một cái chiếu mà anh ngồi hết cả chỗ thì còn đâu ra chỗ mà ngồi. Tôi không thích ngồi ở mép chiếu.” Từ đó Tố Hữu để tâm thù ghét và kiếm cơ hội ám hại Thụy An. Đó là nguyên nhân chính đưa đến việc Thụy An bị bộ máy tuyên truyền cộng sản dưới quyền Tố Hữu vu cáo và bà bị truy tố ra tòa án, để cuối cùng lãnh 15 năm tù giam. (Bà Thụy An kể cho ông Q.)

Thụy An ở bị nhà cầm quyền cộng sản giam từ 1960 đến 1973. Sau hiệp định Paris (27-1-1973), bà ra khỏi tù trong dịp mà cộng sản gọi là “Đại xá chính trị phạm”. Bà được cộng sản cho vào sinh sống ở Sài Gòn năm 1977. Lúc đó, một số con của bà đã di tản qua Hoa Kỳ. Bà liên lạc được với các con nhưng chưa có cơ hội gặp lại. Sau đây là thư bà Thụy An gởi cho người con trai đầu là Bùi An Dương: (thủ bút do ông Q. cung cấp)






KẾT LUẬN

Trước đây, đã có nhiều sách báo viết về vụ án mạng Đỗ Đình Đạo, nhưng thiếu ý kiến của những người trong cuộc hoặc con cháu của người trong cuộc kể lại. Ngoài các tài liệu cũ, bài viết nầy chẳng những dựa vào những cuộc nói chuyện với con cháu của cả hai bên ông Đỗ Đình Đạo và bà Thụy An, mà còn kiểm chứng thêm với một số thân hữu lớn tuổi đã từng trải qua giai đoạn chuyển tiếp ở Hà Nội và Hải Phòng năm 1954, trước khi di cư vào Nam, đã từng đọc báo hay nghe thuật lại diễn tiến vụ án. Hy vọng bài báo nầy có thể góp thêm vài thông tin mới, ví dụ mối quan hệ giữa Đỗ Đình Đạo và Thụy An là tình bạn trong sáng giữa hai người và hai gia đình, chứ hai người không phải là tình nhân như một số tài liệu trước đây.

Tuy nhiên, cuối cùng vấn đề quan trọng là ai đã sát hại Đỗ Đình Đạo tối 29-7-1954 tại nhà số 1 đường Tuyên Quang, tức đường Cao Bá Quát, thì vẫn chưa có câu trả lời cụ thể, ngoài sự hoài nghi là cái chết của Đỗ Đình Đạo nằm trong kế hoạch giết tiềm lực của Việt Minh cộng sản, thủ tiêu tất cả những ai có khả năng chống lại cộng sản. Như thế, nếu cộng sản còn cầm quyền, thì có thể nghi án nầy sẽ chìm dần theo thời gian mà chẳng bao giờ có phần kết luận.

(Toronto, 16-7-2014)

Trần Gia Phụng
Nguồn: danchimviet.info









































Trở về












Emprunt Empreinte