Monday, 6 June 2016

Hồ Đình Nghiêm















Hồ Đình Nghiêm
(1957 - .....) Huế
Nhà văn, nhà thơ









Chiều tà lăn tay quán cà
Phê ghi tội trạng thiệt thà cõi văn








Montréal, tháng 8. 2013









Hồ Đình Nghiêm sinh ở Huế, lớn lên ở Đà Nẵng, Tuy Hoà, Nha Trang và Đà Lạt. Trở lại Huế học Cao Đẳng Mỹ Thuật và tốt nghiệp năm 1978. Được (bị) bổ đi làm nhân viên văn hóa ngoài Quảng Trị, nhưng quyết định làm thuyền nhân vượt biên sang Hồng Kông.
Hồ Đình Nghiên bắt đầu viết văn từ sau hàng rào lưới sắt, giấy bút đều có in logo Hội Hồng thập tự Quốc tế và những truyện ngắn đầu tay đều được viết trong trại tị nạn. 


Hiện sống cùng gia đình ở Montreal, Canada
























Tác phẩm đã xuất bản:















1

Nguyệt Thực

Chuyện ngắn, Văn Nghệ 1988.













2
Tờ Mộng Rách Rồi
Chuyện ngắn, Tân Thư - Thời Văn, 1991.










3
Vầng Trăng Nội Thành
Chuyện ngắn, Văn Mới, 1997.










4
Mùi Hương Trên Đồi
Truyện ngắn, Văn Mới, 2005.






















Phỏng Vấn Nhà Văn Hồ Đình Nghiêm
Quỳnh My Thực hiện




Quỳnh My (QM) : Chào ông Hồ Đình Nghiêm, được biết ông tốt nghiệp cao đẳng mỹ thuật nhưng thành danh là một nhà văn, ông có thể cho biết diễn tiến đoạn đường từ chọn nghiệp đến lập nghiệp của ông?

Hồ đình Nghiêm (HĐN) : Chuyện như thế này: Tôi tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế năm 1978. Bỏ nhiệm sở vì không thích làm cán bộ Thông tin văn hoá. Lấy vợ, sinh con và gia đình vợ cho tiền bồng bế nhau vượt biên năm 1980. Qua Hồng-Kông, chạm mặt đời sống mới, giấy bút khi ấy giúp tôi làm nhẹ nỗi buồn. Hoàn cảnh đó, hội họa không thiết thực bằng văn chương. Trong trại tị nạn, cách giết thời giờ hữu hiệu nhất là đùa cợt với chữ nghĩa. Cứ thế mà mình "lậm" hồi nào không hay. Nghĩ cho cùng, tôi không chọn nghiệp mà cũng chẳng lập nghiệp. Vui thì đậu mà buồn thì bay.

QM : Trong tác phẩm ông đã xuất bản, truyện ngắn đầu tay của ông có được ông tuyển chọn? Nếu có, mong ông tóm lược nội dung của truyện này.

HĐN : Dĩ nhiên là phải chọn chứ. Truyện đầu tay ví như mối tình đầu. Bồng bột, sôi nổi và có ít nhiều vụng dại; những lỗi lầm đáng yêu hơn đáng trách. Mẹ tôi thương con đầu lòng hơn những đứa đẻ sau. Tôi là con út và đôi khi tôi nghiệm: Hẳn Mẹ tôi có lý do bên trong. Không nên so đo, phân bì, gạn hỏi. Nội dung à? Đó là một truyện tình đầy trắc trở và thương tật. Mấy mươi năm rồi, có lẽ tôi không nên tóm lược chuyện "cổ tích" ấy ra đây.

QM : Truyện của ông đến với bạn đọc đầu tiên qua tạp chí hoặc tuần báo nào ? Trong truyện đó ông có nhằm bày tỏ những điều gì không?

HĐN : Truyện tôi gửi đăng đầu tiên là ở báo Đất Mới bên Seattle, năm 1981. Tờ báo do anh chị nhà văn Thanh Nam Túy Hồng chăm sóc mà tình cờ tôi vớ đọc được trong trại tị nạn. Một kẻ tị nạn, chuyện nắng mưa của hắn, qua cách cảm nhận của hắn, sự bày tỏ kia chắc có khác với kẻ đứng bên ngoài hàng rào mắt cáo. Truyện đó, tôi viết về những giấc mơ không thành, những huyễn mộng, những niềm đau nhỏ bé giữa cuộc đời lớn rộng này.

QM : Để có tác phẩm đầu tay trước bạ với làng văn, ông đã làm việc như thế nào?

HĐN : Tôi là đứa ham vui, ít để tâm vào chuyện lớn bé nào. Dạo đó, lâu rồi, sau khi gửi cho tạp chí Văn Học đôi ba truyện ngắn tôi liền mở lời muốn in một tập truyện. Tuần sau, thầy Từ Mẫn của nhà Văn Nghệ "bật đèn xanh" và "Nguyệt Thực" chính thức chào đời. Cho đến giờ này, đôi khi tôi tự hỏi:" Mày là nhà văn đấy à? Có thật không đó cha?!" Dạ thưa, tôi có làm việc gì ghê gớm đâu?

QM :Nội dung những truyện ngắn trong tác phẩm Nguyệt Thực đã được ông khai triển những đề tài nào? Ông đã sử dụng những bối cảnh nào trong loạt truyện đầu tiên này?

HĐN : Tôi không mang chủ đích, chẳng có chủ ý. Tôi không rắp tâm khai triển một đề tài nào ráo trọi. Chân lỡ bước lên ghe thì cứ phó mặc cho sóng nhồi mang tới bến bờ nào cũng đặng. Tôi có khuyết điểm: Khó viết đúng theo một cái giàn bài đã định trước. Tôi ghét gò bó, ghét công thức, ghét khuôn thước. Tôi nuông chìu tình cảm hơn là trí. Bối cảnh trong tập truyện ấy nhét đủ mọi lãnh thổ: Quê nhà, chốn tạm dung, và cả đệ tam quốc gia. (Cái xứ gì mà "quanh năm mùa Đông").

QM : Những nhân vật của ông xây dựng thường rút từ những thành phần nào trong xã hội? Cái tôi của ông hẳn thường đóng những vai quan trọng?

HĐN : Cho tôi xin khất câu hỏi này. Hôm nào viết xong cái truyện dài hoặc hoàn thành một cuốn tiểu thuyết tôi sẽ trả lời Quỳnh My sau. Vậy đi nhé.

QM : Ông có thương yêu và đối xử công bằng với những nhân vật của ông?

HĐN : Tôi có ghét và cũng có thương. Tôi công bằng và tôi khắc nghiệt dở chứng, một đôi khi. Cái sự đối xử đề huề cân cái chỉ sợ dẫn tới trường hợp nhàm chán. Không sắc nét, lờ mờ nhân ảnh, thường thường bậc trung.

QM : Những nhà văn thuộc thế hệ của ông trong tác phẩm của họ thỉnh thoảng có khai thác khía cạnh tình dục, ông cũng có làm như vậy? Và quan niệm thế nào về vấn đề này?

HĐN : Tốt thôi. Vui thôi. Đọc một truyện "dâm đãng" viết cho thoát sẽ sướng hơn bất kỳ một đề tài nào khác. Câu hỏi đặt ra là viết có tới nơi tới chốn không? Chính vì không "tới" không "đạt" nên mới đưa đến tình trạng tranh cãi chuyện thanh và tục. Tỉ dụ như truyện "Người thích ngắm vú" hoặc gì gì đó đăng trên tờ Thế kỷ 21 là một truyện dở. Nó không đáng để người ta đem ra tranh luận mổ xẻ. Uổng! Phí! Tôi lượng sức mình sợ bị sa ngã nên cứ thầm thà thậm thụt. Ừ, thì trước đây cũng có chấm mút chút đỉnh. Ăn mặn thì khoái khẩu hơn ăn chay. Yêu thương nhau ra rít mà cứ nhắm mắt trước tình dục thì... chán bỏ bu. Mà tại sao Chàng cứ mãi vuốt tóc Nàng, tả da Em trắng như trứng gà bóc, mắt bồ câu môi trái tim mũi dọc dừa mà không hề biết cơ thể Em còn ẩn chứa hai ba thứ tuyệt diệu hơn? Vượt ra khỏi lối mòn kia thì sợ chúng chửi chăng? Tội nghiệp!

QM : Để có một tác phẩm có da thịt một cách phương phi, theo ông phải cần có những điều kiện nào?

HĐN : Điều kiện tất yếu và đủ là: Săn đuổi, tán tỉnh, ăn nằm và sống chết với nó. (Một người tình chung?) Đao to búa lớn quá, nhưng không thể nói khác, bởi bản thân chữ "da thịt phương phi" vốn không phải là chuyện nhỏ. Thôi thì thế này nhé, tôi thích truyện ngắn này và truyện ngắn kia vì giản dị là nó chứa đựng cho riêng nó một khí hậu, nó để lộ cá tính của người viết nên nó. Dẫu cho nó lỡ nói tới chuyện tầm thường, nhưng là cái tầm thường không giống ai, riêng biệt. Tôi thích câu nói của Paul Gévaldy: "Cần giống nhau một chút để hiểu nhau, nhưng cần phải khác nhau đôi chút để yêu nhau". Hãy thử đọc thơ của Bùi Giáng, của Tô Thùy Yên, của Luân Hoán, của Du Tử Lê... ngôn ngữ của họ "cầu chứng tại tòa" bằng chính chữ nghĩa khác lạ của họ. Bây giờ tôi nói: "Thưa cô phỏng vấn lòng vòng. Nhức tim bên nề , đau lòng bên kia" thì Quỳnh My biết ngay là tôi đã ăn cắp cái hơi thở của Bùi Giáng.

QM : Viết văn đối với ông là một hoài bão hay là một thú tiêu khiển?

HĐN : Với tôi, hai trường hợp trên đều không đúng. Cái đầu, tôi chưa từng gợn lòng toan tính. Cái sau thì cho tôi phủ nhận chữ thú tiêu khiển kia để thế vào chữ hành xác. Hành xác và rất mực tốn kém. Tiền bạc, sức khoẻ, thời gian thảy đều hao hụt. Tâm sự điều này, tôi từng ngụy tạo chuyện nhức đầu sổ mũi, xin chủ hãng nghỉ việc nửa ngày để buổi trưa đứng bóng chui vô công viên ngồi viết cho xong cái truyện đã lỡ hứa với ông chủ báo Văn, ông chủ tiệm Hợp Lưu. Trời sanh tôi, đứa nhẹ dạ. Cả nể, dễ xiêu lòng nghe lời dụ khị, nên không "ke" chuyện việc vàng cắc củm từng đồng mà vui vẻ nai lưng đi vác ngà voi. May mà vợ tôi nhắm mắt, không cản: ăn được cái giải gì mà cặm cụi ngồi nặn óc? Dẹp đi nha...

QM : Ông thường có những thói quen nào trong lúc sáng tác?

HĐN : Ngẫm lại hình như là không có thói quen. Ông Nguyễn Hiến Lê khuyên những kẻ viết văn nên tập thói quen mỗi ngày phải ngồi vào bàn viết một hai tiếng. Đó là một lời khuyên vàng ngọc. Tôi biết thế mà tôi "chây lười lao động". Hình ảnh đứa nằm dưới gốc cây chờ sung rụng là tôi. Tùy tiện lắm, hổ thẹn lắm, và dị ứng với computer mới chết chứ! Tôi thường ngồi sau bếp một mình. Chỗ ấy yên lành nhất, ấm áp nhất, và nơi đó là vùng oanh kích tự do: tha hồ cà-phê thuốc lá thâu đêm mà không sợ hiền thê lẫn quý tử càm ràm, đay nghiến, lên án, răn đe. Dạo này, tôi đã bỏ được thuốc lá. Tôi loan báo tin buồn ấy ra bởi vì miệng không thở khói thì người đẹp văn chương cũng trốn biệt tăm, moi tim óc hoài không ra một chữ. Khốn khó quá!

QM : Ngoài 3 tác phẩm đã xuất bản, ông đã chuẩn bị một tác phẩm mới? Ông có thể cho biết về tác phẩm này? Và những dự định trong tương lai của ông?








HĐN : Cái thứ Tư cũng là một tập truyện ngắn, mọi thứ đều hoàn tất chỉ chờ lên khuôn nhưng rất tiếc phút cuối đã hư bột hư đường. Lỗi tại tôi mọi đàng! Tôi ngây thơ và tôi cả tin. Tôi tưởng "Con ma nhà họ Hứa" chỉ có trong phim ảnh. Ai mà dè! Tôi không có dự định gì hết trơn. Tôi đang buồn và tôi chẳng biết ngày mai trời có sáng không?

QM : Ông có chủ trương làm mới truyện ngắn? Ông nghĩ thế nào về loạt truyện có tên 'truyện thật ngắn'?

HĐN : Thế nào là làm mới truyện ngắn? Mỗi người có một cái nhìn riêng. Theo cái cách mà những người gần đây viết văn tối tăm, không câu cú, không chấm phết, không xuống hàng... được hiểu là làm mới thì hàng ngũ ấy không có tôi. Còn truyện thật ngắn thì thú thật là tôi chẳng thích. Ngay cả thơ Haiku cũng thế. Hà tiện tới độ nghèo khó như vậy để được cái gì nhỉ? Hình ảnh một anh chàng công tử Bạc Liêu hào phóng ném tiền qua cửa sổ bao giờ ngó cũng đã mắt hơn anh nông dân ăn tằn ở tiện chắt mót từng đồng. Nói thế chứ trường thiên tiểu thuyết hoặc trường thi trường ca tôi cũng ngán. Tôi đồng tình với cô bán bia ôm: "Dài thì em sợ mà ngắn quá ngó cũng nản!"

QM : Trong tạp chí Hợp Lưu, một tạp chí bề thế của giới trí thức hiện nay, vừa rồi có một loạt truyện gọi là 'truyện một câu' của tác giả Đinh Linh, trích dẫn một truyện như sau: "Trước khi hắn trút hơi thở cuối cùng, họ đã dẫn hắn ra ngoài để nhìn mặt trời lần cuối và lần đầu tiên." Ông có ý kiến gì về sự khai phá làm mới truyện ngắn này? Hẳn ông tin trong những ngày tới sẽ có một loạt tác giả kỳ tài khác, tiếp tay với ông Đinh Linh để làm lớn mạnh loại truyện có tầm vóc này?

HĐN :Tôi không có ý kiến về câu hỏi này. Đôi khi im lặng có được hiểu là làm mới một cuộc phỏng vấn không? Hỏi. Đăm chiêu. Gãi đầu. Làm thinh. Tịch lặng kéo dài, tận cùng là tiếng ho khan.

QM : Là một nhà văn thành danh, mong ông chấm điểm thử Truyện trích dưới đây, có đủ khả năng đứng vào hàng với những nhà văn khai phá những cái mới: "Ọt, chết ...em rồi...ông ơi. Ngôn ngữ khoái cảm nối chồng nhau thúc rối, cuối cùng vỡ trong con giọng: chết / để bắt đầu sống-một-đời-tuyệt-hảo hơn."

HĐN : Chấm điểm? Không dám đâu! Ai viết nên câu ấy thế? Ra bờ sông, ném hòn sỏi xuống nước, sóng đồng tâm xao động loang tròn ra. Làm thơ viết văn là người đứng ngoài bờ sông ném đá ấy. Một tác phẩm hay là khi nó đi thẳng vào lòng người đọc và nó biết tạo sóng. Tôi có đủ khả năng để viết một truyện ngắn siêu thực, khó hiểu; nhưng liệu hành động ấy có giống cầm hòn sỏi để liệng xuống một cái giòng khô, hun hút sâu? Sẵn, tôi chép ra đây lời của Guillaume Barante: "Người ta làm tươi trẻ một ngôn ngữ không phải bằng lời mà chính là do những ý tưởng".

QM : Xin trở lại những câu chuyện nhẹ nhàng hơn. Ngoài viết văn, ông còn vẽ tranh hoặc sinh hoạt trong một bộ môn khác không? Ông có từng làm báo?

HĐN : Tôi đã rét, đã run tay, đã ly dị với "Nàng hội họa" rồi. Một họa sĩ đàn anh có khuyên tôi: "Hồi nào bạn cảm thấy hứng thú, thôi thúc, rồi hẳn vẽ". Tôi chưa thấy hứng thú, không nghe ngọ nguậy thôi thúc. Có lẽ hòn than trong người đã nguội mất rồi. Chuyện viết văn cũng vậy, chưa khi nào trong tôi thực sự bùng cháy một ngọn lửa. Cứ âm ỉ, cứ riu riu, cứ như rứa thôi. Làm báo? Đó là một nghề lao xao, một loại chiến đấu... từ chết tới bị thương. Mà tôi thì... Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao. Hoàn cảnh lắm Quỳnh My ạ!

QM : Được biết ông cư ngụ tại Montréal, một thành phố có khá nhiều người sinh hoạt chữ nghĩa, hẳn ông đã có những sinh hoạt chung với họ, nhân đây, ông có thể giới thiệu với độc giả Hồn Quê những khuôn mặt ông quen thân qua một vài nét bằng văn tài rất duyên dáng của ông?

HĐN :Tôi nhớ lời báo cáo của một ông Xã trưởng (chuyện tếu) : "Thưa ông Quận trưởng, dân số xã tôi thì đông, mà người trong xã thì quá ít ỏi". Montréal là một cái xã tương tự như thế. Ai sao không biết chứ riêng tôi thì nhìn lui ngó lại có chừng đó mặt mày. Nhà thơ có Luân Hoán, Trang Châu, Lưu Nguyễn, Hoàng Xuân Sơn. Nhà văn có Song Thao, Võ Kỳ Điền. Chúng tôi vẫn thường tụ họp ở một quán cà-phê phường Côte-des-neiges, nói năng linh tinh từ thiên địa bệnh hoạn thời tiết Tây đầm cho chí tới Mông-xừ khủng bố trưởng Bin Laden. Đa phần là đùa giỡn lấy vui làm trọng, gieo rắc nụ cười là chính. Thảng hoặc có nghiêm trang chuyện đại sự thì đó là dự tính in sách, tổ chức cho bạn văn phương xa về ra mắt các tác phẩm mới cho có sinh hoạt. Chỉ ngần ấy thôi mà không chắc là tụ hôp đông đủ mặt mày. Lóng rày, vấn đề tuổi tác hom hem hay có nguồn cơn nào bên trong mà trông ai cũng suy. Bây giờ đang cuối tháng Mười, cây rung lá rụng xuống cỏ xem chừng đã gần trơ trụi. Cảnh sắc ngó hiu hắt khó tả. Ôi "Cảnh buồn người có vui đâu bao giờ" là vì vậy!

QM : Những câu hỏi trên hẳn nhiên chưa đủ làm điểm tựa để ông cần gởi đến bạn đọc nhiều điều ông muốn nói, mời ông tự nhiên bày tỏ những gì ông thấy cần thiết về chuyện văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng.

HĐN : Đây là lần đầu tôi phải trả lời những 18 câu hỏi. Nhiều quá. Đa sự, đa ngôn, đa khẩu ắt đa nghiệp. (Tất đạt Đa) Một truyện ngắn hoàn chỉnh là truyện ấy biết nên dừng ở đâu. Một chiếc xe không bị phạt là chiếc xe ấy còn biết thắng đứng trước bảng đỏ Stop. Tạm dừng ở đây nhé. Xin Quỳnh My một ly nước lạnh. Cám ơn.

Quỳnh My thay mặt nguyệt san Hồn Quê, cảm ơn và chúc ông sức khoẻ. 
















Đọc chuyện

Hồ Đình Nghiêm





AM KHUẤT



Bóc đi một tờ lịch, giữa đêm hay đầu ngày, con người vò đi hai mươi bốn giờ mà trái tim đã đập qua, đã sống với. Quá khứ nhăn nhúm rơi vào sọt rác và hiện tiền đang tối đen hay ửng sáng? Theo trình tự, sau Tư sẽ là Năm, Sáu, Bảy, Tám, Chín… Bây giờ tháng mấy có khi được diễu nhại “bây giờ mấy tháng rồi hỡi em?”



Một thai nhi sau chín tháng giam giữ sẽ được phóng sinh. Có khi “em bé” chui ra cửa mình sớm hơn thứ định kỳ nọ bởi vô vàn lý do. Tháng ba ấy, trong trùng trùng những lý do, trên đỉnh đèo Hải Vân, Công Huyền Tôn Nữ Lam Hồng chạy từ Huế vào Đà Nẵng đã đẻ rớt một cô bé bảy tháng tuổi. Mây mù, sương sa, khói xăng, tiếng động cơ, máu, nước mắt… Tất thảy tắc nghẽn, dồn cục trên con đường ngoằn nghèo xuôi đổ. Biển dưới vực sâu, chân đèo phía nam mang địa danh Nam Ô mà không là Nam Mô A Di Đà Phật.



Hai ngày sau, Lam Hồng đặt được bàn chân run rẩy xuống bệnh viện Đà Nẵng. Bạc ác và lòng từ tâm của ai kia đã mang cô tới thứ bến bờ ngoài dự tưởng. Chết đi sống lại không hề là ngoa ngôn. Nước mắt chẳng còn để đổ ra không phải là thứ quá lời thêm mắm dặm muối. Và huyền nhiệm là thứ mà chúng sinh buộc phải sắc son tin, đắm đuối tưởng. Chúng sinh sống trải qua khổ nạn với ôm giữ duy một lòng thành: Hy vọng. Hy vọng chuyện gì? Tạm chưa tìm ra câu trả lời cho thứ vấn nạn quá tải kia. Huyền nhiệm Lam Hồng không chết, huyền nhiệm sơ sinh còn cất tiếng khóc giữa tai ương.



Cô chọn tên cho cháu bé chưa? Bởi chúng tôi sẽ cấp cho cô tờ chứng nhận để làm giấy thế vì khai sinh. Tràng Hạt, đẻ tháng Ba năm Bảy lăm tại Hải Vân Đà Nẵng, chánh quán xứ Thần Kinh, cố đô Huế. Một nhân mạng hiện hữu giữa cõi ta bà với thứ sơ yếu lý lịch tạm bợ, khóc ằng ặc trong một thành phố tan tác cảnh chia lìa hoảng loạn trốn chạy. Có cần đào sâu đôi chút không? Mẹ đang ốm, thế bố Tràng Hạt đâu? Cha mang cấp bậc Thiếu úy, theo đơn vị ở phút dầu sôi lửa bỏng kẹt cứng ở biển Thuận An, cách nhà có nửa giờ lái xe Jeep nhưng vô phương xoay trở. Và cha bó tay làm hàng binh trước một thua cuộc chẳng tài nào lý giải.



Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình. Bà ngoại của Tràng Hạt bế cháu, ru cháu bằng tiếng vỡ lòng nghe xót xa, bởi cháu là bướm, mai sau cháu nối gót bà, theo dấu mẹ, cháu cũng tái mặt máu mà rặn cục nợ ra. Lam Hồng ôm con thơ vọng trông hướng núi nhưng tin người cải tạo khuất mặt tù đày chẳng vọng gửi về biền biệt qua năm này tháng nọ. Thời điểm hiện tại mẹ bồng con chẳng thể hóa đá như truyền thuyết hòn vọng phu bởi thời buổi này người ta đục đá để kiếm miếng cơm. Ngũ hành sơn có thể biến dạng, sông kia rày đã nên đồng và Lam Hồng mang con liều mạng vượt biển, chui lắm lần nhưng mãi thất bại, đổ bể, lộ hàng. Huyền nhiệm hình như chỉ đến một lần trong đời. Và đời xác xơ dìm mẹ con Lam Hồng xuống tận nấc thang cuối. Thứ nấc thang mà người ta nhắm mắt hồ hởi tiến vững chắc, tiến vững mạnh lên xã hội chủ nghĩa. Người ta xếp hàng cả ngày và người ta cam lòng với sự đi lui rất đỗi lạ thường: Từ người rơi xuống vượn. Lông lá, mòn khuyết nhân tính. Khỉ chi sơ tánh bổn ác.

Lam Hồng làm trăm công ngàn chuyện để nuôi mẹ nuôi mình nuôi con, một cô sinh viên tốt nghiệp sư phạm Anh văn chưa kịp đứng trên bục giảng ngác ngơ vào trường đời với đức tin khù khờ ông trời độ. Một con cá ở hồ nước ngọt bỗng dưng bị vất vào mênh mông biển mặn thì trầy vi tróc vảy là điều hiển nhiên. Nhan sắc rơi nhanh xuống tàn phai, gái một con trông quáng gà đôi mắt. Khi chồng được tha về, chồng cất công truy tầm gạn hỏi và đến lúc tương phùng, cả hai đều không nhận ra nhau, dù đối tượng kia là thứ ảnh hình mình luôn khắc ghi vào tâm khảm. Một thứ cường toan nào đã đổ xuống thân phận họ, tàn phá đi khiến họ bị lão hóa tựa họ sống một ngày có hai- mươi-bốn-ngàn-giờ và họ đã thiệt thòi hy sinh trong sáu năm, bao ức triệu giờ? Tràng Hạt sáu tuổi và con bé rất ghét kẻ lạ kia tự dưng vào sống chung nhà mình. Đoàn tụ là nỗi vui của ai kia, chứ tôi đang sống yên ổn vậy cớ chi anh vác xác vào soán đoạt mọi thứ tôi đang có? Sáu tuổi chưa ý thức về cái chết, nhưng biết mười mươi về cơn đói khi chén cơm vốn đang lưng nay chỉ còn một nhúm lổn ngổn không sống chung hòa bình với sắn khoai. Bé cũng chưa hiểu do đâu bé có mặt giữa đời này nên bé hoài nghi tới chữ cha. Cớ sao bắt tôi gọi thằng đàn ông tiều tụy rách rưới kia là Ba? Tôi chỉ yêu mẹ và thương bà ngoại thôi, ngoài ra tôi cóc có biết một ai khác. Đừng hòng. Đừng bóc lột kiểu như người ta lộng kiếng chân dung một ông già râu dài lưa thưa và bắt mọi người phải thương yêu lão. Vô lý cũng chừng mực nào đấy thôi. Tình cảm là thứ phát xuất tự đáy lòng, một dâng hiến tự nguyện, sao lại đi ép uổng người ta chứ! Tôi thích màu xanh sao anh kề đao vào cổ bảo phải yêu màu đỏ. Yêu giả mạo, yêu tạm bợ thì nào có sắc son mà trông mong?

Ngoại qua đời khi Tràng Hạt bắt đầu có kinh, bắt đầu nghe rạo rực từ những biến đổi tự cơ thể thanh xuân đang nhú mầm âm thầm. Lời nói cuối rót bên tai, đứt ruột: Ngoại tiếc chẳng sống lâu để có khi nhìn nhận ra ngày vui của Hạt. Ngoại cho con chiếc nhẫn này có hơi sớm… những lúc túng quẫn nhất ngoại cũng chẳng thể đành lòng cầm cố hoặc bán nó đi, bởi nhẫn ấy là vật gia truyền, gia bảo. Con đeo nó để nghĩ là tiền nhân, ba bốn thế hệ trước họ cũng đã từng đeo và mọi thứ đều tai qua nạn khỏi. Nhẫn là nhẫn nại, nhìn nhượng. Chữ nhẫn ấy giúp con chút hạnh phúc khi sống bên chồng như ngoại từng hạnh phúc. Sống thì phải tự tạo ra niềm tin, con ạ… Bàn tay lạnh, ngón co quắp. Đôi mắt khép hờ, có giọt nước ứa chảy ra. Nó tựa thứ hiệu lệnh, để khi nhìn thấy Tràng Hạt đã đổ xuống không biết cơ man nào là suối lệ. Khi buồn đau, có lắm kẻ đưa ra lời khuyên: Hãy khóc đi, khóc cho nhiều vào, rồi bạn sẽ nguôi ngoai. Đứa cháu tội nghiệp kia hoàn toàn khác, bởi càng khóc Tràng Hạt càng ngập lụt nỗi khổ tâm, càng thấy sự bất hạnh luôn là thứ đồng minh không hề tháo chạy, ôm siết, thiết thân, giăng bủa lên mái gia cư thiếu thốn của mình.

Có người không khi dễ hoàn cảnh kiệt quệ của Tràng Hạt, người con trai ấy vẫn chuyên cần mang tới cho cô bạn gái một bầu khí quyển riêng. Anh sống có vẻ sung túc, có vẻ như ra đời dưới một thứ lý lịch tốt, hồng chuyên các thứ. Anh luôn sẵn tiền và anh mang Tràng Hạt tới chạm mặt những ngày vui lạ, anh tựa một hình nhân đại diện cho luật bù trừ để làm cơn mưa rãi xuống sự hạn hán mà Tràng Hạt luôn gánh chịu. Anh chở xe máy lên mộ bà ngoại đáp ứng lời yêu cầu của Tràng Hạt để cả hai thắp nhang quỳ xuống vái lạy như cô tin sự sánh đôi này có điều diệu kỳ từ bà ngoại đã ban phát cho. Tràng Hạt không bắt anh bạn phải thề nguyền chuyện gì cả, cũng như cô chẳng hề giải thích tình yêu là gì. Tuổi trẻ cô đã chứng nghiệm rõ cái mong manh của một phận người, đừng quan hoài vì sao hôm qua bác đi chăn trâu mà hôm nay bác thành đại gia. Vì sao chữ trinh đáng giá ngàn vàng lại có khi người ta rao trên trang mạng: “Ai đổi không, tớ đang cần một cái iPhone 5”.

Như đông rồi sẽ sang xuân, như hài kịch sẽ kết thúc bằng một hôn lễ. Sợi chỉ hồng luồn chiếc nhẫn bà ngoại cho luôn đeo trước ngực đã tới lúc hoán đổi vị trí. Tay Tràng Hạt sẽ có ngón chứng minh trước cuộc đời: Tôi đang hân hoan từ giã thời con gái muộn phiền nhiều ẩn ức. Ba mẹ cô vẫn khen anh ấy, ba mẹ cô sẵn lòng để cho anh ấy lấy cô đi khỏi “túp lều tranh”. Mọi thứ diễn ra êm ả, sắp in thiệp hồng thì ba mẹ cô đổi ý. Họ phát hiện bố anh ấy là người năm xưa, vào dịp Tết, đã đích thân xử “bọn ác ôn”. Chôn không gớm tay già trẻ lớn bé cá mè một lứa dưới huyệt nông có tên gọi Bãi Dâu. Họ dứt khoát không làm sui gia với “ôn nớ”. Họ lập luận thà mà bộ đội chính quy, chứ thành phần nhảy núi lên xanh thì tráo trở lật lọng ngán lắm. Ôn nớ là kẻ tội đồ đó con nờ, chớ dây dưa, có tắm cạn nước sông Hương cũng không sạch thứ máu me ấy mô. Con nhớ cho chính ba mẹ từng thót tim vượt thoát được “sáu chữ vàng”: Thà giết lầm hơn bỏ sót.

Huế còn xuân mà khí trời như đang vào chảo rang để già lửa. Đường vắng ngắt bởi không ai muốn đội thần hỏa mà đi. Ba mươi tám năm, đủ để một đứa xa xứ về lại cố hương lộn hồn lộn vía lạc tâm lạc trí đi quàng đi xiên trên những lối mà ngày trước mướt xanh kỷ niệm. Nước sông Hương không trong như quá vãng và màu nắng thì đỏ rực hơn xưa. Chẳng còn nón bài thơ tóc thề áo dài trắng, điền thế vào những Ninja dị hợm hộc tốc phóng xe máy như bị ma đuổi. Khi vẻ đẹp bị che đậy kín bưng, kín đến nghẹt thở, tựa một xác ướp, Tây ba-lô ở Phạm Ngũ Lão cũng chắc lưỡi cho sự cố An nam lắm ngược đời.

Tôi đi xe ôm lên dốc Từ Đàm, máy xe bỏng khét khi tìm ra địa chỉ. Bác điều khiển xe nói, từ đây đi bộ vô trong nớ không có xa mô, mình không nên khuấy động sự yên tĩnh của người ta. Tôi nghe lời bởi tôi cảm thấy dễ chịu khi đứng dưới một vùng bóng dâm im mát. Khi về thăm, tôi cố gắng xóa bớt dấu vết hình tích một Việt kiều, tôi đang mặc bộ bà ba màu nâu, dung dị. Trả một trăm ngàn cho cuốc xe ôm, có lẽ tôi bị chặt chém vì lỡ lộ thân phận. Tôi bị hớ nhiều bận nhưng không hề đau ruột bởi tôi tự an ủi, đó cũng là cách giúp người, chẳng mấy rộng rãi.

Am nhỏ, nằm khuất tất như chẳng muốn hiện hữu. Trú thân trong am có sư nữ mà nguyên tên gọi trần tục của sư cũng đã nhuốm mùi phật tánh: Tràng Hạt. Khi chưa đoạn lìa chốn hung hiểm dưới kia, cô đã trao thân cho người con trai không thể làm chồng như lời tạ từ vĩnh quyết. Cô có thai, cô sanh nở trước khi cắt mái tóc thề để tìm quên trong khổ hạnh từ bi với áo nâu sòng. Tôi không thể sinh con nên chuyến về thăm nhà năm trước cơ duyên nào run rủi đã nhận đứa bé bạc phước kia làm con. Cháu con trai, tôi đặt tên Vô Ưu và cháu hiện ở Canada. Khỏe mạnh, mặt sáng lạng giống mẹ nó. Tôi thăm Tràng Hạt, chỉ thuần để vấn an cô, tuyệt đối dấu kín những gì tôi đang cưu mang, chẳng muốn đánh động sự phiền não cô muốn đoạn tuyệt. Tôi bỏ năm trăm đô vào thùng phước sương những mong am này vơi bớt vẻ tiều tụy ám tối đang vây bọc và tôi thầm nguyện sẽ nuôi dưỡng Vô Ưu trở thành một người hữu dụng. Cháu sẽ lớn khôn, tôi sẽ chuyên cần dạy tiếng Việt cho cháu và tôi có tham vọng viết lại câu chuyện này cho cháu đọc, để hiểu thấu bao oan khuất mà tiền nhân cháu đã phải đầu hàng trước nghịch cảnh.

Mô Phật, bà giàu lòng từ bi quá. Tràng Hạt cúi đầu nói nhỏ. Tôi ôm lấy hình hài ốm yếu của vị sư nữ như giữa chúng tôi chợt hiện lên mối tình chị em. Không, phải nói là một ràng buộc nào đó hơn cả một sự cảm thông. Hơn cả một sẻ chia. Hơn tất cả những định nghĩa nào khác.

Ve trú thân trên cây cối bao che am vắng đồng loạt cất tiếng. Chưa bao giờ, tiếng ve của Huế mùa hạ nghe buồn lòng như hôm nay. Bản chất âm hưởng của loài ve sầu là vậy, không khi nào chúng làm người nghe tìm nhặt chút bình an.


Hồ Đình Nghiêm
30 tháng 4 năm 2013




















AO NƯỚC LÃ



“Một giọt máu đào hơn ao nước lã”- Ngạn ngữ.

1. 

Trước đây tôi là lính tác chiến. Cấp bậc cuối cùng: Đại úy. Tôi ở tù thiếu hai tháng là đủ bảy năm. Giờ này tôi là thường dân, nghề nghiệp không nhất định và sống một mình chẳng thân thiết với ai. Ông nói sao? Gia đình? Ba Má tôi mất sớm, tôi có hai đứa em, một gái một trai. Lập gia đình chưa? Tôi? Không phải đùa chứ những câu hỏi của ông làm tôi nhớ tới mấy tay cán bộ quá. Nghiêm chỉnh trả lời, thành thật báo cáo với ông là tôi đã lập gia đình rồi. Theo ông thì đời người nên lập gia đình bao nhiêu lần thì vừa đủ? Tôi giỡn chơi đó. Ông nhìn tôi là biết được cái vô sản mà tôi đang có, kể cả sức lực. Tóc tôi đã bạc quá nửa đầu và khi soi mặt xuống suối nước, tôi nghĩ đời mình nên lật qua một trang khác, ở cái trang mà phía dưới cùng có in chữ “Chung”. Tôi không bi quan, nếu bi quan tôi đã chết trong tù rồi. Một người sắp chết, những lời trăn trối của hắn ta dĩ nhiên phải thành thật, đúng không? Ông đã từng chứng kiến cảnh người bị xử bắn ngoài pháp trường chưa? Họ nhét giẻ vào mồm con vật khốn nạn kia bởi vì họ sợ những tay súng đang nhắm vào mục tiêu sẽ run lên khi nghe phải một sự thật từ phía nạn nhân kêu gào lần cuối. Không cần phải dõng dạc hoan hô phía này, đả đảo phía nọ, hắn ta chỉ than: “Em ơi!”. Có vậy thôi. Ông tưởng tượng đi, nghe có nát lòng không?



Vợ tôi? Ông nóng lòng muốn biết? Thôi thì cũng nên kể ra, một lần cho nguôi ngoai. Xin thưa cùng ông là cô ấy nhỏ thua tôi sáu tuổi. Chúng tôi lấy nhau năm 74, khi ấy cô vừa ra trường và được bổ nhiệm dạy môn Vạn vật ở ngôi trường trung học nằm ngoài thành phố. Cho dù ông là kẻ có trí nhớ tồi tệ cách mấy hẳn ông cũng chẳng quên được năm 75. Phải thế không? Chúng tôi như hai diễn viên trong rạp xiếc đang đèo nhau đi trên giây mà không biết. Ngắn ngủi quá những tràng pháo tay. Chưa tới một năm. Sao kỳ vậy? Những lời chúc trăm năm hạnh phúc tuy là có gian dối thật nhưng tệ lắm nó phải kéo lê được một đoạn dài hơn là ba trăm hai mươi chín ngày chứ? Tôi có ngớ ngẩn không? Có ích kỷ không trong khi mọi người mặt cắt chẳng còn hột máu? Tan hàng. Đứt phim. Vợ tôi khóc. Chúng tôi tự lừa dối nhau để trấn an. Học tập đâu có lâu lắc gì, còn ngắn ngày hơn thời gian huấn luyện ở quân trường. Thôi về đi, anh đi… Và tôi đi, lầm lủi đi, câm lặng đi, bịt mắt mà đi. Đi lao lung, đi xuống từng bậc cấp của địa ngục… Ông xem phim “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” chưa? Ông thấy tên tài tử Anthony Quin khóc chưa? Đoàn tù tôi có nhiều đứa khóc còn “tới” hơn thế nhiều. Ông đừng nói là đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất nhé. Phản động đấy! Nước mắt có phải là lệ thủy không? Trời ơi! Chữ mút mùa lệ thủy sao mà đầy tính sang tạo thế! Sáng tạo và oan nghiệt…



Thăm nuôi à? Có chứ. Cô ấy đi cả chục lần, tôi đoán vậy, nhưng chỉ chính thức gặp mặt nhau có hai lần. Một ở Hàm-tân, một ở tuốt ngoài Bắc. Ông hiểu cho, một cô gái thị thành, một cô giáo sư lớp đệ Lục mà phải thân cò lặn lội như vậy thì hết nước! Tôi đang mang thân tù tội mà khi nhìn cô ta, tôi lại có cảm tưởng ngược lại. Ai đày đọa ai đây? Lòng tôi tan hoang và miệng tôi như có ai khóa cứng, niềng lại… Thôi, tôi không nên nói nhiều. Tôi nghĩ là ông đã nghe nhàm quá rồi những trường hợp, những hoàn cảnh na ná như vậy. Nụ cười của Mona Lisa ai cũng khen đẹp khiến tôi nhìn riết thấy xấu. Tôi kể chuyện buồn của cá nhân tôi biết đâu lại mang tội với anh em, những người mà nỗi đau của họ viết tới ngàn trang cũng chưa đủ chạm đáy. Ông bảo sao? Vợ tôi giờ này ở đâu? Huế Nha-trang Đà-lạt Sài-gòn Cần-thơ… Ở đâu đó, tôi không biết đích xác. Tôi ra tù và chưa hề nghe thấy tin tức… Tình người? Có phải ông vừa nói tới hai chữ ấy? Ông hiểu gì về tình người? Để tôi kể cho ông nghe một hoạt cảnh. Ở ngoài Bắc về, đoàn tù chúng tôi là những con mắm chất vào mấy toa tàu nêm cứng. Tàu Thống nhất chạy chậm khi vào ga Truồi. Bình minh, ánh sáng chiếu từng đường sọc qua những khe hở. Trái với ma cà rồng, những khe sáng đó rất cần thiết đối với bọn tôi. Ngoài kia, sương đọng trên cỏ, ướt lai láng trên những bẹ lá chuối. Dọc theo một mô đất uốn lượn, tôi thấy có đôi nam nữ đi sánh vai nhau. Họ đang trò chuyện, trao đổi điều gì đó mà hai tay luôn vung vẫy để diễn tả thêm. Hình như họ là công nhân đang trên đường tới chỗ lao động. Họ ngước nhìn tới con tàu và bỗng chốc cả hai đồng loạt đứng sửng người lại. Ông đoán thử họ phát hiện được điều gì nghiêm trọng để khiến họ chùn bước? Không quá một phút cả hai đều đổ xô chạy hối hả tới sát bên toa tàu, họ vội vàng mở toang túi xách ra và bao nhiêu lương thực chứa trong đó thảy đều biến thành vũ lượng hải hà rơi vung vãi tới phía bọn tôi. Nắng sớm mai vỡ sáng trên gương mặt hân hoan của họ, đi đường viền hào quang trên thân thể họ, trên bộ áo quần có nhiều miếng vải vá. Và thú thật với ông, suốt cả cuộc đời tôi, chưa bao giờ tôi thấy có đôi nhân tình nào mang nét đẹp lạ thường như họ cả. Họ đói bụng trưa hôm ấy, năng suất lao động sẽ kém đi, nhưng ngược lại lòng họ no nê một thứ “thực phẩm” khác. Có đúng vậy không? Tình người. Chịu. Tôi không lý giải được. Tôi cảm thấy đau khổ, cảm thấy mình là đứa có tội và tôi bị hình ảnh của đôi nhân tình nọ dằn vặt suốt cả lộ trình xuôi về quê cũ.



2.

Tôi tên An. Ông thấy đầu con hẻm kia có hàng chữ viết lên tường vôi không? Cái chỗ ấy luôn hôi khai và chữ cấm đái dường như càng lúc càng nhạt nhòa. Ba Má nào mà không thương con, họ đặt tên tôi và cầu mong mai này tôi hưởng được một cuộc sống an lành. Họ giống như chủ nhân căn nhà đầu ngõ, cắm cúi viết chữ cấm đái và hậu quả thì lại bất ưng. Mà có phải đêm tối gì cho cam, có buổi trưa tôi thấy một ông nội vừa huýt gió vừa uốn éo người để dùng cái vòi kia vẽ rồng vẽ rắn lên tường. Tôi là đàn bà, lý ra thằng chả phải biết mắc cỡ mà vội thu cái vật khó nhìn ấy đi ngay. A, không. Chả còn quay tới hướng tôi để mong cho tôi ngó thấy. Vậy đó, bây giờ người ta sống trân tráo và chữ liêm sĩ là gì, hỏi mấy đứa đang cắp sách đến trường xã hội chủ nghĩa chúng khó mà giải đáp cho vẹn toàn. Tôi nghĩ ông bà mình là những kẻ tiên tri đầy nhu nhược. Họ mơ mộng và sự kỳ vọng ấy cứ tiếp tục kế thừa cho đến giờ này. Không gián đoạn, chẳng ngơi nghỉ. Ở mấy nước Tây phương có ai đặt tên cho con bằng những chữ được tra cứu cẩn thận trong từ điển không? Hôm kia, con bạn tôi vừa đẻ thêm đứa thứ hai. Đứa đầu con trai, mang tên kẻ cựu thù: Nguyễn Mỹ Quốc. Nó bảo là tao ước ao sớm qua được bên nước Mỹ đoàn tụ với Bố mẹ. Lần này thì con gái, cháu có tên Nguyễn thị Hòa Bình. Ô hay, con này khéo đùa, đất nước ta chưa thật sự hòa bình hay sao?


Ông nói gì? Tôi có con chớ. Tại sao không? Cháu đã được tám tuổi rồi. Tôi đặt tên cho nó là Vô Úy. Ông hiểu nghĩa chữ đó không? Chẳng có úy với tá tướng gì ráo, chỉ toàn một đoàn tù mà người này giống người kia như hai giọt nước. Ông bỏ qua nhé, tôi chỉ khôi hài đen thôi. Ông bảo sao? Phải, trước đây tôi từng là giáo sư trung học đệ nhất cấp, không phải dạy môn Việt văn đâu, tôi dạy Vạn vật. Nhưng mà tạm quên chuyện ấy đi, nói ra thêm hổ thẹn. Lý lịch một con mẹ bán bún bò ngồi đầu đường xó chợ như tôi đây mà có khi từng đứng trên bục để giảng dạy đám học trò đệ Lục thì nghe như chuyện thần thoại hoang đường. Giờ này tôi đã quên hết ráo sự cấu tạo của thân cây. Cái gì gọi là diệp lục tố. Tại sao cây luôn vươn mình về phía có ánh sáng? Vân vân và vân vân. Những thứ ấy nên quên đi là phải. Cái mà mình luôn trăn trở là tại sao nên ngồi ở ngã tư này thay vì đằng ngã ba kia. Vì sao mình cho thằng này thiếu nợ mà lại cạy mặt con mẹ kia ra. Phải tư duy động não nên biếu xén anh công an này điếu thuốc ba con 5, nên bỏ thêm nhiều thịt vào tô bún cho gã cán bộ nọ. Vậy đó. Quy luật sống của con người nó không giống như loài cỏ cây. Con người thì ưa chúi đầu về phiá bóng tối. Ông hiểu không? Những gì xẩy ra trong bóng tối cũng mang lại một kết quả như ý hơn là nó được diễn ra trần trụi dưới ánh sáng mặt trời. Trồng cây mười năm trồng người trăm năm. Đúng thế không? Khốn nạn thật! Nói ông tha lỗi cho, trồng làm gì cho chật đất. Ở xứ sở này họ đã từng bứng đi tận gốc rễ biết bao là tài năng…

Ông ăn bún không? Tôi làm cho ông một tô hỉ? Mấy người ở trong xóm đằng kia luôn hoài nghi, chẳng biết dòng họ nhà tôi ba đời nấu bún hay tôi chỉ là tay nghiệp dư mới đổi đời. Có đứa lân la: Tui ngậm đắng nuốt cay đã lâu, nay ăn tô bún cô vào thấy giận hờn cuộc đời trôi đi đâu mất tiêu! Có nhiều cái ba xạo làm mình ghét, có những dối gạt làm mình mát lòng. Tỉ như những lời tán tỉnh của bọn đàn ông, biết tụi nó chẳng thật lòng mà sao con gái chóng chui đầu vào cạm bẫy thế! Ông đừng đùa, tôi làm gì có được ba thứ kinh nghiệm máu me đó. Tôi kể ông nghe chuyện này xem thử ông nghĩ sao về đàn bà con gái. Ngày xưa, có con mẹ đó lấy chồng đâu gần được một năm thì uyên ương gãy cánh. Ông chồng Đại úy họ còng đi học tập cải tạo mất đất. Con mẹ kia đầu tắt mặt tối giữa cái đời sống từ ngửa bị lật úp bất ngờ. Tôi không kể ông cũng biết là cái lon Đại úy của người chồng tác hại như thế nào trên đời sống mới của con mẹ kia. Nó bỏ thành phố cũ đi lưu lạc mười phương. Nó trốn kỷ niệm hay nó lánh phong ba thì cũng đồng một nghĩa. Đúng đắn hơn là nó phải tự bương chải để sống còn. Trôi nổi đâu được ba bốn năm như vậy, một hôm nó tình cờ gặp phải một thằng đàn ông. Lý ra tôi nên dông dài về cái nhân vật đặc biệt này cho ông rõ. Nhưng thôi, chỉ xin tạm vắn tắt ở đây những chi tiết quan trọng: Hắn ta là người đứng trong hàng ngũ phe chiến thắng. Hắn quen biết nhiều, có thế lực và lạ lùng thay khuôn mặt hắn mang những nét trùng hợp với ông chồng Đại úy. Đó có phải là lý do giản dị nhất để giải thích tại sao con mẹ này sớm gần gũi với tên đàn ông kia? Hay do bởi tên kia có biệt tài ăn nói? Hay do bởi một thiếu phụ xuân thì đã từ lâu quên bẵng mùi đàn ông? Con mẹ đáng thương đó có hai lần nổ lực đi thăm nuôi chồng. Tôi dùng chữ nổ lực là có hơi khiêm nhường. Ngày xa xưa, người ta lều chõng trèo đèo lội suối để về kinh thi Hương thi Hội quái qủy gì đó thì có thấm vào đâu so với đội ngũ đàn bà có chồng con tù tội ngày hôm nay. Chẳng có chi mang ra so sánh được cả. Rừng rú nếu có cọp beo thì chắc beo cọp kia cũng động lòng mà không nỡ giở thú tính ra để sát hại những kẻ bị trời đày nọ. Cuối cùng thì con mẹ kia vào gặp được chồng. Nói làm sao đủ phút giây đó? Thảm thương! Ông chồng thì thầm: Hãy quên anh đi, đừng tự đày đọa mình mà làm gì. Đừng cất công thất tha thất thểu lộn hồn lộn viá nữa, cố tìm một người đàn ông tử tế mà sống yên nửa đời còn lại… Họ có chính sách “nhân đạo” là dành ít thời gian cho những cặp vợ chồng được thỏa đáng chuyện xác thịt nhưng ông chồng Đại úy xem đó là hành động của bọn thú vật. “Mình đừng bôi mặt bôi mày diễn thêm những vở tuồng khôi hài cho bọn chúng xem”. Chấm hết. Con mẹ kia đi về, tả tơi trên sạn đạo xa ngái. Câu nói “xem như anh có lỗi với em và mong em tha thứ” chất đá trong lòng bả. Và sau này, sống với thằng đàn ông thứ hai, bả vơi mất dần những mặc cảm phạm tội. Bả tự tra vấn lấy mình để nghĩ rằng ở đời chẳng có gì toàn vẹn cả, nhất là tự dưng ông trời đã bù đắp cho bà một người đàn ông y hệt như ông chồng cũ. So với bạn bè cùng tham dự một trò chơi liều lĩnh, con mẹ đó tựa như một kẻ trúng số ở lô an ủi. Ngày qua tháng lại, bả có thai và bả đau chẻ người để sinh con. Mọi chuyện xẩy ra có vẻ bình thường, cho tới một hôm… cho tới một hôm… bả tình cờ biết được một sự thật điếng hồn. Ông còn nhớ chuyện kể về sự tích trầu cau không? Chuyện ra sao nhỉ, tôi đã khuấy quên những tình tiết. Hình như nó thảm sầu và nghiệt ngã quá lắm, phải không ông? Dẫn tới cái chết, đi vào kết thúc bằng biến thân thành cây này lá nọ và cục đá dị thường kia. Nói tới đá mới chợt nhớ ra, ông có biết là hiện nay ở đất nước giàu mạnh văn minh tiến bộ này đã thực sự biến mất vĩnh viễn cái gọi là “Hòn Vọng Phu”. Tụi làm nghề đục đá, đào đá, đẻo đá, bán đá đã ăn tươi nuốt sống nó rồi. Nó đã tiêu vong. Vọng phu, vọng phu. Buồn quá mạng! Ông nghĩ sao?

Thôi, tôi thu dọn đồ đoàn để trở về kẻo thằng Vô Úy đợi, tội nghiệp. Giữa trần gian lớn rộng này đây tôi chỉ còn có mỗi mình nó. Nó cóc có sợ ai thì đó là điều tôi mãi mong. Nhưng tôi thì mãi sợ nó, mãi đợi chờ cái ngày nó sẽ tra khảo vặn vẹo: Má, má, chớ tiá tui đâu mà sao hổng thấy. Ổng còn sống hay ổng đã chết. Khai lý lịch thì nên để ổng ở về phiá nào, vàng hay đỏ?

3.
Tôi học ở Đại học Văn khoa Huế. Nghe bạn bè xúi bậy, bỏ tương lai, bỏ tuổi xuân, bỏ thành phố, theo mặt trận lên Trường sơn năm 68. Nhà tôi nghèo, cha mẹ mất sớm. Ông anh đầu là Sĩ quan của chế độ miền Nam. Bà chị kế lấy chồng lúc vừa đôi tám và hiện ở Mỹ, thủ đô tỵ nạn. Cơ quan tôi đang công tác là Ty thông tin văn hoá. Mấy năm gần đây tôi có viết vài ba cái truyện ngắn và đó là loạt truyện mà trên đánh giá chúng mang mầm phản động. Vì sao? Vì tôi thẳng ruột ngựa quá. Tôi không biết hư cấu, tôi dốt lòn lách. “Có sao nói dzậy người ơi” là thứ phương ngữ giết người. Xã hội ta không ưa những kẻ thật thà. Bộ mày tính bêu rếu chế độ à? Trắng mà nói cho ra đen, đó là tính ưu việt của nền văn hoá nước nhà, cứ an tâm đi dưới những tấm bảng chỉ đường của Đảng. Tôi sống rất chật vật, cũng may bà chị ở Mỹ còn đoái lòng ngó xuống, nghĩ tình ruột thịt để thương hại gửi tiền về “cứu trợ nạn lụt”. Bia đang uống này, thịt cá chất tươi đang cải thiện cuộc nhậu hôm nay cũng do mấy “đồng cứng” của bà chị tôi rãi mưa xuống sa mạc. Bia đổ vào mồm rồi, không nói phét được thì xin kể chuyện tiếu lâm mà nghe: “Có con nhím nọ cô đơn đi lang thang trong rừng, đang rượi buồn bất chợt ngó thấy có cái bàn chải thật lớn nằm lăn lóc xơ cứng bên triền cỏ mượt. Cậu ta mừng vui vô hạn, khẩn trương chạy tới để hồ hỡi leo vội lên trên. Loay hoay trèo lên trụt xuống một hồi liền đỏ mặt sau đó mà lí nhí: Chà, ở đời ai mà chẳng có khi nhầm tưởng!”

Đang ngồi trước mặt ông hôm nay là một con nhím tua tủa những gai nhọn. Hắn nhầm lẫn đôi phen và lầm lỗi bộn lần. Làm hết chai bia này đi, lâu lắm rồi tôi chẳng có ai để thù tạc. Tôi đã sống một cuộc sống chẳng ra gì cả. Tôi vắt kiệt tuổi xanh của mình để đánh đổi những hoài nghi chẳng bao giờ đi đến cuối sự minh bạch. Tôi tự hỏi những diễn viên ở trên sân khấu khi chấm dứt vở tuồng, họ bước xuống lại đời thường họ sẽ đối xử với nhau ra sao? Họ có thật lòng với nhau hay cứ ngỡ đối phương đang đeo mặt nạ và điều đó buộc mình phải phòng thủ? Bia uống được quá phải không ông? Bia này thuộc loại xuất khẩu đấy. Nồng độ cao nhưng uống vào chẳng thấy đắng. Người ta bảo mật ngọt chết ruồi, bia không đắng dễ vật nguời ra. Ừ thì cũng đúng, nhưng chỉ phần nào thôi. Tôi biết quanh đây có những con ruồi chẳng bao giờ thấy đủ ngọt về cái hủ mật mà chúng đang chấm mút. Khi anh không chết vì bội thực dĩ nhiên cái bao tử anh cứ cảm thấy đói mãi. Tôi đang cưu mang nhiều ý tưởng để viết nên một cuốn truyện dài. Trong lúc này đây, tôi cho văn chương là một cứu cánh, là phương tiện. Nói một cách hồ đồ và kém thơ mộng, văn chương chính là cái thau hứng đầy mật đắng mỗi khi tôi nôn thốc tháo, hay chính nó là chung rượu lớn giúp tôi vùi đầu vào một cơn say? Tôi trả thù cuộc đời bằng chữ viết. Tôi làm bảng kiểm điểm tự khai bằng tiểu thuyết. Tôi chẳng cần độc giả, tôi ghi tên thật không dùng bút hiệu và tôi cầu mong cho anh chị tôi có dịp đọc lấy nó. Vậy là đủ. Ông nhớ cho điều này, có nhiều áng văn bất hủ mà khi ông này viết ra chỉ cốt gửi riêng mình bà kia đọc phải, thế thôi, chẳng nuôi mộng mị to lớn gì cả. Chẳng biết tôi có đủ sự tỉnh táo và can đảm viết nó ra mặt giấy không? Một cuốn tiểu thuyết đồi trụy, loạn luân… “âm mưu thâm độc do Mỹ ngụy cài lại”… Ôi! Sao cái đầu bỗng dưng nặng nề... Để đếm xem có bao nhiêu ngọn đèn… Ủa, nhậu đi chứ ông, đừng ái ngại là vách có tai, chúng tựa cá mè một lứa với chủ nhân, tất cả đều điếc đặc cả rồi, chúng lặng yên ở đó như đã từng, chẳng tội tình gì vác thân đi báo cáo cho ai kia. Trước đây tôi ghét câu nói “ác khẩu”: Cái cột điện nếu có chân cũng bỏ trốn. Giờ này ngẫm lại thấy thấm thiá. Địt mẹ mày, sao mày không bỏ ta mà đi, sao mày còn đứng đó dãi dầu nắng mưa? Mày chiếu làm gì thứ ánh sáng nhợt nhạt xuống mặt đường loang lỗ bóng tối và mày ngoan ngoãn để cho người ta tròng vào thân mày những khẩu hiệu vẽ vời chuyện giả tưởng…

Người đàn ông đứng lên, những chai bia đồng loạt lăn quay trên chiếu lát. Hắn bước ra sân, chếnh choáng khi trạc quần đứng đái. Hắn cúi mặt nhìn xuống vũng nước sủi bọt. Đất nồng mùi. Hắn vác mặt ngó lên trời cao. Trời mùa hè, xứ nhiệt đới đầy sao không vẩn mây. Nóng rít rát, thăm thẳm đen. “Thiên địa ơi. Anh ơi. An ơi. Chớ tội tình chi mà tất cả chúng ta phải chịu đọa đày! Ngày xưa, giả như anh chiến thắng thì câu chuyện sẽ dẫn tới đâu? Có tốt đẹp hơn không? Còn An. Tại sao lại là An mà không vấp phải một người đàn bà nào khác? An hãy trở về cho tôi khấn đầu gọi là chị. Chị An ơi, chị hãy lộn lui và chính chị ra tay giải phóng em cho cốt truyện nó có hậu. Hãy cầm dao mà thiến đi cái vật dư thừa suốt đời mãi đeo lủng lẳng bên mình một thằng đàn ông hèn mạt. Thiến đi. Hãy chặt bỏ không nương tay những giây mơ rễ má luôn vướng viú để được thong dong, cho giản dị cuộc đời…”

Hắn ngã vật xuống đất, nằm co quắp trên vũng nước đái đang ngấm rút mất dấu. Ở xứ sở này, đất quen thẩm thấu xương thịt, máu, nước mắt, nước đái và vô số những chất tạp nhạp khác. Đất hận thù. Đất đói khát.



Hồ Đình Nghiêm























CÔ TA LÀ MỘT NỬA CỦA TÔI



Tôi mang chiếc ghế nhựa ra ngồi ngoài cửa. Không một ai. Tôi hài lòng bởi nỗi vắng lặng đang chiếm ngự khoảng trống. Bình thường nó chẳng được vậy. Nhặng xị, ồn ào. Những thứ tiếng khiến người ta điên đầu đã trốn đi. Hôm nay mồng Một, mọi cánh cửa đều đóng kín nơi hành lang dãy nhà trọ, những đứa thuê ngụ trong đó đã về quê ăn Tết; chúng sẽ làm ồn, khuấy động khi gặp lại gia đình, sẽ tận hưởng sự ấm cúng, no đủ cho bỏ những ngày cơ cực.



Tôi đốt thắp một điếu thuốc và ngó thấy cái thau nhôm móp méo đặt ở giữa sân. Hôm qua bà chủ nhà trọ đứng cúng vái ở đó, có thể bà đã đốt vàng bạc áo xống điện thoại di động tư trang vật dụng cho ai kia khuất mặt và cái thau nhôm giờ này hứng đầy tro. Tôi bước lại gần, ném điếu thuốc xuống chiếc gạt tàn vĩ đại. Tôi moi ví da đựng giấy tờ tùy thân sau túi quần ra. Mỏng manh, nó ít khi được chứa nhiều tiền. Một tờ giấy xanh gấp làm tám được mở rộng, tôi đọc chậm rãi, bình tĩnh, từ đầu tới cuối nội dung của bức thư không ghi ngày tháng. Tôi đặt để mắt nhìn có hơi lâu vào hai chữ cuối: Sương Sa. Cô ấy thực sự đã ở một chỗ quá xa, khuất lấp. Có thể do linh tính, cô đã gửi thêm cho tôi một tấm ảnh. Tôi xem lá thư cả ngàn lần, điều này cũng đồng nghĩa là tôi ngắm tấm ảnh này 1001 lần. Ảnh trầy trụa, ngắm hư hao. Tôi thuộc nằm lòng mọi hàng chữ mà Sương Sa đã viết xuống trang thư. Không cần nhìn bề trái tấm ảnh tôi cũng đọc ra hàng chữ: “Chụp hôm sinh nhật tuổi 17”. Màu mực xanh bị nhòe khi vẽ hình một trái tim bé xíu bên dưới. Một trái tim biến dạng, hoen mờ.



Tôi moi bọc áo ra chiếc bật quẹt, đốt cháy lá thư trước, bỏng tay mới đốt tấm ảnh sau. Chúng co quắp nhăn nhíu lại trước khi biến mất. Rồi gió sẽ thổi ngang, tàn tro bay có làm cho mắt ai cay? Tôi đứng cúi đầu, y như khi bà chủ nhà trọ hoàn tất mọi nghi thức cúng kiếng. Bà ấy có vẻ thành tâm, đứng trầm ngâm tựa đang mặc niệm, hoặc hồi tưởng vụn vặt những kỉ niệm từng có với kẻ vắn số.



Tôi bước vào phòng, rửa mặt, lựa bộ đồ màu đen để thay. Tôi tránh nhìn mặt mình trong gương soi, dắt xe gắn máy 50 phân khối ra sân, khởi động. Vặn tay ga, tiếng máy nổ như biết đập cùng nhịp với trái tim. Rầm rộ gào lên từng hồi, và chính nó, đã trấn an tôi. Đội mũ bảo vệ vào đầu bù xù rồi phóng xe ra khỏi lối đi hẹp, nhiểu rác rưởi. Tôi chạy qua, lần lượt những con đường quen thuộc. Chỗ này tôi từng có thời theo toán thợ lắp ráp dây điện, đặt để camera thu hình ở mỗi góc. Chỗ nọ tôi từng mặc đồng phục cứng ngắt, ưỡn ngực làm nhân viên bảo vệ, ca đêm… Nói chung tôi là một công nhân viên siêng năng và giỏi chịu đựng. Tôi thích hợp nhanh cho từng công việc, ngành nghề khác nhau. Và quan trọng nhất, tôi chưa hề lãng phí của công. Nói theo phương ngữ xa xưa, tôi là thằng người biết làm chủ tập thể. Do đó, lạ lùng thay, tôi chẳng bao giờ có được cơ hội thăng tiến. Tôi chậm lụt. Tôi không biết “văn hóa phong bì” là thứ gì. Đồng nghiệp có đứa từng chửi thẳng vào mặt tôi: “Đù má mày, muốn máy chạy đều an toàn xa lộ thì phải biết châm nhớt chớ. Có ngày mày sẽ phải chết khô đó con!” Những nhà tiên tri tóc xanh mái đầu ấy đã phán đúng. Tôi chết. Tôi chết. Và tôi chết. Tôi nói tôi giỏi chịu đựng và tôi cứ luôn thay đổi công việc là vì vậy.



Như một giã từ thầm lặng, sau rốt tôi đổi hướng, chạy về bãi trống của bến xe đò liên tỉnh. Một vòng, hai vòng, cuối cùng tôi lựa chọn được một cửa tiệm vắng khách. Tắt máy, dựng chống xe bên bờ lề loang màu ngũ sắc của dầu mỡ. Cởi nón kẹp bên hông, tôi nói với người đàn ông đen đúa đứng án trước cửa: Ông muốn mua chiếc xe này không?

Sau lưng ông thắp sáng ngọn néon xanh lét. Ông ta to lớn dềnh dàng một cách chẳng được bình thường. Áo quần ông mặc vào người không phải là thứ mà người ta ưa chưng diện trong ba ngày tết. Đó là hạng người lao động cần cù và lễ lạc là thứ xa xỉ ông chẳng màng quan tâm. Nhưng nghe câu hỏi của tôi ông tỏ ra có hứng thú. Từ bỏ thái độ lơ là, ông bước lại gần tôi, dáng vẻ linh hoạt. Cần tiền tiêu tết hả chú em? Cây tăm tre cắn giữa hai hàm răng không vì thế mà rơi rụng đi. Hai mươi bốn giờ qua tôi chưa ăn gì cả, ông ta thì tuồng như vừa điểm tâm xong. Cuộc mua bán diễn ra khá nhanh, bởi tôi chẳng phải kẹt tiền tiêu tết. Có lâu lắc chăng là tôi phải để cho ông ta chạy thử một vòng thăm dò tình trạng chiếc xe như lời ông nói. Xong, phải trình thẻ chứng minh nhân dân cho ông xem. Những ngón tay to, u nần ấy soạn viết tươm tất một tờ giấy sang nhượng chủ quyền “cho đúng thủ tục”- chữ ông dùng. Sau cùng, ông bảo, như phát mệnh lệnh: Chú em ký tên ở đây là xong. Ông mời tôi một điếu thuốc Craven A, tự ông bật lửa, đưa tới với hai tay khum. Khuôn mặt giãn nở khi ông thở khói thuốc, như nghệ sĩ vừa hoàn tất một tác phẩm nghệ thuật đầy ưng ý. Rồi niềm nở bắt tay tôi, ân cần, ấm áp. Chưa bao giờ tôi đón nhận được từ kẻ lạ sự thân thiện gần mức thâm tình đến vậy. Nếu đôi tay không lấm len dầu mỡ hẳn ông sẽ ôm lấy tôi. Hệt như tôi về làng ăn tết và tôi đang mặc áo gấm. Ông quay đầu, hét vào cái hình khối xanh mét ánh điện để lát sau có người đàn bà xuất hiện ở ngạch cửa. Một bó tiền, tôi ngó ông đếm những tờ bạc mà chẳng nghi ngờ cái số thành khi ông hô to: Đủ. Chú em kiểm lại cho khỏi lôi thôi. Lôi thôi, tôi nhét bó tiền vào lưng quần mà không buồn kiểm. Tôi quay lưng sau khi nói, một cách khó nhọc: Năm mới phát tài. Ông cười toe, cả người đàn bà cũng thế: Ừ, năm mới thắng lợi mới. Được ba bước, giọng người đàn bà đuổi theo. Thế còn cái mũ bảo hiểm thì tính sao? Tôi dừng chân, biểu diễn thứ động tác của cầu thủ bóng rỗ, ném chuẩn xác chiếc nón giá gần nửa triệu vào đôi tay ông ta. Cám ơn chú em lì xì quà tết. Chúc sức khỏe và tai qua nạn khỏi nhé.

Tôi lẳng lặng cắm đầu đi tới quầy bán vé xe. Người ngợm sắp hàng rồng rắn nhộn nhạo. Tôi mua cái vé chợ đen, giá đắt gấp bốn lần mức quy định và tôi dỗ giấc ngủ khi đã yên chỗ trên chiếc xe cồng kềnh hôi chua có ai nôn mữa trước đó. Tôi nhẫm đọc bức thư của Sương Sa đã khắc ghi vào ký ức. Tôi mường tượng lại khuôn mặt ngây thơ nơi tấm ảnh co rúm biến dạng khi bị đốt cháy. Và rồi thì xe chạy, hục hặc về miền Trung.

Tôi ăn một bữa cơm thịnh soạn nhất đời. Làm buổi giỗ, cúng kỵ ông bà cha mẹ sơn hào hải vị bày sắp trước bàn thờ cũng không thể xôm tụ hơn. Cùng chung mâm với tôi là cô tiếp viên nhà hàng ăn vận rất thông thoáng. Cô luôn cười, cơ bắp từ khóe miệng ảnh hưởng xuống tới đôi vú. Áo rung động và hàng vải mỏng tuyệt chẳng có nội y. Cô rót bia, đưa tận miệng. Cô dùng thìa, tom góp thức ăn rồi đút vào mồm tôi, chật cứng. Cô muốn thế và nếu thực khách chẳng phải là kẻ tàn phế, đôi tay thừa thải của hắn sẽ dùng vào việc gì? Tôi không muốn bóp vú cô, tôi chẳng thích lùa sâu bàn tay vào cái váy ngắn cô đang ngồi với tư thế gợi mở bày hàng.

- Này anh giai, có thích chơi em không, hở?
- Không.
- Sao anh lại nỡ lòng nào nói thế? Em có gì không tốt chứ?
- Trời đánh còn phải tránh bữa ăn.
- Thế thì ăn xong anh tính sao? Nhà nghỉ chỉ nằm bên kia đường.
- Chúng ta tìm một trò chơi khác, được không?

Tôi gạt chén bát sang, đặt xuống khoảng trống mặt bàn một xấp tiền.

- Tìm hộ tôi một người, số tiền đó tôi dành trả công.
- Khó khăn nhỉ? Anh giai cần phải dài lời hơn. Ma cô, móc túi, gái bán dâm… Đại loại thế.
- Không, thuộc diện cán bộ. Ông ta tên X. làm ở ngân hàng…
- Hú hồn. Cứ ngỡ là ngăn sông cách núi, sóng lớn bể rộng. Ông ấy thi thoảng vẫn lui tới đây, nhẵn mặt.
- Tìm đúng nhà có dễ không?
- Em có thể biết lý do?
- Tết nhất, có người cậy việc nhờ chuyển giao một phong bì lì xì.
- Số một linh tám ở phố Sơn La. Tiền này dành riêng cho em đấy hở?

Tôi nốc hết chai bia cuối cùng vào lúc ba giờ sáng. Khi chạng vạng, tôi đã vẽ được một lối vào căn biệt thự ấy. Trèo cột điện, phóng mình qua một cành cây, nhảy xuống cỏ, đập vỡ cửa kính, thò tay vào xoay nắm cửa, ngồi yên cho mắt quen bóng tối. Bước lên lầu, tôi tìm ra nơi lão X. ngủ chẳng mấy khó. Tôi bật sáng ngọn đèn bắt trên đầu nằm. Lão ngủ cùng người đàn bà, có lẽ là vợ. Cả hai đều béo tốt, mập mạp. Và cả hai cùng tỉnh thức, giã biệt mộng lành. Tôi ngó vẻ mặt hốt hoảng của họ, nỗi sợ hãi làm người họ co quắp. Tôi đã nhập tâm khuôn mặt lão X, có biến dạng tôi vẫn nhận diện được. Tôi vung dao lên, chất xúc tác của bia đã không làm tay tôi run. Máu bắt đầu loang đỏ trên chăn nệm, vấy cả lên mặt người đàn bà. Thủy chung bà ta chẳng la lên được một tiếng cầu cứu. Bà chỉ ú ớ, răng cắn siết vào một góc chăn.

- Bà có đọc báo không? Một tháng trước ông này dùng uy lực cưỡng hiếp cô gái vị thành niên, phá trinh xong lại còn man khai nạn nhân chủ động bán dâm. Luật pháp đã để ông này thong dong tại ngoại trong lúc cô gái xấu số kia bị nhốt vào tù. Cô ta là một nửa của tôi.

Tôi gói con dao vào tờ nhật báo. Tôi bước ra đường nhựa rút thuốc châm lửa thở khói. Bình minh nhú lên vài cọng sáng mỏng manh cuối tầm nhìn. Sương sớm mai ẩm lạnh phả xuống nguời. Tôi đi bộ hết hai dãy phố đang cựa mình thức giấc, điếu thuốc cháy cụt thì gặp phải đồn công an. Tôi bước vào đầu thú với một cánh tay đầy máu đang khô. Có tiếng người la lên: Coi chừng, nó có hung khí. Tôi bị đạp từ sau lưng, hai gã công an vật tôi xuống, bẻ gập đôi tay nhừ mỏi. Mặt tôi va vào nền xi măng ẩm lạnh, mắt hoa lên. Hình ảnh cuối, tôi thấy con kiến tha hột cơm trên lưng, bò nhọc mệt vào sau những chấn song.

Hồ Đình Nghiêm
Ngày đầu năm dương lịch 11.































MẦU TRẮNG



1.

Tôi gặp em lần đầu ở hành lang. Ngôi trường cũ kỹ thắp sáng dãy đèn và màu nắng bên ngoài chen chân vào làm bức tường có nhiều sắc xanh. Những cánh cửa mở rộng, nghe được tiếng lá reo, bóng dáng nó nhảy muá trên màu vôi vàng, sau lưng chỗ em đứng. Em nổi bật giữa đám đông. Không riêng tôi, đã có nhiều kẻ nhìn ngó về em. Tháng Bảy, em mặc vào người hàng vải mỏng. Đơn sơ và có hơi hở hang. Tôi không tin là lắm đứa nhìn em vì cách chưng diện đó. Tự thân em, đã có điều gì khác lạ làm hội tụ những tia nhìn. Một sự nổi bật mà có thể chính em không hay biết? Tôi tự lý giải khi đi dọc hành lang: Có thể nước da em trắng? Có thể em cao lớn và vóc vạc kia đang ở cuối thời kỳ trưởng thành của một người con gái? Sung mãn đến thoả thuê!



Tôi đi vào một căn phòng có nhiều bàn ghế. Một chiếc bàn kê sát tấm bảng xanh có Amanda đang ngồi. Amanda là giáo viên, nhỏ thua tôi khoảng bốn tuổi và là cô giáo dạy Pháp văn cho tôi cách đây sáu tháng. Từ giã ngôi trường, tôi ôm mớ ngôn ngữ tạm bợ để ra ngoài kiếm sống. Giờ này, sau sáu tháng không nhìn nhau, Amanda chừng như không thay đổi. Vẫn màu tóc vàng, vẫn kiểu hớt cao tựa con trai. Vẫn gầy người và vẫn vành môi mọng đỏ luôn tươi cười. Cô đứng lên, bắt tay tôi và ôm giữ thân tôi một khoảnh khắc. Khỏe không? Khỏe. Tôi trả lời. Ngửi ra từ cơ thể Amanda, mùi của một viên kẹo dâu đang tan trên đầu lưỡi. Ở tấm bảng xanh mơ hồ những đường phấn trắng chùi xoá không sạch. Động từ être, động từ avoir. Những thì hiện tại và quá khứ. Tôi cảm nhận chút bồi hồi, ngồi xuống ghế với sự mềm lòng đang xô ngã.



- Chúng tôi nhớ bạn. Amanda nói. Tôi gọi bạn đến giúp cho một tay.


Tôi hiểu ý Amanda. Giúp một tay được hiểu là làm thông dịch thiện nguyện cho một khóa học sắp khai giảng. Khoảng hai chục người đứng ngoài hành lang kia sẽ lần lượt được phỏng vấn để căn cứ vào đó mà sắp lớp. Có ba lớp, thời gian học hỏi dài ngắn không đồng đều dành cho ba hạng: Không biết mảy may tiếng Pháp, biết chút ít và biết khá nhiều.

Đến trưa thì tới phiên em mở cửa bước vào. Cách em xuất hiện cũng khác thường, không ngần ngại rụt rè như những kẻ trước đó. Tôi mang ý nghĩ có điều gì đang reo vui dưới chân đi của em. Như một người bước vào quán nước mà nhân tình đã ngồi chờ đợi dài cổ trong đó.

Em tên Bạch. Giọng Bắc. Người Hải phòng, vượt biển tới Hồng Kông, nằm trại tị nạn bên đó gần bốn năm. Ngoại ngữ em biết nói duy nhất: tiếng Quảng Đông.

Tôi cũng biết lưa thưa. Đại loại như hủ tung: lạnh quá, lũ phò: vợ, hầy ùm hầy: có phải không? Ráp nó lại, thành ra một câu hỏi nhiều ngụ ý.'Hủ tung a lũ phò! Hầy ùm hầy à?'

Một hồ sơ lỏng chỏng được thành hình. Em vào lớp Một. Khoá học kéo dài khoảng 900 giờ trong năm tháng. Có bốn giáo viên thay phiên nhau dạy mà Amanda là người phụ trách lớp học cuối.

Chia tay. Amanda hỏi tôi về công việc tôi đang làm lụng. Chùi rửa, quét dọn trong một cao ốc, ca đêm. Cô nói, những gì không ưng ý trong cuộc sống thì ai cũng phải đương đầu cả. Quan trọng là đừng đánh rơi sự can đảm, đừng mặc cảm các thứ. Điều Amanda nói giống hệt những gì tôi đã đọc trong một cuốn sách, chỉ thiếu câu thần chú: Người ta phải cố gắng để chết chỉ một lần thôi. Tuy vậy tôi nhìn Amanda, cảm động. Xứ sở này mọi thứ đều mới lạ, lời nói kia luôn cần thiết cho những kẻ khởi động chân bước đầu tiên. Tôi nghĩ tới Bạch, niềm tự tin ở đôi chân em.

Khi ra trạm đón chuyến buýt trở về, tôi thấy em đứng trốn nắng dưới mái hiên một nhà giữ trẻ. Tôi luôn mang tâm trạng bất an khi ý thức vốn liếng ngoại ngữ mình có thật nghèo khó. Nhìn em tôi tự hỏi em sẽ ứng xử cách nào khi có ông tây bà đầm đến gần hỏi han. Thật khổ sở cho chúng ta khi nói chẳng được điều chúng ta muốn nói. Con nít thì khóc thét lên, người cà lăm ngọng ngịu thì mặt sẽ đỏ ké. Tôi chắc vậy. Đó là sự biểu lộ của bất lực. Và biểu lộ của em khi đó là gì? Một môi cười, một giả tảng? Sách nhà Phật rao giảng: Vô ngôn có khi hoá giải được mọi điều. Nhưng đó là chuyện khác.

- Ông anh chắc qua đây lâu?

Em hỏi khi tôi đứng đội nắng một mình bên tấm bảng ghi số chuyến xe sẽ ngang qua, sẽ thắng đứng. Em đến sát bên tôi, thịt da ở vùng ngực mãi còn đàn hồi xao xuyến sau áo rộng cổ. Và đó là lần đầu tiên tôi thích được nghe giọng Bắc của em. Hơi chua, hơi khản. Hơi đặc biệt. Tựa một ca sĩ đã tốn nhiều hơi sức trong suốt cuộc đời cầm ca.

- Không, mới qua.

Bạch có vẻ ngạc nhiên. Tôi hiểu được nét nghi ngờ đọng trong mắt em.

- Không phải ai làm thông dịch viên cũng đều qua lâu.

Tôi nói, nhìn màu da trắng của Bạch phản quang dưới nắng tháng bảy. Amanda có mùi dâu, còn em, em tựa một ly kem va-ni nhiều sữa. Em mang sang người tôi chút mát mẻ đồng thời tôi cảm thấy khát nước.

- Sở dĩ em hỏi thế vì thấy anh và cô giáo kia xem tình quá.

- Tôi từng học với cô ấy. Có thể với ai Amanda cũng chia đều sự thân thiện.

- Anh thường đến trường không?

Tôi nói không. Tôi bận lam lũ ở một chốn khác.

Xe buýt trờ tới. Khi đặt đít cạnh nhau trên một băng ghế hai chỗ ngồi Bạch nối tiếp câu hỏi:

- Giả dụ gặp vấn nạn em biết tìm ai để giúp đỡ!

Bạch ngồi sát cửa. Gió len vào làm rối tóc. Vạt nắng đâm nghiêng, soi cho tôi thấy mù mờ một vết xâm xanh đen sau làn vải mỏng. Nhìn đoán không ra hình thể bởi sợi dây của nịt vú vắt chồng lên, ở bả vai. Một trái tim? Một cánh bướm? Một con dao? Hận kẻ bạc tình? Niềm đau khi bị dao đâm, trước đó và trong khi vạch áo cho người ta xâm. Tôi có ý nghĩ kỳ cục, rằng dấu vết kia tựa một dấu ấn chứng thực Bạch đã thất thân.

- Sao anh không nói gì cả?

Tôi lấy viết ghi trên tờ giấy mãi cuộn tròn ở tay Bạch bảy con số.

- Số điện thoại của anh đãy hở?

- Ừ. Gặp khó khăn ở trường thì gọi. Trong chừng mực nào đó thôi, nếu vấn đề nghiêm trọng quá thì hãy nhớ lấy số 911.

2.
Em gọi cho tôi giữa đêm hôm khuya khoắt. Bên ngoài trời mưa, em cho tôi hay biết. Mưa rả rích rãi xuống giấc ngủ những trăn trở, hâm hấp nóng. Ẩm, rít. Tôi đoán thế. Em nói ngủ chẳng được, lòng tự nhiên thương nhớ vẫn vơ. Để làm sáng tỏ, em bảo khi không mà nhớ Hải phòng. Quỷ thật! Em chấm câu. Em lôi tôi ra khỏi cơn mộng lành, tôi có thoáng bực dọc nhưng bù lại giọng em thì thầm trong điện thoại dễ dẫn dắt tôi tới một cơn đồng thiếp khác.

- Anh biết không? Dạo đó nghe đâu người ta muốn Hải phòng kết nghĩa với thành phố Huế.

Giọng em trầm bổng. Tôi nằm yên nghe Bạch kể chuyện đời xưa. Em vẽ trong trí tôi một vùng bể, một hình ảnh: Nơi em chào đời và lớn lên. Tôi không mường tượng rõ nét, bởi tôi bị Đà nẵng bị Nha trang bị Vũng tàu che chắn, lấn át. Những cơn sóng lớn ở mấy vùng biển đó vẫn còn cuồng nộ hung hãn trong tôi, xô vào bờ bãi những kỷ niệm xấu. Mất mát, đau thương, tù tội. Tôi thật lòng muốn quên, nhưng tôi chẳng đành tâm cắt ngang câu chuyện.

- Có dạo em chứng kiến một chiếc ghe tơi tả tấp vào và đoàn người bị trói giải liền sau đó. Thật tội nghiệp! Anh biết không, họ đi từ Huế, bão cấp ba cuốn trôi họ làm lạc phương hướng. Sau bẩy ngày lênh đênh, họ thấy cảng Hải phòng sáng đèn và ai đó trên ghe hét tướng cả lên: Hồng kông kia rồi bà con ơi, thức dậy đi mà hít thở không khí tự do.

Tôi ngó con số màu lục trên đồng hồ điện nhấp nháy. 1:30. Tôi nói:

- Giờ này không còn chuyến xe buýt nào chạy nữa, làm sao để đến bên em? Thành phố này lớn rộng quá, nếu lội bộ thì bình minh mới tới được đích.

Em cười trong điện thoại, nghe chừng hơi thở thật gần. Khúc khích, ngân vang, tuồng như hưởng ứng tận tình lời nói đùa ấy.

- Ừ nhỉ, đến nơi thì muộn mẹ nó rồi, cơm cháo thảy đều nguội lạnh cả!

Tôi cũng cười. Có nhiều chữ em dùng thật ngộ nghĩnh. Tôi than:

- Chỉ sợ đến nhầm nơi như chiếc ghe bất hạnh kia thôi!

Em xì lên một tiếng dài. Rồi sôi nổi:

- Nhớ đến nhé. Chưa quên số nhà em chứ? Vẫy đại một chiếc taxi, em sẽ bồi hoàn số tiền ấy cho.

3.
Khoá học chưa kết thúc, em tự động bỏ lớp ngang xương. Ngày cuối cùng, Amanda gọi tôi tới trường chung vui cùng lớp học. Học viên nghĩ ra sáng kiến tự nấu lấy món ăn đặc thù địa phương của quê hương mình mang tới bày biện đầy bàn làm tiệc đãi đằng. Tôi nhìn nét rạng rỡ tựa nhau của mỗi một di dân khác chủng tộc, tự nhiên đâm nhớ em. Nhớ món Phở em nấu, ăn ngon miệng một cách lạ lùng. Giờ này, trên bàn tuyệt đối không có phở chen chân.

Amanda cho hay, Bạch mang bầu và cô ấy không muốn giữ của nợ. Cô hỏi thành phố này có cấm đoán chuyện phá thai không? Hãy giúp cô bằng cách chỉ cho cô một địa chỉ. Tôi đã giúp. Amanda kết luận. Tôi nhìn vẻ khẩn khoản và tôi chẳng đành lòng ngồi yên nhìn cô ta đứng trên lửa. Vậy đó. Một kẻ hoạn nạn như thế còn lòng dạ nào mà học hành mà chung vui! Cô giáo chấm câu.

Tôi không gặp hoạn nạn, vậy mà lòng dạ tôi cũng bị bằm vụn ra. Khi nhập tiệc, tôi bỏ trốn. Thật chẳng mấy khó khăn, nhưng nghĩ là kỳ cục. Hãy làm những gì mà niềm ăn năn chớ có xuất hiện sau đó. Tôi quay bước, đi nhẹ tới sau lưng Amanda. Cái ót có nhiều lông măng, vàng như phấn hoa. Hai trái tai lung lay hai khoen bạc. Mùi dâu chín và sợi dây chuyền ẩn trốn nơi cổ áo.

- Có lẽ tôi nên điện thoại hỏi thăm cô ấy thử.

Tôi thì thầm bên tai Amanda.

- Hơn khi nào, lúc này cô ta cần được giúp đỡ.

Amanda đứng lên. Tôi nhìn màu mắt lạ của Amanda. Đôi mắt biết cười đã thôi long lanh. Đó là ánh mắt phủ màn thất vọng khi nhìn tới một học viên dốt đặc cán mai mà sự giáo huấn mình đã bỏ công chẳng tài nào chui vào não bộ của hắn.

- Được, toa cứ việc đi. Hãy thủng thẳng, chuyện gì cũng còn có đó.

Kèm theo câu tiếng Pháp nói thật chậm rãi là một tiếng thở dài.

Tôi cúi đầu bước ra đường, bỏ hai mươi lăm xu vô máy điện thoại công cọng. Nghe chuông reo ở xa xăm và tiếng trở mình của lá ở gần. Không còn bao lâu nữa, hàng cây sẽ trơ trụi thân cành, khẳng khiu đứng mặc niệm với màu tuyết trắng. Người ta đồn miệng xứ này đất lạnh tình nồng. Và tôi hoàn toàn không tin thế.

Sau cùng thì tôi nghe ra giọng nói của em. Tuyết chưa đổ, nhưng giọng em đóng băng.

Tôi lắp bắp:

- Lý ra em nên cho anh hay...

- Chẳng có gì hay ho cả. Xấu hổ! Anh biết làm đếch gì?

- Thật sự là em không cần anh giúp?

- Anh muốn giúp điều gì? Lấy máu, lột truồng, nằm dạng chân, băng vệ sinh, thuốc ngừa thai... Những thứ đó chẳng cần sự có mặt của anh.

- Có đau đớn không hở Bạch?

- Nói ra anh cũng chẳng hình dung được.

- Bây giờ thì sao?

- Sao là sao? Là bình thường như cũ thôi. Y tá bảo có muốn làm tình làm tội thì đợi ba bốn tuần lễ sau.

Một chiếc xe cứu thương chạy vụt ngang, hú còi thảng thốt làm xẻ rách con đường âm u bóng nắng. Lá uá hoảng hốt chạy đuổi theo.

- Em kinh nghiệm rồi, lần này đéo có sơ hở nữa.

Bạch nói, như thể Bạch nghe rõ tiếng còi xe ambulance vừa vang vọng trong ống nghe, đầy đe dọa. Bạch ngập ngừng cám ơn tôi đã bỏ công điện thoại hỏi thăm và cuối cùng em gát máy. Lý do: Em bảo là cần phải ngã lưng một tị. Quen tật ngủ trưa mất rồi!

4.
Em đến gõ cửa phòng trọ tôi ở một chiều buốt giá. Những cánh cửa gương đục câm không tài nào nhìn rõ cảnh vật bên ngoài. Nó ngăn chia một bên là hàn khí, và bên trong tôi ngồi co ro với một khoảng không mà máy sưởi nước nóng chẳng đủ hơi sức phả ấm cho thứ diện tích trống trải ấy.

Má em hồng. Nón len em đội có những giọt nước đóng băng, long lanh dưới bóng đèn như những hạt kim cương. Đôi mắt em là một thứ trân châu khác, lên nước đen ngời.

- Sao em không gọi điện thoại trước?

- Để làm gì? Đường đột lúc nào cũng thú hơn, dễ bắt quả tang...

Tôi cởi hộ em chiếc áo mùa đông nặng nề. Em có vẻ lúng túng. Sự lúng túng không do bởi tay chân cóng lạnh vì tuyết giá.

- Để anh có trước sự chuẩn bị. Để khỏi nhọc công em khi anh lỡ vắng nhà.

Em giở nón len ra. Những lọn tóc đen xổ bung xuống bờ vai kèm gửi vài giọt nước rơi bám trên mặt tôi. Nước tự trời cao bao giờ cũng có vị ngọt, khác biệt với nước chảy ra từ đôi mắt. Em là người cứng rắn, chưa khi nào tôi thấy em khóc một lần dù môi em có lúc đã kể chuyện thương tâm. Một chuyện quá buồn cho người nghe.

- Sao anh không kiếm tìm một người bạn? Ở thế này héo người đi mất. Chán chết được!

- Ừ. Chán ngán. Lạnh lùng nữa chứ!

Tôi ôm em. Như muốn chứng thực lời nói, như muốn đón chút hơi ấm từ thân em toả nhiệt, để khỏi héo người.

- Đừng làm thế. Đừng gây cho em sự khó xử.

- Sao lại khó xử? Không phải em là người bạn duy nhất của anh đó sao?

- Em sắp xa anh rồi. Em đến nói lời từ giã đây.

- Đùa đấy nhỉ? Anh đéo tin đâu.

Tôi nghịch. Tôi mang ngôn ngữ của Bạch để nói cùng Bạch. Em cười miễn cưỡng. Và tôi nghiệm ra mỗi địa phương có một cách nói riêng. Người Huế như tôi nói chữ đéo nghe thật chướng tai. Ngượng mồm. Thật trẻ con!

- Đi thử thời vận một thời gian xem sao. Rồi em sẽ trở về.

Bạch tìm cách thoát khỏi vòng tay tôi. Tôi càng ôm siết. Mềm mại, co giãn, ấm áp và ngây ngất. Mùi quế, mùi gừng, mùi rau húng, mùi đinh hương... Tôi không thể kể hết những thứ mùi hoà quyện lại để tạo nên hương vị một bát phở. Tôi thèm ăn phở, hay đúng ra tôi thèm khát em.

- Buông em ra, cho em đi đái một tẹo.

Bạch nói.

- Và trong khi đó thì anh đi thay đổi áo quần.

- Để làm gì?

- Gọi một chiếc taxi đưa mình đến một quán ăn. Chúng ta chung đũa một buổi cơm giã từ.

- Sáu giờ rưỡi anh có hẹn với Amanda. Em cùng đi với anh nhé?

Bạch khựng bước trước cửa phòng tắm. Sau cùng em đóng mạnh cánh cửa cùng lần với một chữ: Không.

Tôi áp tai vào cánh cửa. Ngọn đèn vàng ở trong chạy đường viền sắc sảo bên dưới màu gỗ nâu. Có lẽ từ khe thoát đó, tôi nghe rõ tiếng nước chảy reo vui.

- Amanda thôi dạy ở đó rồi. Người ta tổ chức một buổi tiệc có trao quà lưu niệm để chia tay với cô. Người phương Đông mình có câu: Nhất tự vi sư bán tự vi sư, anh nghĩ em nên góp mặt lần này.

Bạch dội cầu. Cửa mở, và trong tấm gương soi, tôi thấy đọng rõ khuôn mặt chẳng mấy vui của em. Cau có là đằng khác.

- Anh toàn quyền chọn lựa. Giờ này hẳn còn sớm. Chọn một trong hai.

- Đừng chướng. Mình sẽ có mặt ở đó một lát thôi, sau đấy là giờ giấc của bọn mình, chẳng ai có thể quấy rầy.

- Tôi không thích gặp mặt cô ấy. Nói chung tôi ngấy cái không khí của lớp học trường ốc. Đếch thoải mái!

Bạch lách mình ra ngoài. Em yên lặng mặc lại chiếc áo chưa kịp ráo khô.

- Chuyện gì thế?

- Hỏi anh đấy. Anh có vẻ như luôn phục tùng bọn tây đầm. Lúc nào cũng Amanda, Amanda. Hô đâu chạy đấy.

- Thì đã sao? Không phải cô ấy là một người tốt sao? Một người như thế thắp đuốc tìm không ra kẻ thứ hai đâu. Chưa kể là chính cô ấy đã hơn một lần giúp em.

Bạch đội nón len lên đầu. Gương mặt em có đôi phần giống người Mông cổ, lúc ấy. Một người nữ Mông cổ biết cầm roi nhảy ngựa đi quyền. Và nếu cần có thể đả thương kẻ khác, chẳng gớm tay.

- Em biết, bọn đàn ông như anh lúc nào cũng ưa thử món ngon vật lạ, mà Amanda thì thuộc loại thịt thơm.

Tôi nhìn em. Không cải chính, không dài lời, không phân bua, không minh giải, không biện bạch.

- Em đi đâu?

- Còn phải hỏi. Đi về, và mai sáng lại phóc xe đò đi Toronto. Có đứa bạn mở nhà hàng dưới đó.

Trước khi mang găng, Bạch thò tay vào túi áo và rồi trao cho tôi một hộp giấy nhỏ.

- Quà cho anh đấy.

Tôi đưa tay lên gần mắt. Ngoài hộp vẽ hình một củ sâm tròn trịa đầy đủ râu ria, ngó gân guốt cứng cáp. Phía dưới chạy hàng chữ Tàu loăng quăng như những con tinh trùng. Một triện son đỏ đóng lên trên nhằm cầu chứng đồ xịn.


- Thứ mà vua Minh Mạng vẫn thường dùng đấy phỏng?

Tôi giả giọng em. Gần giống, thiếu chút lẳng lơ, chút hồn nhiên.



- Cũng tựa thế, để mong mỏi cuộc chiến đừng chóng tàn. Không chồn chân mỏi gối.



Em nói. Dửng dưng, lạnh lẽo. Như bác sĩ nói với một bệnh nhân bị chứng liệt dương, yếu đuối chuyện phòng the, mềm nhũn chăn chiếu gối ghiếc.


- Đêm nay anh hãy uống thử một viên xem sao. Đồ hiếm quý của Hồng Kông đó. Chắc Amanda sẽ hồ hỡi phấn khởi.

Bạch mở cửa.

- Nhớ lời em nói chứ? Hãy rán sức mà trả thù dân tộc.

Bạch bước ra hàng hiên tuyết đổ. Tôi tiễn em một đoạn. Màu tuyết muôn đời vẫn trắng toát, thường hằng lạnh căm. Tôi cóng người nhìn dáng em xiêu đổ. Bùi ngùi. Hy vọng là em không dối gạt tôi, có ngày rồi em sẽ trở lại. Nếu không, tôi đi Toronto quyết tìm cho ra một bóng chim tăm cá. Tôi gióng gọi tên em, khan tiếng; nhưng Bạch không nghe.
Tuyết bôi xoá hết. Dựng đứng một màn trinh trắng đến cay mắt./.

Hồ Đình Nghiêm





































Tản Mạn







HƯƠNG THẮP MUỘN



Mai. Tên một loài hoa đẹp, qúy, hiếm. “Nếu mai không nở, con đâu biết Xuân về hay chưa?” (Nhạc sến).

Mai. Chữ dùng để chỉ tới khoảng thời gian thuộc thì tương lai. “Mai tôi chết ai là người xây nấm mộ?” (Thơ sến).

Mai. Còn là danh xưng của một người. Đa số người mang tên Mai đều thuộc nữ giới. Tiếp viên hàng không Tuyết Mai. Ca sĩ Thanh Mai. Nhà văn Trần Thùy Mai… Vô số những mai. Cao sang cũng mai, mà bình dân cũng mai. Ở thành nội Huế khi xưa có bà bán bún gánh ngon “dễ sợ”: Bún bò mụ Mai. Một vài người kiêng cử lại nói trại ra, nói khác đi: Bún bò mụ Mơi. “Xơi tô bún mụ Mơi, chơi tới ngày mơi, vẫn còn cả tơi lẫn nón!”
Đa phần nữ giới đều chiếm đoạt cái tên ấy. Số đông chứ chưa hẳn tuyệt đối. Phiá nam giới, tuy hiếm hoi, vẫn có một người, chắc lẻ loi, mang tên Mai. Thử đọc lên xem sao: Hồ Đình Mai. Nghe dở tệ! Nhưng khi xướng tên: Võ Đình Mai, thì lại khác. Rất khác.
Thời xong tô bún mụ Mơi, húp chẳng chừa chút nước, tôi không đi vào trường, tôi cúp cua. Chẳng vào cổng Hiển-nhơn nhưng ra cửa Thượng-tứ. Hôm ấy trời xám, nhiều gió. Không gian như thu bé lại bởi sương mù. Sự ẩm ướt bao phủ Huế, dường như thành phố đang đợi chờ một cơn mưa. Mưa chưa đổ nhưng cảnh sắc phiá bên hữu ngạn đã mờ câm. Tôi thong thả qua cầu Trường -tiền, là kẻ bộ hành không tơi chẳng nón. Sông Hương nhìn không rõ mặt, nước như có rút đi, thấp hơn và nuớc có vẻ đang cau có từng sự giao động một sáng trở trời.

Đại học Văn khoa là địa điểm tôi sẽ dừng chân, sẽ dùng dằng níu bước nếu mưa rơi. Và nếu trời làm mưa, tôi lo ngại cho tấm poster kia biết dường nào. Tấm poster đơn sơ với hàng chữ lạ, viết bằng thứ bút pháp gần như thư hoạ của Trung-hoa.” Triển lãm tranh mực xạ của Võ Đình”. Nó được ghim vào bức tường và dường như nó bắt đầu ẻo lã do khí hậu ẩm thấp tác động vào. Nó tựa một tà áo dài có ai vẽ lên từng chiếc lá tre, trúc. Những nét sắc, mạnh, cào ngang xước dọc, tuy xô bồ nhưng tựu trung chúng được gom lại trong một bố cục chặt chẽ. Nó sẽ rũ liệt rồi oằn thân xuống nếu mưa rơi. Và Huế ơi, xin hãy dời cơn mưa lại một đôi ngày.

Phòng tranh không mấy đông, có lẽ thị hiếu của khách thưởng ngoạn chưa quen được với loạt tranh vẽ mà như phung phá ấy. Như khách đến từ miền nhiệt đới, chẳng mặn nồng với gió tuyết phong ba chốn ngàn dặm sơn thủy cách xa. Tôi chưa vội ngắm tranh, tôi đứng một góc ngó chăm về người đàn ông đang ngậm ống vố. Ông chẳng có gì khác lạ, nhưng nhân dáng thường-thường-bậc-trung ấy biết toát ra cái gì đó làm bắt mắt. Nôm na, ông là bức tranh sống động nhất, đẹp đẽ nhất, thu hút nhất giữa một phòng tranh đang có gió gai lạnh lùa vào. Ông mặc áo khoát bằng vải màu đất cát, áo có bốn túi lớn. Ông mang gương cận, ông để râu, ông đi lại chậm rãi, từ tốn. Và cuối cùng, có lẽ ông là người ít nói. Ông dấu cất cái tên Mai của mình đi, cũng như ông đã thu giữ đằng sau ông biết bao những điạ danh huyễn hoặc mà bọn sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Huế ếch ngồi đáy giếng như bọn tôi luôn khát khao muốn được ai kia vén mở hộ tấm màn nhung luôn chứa đựng những bất ngờ. Kinh thành ánh sáng Paris hoa lệ cỡ nào? Nữu Ước đồ sộ thay đổi ra sao những trào lưu văn học nghệ thuật? Hoạ sĩ Vĩnh Phối là giám đốc, và trường Mỹ thuật Huế bấy giờ (năm 1974) đã vụng về chẳng dàn xếp tổ chức được một buổi chuyện trò để người ra đi hai mươi năm về ngồi giữa cố quận giãi bày những nguồn cơn cho đám đàn em học hỏi. Điều sơ sót ấy phải nên xem là cả một thiệt thòi, không những xảy tới riêng cho đám sinh viên mà biết đâu, còn khai nhãn cho tất cả những họa sĩ đang làm giảng viên.
Họ ngờ nghệch, họ lúng túng, họ như chưa hề biết định hướng. Họ vẽ không như họ đang thở, họ vọc cọ màu chẳng quan trọng như họ đang ăn, ngủ, iả, đái. Họ là những công chức sáng đạp xe đi chiều đạp xe về lối cũ cho qua bổn phận. Họ muôn đời chẳng thể là nghệ sĩ. Tôi vẫn nghĩ, đời sống mẫu mực của một công chức luôn là kẻ thù đối với một nghệ sĩ. Anh sống đều đặn quá, nhàm chán như vòng quay của kim đồng hồ. Muốn được đời vinh danh là nghệ sĩ, anh phải mang thân ra hứng chịu những đớn đau khốc liệt mà đời sống chẳng bao giờ biết từ khước, luôn rộng lòng ban phát. Anh phải “nhắm chốn đoạn trường mà đi”. Tôi là một con ếch luôn ngồi đáy giếng, khung trời phiá trên luôn là một vòng tròn khép kín, hà cớ gì tôi lại có những lời lẽ đại ngôn kia? Có lẽ ấy là do hấp lực của chàng con trai Huế lên dường du học thuở xa xưa, gia đình biểu học ngành y, chàng ậm ừ rồi ghi danh học Văn khoa. Chán chê chàng theo đuổi hội họa. Chàng tự trào trong một đoản văn, đại loại: “Bác đừng nói rứa. Người ta thưa bẩm với bác sĩ chứ có ai lại: Dạ thưa ôn Họa sĩ…”

Dạ thưa anh Họa sĩ Võ Đình, tôi gặp anh lần đầu ở Huế, ở cái phòng tranh se lạnh và Huế đã niệm tình không làm mưa rơi. Khoảng cách mênh mông nào đã làm cho chúng ta chẳng thể lại gần bên nhau trò chuyện? Khi ấy, tự thân anh, vây bọc và toát ra cái dáng vẻ đường bệ của một Mệ có chức phận trong hoàng phái. Nếu đàn bà, tôi nghĩ, anh hẳn sẽ mang tên Công tằng Tôn nữ Thạch Mai. Nhưng dẫu là đàn ông (tại sao lài đòi cho được một Madame?) tôi vẫn cứ mê mệt bởi anh tượng trưng cho cái gì vừa trừu tượng vừa siêu thực vừa tân cổ điển vừa hiện đại. Anh đã về từ một thế giới quá xa ngái, cái thế giới lạ lẫm khôn cùng muôn hình vạn trạng, và sau chót cái cõi ta bà đó nó sẽ dìm anh xuống những đớn đau mà nỗi cô đơn cùng cực sẽ là thứ mà không ai trong chúng ta có thể chịu đựng ở mức độ lâu dài. Dạ thưa Họa sĩ Võ Đình, mặt anh khi đó luôn nghiêm và buồn!

Anh chẳng thay đổi gì nhiều. Chẳng thay đổi, bởi lẽ ta đã vui vẻ làm phép cọng trừ rất giản đơn, thứ mà thời gian luôn tướt đoạt, lấy đi ở mỗi chúng ta những nỗi niềm ẩn nấp dưới tuổi tác. Nhại theo câu giải thích thơ của cố thi sĩ Bùi Giáng: “Trẻ thì ta biết là ưa quậy. Già thì ta hiểu chín chắn về đời sống. Nhưng thời gian là thứ mà không ai có thể hiểu được!” (Nguyên văn: Chim thì ta biết nó bay, cá thì ta biết nó lội. Nhưng thơ là gì thì chẳng ai có thể cắt nghĩa được.) Anh có hơi gầy đi, da ngăm đen chút đỉnh. Vẫn hút pipe, nhưng thôi nghiêm và buồn.

Đó là khoảng thời gian Một chín chín mươi, một ngày hè oi ả ở Virginia. Chúng tôi ngồi kề bên nhau do bởi số phận những truyện ngắn gửi đăng báo, anh đọc thấy, rồi duyên văn nghệ do chữ viết đẩy đưa làm nhích lại gần. Anh đã vẽ tặng một phụ bản để in trong tập truyện đầu tay của tôi. Cuốn thứ hai chào đời cũng được anh vun bồi bằng bức tranh đẹp. Rồi sau đó, trung bình mỗi tháng tôi nhận được khoảng ba lá thư của anh. Viết ngắn, phần nhiều là góp ý, chê nhiều hơn khen. “…Anh nghĩ văn em gần với nét vẽ của anh hơn là với câu văn của anh. Viết thì anh thích nói những điều khúc mắt bằng những lời lẽ bình dị. Vẽ thì anh “sướng” ở cái nét… da diết. Ngày nào anh vẽ được những cái da diết với những nét giản đơn, đó là lúc anh bẻ bút được rồi.”
Anh siêng viết thư, bởi lẽ anh nói: “Anh rất ghét điện thoại!”. Do vậy tôi cũng phải cần mẫn hồi âm. Anh bảo, viết là cách tập cho nét chữ mình thêm cứng cáp. Câu nói đã có ngay sự chứng minh: chữ viết của anh quá đẹp, chữ Võ Đình ký bên dưới cũng hiển lộng một cách lạ thường. Ba người có chữ viết đẹp, theo tôi: Họa sĩ Võ Đình, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhà văn Mai Thảo.


Anh hỏi: Em còn vẽ không?

Dạ không.

Răng rứa?

Tôi thắp một điếu thuốc, khói xanh mù mờ, ngồi hồi ức về cái “thời kỳ xám”. Bảy lăm,“chạy giặc” vào tận Sài-gòn, ngồi chưa nóng đít thì…“Sài-gòn phỏng dái”. Đành lò dò trở lại Huế ghi danh học tiếp. Đến lớp để làm gì? Để vẽ chân dung lãnh tụ. Để kẻ khẩu hiệu. Để viết những hàng chữ kỳ cục lên tấm vải đỏ mang đi giăng, treo khắp đường phố. Phải đi thực tế, phải biết bóp méo sự thật, quần chúng lam lũ ốm đói thì khi đưa vào tranh cổ động ta phải vẽ họ vai u thịt bắp, mắt sáng môi cười đứng bên nhà máy đồ sộ và đồng lúa phì nhiêu. Vẽ cờ đỏ sao vàng và luôn khắc ghi công ơn Đảng đã dìu dắt đến thắng lợi thần thánh. Thỉnh thoảng giảng viên chính trị gọi tên: Các anh là con em của bọn Ngụy phản động bán nước, nhà nước cho ăn học tiếp để chứng minh chế độ ta luôn khoan hồng… Một giảng viên có tên tuổi ngoài Hà-nội được mời vào thuyết trình, tất cả sinh viên ngồi ngay ngắn dọn lòng chờ nghe những chuyện thú vị của một người từng đi Liên-xô, Ba-lan và Cuba về: Các anh ở trong Nam chắc phải biết đến nhà danh họa Pi-cát-xô? Điều mà chúng ta cần khẳng định trước tiên: Đấy là một đảng viên đảng Cộng sản…
Tôi đã không còn vẽ nữa. Xin đừng nghĩ tôi ngụy biện khi đem chuyện buồn lòng trên, kể ra, để xem đó là lý do tôi rời bỏ hội họa. Thoát ra khỏi cái trường ốc như vậy, không một ai, kể cả Picasso, còn đủ can đảm để cầm cây cọ lên, nắm chặc giữa những ngón tay luôn run rẩy. Có thể nói đám học trò thời kỳ ấy, chẳng khác mấy những cô bé bị lột truồng ra, tủi hổ, lần lượt bán cho các đại gia để họ phá trinh.
“Lò cừ nung nấu sự đời, bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”. Anh đọc thầm câu cổ thi. Và dường như để làm vơi nhẹ phần nào, anh pha trò: “Bắt ở trần phải ở trần, cho may-ô mới được phần may-ô”.







Anh đãi tôi đi ăn trưa (khoảng 3 giờ chiều). Anh lái chiếc xe cũ thật cũ, hiệu Renault của Pháp, chiếc xe mang bảng số xuất phát từ Maryland, và chiếc xe nọ e thắp đuốc tìm không ra chiếc thứ hai ở Virginia. Xe thong dong chạy, không nhanh, chẳng chậm. Êm ái không hề xảy tới, bởi người tôi luôn giao động. Nói cảm động thì đúng hơn. Tôi không thể ngờ là trong đời mình lại có được ngày hôm nay. Năm 74, tôi nhìn tới anh và cảm nhận ngay ra cái khoảng cách mênh mông vô bờ. Để rồi qua bao dâu bể, giờ này, ngoài trùng phùng còn thêm gang tấc.Cái gang tấc mà nếu muốn tôi có thể ôm giữ lấy anh, vừa khít trong đôi vòng tay. Anh không phải là người của hàng quán. Anh mở lời phi lộ. Lời vừa buông dấu chấm, xe đã thắng đứng trước một bức tường. Anh kết luận: Vào ăn bậy cái gì cho đỡ đói. Một cái quán nhỏ bé, tăm tối, nằm đâu đó gần siêu thị Việt-hoa. Bộ đồ anh mặc bằng vải Linen, nhăn nhàu, thứ trang phục dành cho mùa hè ở những bờ biển đầy nắng vàng và gió lộng mặn mùi muối. Anh không phải là người khá giả nhưng là kẻ luôn hạnh phúc với những thứ đang có. Tôi nghĩ vậy. Anh giàu có ở những mặt khác, gần là triệu phú. Loại triệu phú mà thắp đuốc tìm kiếm, soi rõ mặt mày chẳng được mấy ai. Chúng ta đã đồng ý rồi, phải không? Rằng Mai là thứ hoa đẹp, qúy, hiếm.

Chín mươi hai, anh sang Montréal trưng bày tranh đánh dấu 35 năm cầm bút. Không như Huế năm xưa, thời tiết chốn này, hôm ấy… trên cả tuyệt vời! Thứ thời tiết mà nếu bạn có ý định vượt biển thì đảm bảo chiếc ghe mong manh sẽ mang bạn đến bờ bãi bình yên một cách chóng vánh nhất. Bạn vất tấm bảng có viết sẵn chữ SOS đi. Dưới lườn ghe, bạn có quyền ngủ yên một giấc mà chẳng phải niệm Phật a di đà liền miệng. Gió hiu hiu, nắng vàng, trời trong xanh, không một vẩn mây. Xứ tuyết này chẳng mấy khi có được một ngày trời quang biển lặng tựa thế. Nhưng tôi lầm, đã có một thứ phong ba khác chờ chực, rình rập. Chúng ta sẽ nôn mửa khi leo lên ghe, sẽ chóng mặt và sẽ xuội lơ để cho một bọn hải tặc Việt-nam tha hồ trấn lột. Chúng hiếp dâm bạn bằng một phương cách lạ lùng. Chúng moi của bạn từng lượng vàng ròng bằng thứ thủ đoạn hơn cả một sự tráo trở. Chúng phá cho bằng được buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật kia. Chẳng thấy bóng dáng công an, nhưng “cách chơi” ấy là bản sao chép từ lối hành sử của nhà nước Việt-nam đương đại. Dĩ nhiên là tôi rất buồn. Tôi định cư ở Montréal từ hồi vượt biển đến giờ, hãy ví tôi như người chủ nhà tật nguyền chẳng thù tiếp được người khách phương xa đúng với phép tắc. Không mở rộng cửa, không chào hỏi, không trà, không nước, không ghế ngồi… Chủ nhà khoanh tay, mặt nghiêm và buồn!

Sau này đọc trên báo, tất cả những người cầm bút đều đồng tình kết luận: Sự việc xảy ra hôm đó hài hước trên mức tưởng tượng. Tôi không nghĩ vậy. Tôi liên tưởng đến một tấm biểu ngữ dơ bẩn được viết bởi một bọn người vô văn hoá. Nói như một nhà phê bình ở trong nước (Hoàng Ngọc Hiến?): “Cái dân tộc mình nó vốn thế!”

Anh vẫn thường viết thư thăm tôi. Ngắn, nhưng bao giờ cũng nồng ấm. “…Nói thế này dễ hiểu: Từ Maryland mà dọn về đây thì đại khái cũng như từ Huế mà xuôi Nam vô tận trong… Cà Mau. Ở Montréal, khi mô lạnh lẽo quá thì nghĩ về nơi anh chị ở. Tháng mười rồi (cuối tháng) mà còn dùng quạt trần!”
Những lá thư, những tấm bưu thiếp bao giờ cũng có phần tái bút. Dòng chữ ngắn ấy luôn xô mở ra những cánh cửa riêng tư, lạ:

- “Ngày này, 30 năm về trước (1964) anh lấy vợ… lần thứ hai!”
- “Hôm kia anh nói chuyện với Nhung. Anh khen em, cổ nói “viết dở ẹt!”. Làm chị sướng hí!”
- “Nghiêm biết không, lúc em chào đời là khi anh đã xuất dương đi du học rồi!”
-“Đọc Nắng Mới, thấy tin bác gái mất ở Huế. Anh không “chia buồn” với hai em, nhất là với Bích, vì đó là một niềm đau không ai có thể “chia” với mình được.”
- “Năm nay anh được 70 tuổi rồi đó. Khiếp! Ngày xưa 40,50 là “cụ” rồi.”
Thỉnh thoảng, phần tái bút được chị Lai Hồng đảm trách:

-“Tui có cháo gạo hẻo rằn ăn với cá cấn cá mại kho khô, ngon lắm! Về đây chơi một chuyến ngắm hoa hoè, hoa ban, hoa bằng lăng, ăn rau đắng, rau ngổ… cả môn sáp vàng và khoai tiá”.

-“Khi mô mới về? Đã rãi hột rau dền, rau muống… Cá ngừ tươi với bún, và cốc khế, mãng cầu, chuối dừa, đu đủ, me v.v…”

Tôi làm thinh, tôi không dám hẹn hò, bởi tôi rất ghét những đứa chẳng giữ được lời hứa. Tôi yêu hai câu thơ của Hoàng Trúc Ly: “Đời lê thê quá tôi về muộn, em ngủ một mình đêm gió mưa”. Đời sống của tôi ở Montréal rất “lê thê”. Nếu ra được sân ga, có lẽ tôi sẽ đến muộn và nhìn con tàu rời đi sau khi hú lên những hồi còi nghe nao lòng. Bất kỳ một ai trong chúng ta cũng sẽ có lúc hụt một chuyến tàu. Để rồi hối tiếc. Tôi đang hối tiếc. Càng đau lòng hơn khi cái địa chỉ một căn nhà luôn rộng lòng đón tiếp mình đã chẳng còn nữa bóng dáng chủ nhân. Chị Lai Hồng ơi, tôi xin phép cóp nhặt lại hàng chữ của anh Võ Đình: Không “chia buồn”, bởi đó là niềm đau không ai có thể “chia” với mình được.
Michael Jackson mất không lâu sau họa sĩ Võ Đình. Trong tất cả những lời chia buồn khuôn sáo của giới nghệ sĩ, nhặt ra được lời phát biểu tương đối hợp nhĩ của Bryan Adams:


“Cám ơn Michael, anh đã để lại cho trần gian này những ca khúc đẹp, như một tặng vật quý báu”.

Điều tôi muốn thưa với anh Võ Đình, vô tình đã bị chàng nhạc sĩ Canadien kia nhanh nhẩu xí phần mất rồi.

Nhà hàng xóm đổi dĩa nhạc, bài hát rậm rật Billie Jean, một trong những ca khúc nổi tiếng của Michael, thôi khuấy động. Im bặt một khoảnh khắc, có âm thanh dìu dặt trỗi lên, tiếng được tiếng mất: “…về sau, và nhiều năm sau nữa, có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng hôm nay ”.

Dạ thưa Họa sĩ Võ Đình, xin anh đừng quở trách : “Cái thằng ni, răng mi sến rứa hả Nghiêm!”.

tiểu đệ Hồ Đình Nghiêm.
Montréal, nơi lưu giữ những kỷ niệm xấu, tháng 7, 09.






























VÕ PHIẾN- Táng Mạng -Tản Mạn

Viết về Võ Phiến. Mình giở lại những cuốn sách để tìm nhặt một bóng hình, một nhân ảnh. Suốt tuần loay hoay để bảy ngày đụng phải ngõ cụt: Thất bại. Mình chẳng nhìn ra điều gì khác lạ, đi ra ngoài sự cảm nhận mà mọi người đã nói, viết, về Võ Phiến.

Mình nhớ: Thời sinh tiền, ngồi bên Mai Thảo chưa mất, dĩ nhiên là chung chiếu cùng rượu thượng thặng, nhà văn trải lòng: “Thế hệ cậu quả có bất hạnh, ngày trước, sinh viên đến giảng đường, ngoài tay ôm sách vở, họ còn siết vào lòng Để Tưởng Nhớ Mùi Hương… các thứ. Họ có cái nhìn về văn sĩ khác với thời buổi nầy. Sách cậu hả? ...” Mai Thảo chẳng nói hết câu. Và mình, buộc phải hiểu rõ cái khoảng trống bằng bặt ấy. Một thứ trò chơi điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa.

Nếu sinh viên ôm truyện ngắn, dài của Mai Thảo trước ngực trên đường đến trường, mình tự hỏi, vậy tác phẩm của Võ Phiến? Hãy điền vào ô trống: Nằm trân trọng trong tủ sách gia đình, trong thư viện quốc gia, hoặc những trích đoạn trên trang sách giáo khoa của bộ giáo dục soạn cho một học trình nào đấy. Mình đồ vậy. Do đâu? Do khi mình tiếp cận với thế giới mà nhà văn Võ Phiến gầy dựng, mình bắt gặp ở đó một cõi miền trầm lặng, ít biến động, chẳng gay cấn. Ông là người phúc hậu, tạm hiểu vậy. Ông quay lưng với nỗi đau và hiển thị trên chữ nghĩa những hàn gắn, những trấn an, những lạc quan bất khả. Mình nhìn Võ Phiến, rất an lòng khi ngó thấy bác công chức mẫu mực, đi làm đúng giờ, về nhà đọc báo vui đùa cùng vợ con. Nghiêm khắc trong cuộc sống tự mình đề ra, bằng lòng tuyệt đối với sức mình tự tạo.

Một bác công chức trong sạch, lương lậu đủ sống. Không rượu, trà, đàn bà. Bạn ạ, văn chương người ấy sẽ đầy những dấu hỏi sâu sắc về kiếp nhân sinh.

Một bác công chức, lộ trình di chuyển từ nhà đến sở làm luôn là kim ngắn dài vận hành trên vòng tròn khép kín của mặt đồng hồ thì dĩ nhiên nó không xé rào, đi đêm, vượt biên, chùng vụng , lân la tới thứ hình ảnh rậm rật của phòng trà, của đèn màu, của vũ nữ, của khói thuốc, của men cay. Người ta bảo, văn chương Mai Thảo là thời thượng. Tạm chấp nhận, vì dán nhãn hiệu luôn là hành động của kẻ hồ đồ, đầy khiên cưỡng. Cả gan để hỏi. Vậy thì văn chương Võ Phiến?

Mình thất bại, như đã thưa. Có lẽ do bởi đang có điều kiện để tiếp cận với trào lưu mới, nên đọc lại những áng văn ngày cũ, thấy mất dần những háo hức. Một tác phẩm luôn sống với thời gian, xưa nay hiếm! Một tuần loay hoay, đến khi cầm tới cuốn Tiểu Luận (Văn Nghệ xuất bản 1988) mình đọc thấy ở trang 121, đoạn phỏng dịch về cuộc phỏng vấn nhà văn William Faulkner mà Võ Phiến cho là độc đáo. Mình xin phép trích lại ở đây, bởi mình thấy ngoài độc đáo còn là một xúi dục đáng ngưỡng mộ: “…bản tính tôi thích lêu lổng, lang bang. Tôi không thích tiền bạc lắm đến nỗi phải làm việc để kiếm tiền. Theo ý tôi, trên cõi đời này người ta phải làm việc nhiều quá, đó là một sự nhục nhã. Đáng buồn nhất là chỉ có một điều con người có thể tiếp tục trong tám giờ, hết ngày này tới ngày kia, ấy là làm việc. Anh không có thể ăn suốt tám giờ, cũng không thể uống luôn trong tám tiếng, cũng không thể làm ái tình suốt trong tám giờ đồng hồ liền; chỉ có một điều mà anh có thể tiếp tục luôn trong tám giờ, ấy là làm việc. Chính vì lẽ đó mà con người đã làm cho chính mình và cho kẻ khác khổ sở và rầu rĩ đến nông nỗi này”.

Ở trang sau, nhà văn Võ Phiến viết: “Nhưng câu nói ngộ nghĩnh hơn hết của Faulkner có lẽ là câu trả lời về khung cảnh thích hợp nhất đối với nghệ sĩ. Đại khái ông cho rằng theo ý riêng của ông: làm chủ nhà điếm là thích nhất. Đó là khung cảnh hoàn toàn đối với một nghệ sĩ. Được tự do về kinh tế, khỏi lo đói, lo rét, kiếm tiền dễ dàng. Ban đêm vui nhộn ồn ào, nghệ sĩ khỏi lo gì sầu muộn. Buổi sáng thì xung quanh im lặng, tha hồ sáng tác, khỏi bị quấy rầy. Việc tính chia tiền trong nhà đã có vợ lo. Xung quanh mình toàn là phụ nữ kính trọng mình, thưa mình bằng Ông! Thế mà không thích nhất à?”

Thích quá đi chứ. Đọc thôi đã thích, huống hồ ngồi mường ra cảnh rậm rật kia. Cám ơn nhà văn Võ Phiến đã lựa ra những thứ “đắc địa” để giới thiệu.

Cũng giọng tâm tình của W. Faulkner trong bài phỏng vấn kia: “Tôi là một thi sĩ bị thất bại. Có thể là các tiểu thuyết gia đầu tiên đều muốn làm thơ, thấy rằng mình không làm được rồi mới thử viết truyện ngắn, đây là loại khó khăn sau thi ca. Viết truyện ngắn cũng hỏng luôn, rốt cuộc họ mới quay ra viết tiểu thuyết”.

Đọc đoạn này, mình thử vẽ ra một nấc thang, từ dưới đi lên:

Bậc cấp thứ nhất: Tiểu thuyết. (Huy chương đồng).
Bậc cấp thứ nhì: Truyện ngắn. (Huy chương bạc)
Bậc cấp thứ ba: Thi ca. (Huy chương vàng).

Vẽ xong thì lòng dạ đâm hồ nghi, cái này e chỉ có người Việt mới thủ lãnh. Ấy là chúng ta có quá nhiều thi sĩ chăng? Bạn thử rà soát một vòng, để mắt tới những trang ảo, thơ lấn át, chiếm gần toàn bộ những thượng vàng hạ cám khác. Tư duy người Việt chắc đảo lộn quy định mà văn hào Faulkner thử đưa ra. “Tui là một tiểu thuyết gia bị thất bại, có lẽ các thi sĩ đầu tiên đều muốn viết tiểu thuyết, thấy rằng mình không làm được mới xoay ra viết truyện ngắn, đây là loại khó khăn sau tiểu thuyết. Viết truyện ngắn cũng hỏng luôn, họ mới mần thơ”. Thử “xây” thêm bậc thang khác, như thể ngoài hoa hậu, chúng ta còn giải cho á hậu 1, á hậu 2; thấy bất nhẫn liền trao thêm giải “thân thiện” cho được hoành tráng. Giả như thi sĩ mà làm thơ hỏng thì họ chơi sang món nào? Trao cho họ giải thân thiện để họ đố kỵ nhau, chửi nhau “thơ đến từ đâu”?. Quan trọng thế đấy! Trước tiên là đến từ cảm xúc, thông qua chữ viết và biết cách hạ mình đi qua cửa khẩu của biên tập, kiểm duyệt, chịu trách nhiệm in ấn, vân vân và vân vân và xôm tụ trình làng.

Ngoài thơ chiếm đất dành dân, còn bắt gặp nhiều tin buồn khác dán nhan nhãn báo mạng. Nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình còng tay vào tù, Khánh Ly về nước hát trong một cảnh sắc ảm đạm tựa thế. Gia tài của mẹ sao chứa một lũ bội tình? Khuôn mặt trong sáng, trí thức của sinh viên Nguyễn Phương Uyên làm cho diện mạo U-70 mờ mờ nhân ảnh. Về quậy và có hát, diễn tả, để hồn vào được lời Bob Dylan? “How many road most a man walk down, before you call him a man?.. How many times must a man look up, before he can see the sky? How many ears must one man have, before he can hear people cry?...”

Mình dịch làm gì thứ lời lẽ tầm thường, giản dị thế? Giản đơn tầm thường nhưng lắm kẻ mù lòa chẳng hiểu được cái đạo lý bên trong. Ôi thôi, những lỗi lầm mà mình tạo ra thường do đặt sai niềm kỳ vọng. Tù tội, hàm oan và đói khổ, dẫu ngồi cơm bụi, liệu bạn nuốt trôi hạt cơm kia? Bạn đừng nói với mình là và cơm chan đầy nước mắt khi trẻ con bán vé số run rẩy đứng ngó lạc hồn. Thơ truyện Việt chẳng gây được tiếng vang bởi lẽ nó quay lưng với vấn nạn đớn đau cực hoành tráng kia. Nói những thứ tủn mủn vụn vặt và an lòng với giới hạn đó, chỉ vậy thôi. Nhà văn Nguyễn Mộng Giác thời sinh tiền (sao nhiều người chóng bỏ đi thế?), thời còn chăm sóc tờ Văn Học có thư tâm tình chia sẻ cùng mình: “Viết văn giọng Huế thì cũng có nét đáng yêu, nhưng nó vẫn còn rào cản của địa phương, của cục bộ; viết mà cho cả ba miền đều thông cảm, cái ấy vẫn thiết thực hơn”.

Mình biết vậy, mình biết thêm chuyện hệ trọng khác, chúng ta đang sống trong giai đoạn nhiễu nhương, khó tìm ra một đồng điệu. Lúc này đây, để nguôi ngoai, chắc phải thức đêm tìm đọc lại toàn bộ những tác phẩm của nhà văn Võ Phiến. Sẽ an tâm tìm gặp một thế giới toàn kẻ hiền lương, mộc mạc, chân chất, chậm rãi nhưng chứa nhiều những suy tưởng về con tạo xoay vần. Mình sẽ quyết “Một Ngày Để Tùy Nghi”. Không như truyện ngắn của Võ Phiến, mình cố quên những phiền muộn xẩy ra quanh mình.

Hồ Đình Nghiêm



































Thơ ...













Phỏng Vấn 








Lê Thị Huệ / Hồ Đình Nghiêm
http://www.gio-o.com/GioO10NamPhongVanHoDinhNghiem.htm



Trang đài Glassey-Trầnguyễn / Hồ Đình Nghiêm
http://www.gio-o.com/TrangDai/TrangDaiGlasseyTranNguyenHoDinhNghiemHCT.htm







Lê Quỳnh Mai / Hồ Đình Nghiêm














Tham khảo thêm về tác giả Hồ Đình Nghiêm





Hồ Đình Nghiêm trên Sáng Tạo



Hồ Đình Nghiêm trên Tạp Chí Da Màu



Hồ Đình Nghiêm trên Tiền Vệ



Hồ Đình Nghiêm trên Gió O














































































































































Trở về







Danh Sách Tác Giả

Chân Dung Văn Nghệ Sĩ

Emprunt Empreinte
















MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.