Monday, 31 July 2017

Phạm Quốc Bảo
















Phạm Quốc Bảo

(1943 - ......) Vĩnh Phúc Yên, Bắc phần.

Nguyên quán Nam Định
Nhà văn, nhà báo
Nguyên Tổng giám đốc báo Người Việt tại Quận Cam, California











Tiểu sử tóm tắt

-1954 từ Hà Nội di cư vào Nam
-1967: tốt nghiệp ban Triết, Văn khoa Sàigòn.
- 1966-1967: Chủ nhiệm kiêm Chủ bút nguyệt san ĐỐI THOẠI.
- 1982 - hiện nay: trong ban Chủ biên nhật báo Người Việt...

- 1997: Thỉnh giảng cho các lớp SSEAL 50C & 51C, UCLA; đề tài: “ Cutural Activities Prevailing in Vietnamese-American Communities in Western USA: A Cursory Look ”
- 1999: Diễn giả trong The First International Vietnamese Youth Conference, Melbourne, Australia.
- 2000- 2014: Giảng viên các khóa hằng năm của TAVIET-LCS ( The Association of Vietnamese Language & Culture School of Southern California)
- 2005: Diễn giả của The 4th. International Vietnamese Youth Conference tại Sydney, Australia. Đề tài: “Ý niệm Dân chủ trong tư tưởng Phan Chu Trinh”...

















Cảm ơn anh Phan Nguyên, một nghệ thuật mới, lý thú
Little Saigon June 19/2017
















Phạm Quốc Bảo lúc trẻ













Tác phẫm đã xuất bản









1
Chiến Tranh Và Tuổi Trẻ Phương Tây
tuyển tập thư, dịch, Hồng Lĩnh, Sài gòn 1969






2
Năm Dài Tình Yêu
truyện dài, dịch, Hồng Lĩnh, Sài gòn 1969






3
Vực Hồng
truyện dài, (bút hiệu Phạm Hà Quân)
Thoại Ngọc Hầu, Sài gòn 1975






4
Cùm Đỏ
truyện ký, Người Việt, cali 1983






5
Cõi Mộng Du
truyện dài tập 1, Người Việt, Cali 1984






6
Đời Từng Mảnh
(Cõi Mộng Du tập II) Người Việt, Cali 1985






7
Dâu Bể
tuyển tập, Người Việt, Cali 1096






8
Mười Ngảy Du Ký
Việt Báo Washington DC, 1987






9
Gọi Bình Minh
truyện dài, Người Việt, Cali 1989






10
Người Việt Tại Đông Âu Và Vấn Đề Việt Nam
biên khảo, Việt Hưng, Cali 1990






11
Huynh Đệ Tương Tàn
biên khảo, dịch, Thế Giới, Cali 1991






12
Bây Giờ Nhật Bản Biết nói Không
biên khảo, dịch, Khai Sáng, Cali 1992






13
Dấu Vết Văn Hóa Việt Trên Đường Bắc Mỹ
biên khảo I và II, Việt Hưng, Cali 1995






14
Hồng Nhan Xuân
tuyển tập, Việt Hưng, Cali 2002






15
Thơ, Hai Mươi Năm
Việt Hưng, Cali 2002






16
Độc Lập Mỹ - Độc Lập Ta
tuyển tập, Việt Hưng, Cali 2004






17
Hốt Một Thang
tuyển tập, Việt Hưng, Cali 2006






18
Hương Đêm
tuyển tập, Little Saigon Cali 2008






19
Khuất Rồi Mấy Bóng Chim Di
tuyển tập, Người Việt, Cali 2010






20
Nhục Vinh
tuyển tập, Người Việt, Cali 2010






21
Tâm Tình Một Nẻo Quê Chung
tuyển tập, Người Việt, Bolsa 2015






PHẠM QUỐC BẢO VÀ VÒNG TRÒN LẤP LÁNH YÊU THƯƠNG


Nguyễn Thị Khánh Minh


Khi đọc xong phần 1 cuốn sách Tâm Tình Một Nẻo Quê Chung* (TTMNQC) của Nhà Văn Phạm Quốc Bảo, gấp sách lại, tôi chợt chú ý đến hình bìa. Ba giọt nước rơi xuống mặt nước tạo nên những vòng tròn lan tỏa đồng tâm. Có thể liên tưởng vô số ẩn dụ của ba hạt nước. Riêng tôi, từ nội dung cuốn sách TTMNQC, tôi lại ví von nó như Trời Đất và Con Người. Và tâm điểm trên mặt nước kia, không khác chi một cái nhân, đó là Gia Đình, rồi nhịp nhàng lan ra những vòng tròn nhân quần, xã hội… Cái nhân ấy càng mạnh khỏe, gắn bó, tốt đẹp, nhân ái, thì sẽ càng tác động hiệu quả vào những mối tương quan trong xã hội - con người với con người- từ đấy phát sinh lòng tương ái đến muôn loài cùng đang sống trên trái đất này, tôi tin thế, và niềm trân trọng của tác giả về gia đình đã khiến tôi càng tin hơn, như thế.

Tôi nhớ đến câu của Mẹ Teresa, Bạn có thể làm gì để xây dựng hòa bình thế giới? Hãy về nhà và yêu thương gia đình của mình (tudiendanhngon.vn). Hãy nghĩ đến sức mạnh của nó, mỗi người yêu thương gia đình mình, biết được giá trị của nó thì sẽ biết quí tình của tha nhân, biết quí thì sẽ không sinh lòng xúc phạm. Mẹ Teresa muốn ta học được lòng nhân ái từ tình gia đình để bảo vệ thế giới này.

Trong phần 1 của tập sách, qua những e-mails trao đổi giữa cha mẹ và các con, toát ra tình thương trong những điều bày tỏ, cả trong sự dạy dỗ khuyên bảo, tôi nghiệm ra được một điều, cái gì làm cho con cái tin cậy và chịu nói chuyện với chúng ta? Đó chính là lòng yêu thương, bao dung, không mô phạm một cách cứng nhắc, tôn trọng ý kiến của chúng, và biết khen khi chúng đã làm điều gì đúng, cũng cần tính kiên nhẫn vì điều này không phải ngày một ngày hai mà có được. Một khi trẻ đã tin rồi thì chúng rất tự nhiên bày tỏ, như các con của tác giả. Có phải vì nhờ ông đã sống, nhìn ra tầm quan trọng của nền móng gia đình, trong đó yêu thương và bao dung là những viên gạch quyết định?
Và tác giả cũng xác quyết, để tạo không khí cho gia đình đúng nghĩa là một mái ấm thì, nhu cầu tâm sự là ưu tiên số một (tr.21). Suốt phần 1, qua những thư giữa ông và các con, ta thấy họ đã áp dụng được điều ấy đến mức, nếu không muốn nói là, tuyệt vời! Họ tâm sự với nhau tất cả mọi khía cạnh trong đời sống, việc làm, tình cảm riêng tư, nhân sinh quan…, điều này vô hình chung lại vẽ ra cho người đọc thấy được bức tranh khác biệt trong suy nghĩ và nếp sống của người trong nước và ở đây. Khác biệt để rồi dung hòa. Ở trang 23, tác giả đã ngỏ, “đọc vào cuốn sách mà quí vị có thể nhận ra trong này được một vài trường hợp tương tự như quí vị đã từng trải qua, hoặc quí vị nghiệm ra ở đây những gì có thể đáp ứng với tâm tình của quí vị, chia sẻ vài cảm xúc dù rất riêng tư nhỏ nhặt của quí vị… hay ít ra những trao đổi tâm tình của cuốn sách này nếu chỉ khiến cho quí vị thích thú trong giây lát một cách thanh thản thôi, thì đấy cũng là mong ước của tôi vậy.” Một ước mong rất đơn sơ giản dị khiêm cung.
Một tấm lòng nhân ái khiến tôi ngưỡng mộ, những đứa con của ông bà là do ông bà đã nhận nuôi, bảo trợ. Họ còn ở trong nước. Họ yêu quí và tin cậy phải chăng đó là do sức mạnh của lòng nhân ái của bậc cha mẹ mà họ có duyên được gặp gỡ trong đời? Từ điều đó khiến ông sảng khoái dí dỏm rằng, trong những bận rộn ấy “nhà tôi” như “thăng hoa” và người hưởng phước lộc lại chính là ông vì “happy wife, happy life” (tr.16). Trái của hoa nhân ái thật ngọt ngào và làm cuộc sống người ta có ý nghĩa đến thế.
Hãy nghe lời viết của người con, “Mỗi năm tết đến con lại nghĩ đến tuổi tác và sức khỏe của ba mẹ mà không biết làm sao hết…làm sao con giữ mãi ba mẹ lúc nào cũng tươi trẻ, minh mẫn. Con thật sự không thích tết đến… Nhạc sĩ Trần Long Ẩn có bài Mừng Tuổi Mẹ, ba mẹ hãy nghe cùng con để hiểu con thật sự “khó khăn” như thế nào!” (tr.82) Một câu mà bất cứ cha mẹ nào nghe thì cũng thấy như được nạp thêm năng lượng sống vậy.
Người đọc chắc sẽ như tôi, thích thú khi được, như thể trong một chiều thu đẹp, ngồi trước hiên nhà, ông bưng ra một chiếc hộp cũ kỹ và giở từng tờ thư của những đứa con yêu quí rồi thầm thì đọc cho bạn nghe… Rồi bạn sẽ cùng mỉm cười với những điều nhỏ nhặt nhất của cuộc sống gia đình, rồi bạn sẽ nhận ra, ôi những điều làm ta thanh thản hạnh phúc lại là những điều vô cùng đơn giản. Bạn sẽ thấy ông nở nụ cười sung sướng khi được chia sẻ cùng bạn. Và bạn sẽ chợt thấy chiếc lá thu đang rơi xuống kia nó làm bạn rung động biết bao nhiêu. Đó không phải là nhịp hỗ tương khi cùng nhau tâm sự hay sao!
Cũng từ nhu cầu tâm sự là ưu tiên số một, tác giả đã áp dụng vào tình huynh đệ, trong phần 2, những buổi nói chuyện với em trai, qua đó ông đã phác thảo được gần như toàn cảnh nếp sống văn hóa của người Việt, trong tâm trạng của người con dân ly hương, tha thiết muốn bảo tồn gìn giữ nếp nhà. Này, khách đến chơi nhà, không trà thì bánh…, miếng trầu là đầu câu chuyện, ông bà ta tiếp khách là thế, “anh sắp sẵn trà đợi em đến đây” (tr.132), nếu bạn là người em, bạn có thấy ấm áp vì câu nói ấy không? Rồi miên man nghe ông anh giải thích, trồng trà ở Việt Nam, pha trà, hồn trà… Trong thời đầy căng thẳng này, có một buổi thong dong nghe người anh cả trầm trầm kể chuyện như vậy thật như níu lại được chút thời gian. Biết được cái cần thiết “…(bởi mỗi năm chỉ có vài ngày giỗ kỵ…) để cho con cháu có dịp… nhận biết và gắn bó nhau qua mối liên hệ gia đình thân thuộc nội ngoại…, để chúng nó được tự nhiên gặp gỡ… chuyện trò, trao đổi những kinh nghiệm học hành, cởi mở tâm tình mà làm quen dần với vấn đề giao tế rộng ra ngoài xã hội…” (tr.138). Tôi cũng đồng ý đấy là nếp mà những gia đình ở đây nên để ý và ráng duy trì, một nét đẹp của văn hóa Việt giúp các con chúng ta ý thức được việc nhớ đến ông bà tổ tiên qua những ngày giỗ tết, mà trong cuộc sống tất bật đã cản trở rất nhiều những cuộc sum họp đại gia đình. Từ câu chuyện văn hóa, ông cũng đã phác thảo một cách tổng quát lịch sử Việt Nam, đặc biệt là thời huyền sử, nhắc nhở chỉ với tâm niệm Chim có tổ, người có tông, câu ông đã dùng để làm tiêu đề cho đoạn này, với tiêu chí đó đã khiến ông có một cái nhìn vị tha, “… đương nhiên đầy rẫy những sai khác… Nhưng nếu nếp văn hóa ấy luôn được bồi đắp một cách tích cực thì những sai khác sẽ tự động được điều chỉnh…” (tr.151). Tức là để bảo vệ Tổ và Tông ấy, nên chăng dùng văn hóa dân tộc, dùng nếp nhà để điều hòa những sai trái, xung đột? Nhìn rộng ra trong khung cảnh thế giới hiện nay, những nhà hòa bình đều kêu gọi giải quyết những tranh chấp trên bàn hội nghị chứ không phải nơi chiến trường. Cũng với ý như câu nói của mẹ Teresa ở trên. Hãy nhân lên lòng yêu thương gia đình để khắp nơi hứng được bóng mát của nó.

Và để sắp xếp lại kỷ cương cho một xã hội bời bời đạo đức như trong nước hiện nay, dường như ông muốn nương tựa vào Nguồn, tôi cảm thấy trong lòng những con chữ ở đây có gì đó man mác, bâng khuâng khi ông nhắc đến câu thơ của Huyền Không, “mái chùa che chở hồn dân tộc / nếp sống muôn đời của tổ tông” (tr.151). Hồn dân tộc… Tự nhiên tôi có chút băn khoăn và buồn bã…
Ở phần 1 tác giả cho người đọc ấm áp theo hương bếp lửa yêu thương của tình gia đình.
Phần 2, nơi mà “Ai đưa ta đến chốn đây…” tác giả ngồi ôn lại và thẩm định những giá trị văn hóa Việt Nam trong tâm trạng của một kẻ ly hương, vừa chọn nơi định cư mới là nhà vừa nhắc nhau giữ gìn truyền thống. Thiết nghĩ một nhắc nhở là một góp phần giữ gìn di sản văn hóa dân tộc, đó là điều mà chúng ta chí ít còn có thể tự hào. Ở đây thấy thật rõ tâm tư của tác giả, vừa khắc khoải vừa mong mỏi đến thiết tha, bảo tồn nếp sống văn hóa Việt, mà ông cho rằng đó là một “quê chung” cho bất cứ người Việt nào đang sống ở bất cứ đâu trên trái đất này. Mới hiểu được tâm ý của ông khi dùng câu thơ của Huy Cận, Tâm Tình Một Nẻo Quê Chung làm đề tựa cho cuốn sách mình.

Ở phần 3, như Nhà văn Phạm Kim đã nhận xét trong bài giới thiệu tác phẩm mới “… Phần 3 lại sôi nổi hẳn lên, dàn trải tấm lòng văn chương của một nhà văn… tác giả thể hiện tấm lòng thiết tha với bạn, với đời sống văn chương…” (Quán Văn-Người Việt Sep 30, 2015)
Vâng, vòng tròn yêu thương của Phạm Quốc Bảo còn lấp lánh vòng tay của bạn hữu. Với giọng đầy hoài niệm, ông nhắc đến những ngày tháng cũ, thời gian mà ông được bay nhảy chia sẻ với bạn hữu, vui đoàn tụ hay mất mát chia ly, đều với nhiệt huyết tuổi trẻ. Còn bây giờ… có một câu làm tôi rất cảm động, “… cái cảm nhận về chính tôi cũng mang một màu sắc hiu hắt trong tâm tưởng của chính mình…” để rồi ông đẩy đến mấy câu thơ của Tản Đà, “Chơi lâu nhớ quê về thăm nhà / Đường xa người vắng bóng chiều tà / Một rẫy lau cao làn gió chạy / Mấy cây thưa lá sắc vàng pha /…” (tr.240) Có phải tâm trạng ông nhớ về bạn, tìm về nương náu trong tình bạn cũng giống như đang trở về thăm nhà nơi quê xa dưới làn mây trắng kia? Một tình cảm thật đẹp, quyến luyến đến dằng dặc. Buồn thật xa vắng mà cũng gần gũi như một sớm mai thức dậy giật mình lau trắng trong tay… (Trịnh Công Sơn) Chả vậy mà ông đã thố lộ, “… bạn hữu đối với cá nhân tôi xưa nay vẫn được mỗi lúc mỗi trân quí hơn lên, bổ túc cho cái vòng thân mật bản thân bên cạnh gia đình của mình… đối với tôi bạn hữu là một niềm hạnh phúc vô biên…”(tr.198-199), chỉ đôi ba phút giây với bạn thân mà đã chạm được tới vô biên nhịp đập của hạnh phúc ấy rồi… Hãy đi bên cạnh và trở thành bạn của tôi (Albert Camus). Cõi vô biên ấy là cái không gian Bên Cạnh mình, nơi, có người bạn…

Và. Không phải tình cờ, tập sách này được khép lại bởi Phần Phụ Lục trong đó có bài phỏng vấn blogger Người Buôn Gió của ký giả Hà Giang. Có chủ ý của tác giả đấy. Bởi ở đây ta lại thấy ánh lấp lánh của tình phụ tử, tình gia đình.Tôi lại nói thêm một lần nữa, cái tình ấy là cái nhân của mọi tương quan trong xã hội. Cái tình ấy là ánh sáng khiến cho mọi suy nghĩ và hành động có được từ tâm. Cái tình ấy là mũi tên yêu thương chỉ đường cho ta đi để ta biết rõ nơi thanh bình kia, ta đến…
Xin đọc những lời của Người Buôn Gió, “…một hôm tôi nhìn con tôi đang nằm, nó mủm mỉm, nó cười…” (tr.269) “…tôi nghĩ bây giờ mình sinh con mình ra rồi, và xã hội nó như thế này, để cho con mình nó tồn tại, thì mình dạy cho con mình cái gì?…” (tr.270) “…Sau đó tôi nghĩ mình không phải là muốn truyền bá tư tưởng, mà chỉ muốn nhân rộng suy nghĩ của một người cha, muốn những điều tốt cho con mình, cho thế hệ sau, nhân rộng nó đi khắp nơi, thì tôi chọn cái tên Người Buôn Gió, tức là tôi mong muốn cái tình cảm của một người cha, trách nhiệm với người con, với xã hội được nhân rộng…” (tr.271)

Rõ ràng nhờ ánh sáng của tình gia đình đã đưa blogger này đi đến việc dùng ngòi bút của mình với mong muốn cải cách xã hội cho tốt đẹp hơn. Đây là một minh chứng cho nhân sinh quan của Nhà Văn Phạm Quốc Bảo qua những tâm tình của ông trong tập sách này.
Khởi đi từ đẹp đẽ của tình gia đình với yêu thương và bao dung, ông muốn gửi lời nhắn nhủ, hãy trọn vẹn từng phút giây hưởng hạnh phúc từ những điều nhỏ nhặt gần gũi trong tầm tay, rồi ra ta sẽ được sống trong tâm ac lạc do lòng Nhân Ái mang lại. Nhân Ái, như những vòng tròn trên mặt nước kia nó sẽ lan tỏa ra xa, xa mãi, nhưng vẫn đồng tâm quanh ánh lấp lánh yêu thương ấy.


Santa Ana, Ngày 9 tháng 10, 2015
Nguyễn thị Khánh Minh


* Tâm Tình Một Nẻo Quê Chung, Văn, tác phẩm mới của Nhà Văn Phạm Quốc Bảo, Người Việt Books xuất bản tại Hoa Kỳ, 2015.













Ảnh: Trần Triết


















Nhục Vinh



“Nhục vinh vinh nhục đối đầu
cho ta sống trọn trước sau một đời.
Nếu toàn mạc mặt đãi bôi
thì ai trân trọng đắp bồi mãi đây? ”

Phạm Quốc Bảo.


- Ông có phải tên Nam không?
- A..Nhìn khuôn mặt ông, tôi thấy ngờ ngợ.
- Có lẽ cũng phải trên bốn mươi năm rồi, chúng ta chưa gặp lại nhau..Hưng. Hưng ‘tốc’ đây!
- Ối! Thật không thể ngờ.
- Tôi già đến độ chẳng nhận ra được sao?
- Gớm! Làm cứ như ‘ông’ lớn hơn tôi nhiều lắm vậy. Có điều, lẽ ra chúng ta đã phải gặp lại nhau trong gần ba chục năm nay rồi chứ! Thế mà..
- Lẽ ra là vậy. Nhưng từ ngày qua đây, tôi cứ chết rí mãi ở một thị trấn nhỏ vùng đông- bắc. Xin lỗi trước: Quả thật, thâm tâm tôi cũng không muốn gặp mặt bất cứ ai là bạn cũ trước Bảy Lăm.
- Nhưng còn bây giờ?
- Về hưu rồi. Con cháu thì vì công ăn việc làm và tâm tình của chúng mà tứ tán khắp nơi. Vợ tôi nhất định đòi về ở dưới Nam Cali này để được gần gũi anh chị em, họ hàng...Anh có gì bận bịu ngay bây giờ không?
- Chẳng có gì gấp cả.
- Thì mình vào cái quán kia, nhâm nhi với nhau một ly cà phê?... Sao, bạn sang năm nào?
- Sau Bẩy Lăm tôi ở tù trên năm năm, ốm xuýt chết một năm rưỡi họ mới thả ra. Rồi gặp may, chỉ vài tháng sau là vượt biển thoát. Sang đây và định cư tại vùng này luôn từ giữa 81 đến giờ.
- Việc làm ăn vẫn ổn chứ?
- Đại khái là sống được: Về hưu trên một năm nay rồi nhưng may mắn là hiện vẫn còn được làm bốn tiếng mỗi ngày, để thêm chút ít chi dụng hằng tháng, và lại có cơ hội hoạt động đều đặn hằng ngày, cho thể xác đỡ lười biếng mà tâm trí bớt phải bấn bíu vẩn vơ.
- Tôi cũng vậy: Làm việc thiện nguyện, tuần mấy ngày và mỗi ngày vài giờ.
- Việc thiện nguyện của cộng đồng à?
- Không. Thiện nguyện chuyên môn cho hãng của Mỹ…Mà này, anh vừa nói đến cộng đồng. ..Nhưng mới gặp lại nhau, tôi đã vội hỏi han vào chi tiết thì hơi kỳ. Tuy nhiên, vì đang nôn nóng trong lòng và cũng cậy vào tình thân cũ từ thời cuối 1950 đầu 1960, tôi có thắc mắc điểm này. Nếu có gì khiến cho anh không vừa lòng lắm, xin bỏ qua cho.
- Được rồi. Chúng mình đã vốn quý trọng cái thuở còn là học trò với nhau. Hơn nữa, về già thì tình bằng hữu tôi lại càng thấy cần thiết hơn bao giờ.
- Thêm nữa: anh sống ngay tại đây lâu rồi thì chắc thông suốt hơn tôi nhiều. Điều tôi muốn hiểu rằng khi đề cập đến bất cứ ai là người có một chút tiếng tăm, trước đây hay hiện giờ, người ta hầu hết đều tỏ ra chỉ muốn bươi móc để chê bai, để bêu rếu. Tại sao vậy? 
- Mới chân ướt chân ráo sang bên miền Tây Nam này tái định cư, gặp phải hiện tượng này, anh chắc thấy hơi ngán ngẩm chứ gì?
- E ngại thì đúng hơn.
- Đã từ lâu, bạn hữu sống ở những tiểu bang xa về đây chơi, họ vẫn thường bầy tỏ với tôi cái cảm tưởng đại khái như ‘ông’ cả. Xem ra đúng là có nhiều tiêu cực hơn ở bề mặt sinh hoạt cộng đồng này nói chung. Tuy nhiên, nhân dịp anh hỏi thì tôi cũng muốn trình bầy cho có lớp lang để chúng ta dễ thông hiểu một cách hợp lý và chấp nhận được. Như vầy nhá. Đầu tiên, đây là xứ tự do, chính chúng ta đây ai cũng là những người đều đang vừa sống lại vừa phải học hỏi để tôn trọng và thực thi tự do - dân chủ - nhân quyền ngay trong đời sống hằng ngày của chính mình. Nếu đồng ý về cái căn bản này, chúng ta đương nhiên phải chấp nhận ý kiến của bất cứ ai khác, cho dù những ý kiến ấy trái ngược hẳn lại với chủ kiến của mình.
- Nhưng đối với những ý kiến mà nội dung chỉ có tính cách mạ lỵ thì sao?
- Theo tôi, đại khái có mấy trường hợp thường gặp về những ý kiến có tính cách bêu rếu: Một là họ vốn mang tâm trạng uất ức dồn nén từ quãng đời quá khứ của từng cá nhân một mà nay gặp dịp là họ nói năng vung vãi, cho hả. Hai là xuất phát từ tâm lý muốn ‘làm nổi’, họ phát biểu lung tung nên lộ rõ căn bản thiếu hiểu biết một cách chín chắn của chính cá nhân họ. Ba là những người‘thừa nước đục thả câu’, họ nêu ý kiến vì sẵn có ẩn ý hay bị chi phối bởi một mục đích riêng nào đó, chỉ nhằm gây ‘hoả mù’ dư luận. Khi phân biệt và xếp loại được như vậy là chúng ta dễ dàng bình tĩnh để có nhận định chính xác được ngay(1).
- Anh dẫn giải có lý đó. Nhưng rõ rệt là trong một năm sang đây sinh sống, tôi thấy số lượng ý kiến có tính cách bêu rếu vẫn trội hơn hẳn.
- Đúng. Và như thế ít nhất là phía có ý kiến đúng đắn bị ‘lép vế’, không đủ khả năng tạo thế cân bằng cho dư luận, nói chung. Có nghĩa là cái mặt tiêu cực của cộng đồng chúng ta còn nặng nề quá. Có nghĩa là còn quá nhiều những mặc cảm đè nặng trong tâm tư của đa số chúng ta mà chưa giải tỏa được bao nhiêu, để làm nổi bật lên cái viễn kiến đúng đắn, cái hành trình gồm nhiều giai đoạn trong cuộc đấu tranh cho tự do-dân chủ và nhân quyền của chúng ta, của dân tộc Việt ta ...
- Ồ. Không ngờ mới được gặp lại nhau mà anh đã khơi đúng được manh mối khúc mắc này. Hẳn là anh đã có suy nghĩ kỹ từ trước rồi.
- Ai cũng có thể suy nghĩ chín chắn được cả, anh ạ. Nhưng tôi cho rằng vấn đề ở đây là suy nghĩ theo chiều hướng nào, với mục đích gì.
- Phải. Thật tình tôi thú vị và muốn được gặp anh lại, càng sớm càng tốt. Vì có một số ấm ức mà cả mấy chục năm nay tôi tự mình chưa thể giải toả nổi.
- Chẳng gặp được nhau thì thôi, chứ đã gặp được rồi thì phải gặp dài dài, không thì trễ mất. Chúng ta đang về già cả rồi, ghi nhớ gì thì cứ cùn nhụt đi mà mau quên lắm!
- Tuần sau, được không?
- Sao không! Trao đổi số phôn đi, rồi thủng thẳng hẹn lại cho chắc ăn.

*

- Quán này tương đối sạch sẽ, yên tĩnh. Hai đứa mình ăn sáng với nhau, và thong thả chuyện trò.
- Này, tôi hỏi thật nhá: Sang được đây cả trên ba mươi lăm năm nay rồi mà sao cậu lại trốn biệt luôn vậy? Thỉnh thoảng gặp bạn cũ thời trung học, ai cũng bặt tin của cậu cả. Cứ tưởng là...
- Tôi đã mất hút trên cõi đời này rồi. Phải không?
- Thì đại khái bằng hữu đều nghĩ vậy.
- Anh cứ thử hồi tưởng lại xem: Trưa ba mươi tháng Tư, đang lênh đênh trên biển Đông mênh mông, nghe thấy lệnh đầu hàng ở SàiGòn loan qua làn sóng vang vang, ai nấy đều lặng người đi. Thế rồi tầu cập vào Subic Bay, hải cảng Mỹ thuê dài hạn của Phi Luật Tân, hát bài Quốc ca lần cuối trong nước mắt tức tưởi để hạ lá cờ vàng ba sọc đỏ xuống, mới được bước vào đất đảo của người ta. Cái tâm trạng tủi nhục ấy đã hun hút dính theo tôi từ đó cho đến giờ, không hề nguôi ngoai (2).
- Và cứ thế, cậu sống lẩn khuất mãi trong cái xã hội Mỹ mênh mông này?
- Rồi đến nay, vì hoàn cảnh gia đình, tôi mới bất đắc dĩ dọn về để cư ngụ trong khu vực dân cư tập trung nhất của cộng đồng Mỹ gốc Việt, là đây.
- Còn tôi, tôi ở lại đi tù thì có khác gì cậu đâu. Đó là thời gian một hai năm đầu lặn ngụp trong mặc cảm ô nhục, từ chuyện đói rét triền miên ám ảnh đến những hành hạ của tâm trí hằng ngày...Nhưng may mắn là sau đó thì chính con người của mình nó dần dần tỉnh trí lại, và thực tế cuộc sống tù đầy đã đánh thức nhận định của mình. Tôi mới vỡ nghĩa ra rằng cá nhân mình, gia đình mình và ngoài xã hội suốt hai mươi năm Miền Nam Việt Nam của mình cái gì cũng đều đã phát triển, mặc dù phát triển một cách rất ư là ỳ ạch nhưng rõ rệt là chúng ta đã phát triển một cách tự do hơn hẳn họ, phát triển thành một căn bản văn hóa vững chắc. Mình thua họ chỉ vì ở cái thế chiến lược quốc tế nó xếp đặt với nhau như vậy, nó vượt khỏi sức lực đề kháng của dân miền Nam lúc đó; nhưng xét vào sâu những khiếm khuyết chi tiết hơn nữa thì các chính phủ ở miền Nam V.N. đã không giúp dân chúng hiểu rõ được thực chất của Cộng sản và nhất là bản chất của con người miền Nam mình nói chung xưa nay vốn sẵn không thể dối gạt và tàn nhẫn vô nhân như họ được. Ngoài ra, mình còn thấu hiểu thêm được rằng dân Miền Nam sau 75 mới khốn khó, chứ trên hai muơi năm trước đó dân chúng Miền Bắc đã phải khốn đốn triền miên hơn thế nhiều rồi, trong một cái xã hội bị bưng bít mà người dân thì luôn quằn quại chìm đắm vào bầu môi sinh ô nhiễm đến cùng cực.. Và nếu cái xã hội cứ đang vận hành như bây giờ ở trong nước thì cả dân tộc Việt Nam ta ắt phải chịu khốn nạn mãi, cho đến khi mất luôn đi cái đặc chất của nòi giống Việt!
- Cho nên người ta mới tìm đủ mọi cách rời khỏi nước?
- Đúng.
- Thế mà ra đuợc ngoài này rồi, cộng đồng tị nạn người Việt ta trên ba mươi lăm năm nay đầu óc chả khá gì hơn xưa.
- Đầu óc muốn khá ra thì cũng phải nỗ lực tích cực dài hạn để mà học hỏi, rồi cũng phải tự mình dám can đảm biến đổi lấy mình, theo chiều hướng muốn mình phải đoàng hoàng hơn, muốn mình được hiểu biết đúng đắn hơn, trong bối cảnh tiến bộ chung của thế giới ngoài này chứ.
- Với mục tiêu như thế thì tôi thấy từ mốc điểm Ba mươi tháng Tư 75 tới giờ là gần bốn mươi năm rồi, đầu óc chúng ta chả tiến bộ được bao nhiêu.
- Rời khỏi đất nước với hai bàn tay trắng và mọi điều kiện sống trong hoàn cảnh tái định cư, chúng ta đều phải bắt đầu lại từ số không. Như vậy theo anh, ta phải làm gì trước tiên?
- Dĩ nhiên là phải đâm đầu vào kiếm sống trước đã!
- Hẳn vậy. Và cho đến ngày nay, cơm ăn áo mặc đã thư thả rồi, vấn đề cư trú tạm ổn rồi thì.. thì làm gì nữa?
- Chắc anh muốn nói ‘phú chi’ rồi mới đến ‘giáo chi’?
- Xin lỗi bạn, tôi thường suy xét từ thực tế: Đói rã họng thì việc cụ thể trước hết là phải kiếm được gì bỏ vào bụng cái đã. Sau đó rồi mới thong thả nhìn ngó chung quanh, học hỏi và suy nghĩ, tự xét.Theo tôi dự liệu, muốn có một đời sống vật chất tạm ổn thì đòi hỏi nỗ lực và thời hạn nhiều lắm là một thập niên, nhưng còn muốn đổi mới được cả tư tưởng và quan niệm cho phù hợp với bước tiến của xã hội mới thì việc đầu tiên là phải dần dần tự gột rửa những mặc cảm của thân phận mình trước đã rồi sau đó là tái lập viễn kiến, hoạch định đường hướng cho các thế hệ mai sau... Như vậy tối thiểu cần tới gấp nhiều lần hơn thế nữa về mức kiên trì và thời gian. Anh nghĩ sao?
- Về vận hành đổi mới thì vật chất bao giờ cũng là mở đầu và dễ biến chuyển hơn nhiều so với những gì trừu tượng, thuộc về lãnh vực tư tưởng, ý niệm và quan niệm.
- Và thực tế vận hành này cũng là phù hợp với nhu cầu mỗi lúc một rõ ra, của đời sống chúng ta ở ngoài này, trong gần bốn mươi năm chúng ta thành lập cộng đồng gốc Việt ở đây. Rồi trên dự trình tiến bộ thì chỉ khi có sự hiện diện lớn mạnh của những cộng đồng gốc Việt ngoài nước để hỗ trợ và tác động hữu hiệu thì dân Việt trong nước lúc ấy mới vững lòng hừng chí mà trực tiếp vùng lên, đánh dấu một vận hội mới, tạo cơ hội và thúc đẩy tòan thể chúng ta tích cực tìm ra được con đường trường tồn mới cho dân tộc trong tương lai.
- Nói như vậy tức là anh mặc nhiên đồng ý chấp nhận cứ để cái trò chỉ thích mạ lỵ người khác như đang diễn ra ở cộng đồng này, hiện nay?
- Theo tôi nghĩ, cậu nên phân biệt cho rõ: Đấy là mấy hiện tượng thiếu tự trọng, thiếu hiểu biết, chỉ đưa đến tác dụng bêu rếu cộng đồng. Nhưng mấy hiện tượng ấy lại rất cần thể hiện ra cho hết đi, cho hả hơi đi. Còn bên cạnh đó là những hoạt động tích cực xây dựng của cộng đồng.
- Chứng cớ ở đâu mà anh có thể khẳng quyết là vậy?
- Cộng đồng nào mà chả bao gồm cả những yếu tố tích cực lẫn tiêu cực. Có điều dân cư của cộng đồng ấy có biết tự tìm cách phát triển những yếu tố tích cực (chẳng hạn như đầu óc cởi mở, khoan dung, cầu tiến), đồng thời cũng phải nỗ lực làm thui chột đi những yếu tố tiêu cực (chẳng hạn như thái độ thiếu hiểu biết, quan niệm cực đoan quá khích) của cộng đồng mình, hay không. Và cụ thể nhất là cậu có biết được cộng đồng di dân nào ở lịch sử xã hội Mỹ này mà trên ba mươi lăm năm lại xây dựng và phát triển mọi mặt được nhanh chóng như cộng đồng gốc Việt mình hiện nay chăng?
- Ồ...Về điểm này, trong nhất thời tôi phải đồng ý với anh. 
- Cộng đồng nào mà chẳng thường xuyên xẩy ra những lộn xộn, trở ngại,. Anh chỉ ra cho tôi đi! Vấn đề là chúng ta có dám thẳng thắn vạch trần ra được những sai sót ấy, một cách chi tiết ngọn nguồn, để mà tự tìm được phương cách điều chỉnh và sửa chữa. Hay là chúng ta chỉ chủ tâm kể lể để chê trách dè bỉu, thậm chí để hạ nhục người khác mà thôi?
- Rồi. Bây giờ lấy sự kiện cụ thể, như lần bầu cử bán kỳ(3), thứ Ba, ngày mùng 2 tháng 11 năm nay (2010) đây, cá nhân anh nghĩ sao?
- Chắc cậu muốn nói rằng có nhiều ứng viên gốc Việt, nhiều hẳn hơn trước đây, nhưng số lượng đắc cử lại quá khiêm nhường? 
- Là vậy.
- Nhận xét tổng quát, và trong nhất thời, của cá nhân tôi thì đầu tiên là chưa bao giờ lại nhiều ứng viên trẻ, hầu hết thuộc thế hệ một rưỡi và hai của cộng đồng gốc Việt, đến như vậy. Tức là nhân cuộc bầu cử bán kỳ năm nay, hai thế hệ này rõ rệt là bầy tỏ được sự tự tin và muốn chứng tỏ sức mạnh của họ trên bước đường xông xáo vào sinh hoạt chính trị chính dòng của xã hội Mỹ. Hai nữa, mặc dù tỷ lệ đi bầu của dân cư gốc Việt vẫn còn khiêm nhường nhưng hầu hết cử tri gốc Việt đã thêm nhiều người có tư thế độc lập, tỏ ra khá sáng suốt và nghiêm chỉnh khi quyết định bằng lá phiếu của họ. Đây là hai điểm đáng mừng.
- Nhưng sao đa số lại thất cử?(4)
- Theo tôi, thất cử là do sự chuẩn bị chưa đúng mức cần và đủ của họ về tư thế, về bề dày hoạt động cụ thể hữu hiệu trong quá khứ cho nhu cầu của dân cư ở địa hạt bầu cử. Họ còn yếu kém về sự hiểu biết chính xác các thành phần cử tri của họ, về tính chuyên nghiệp hoạt động chính trị trong xã hội Mỹ; họ thủ đắc những trò ‘ma giáo’ nhiều hơn là đường lối tranh cử một cách đường hoàng mà khôn ngoan. Nói chung, chính đa số chúng ta còn chưa cởi mở đủ, để thi hành đúng, về nếp sinh hoạt dân chủ của xã hội này.
- Cộng đồng ta thất bại rõ...
- Xin phép. Cách phát biểu kiểu chọc giận của cậu vừa không đưa ra những luận cứ rõ rệt mà lại vừa khiến cho người nghe dễ hiểu lầm là cậu chỉ muốn khơi khơi chỉ trích một cách bá vơ. Tôi phải nói thẳng như vậy, vì tôi biết cậu không để bụng giận gì tôi.
- Đúng rồi. Nhưng ý của cậu thì sao?
- Tôi cho rằng các cụ ta xưa nay nói rất đúng, trong trường hợp này: Thất bại là mẹ thành công. Cộng đồng của chúng ta đang trong giai đoạn tập dượt để thực sự tham gia vào dòng chính. Có nghĩa là yếu kém của các ứng viên lẫn của cử tri gốc Việt lộ ra ở lần bầu cử bán kỳ này nếu đuợc xem như những bài học, thì chúng ta phải chịu khó phân tích để biết thật rõ đến ngọn nguồn những thiếu sót của chính mình mà tìm cách điều chỉnh và chuẩn bị kỹ lưỡng hơn nữa. Nếu đuợc như vậy, tôi nghĩ trong mùa bầu cử chính vào hai năm nữa, kết quả sẽ phải khá hơn.

*

- Cảm ơn sự thông cảm mà bạn kiên nhẫn để nói chuyện với tôi. Nhưng có lẽ bạn cũng thấy rằng cách phát biểu của tôi có chiều hướng như muốn dè bỉu người khác, phải không?
- Có vẻ như vậy.
- Nhờ những lời dẫn giải chân thành vừa qua của bạn, tôi tự xét thấy là bản thân tôi xưa nay quen ôm nặng một nỗi ấm ức nên khi đưa ra những nhận xét đều ra vẻ gay gắt mà ‘vơ đũa cả nắm’. Bạn có thể giúp tôi bằng cách thẳng thắn phân tích thêm vào sâu hơn chút nữa chăng?
- Tôi cho là cậu thực sự còn bị ám ảnh quá nặng nề bởi cái hận ô nhục từ sự kiện Ba Mươi Tháng Tư Bẩy Lăm, khi cùng với những người đồng cảnh ngộ hát lên bản Quốc Ca trong lúc hạ xuống lá cờ vàng ba sọc đỏ trên chiếc tầu di tản năm xưa.
- Ờ..
- Thời điểm Ba Mươi Tháng Tư, tất cả chúng ta đều mang mối hận ô nhục đó cả. Có điều, mỗi hoàn cảnh mỗi khác.
- Thế mà xem ra bạn đã dẹp bỏ được rồi đấy?
- Thành thật mà nói, nếu thực sự được như cậu vừa nhận xét thì tôi hết sức mừng... Có điều, tôi nhìn lại lịch sử dân tộc mình thì thấy rằng trên mười thế kỷ dân tộc ta bị người phương Bắc liên tiếp đô hộ, thế mà sau đó với các nhà Ngô-Đinh-Tiền Lê -Hậu Lý- Trần...,các triều đại này đã xác lập được nền tự chủ kéo dài cho đến gần mười thế kỷ kế tiếp, là nhờ ở đâu? Cậu có nghĩ ra không ? Còn theo tôi thì nhờ ở rất nhiều yếu tố quật cường của dân Việt chúng ta từ thuở ấy.
Chẳng hạn như suốt thời kỳ ấy, đã có liên tục không biết bao nhiêu những cuộc vùng dậy đòi độc lập của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Phùng Hưng Bố Cái Đại Vương, Lý Bôn, Lý Phật Tử, Triệu Quang Phục Dạ Trạch Vương, Mai Hắc Đế, Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ.(5) Những cuộc vùng dậy này là một diễn trình tập dượt, biết bao nhiêu tiền nhân đã phải nhảy vào chỗ chết để mong tìm ra đường sống còn, để nỗ lực vượt thắng cái nỗi nhục bị đô hộ mà hướng tới niềm vinh dự khi thành tựu được nền độc lập tự chủ của dân tộc.
Chẳng hạn như nước Việt ta thuở ấy hiện diện song song với chữ viết và tiếng nói của người Trung Hoa bó buộc dân ta phải sử dụng, trong khi tiếng Việt vẫn còn được dân ta ăn nói thường ngày và phổ cập rộng khắp trong dân gian bằng những ca dao-tục ngữ và truyện cổ tích, bằng mọi hình thái của văn chương truyền khẩu như hát ru, hát rong, hát xẩm, các điệu hò, quan họ, ca kịch...Vì thế đến thời độc lập sau này, nhờ vào cái vốn tiếng Việt sẵn có ấy, thì cái nếp quật cường kia mới đủ sức thúc đẩy giới trí thức chịu khó sáng tác ra chữ Nôm (hình thành từ gốc là chữ viết Trung Hoa). Rồi khi mấy vị linh mục ngoại quốc đến truyền đạo Ky Tô giáo họ đã dựa vào mẫu tự La Tinh mà phiên âm ra tiếng Việt để viết thành kinh thánh Việt ngữ đầu tiên cho lớp giáo dân tân tòng đọc, từ độ thế kỷ thứ 15, 16. Cái sáng tác mới mẻ này của mấy ông cố đạo đã phù hợp với chiều hướng phát triển chung của dân Việt ta hồi ấy. Chính nhờ thế mà chữ Việt viết theo mẫu tự La tinh ấy được dân ta tự động phổ biến mà cứ thế loan truyền, cứ thế mà biến đổi, điều chỉnh và phát triển mãi: Khi người Pháp sang xâm chiếm nước ta vào giữa thế kỷ 19, họ thiết lập nền tảng đô hộ mới, thì dĩ nhiên là họ đã đưa ra rất nhiều những điều khắt khe trù dập; nhưng trong đó lại có cả sự kiện bãi bỏ các kỳ thi Nho học và chính thức hoá cho việc sử dụng chữ Việt viết theo mẫu tự La tinh ở khắp nước, vào cuối thế kỷ19 đầu thế kỷ 20. Loại chữ viết này lúc ấy mới có dịp thuận tiện (thuận tiện là do chính dân ta muốn sử dụng) mà trở thành chữ Quốc ngữ áp dụng rộng khắp và liên tục phát triển cho đến tận bây giờ. Theo tôi nhận xét: Ông cha chúng ta thuở ấy nếu đầu óc không sáng suốt mà cứ bo bo quá khích thì đã chắc gì chúng ta ngày nay có thể sử dụng phổ biến được lọai chữ Quốc ngữ viết và đọc theo mẫu tự La tinh!
Tóm lại, như trên là những điểm chính yếu và căn bản nhất mà tôi có thể thổ lộ ra đây với cậu. Và lẽ dĩ nhiên còn nhiều điều khác nữa, nhưng trong nhất thời chúng ta chưa soi rọi đủ để mà thấy hết được... Tuy nhiên, tôi mong cậu hiểu rằng muốn lấy lại được độc lập khi hội đủ điều kiện thì trên một ngàn năm bị Bắc thuộc, tổ tiên chúng ta đã phải kiên trì nuôi dưỡng mầm tự chủ và luôn phát triển cho bằng được, bằng đủ mọi cách, để liên tục tạo thành cái nếp sống văn hoá riêng biệt của dân tộc. Nghĩa là ông cha tổ tiên ta đã nghiền ngẫm, nghiền nát nỗi nhục hận bị đô hộ cho nó tiêu hoá đi trong nỗ lực xây dựng cái nền móng tự chủ, nghĩa là chính các ngài đã chủ động vùng đứng dậy bao nhiêu lần để kiên trì tìm đến vinh quang khi giành giật lại được hình thức độc lập dân tộc. Nghĩa là nhờ vào cái nhục ngụp lặn mãi cả trên một nghìn năm Bắc thuộc đó, tổ tiên chúng ta mới kiếm ra đuợc cái vinh độc lập cho dân tộc. Theo tôi, như vậy là các cụ đã vốn sẵn tự chủ, không để nỗi nhục dìm mình xuống đất đen, mà biết biến cái nhục thành niềm vinh quang cho dân tộc được trường tồn một cách xứng đáng. Tôi cho,Việt tức là vượt. Ít nhất lịch sử dân tộc Việt ta đã thủ đắc được tính chất cốt lõi ấy.

*

- Thế nhưng bây giờ?
- Bây giờ, trong bước tiến bộ chung của nhân loại, dân tộc ta với biến cố Tháng Tư 1975 dù muốn hay không thì cũng đã bắt buộc phải bước sang một thế sống còn mới. Nhờ vào những điều kiện mới được sống ở ngoài này, 'hít thở' trong một môi sinh cởi mở tự do nhất của loài người hiện nay, nên chúng ta có thể dễ khách quan “ôn cố” để “tri tân” hơn.
- Chẳng hạn?
- Chẳng hạn chúng ta nhìn lại hoàn cảnh của thế giới vào những thập niên đầu thế kỷ 20, cuộc cọ sát của luồng tư tưởng thăng tiến, và nhờ mức tiến bộ của kinh tế- khoa học- kỹ thuật áp dụng vào xã hội loài người mà hai cuộc thế chiến I và II đã loại bỏ đi cái chủ trương 'duy dân tộc' (đứng đầu là Đức và Nhật), và đồng thời lại đẻ ra hai khối tư bản-cộng sản đua nhau thi thố để phân thắng bại. Đến đầu thập niên 1990, phe tư bản tồn tại được, nhờ vào cốt lõi vấn đề là luôn luôn biết điều chỉnh việc thực thi ý niệm tự do-dân chủ thăng tiến một cách cụ thể vào hoàn cảnh xã hội.
- Còn hoàn cảnh đất nước và dân tộc mình?
- Vị trí địa dư của nước Việt ta từ xưa đến nay vẫn là nơi chốn tranh chấp ảnh hưởng của quốc tế: Lãnh địa lẫn dân số thì nhỏ bé ít oi nên suốt dòng lịch sử cứ chiến tranh liên miên, dứt ngoại xâm lại nội chiến, hiếm khi được an bình để tập luyện quen thành cái nếp kiến thiết xây dựng, tự lực tự cường. Đấy, cứ xem như từ đầu thế kỷ 20 trở đi, hết là thuộc địa của Pháp thì lại bị du vào cuộc nội chiến vì chủ thuyết ngoại lai, cho đến bây giờ cái đuôi rơi rớt lại của ảo tưởng chủ nghĩa vẫn còn phá ruỗng đi cả cái xã hội trong nước...Trong hoàn cảnh hiện nay của dân tộc, chúng ta lại bắt buộc phải nỗ lực tìm cho ra đựơc những khả năng sống còn mới cho dòng giống Việt. Chúng ta có nối gót tổ tiên, bằng cách thực hiện được nội dung ý nghĩa ‘vượt thoát’ hay không, là vấn đề của chung chúng ta hiện nay.- Mỗi người trong chúng ta, mỗi tập thể, mỗi cộng đồng gốcViệt đều có thể nhìn ra và thủ đắc được những khả năng mới ấy..nhưng mở đầu vẫn phải là tự xét, tự nhận rõ ra chính mình đã.
- Bạn nói mông lung quá, làm tôi hoang mang, mất định hướng...
- Xin lỗi. Tôi chia xẻ với cậu, chẳng qua chỉ có thể đề cập được một đôi điều ‘nhìn ngắm’ của riêng mình.
- Bạn nhìn thấy những gì?
- Thực ra tôi nhìn thấy khá nhiều điều. Nhưng vẫn còn rất nhiều chỗ cần phải được từ tốn suy nghĩ sâu rộng để bổ túc một cách lớp lang lại.
- Bạn cứ nói ra đi. Chắc chắn là rất có ích, mà ít nhất là đủ khiến cho tôi lên tinh thần trước đã.
- Tôi chỉ muốn thổ lộ: Sau vài năm đầu tâm tư còn bối rối ở trong tù, tôi dần dần tỉnh trí và nhận rõ ra rằng về mọi phương diện, từ căn bản học thức- hiểu biết lẫn nếp sinh hoạt- làm việc thì bọn tù miền Nam của mình đều hơn xa hẳn đội ngũ những người cai quản mình. Nghĩa là tóm lại họ đúng lẽ ra nên học hỏi ở chúng ta, hơn là chúng ta phải học hỏi ở họ. Cái thực tế nó trái khoáy vậy đấy! Thế mà trong hòan cảnh lúc ấy, họ đã ‘cả vú lấp miệng em’ áp đặt những cái nếp sống đã rẫy đầy sai lạc từ căn bản của họ cho bọn tù chúng tôi. Nói một cách rõ ràng: họ và mình là hai xã hội sống và theo đuổi hai hệ thống giá trị khác biệt hẳn nhau. Thế mà họ cứ đinh ninh rằng họ cần phải ‘hướng dẫn’và ‘dạy dỗ’ chúng tôi rập theo một khuôn mẫu ‘tuyệt đối hoàn thiện’ mà họ đang nhắm mắt làm theo. Họ chẳng hiểu là cái khuôn mẫu tuyệt đối hoàn thiện đó chỉ có trong ảo tưởng, mà thực chất họ chỉ là tự dối trá và lừa đảo người khác để tạo thành một cái nếp phổ biến trong xã hội đã bị họ độc đoán cai trị: Hằng ngày chứng minh hiển hiện ra trước mắt là cả họ (lớp người cai tù) lẫn bọn mình ở tù đều đói khổ như nhau, đều quay quắt như nhau, trong cái hũ nút, bị chơi trò bánh vẽ! Nghĩa là cả hai cùng bị lừa như nhau, cả hai đều đáng được cứu vớt như nhau!..Nhưng mà ai lại có khả năng cứu vớt được chúng ta? Xin thưa: Lịch sử dân tộc, nhất là sử Việt cận và hiện đại đã rành rành cho thấy rõ rằng những người có thể cứu vớt ấy không thể là ai khác, ngoài chính chúng ta. Chúng ta đây chính là anh, tôi và cả họ nữa! Chính chúng ta có biết phải tự cứu xét lại mình chưa? Để chính chúng ta phải học hỏi và thực thi những gì cần và đủ mà tự chủ, để mà tự cứu lấy mình sống còn!
- Kỳ lạ nhỉ...
- Thế đấy! Và cứ thế, tôi nhẩn nha cứu xét lại: Xã hội miền Nam dưới chế độ VNCH trước 75 đương nhiên là có quá nhiều thứ sai lạc của một xã hội đang nỗ lực gột rửa những nếp sống phong kiến- quân chủ, nhưng ngược lại,trong khi phải chịu đựng chống đỡ một cuộc chiến tự vệ mà còn biết gia sức xây dựng cho được cái căn bản của một xã hội bước đầu chập chững theo chiều hướng dân chủ-tự do, với bốn hệ thống phát triển sao cho phổ cập khắp miền Nam Việt Nam thời bấy giờ: Giáo dục công tư phổ thông từ cấp vườn trẻ mẫu giáo lên đến đại học; y tế quốc dân từ y- nha- dược tá lên tới y-nha-dược sĩ các cấp, từ thị thành về tới nông thôn; quản trị hành chánh từ thư ký lên đến cấp trưởng các ngành sinh hoạt trong xã hội, từ quản trị phường khóm lên đến tỉnh thành, được huấn luyện và thi hành đâu vào đó; và cuối cùng là cái nếp đạo đức sống và giao tế của người dân dù cư trú ở bất cứ một nơi chốn nào, thành thị hay nông thôn, miền cao hay miền xuôi lẫn đảo và lãnh hải, trong đất nước miền Nam Việt Nam. 
Trong khi đó ở miền Bắc, cũng hai mươi năm ấy, họ đã thiết lập một hệ thống xã hội khác hẳn, từ độc tài đảng trị với cả một hệ thống tuyên truyền bưng bít: Kháng chiến chống ngoại xâm Mỹ-Ngụy, khiến dân chúng cứ thế mà sống khốn cùng trong cái lý tưởng ảo ấy mà phổ cập cái tâm lý hai mặt tồn tại lừa đảo lẫn nhau một cách bệnh hoạn thành nếp, thành một xã hội con người sống trong đó chỉ như con vật phản xạ vô điều kiện. Hơn ai hết, họ cần phải có đủ điều kiện và cơ may để tự mình thức tỉnh mà tự cứu lấy mình.
- Cậu nghĩ vậy sao?
- Thì thế! Ra sống ở ngoài này gần ba mươi năm nay, tôi rút ra được kinh nghiệm là thế hệ di tản thứ nhất của nguời gốc Việt đã nỗ lực xây dựng một cộng đồng lớn mạnh đến như ngày nay thì đầu tiên, chúng ta phải biết hãnh diện vào những thành quả mà chúng ta đã đạt được.Ngay cả đến cái nỗ lực cứu trợ thân nhân và đồng bào khốn khó trong nước suốt ba mươi lăm năm nay đều phát xuất từ tính chất nhân đạo mà chúng ta lâu nay lại vẫn thường ‘gấu ó’ với nhau nhưng lại rõ rệt không ai dám hành động một cách dứt khoát một chiều được. Bởi chúng ta luôn sống trong tình người..

Đồng thời phải công nhận là các cộng đồng gốc Việt chúng ta đã và đang là sức sống bổ túc cho cộng đồng Việt trong nước, ở những khả năng sống còn mới của dân tộc trong tương lai, như về kiến thức hiểu biết luôn được cập nhật, cũng như về nếp sống tôn trọng những nguyên tắc tự do-dân chủ-nhân quyền, những tiêu chuẩn đạo đức sống cởi mở ra để phù hợp với bước tiến bộ chung của loài người hiện nay. 
- Nhưng sao vẫn còn tồn đọng quá nhiều trở ngại thế?
- Đó là cậu muốn đề cập tới phương diện tiêu cực, mà vì tâm tư vẫn còn mắc dính với cái mối nhục hận xưa cũ kia khiến chúng ta chưa thực sự hoàn toàn cởi mở được chính con người của mình để thênh thang nhẹ nhõm tiến về phía trước. 
- Và kết quả cuộc bầu cử...
- Trên mười năm nay, mỗi lúc thế hệ một rưỡi và hai của người Việt tỵ nạn chúng ta đã và đang dần dần thay thế chúng ta ở mọi ngành sinh hoạt của cộng đồng. Nhất là nỗ lực gia nhập vào chính dòng của xã hội này, mà đồng thời họ cũng không quên tìm hiểu sâu xa về di sản dân tộc Việt, về những sự kiện lịch sử cận đại là nguyên nhân khiến họ hiện diện đời sống ở tại đây. Cho nên cái thành tựu phần nào giới hạn của kết quả bầu cử bán kỳ vừa qua chỉ là bề mặt thể hiện sự thiếu chuẩn bị cần và đủ của họ. Chính họ cần phải phân tích cho kỹ để mà điều chỉnh kịp thời cho kỳ bầu cử chính vào hai năm sắp tới đây.
- Còn trách nhiệm của lớp già chúng ta vẫn có chứ?
- Sao không! Tuy nhiên lớp già chúng ta cũng đừng khư khư cái kiểu cứ đòi trực tiếp tiếp tục ‘chèo chống’ dùm họ. Họ thực sự chẳng cần mình lắm đâu! Vả chăng phải để họ có làm có hưởng thì có chịu, giá trị điều chỉnh của chính họ mới thoả đáng. Bây giờ là thời thế của họ mà!
- Mấy anh già sáu bẩy mươi tuổi trở lên như tụi mình thực sự nên về hưu cả sao?
- Ấy. Lớp già mình thì cứ mở miệng ra là bảo tôi hưu trí rồi. Thế mà thực tế cho thấy, chính tâm lý già lại hay sốt nóng hơn bất cứ lớp tuổi nào khác, cứ thích nhẩy xổ vào việc của người ta đang chăm chú làm, rồi bô bô lên rằng hãy làm gâm gấp lên chứ, đến khi không còn tôi nữa thì lấy ai ra đây để mà ‘chỉ bảo’ cho mấy anh mấy chị! Gớm. Mấy người già vẫn không thực sự biết và sống như đúng với cái tuổi tác của mình, cứ cố chơi trò ‘độc đoán’, khó mà cởi bỏ đi được lắm.
- Thế ta chọn thái độ đứng ngoài à?
- Ta tuổi già rồi ví như con dao phay, sử dụng cách gì cũng đuợc. Miễn là làm sao trong giới hạn sức khoẻ và vị thế của mình cho phép, và còn phải tùy theo chuyên môn của mình mà trợ giúp. Điểm quan trọng là mình có thực sự biết người ta cần ở mình cái gì và mình có thể làm được gì. Hay ít nhất thì mấy người già như chúng ta chả cần 'gồng' lên làm gì cho mệt, cứ sống khỏe mạnh mà an nhiên thanh thản, cũng đủ là một tấm gương cần và đủ rồi đấy! *
- Cũng như câu chuyện tâm sự ngày hôm nay, bạn trợ giúp cho tôi khá sâu xa.
- Bạn ơi. Tụi mình thân thiết cũ gặp nhau, vui vầy chia xẻ với nhau là chính, nói chi chuyện giúp đỡ. May mà cậu còn thẳng thắn tâm sự, tôi đỡ khổ, chứ không lại mang tiếng ‘dạy đời’. Sướng ích gì!
- Tình thật: Bạn ‘mở mắt’ cho tôi mấy điểm quan trọng lắm…
- Cậu có còn nhớ không: Hồi xưa cùng học, cậu thường xuyên chỉ cho tôi môn toán đấy sao?
- Thuở đó tôi giỏi Toán nhất lớp. Không biết sao mà bây giờ tôi lại bị u mê ám chướng hơn cậu xa thế nhỉ!
- Riêng cá nhân thì tôi thấy, có lẽ nhờ mấy chục năm nay cuộc sống cứ dồn mãi mình vào chân tường, tôi cứ phải cố công suy tư mà vỡ nghĩa ra được vài phần.
- Hiểu được như cậu, tôi thấy sống đời nhẹ nhõm hẳn.
- Ấy, đúng thế. Cân nặng cơ thể của bọn già chúng ta bắt buộc phải ‘nhẹ nhõm’ hơn hồi xuân trẻ chứ!
- Ha. Ha. Phải vậy, phải vậy!
- Đùa với cậu một câu, cho giảm căng thẳng đấy thôi.
- Nhưng cậu đùa thế mà vẫn ý nhị: Ở cái tuổi này, muốn sống thoải mái, theo tôi, phải luôn tự sửa mình. Cụ thể mà nói về cơ thể chúng ta thì bắt buộc phải ăn ít đi, ăn thành nhiều bữa nhỏ, tập thể dục hít thở thường ngày và ngủ say nhiều hơn trước. Có vậy may ra mới khá được. Nói tóm lại, dù đã lớn tuổi nhưng trên bước đường thăng tiến, hãy sống thoải mái, thưởng thức trọn vẹn từng hoàn cảnh sống của mình.
- Và cuối cùng, vẫn là phải biết đùa cợt nữa đấy, cậu ạ.


Phạm Quốc Bảo.


Chú thích:

(1) Xin đọc thêm Bài viết không có tựa của Joyce Anne Nguyen đã đăng trong BNS QUÁNVĂN số 156 ra ngày thứ Tư 10 tháng11.2010, trên NVOnline ; www.người-việt.com.

(2) Mới nhất đây là tại Nhà Thờ Kiếng (thành phố Garden Grove, Nam Cali.), chiều hôm chủ nhật, 22 tháng Tư. 2012, hàng ngàn người họp mặt như một cách đại diện cho độ 30 ngàn đồng bào tị nạn đầu tiên rời khỏi Việt Nam vào này 30 tháng Tư 1975 ,chính thức bầy tỏ lòng tri ân của họ đối với những chiến sĩ của 30 chiếc tầu chiến của Hải Quân QLVNCH và của chiến hạm USS Kirk thuộc Hạm Đội 7 Hoa Kỳ, đã giúp họ di tản an toàn đến Phi Luật Tân. Đây là lần gặp mặt thứ nhì , buổi họp mặt có tên “ Việtnamese American, The Lucky Few” được tổ chức bởi Federal Asian Pacific American Council Southwest( FAPAC-SW).
(3) Cuộc bầu cử bán kỳ (bầu cử giữa kỳ, midterm election). 

(4) Số ứng viên gốc Việt trên toàn nước Mỹ độ 31, so với dân số gốc Việt độ trên 2 triệu thì quá ít ; riêng tại địa phương Quận Cam là 19, đắc cử 7 cho đủ mọi chức vụ: Tỷ lệ thành tựu này được gần 30% thì so ra, không phải là ít! Đặc biệt sau lần bầu cử bán kỳ này cộng đồng gốc Việt trên toàn nước Mỹ không còn ghế dân biểu liên bang nữa, dân biểu tiểu bang chỉ còn1(ông Hubert Võ bên Houston, Texas) so với 2 trước đây; tức là một bước lùi đáng kể. Nhưng được cái là vẫn đạt 3 trên tổng cộng 5 ghế Nghị viên thành phố Westminster, Little Sàigòn. Đấy là chưa bàn sâu vào những yếu tố như đảng phái (Cộng Hoà, Dân Chủ), đoàn thể ,tỷ lệ cử tri gốc Việt độc lập ...Những yếu tố này đã thay đổi nhiều so với các lần bầu và ứng cử trước đây.

(5) Theo Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn, Thư Lâm Ấn Quán, 15-07-1960, Tủ sách Sử học của Đại Nam tái xuất bản tại hải ngoại: Từ năm 207 trước Tây lịch đến năm 939 sau TL, dân Việt bị phương Bắc đô hộ liên tục bốn năm lần cả thảy.

Trích từ cuốn Nhục Vinh











Ảnh: Trần Triết





“Tuồng ảo hóa đã bầy ra đó”
* Phạm Quốc Bảo

Cảm ơn HQBảo đã kể chuyện, khiến tôi viết được truyện này.


Mấy năm vừa qua, vợ chồng tôi có dịp hưởng ngày lễ Độc Lập Mỹ ngay tại nhà: Con cháu đều tụ họp về, ăn uống vui chơi thỏa thích…, giống như vào dịp Tết Việt Nam vậy.

Nói cho ngay: Vào cuối thập niên 1970, khi đại gia đình tôi may mắn vượt biển bằng thuyền thành công. Ở trại tỵ nạn trên nửa năm, được một cơ sở tôn giáo bảo trợ, đại gia đình tôi gồm cha-mẹ anh chị em bên tôi – bên vợ lẫn vài đứa con đứa cháu tổng cộng cả trên ba chục ‘mạng’ về định cư cùng một nơi, nơi này là Richland, Tri-cities, cách Seattle bốn giờ lái xe về phía đông, qua một dãy núi đồi luôn luôn xanh um cây cỏ và đường lái xe ngoằn nghèo nhưng khá rộng rãi, thơ mộng.. Nên cứ thế mà những ai lớn tuổi trong đại gia đình chúng tôi đều lần lượt kiếm được việc làm tại đây luôn. Rồi mười mấy hai chục năm sau đấy, con cháu học xong đại học ra đi làm thì chúng tòan cư trú ở những nơi khác: Chúng nó như những con chim ra ràng, đã bay đi xa rồi thì hiếm khi muốn quay về ở lại chốn cũ. Nói sự thật, nơi vợ chồng tôi đang định cư lại yên bình vì khá khuất nẻo mà khí hậu sa mạc, nóng thì nắng cháy nung người, lạnh thì cũng lạnh đến cắt da.., nhưng khốn nỗi được cái công việc luôn dễ kiếm và bao giờ cũng ngon lành, từ luơng bổng đến phong cách làm việc thư thả; hơn nữa, luôn có khu nhà mới xây lên, hết sức tiện nghi; còn lúc cần muốn đi đâu thì mấy tiếng trên máy bay là xong! Do đó cho nên dù con cháu chúng tôi lẫn gia đình anh em bên tôi bây giờ đều đã cư trú tại những thành phố có cộng đồng Việt đông và luôn có ý rủ rê chúng tôi xuống ‘núi’ đi, thế mà vợ chồng tôi tuổi đã ngòai bẩy mươi rồi vẫn cứ còn ngại ngần cái chuyện giọn nhà giọn cửa.. và cứ thế nấn ná mãi ở đây cho đến bây giờ. Thêm nữa, trên mười năm nay, cứ đến Tết ta là vợ chồng tôi đều có dự trù về ở duới Nam và Bắc Cali ít nhất một tuần lễ. Rồi mấy năm rồi con cháu tỏ ra thương tình vợ chồng tôi lui cui, nên chúng sắp xếp gắng bảo nhau, lễ Độc lập Mỹ là kéo về ở với bố mẹ đôi ba ngày…

Riêng năm nay, ngày mùng 4 tháng 7 -2011 rơi đúng vào thứ Hai đầu tuần nên được nghỉ đến 3 ngày liền, long weekend, nhưng lũ trẻ đều thông báo là bận, không về được, khiến tôi băn khoăn cả tuần lễ trước đấy: Vợ chồng chúng tôi đều được nghỉ hết mà cứ loay hoay với nhau ở nhà suốt ba ngày thì nản và.. uổng thì giờ lắm. May sao thứ tư tuần trước, vợ chồng ông bạn nhà ở thị xã kế cận gọi phôn và gợi ý rủ vợ chồng tôi về Seattle bằng xe hơi (anh bạn tuổi tác cũng bẩy bó rồi nhưng vốn còn nhanh nhẹn, lái xe hăng lắm!), để cùng chung được gặp gỡ và bù khú với mấy cặp bạn hữu khác ở ngòai đó, cho bõ một kỳ nghỉ lễ lớn của xứ này. Hỏi ý của ‘bà ấy’ cho hợp lệ theo thủ tục thông thường (Sự thật là như vậy, vì bà xã tôi khi càng lớn tuổi càng tỏ ra năng động hơn tôi nhiều!), và tôi báo cho anh bạn là OK.

Thế là chiều thứ sáu lên đường, tối đến Seattle là chúng tôi nhập tiệc với mấy cặp thân hữu ngòai quán hàng, như vậy để đỡ phần chuẩn bị cực khổ và rình rang cho mọi nguời. Khuya về nhà bạn mệt, ngả lưng xuống là tôi làm một giấc thật êm! Sáng 7 giờ thức giấc nhưng đã hẹn 10 giờ đến nhà một cặp khác, tán dóc và ăn uống lai rai, nghĩa là không giới hạn giờ giấc, vẫn vì mục đích để mọi người được thỏai mái tối đa…

Đến cỡ trên một giờ trưa, cơn mưa lắc rắc từ sáng tạnh hồi nào chẳng một ai hay, và bóng nắng vàng uơm đã trải rộng ở không gian trên thảm cỏ sát cánh rừng sau nhà… Tôi bỗng nghe tiếng ai nói như lệnh vỡ từ ngòai cổng. Hai cặp mới bước vào, trong ấy nổi bật lên một người đàn ông cao lớn dềnh dàng mà da ngăm ngăm đen: Tiếng nói oang oang phát ra từ nguời này. Đúng là chưa thấy mặt đã nghe tiếng! Tôi nhủ thầm trong bụng thế, và bắt đầu chú ý đến con người mới tới này…




1. Lỡ

– Tôi là Lỡ. Còn tên anh?

– Bảo.

– Anh bạn thế nào với chủ nhà?

– Bạn thời còn học ngành kỹ sư với nhau. Còn anh?

– Bạn cùng săn thú rừng. Hôm nay quí vị sẽ thưởng thức cái món thịt nai hai chúng tôi săn được cách đây mấy tuần.

– Là cái đùi nai bọc vải anh vừa đưa đến?

– Đúng. Tôi mới hun khói tuần trước.

– Anh sẽ cho chúng tôi ăn món nai gì nào?

– Theo tôi ra sân sau, là anh biết liền.

– Thế anh không ‘bật mí’ trước được sao?

– Ậy. Tôi lỡ hứa là sẽ làm một món lạ, nhưng cho đến giờ vẫn chưa nghĩ ra… Và có anh góp ý thêm vào, không chừng biết đâu tôi lại đuợc khen là đã chọn làm được món ngon để tiếp bạn hữu bữa nay.

– Nhưng anh tính làm món ăn chơi hay món nhậu?

– Ăn chơi mà vẫn nhậu được, mới hay chứ! Anh nghĩ sao?

– Ồ.. Các bà thì ăn chơi nhiều hơn là nhậu. Còn bọn đàn ông tụi mình thì đa số lại thích lai rai.

– Phải! Thế anh đã nghĩ ra món nào chưa?

– Chợt tôi liên tưởng đến món bò lụi.

– Hay đấy.

– Nhưng nai lụi, tôi nghĩ phải là thịt nai tươi để có thể nuớng trên than hồng rồi cầm dao đâm vào, thịt từ bên trong lòi ra khỏi da…

– Hòan toàn chính xác!

– Còn đây là đùi nai đã hun khói rồi… Và ăn món này đòi hỏi rất nhiều các lọai rau và gia vị như ớt, tỏi nữa.

– Xong. Đồ bỏ! Về nhà tôi lấy đùi nai tươi, và tiện tạt qua chợ mua rau với gia vị thêm vào. Anh đi với tôi?

– Có cần tôi đi theo không?

– Tôi bắt đầu thích nói chuyện với anh rồi!

“Tôi gốc dân BàNi, Phan Rang. Nói tiếng Mã lai từ nhỏ. Đến 7 tuổi mới đi học chữ Việt nên suốt những năm học tiểu học, tôi cứ luôn lầm lộn giữa hai nếp văn hóa: Một đàng sống theo tập tục dân tộc BàNi trong xóm bản. Một đàng tiếp xúc với lũ bạn cùng lớp trong trường học lẫn ngòai xã hội Việt ở địa phương. 15 tuổi, khi đơn vị đồng minh Đại hàn lo an ninh ở vùng Phan Rang, tôi được giới thiệu đi làm thông dịch cho họ, tiền bạc rủng rỉnh, tiêu xài vung vít. Đó là thời gian tôi cảm thấy tự do thỏai mái nhất đời tôi. Nhưng mấy năm sau, tôi lại thấy chán và đăng vào Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, oai hơn! Đuợc huấn luyện xong, tôi vào tóan Biệt Kích chuyên đánh tỉa Việt Cộng trong vùng cao nguyên Đắc Lắc. Cho tới lúc Mỹ rút, tôi đang làm trung đội trưởng, chuyển sang giữ lon Trung úy của một đại đội Biệt Động Quân Biên Phòng QLVNCH, tiếp tục nổi tiếng đánh giặc. Vì thế khi tháng Tư 1975, đi tù bị trù ẻo nặng, Tôi trốn trại một cách dễ dàng và giúp cho các tóan du kích H’Mông cho tới khi bắt liên lạc lại được với LLĐB Mỹ, rồi đưa người H’Mông sang Thái Lan, đi định cư tại North Carolina. Xong công tác này, tôi vẫn theo LLĐB Mỹ nhưng lần này lại đi thực hiện các trận biệt kích cho kế họach nhằm diệt đường dây di chuyển ma túy ở các xứ Nam Mỹ, rồi phục vụ thiện nguyện công tác cứu đói bên Phi Châu. Năm 2005, tôi 55 tuổi, đơn vị bảo nếu tôi về hưu thì tính ra tôi ba chục năm trong quân ngũ nên được hưởng 80% lương và nhiều lợi lộc khác trong chế độ hưu bổng. Tôi gốc núi rừng, liền chọn cư trú tại Seattle này… ”

– Vậy anh là người sướng quá rồi, còn muốn gì hơn nữa!

– Anh nói thế nào ấy. Cá nhân tôi chả thấy sướng ở đâu, chỉ thấy đời mình luôn luôn lỡ dở!

– Nghe anh kể, tôi suy ra thì đời anh xuôi róoc đấy chứ.

– Xuôi cái giống mẹ gì! Ngược không à! Đây nhá: Gốc tổ tiên ở mãi đẩu đâu, đến đời tôi thì chẳng có dịp truy cứu nữa, mà lại sinh ra ở cái hóc bò tó Phan Rang, mang dòng tộc BàNi, phát ngôn bằng tiếng trọ trẹ giữa một xã hội tòan nói thứ tiếng Việt, khiến mình cảm thấy tự nhiên bị du vào cảnh sống ở trong cái kẹt nhỏ xíu, cựa quậy một chút cũng không được. Có phải lỡ bộ không! Bởi thế mới phải tập nói tiếng Việt cho thông, nhưng lại sống nhờ vào cái nghề thông dịch viên cho dân BàNi của chính mình! Rồi đang đánh giặc giỏi thì Tháng Tư 75 xảy ra, lại bị giặc bắt mình vào làm tù của nó. Trốn thóat sau đó nhưng cứ thế mà lưu lạc khắp nơi cùng chốn; trong khi thực bụng mình nào có muốn phải rời khỏi đất nước Việt Nam ấy đâu chớ! Đấy. Nguyên mấy chuyện ấy thôi, anh đã thấy rằng đời tôi từ cái lỡ này chuyển sang cái lỡ khác.

– Bây giờ chắc anh ổn định rồi?

– Ấy. Chưa hết. 55 tuổi là trai già, quá lỡ làng rồi chứ gì. Vậy mà tôi lại may mắn bắt được một bà chịu sống với mình.Thế mà một năm sau,phát giác ra thì tiền bạc bay đi đâu mất cả!Hóa ra bà ta mê cờ bạc, thua sạch.Vừa buồn vừa bực cái cuộc đời mình… Mà bà vợ của tôi, bà ấy cũng vì lỡ mê cờ bạc từ hồi nảo hồi nào rồi. Còn nhìn lại cái đời khỉ gió của mình, tôi nghiệm ra rằng thôi, đã lỡ rồi cho lỡ luôn: Mình lấy cái lý nào để ép bà ấy phải sống theo mình chứ. Tôi liền phủi tay, cho đứt bà ta căn nhà đang sống, mình cuốn gói vào cabine ở trong rừng cho chắc ăn! Anh thấy chưa: Tôi với bất cứ những gì gặp trong đời này thì cũng vậy, từ lỡ tới lỡ!Tòan lỡ với lỡ, không à.

– Nghe bầy tỏ, tôi cảm thấy cái lối nhìn đời của anh thật lạ đấy..

– Lạ cái con mẹ họ gì đâu, anh! Đó là cách để tôi có thể chấp nhận đời mình…

– Thế mới là lạ.

– Chán quá đi, bố già ơi… Thôi bây giờ đến chuyện của anh. Nghe nói năm nay đã quá bẩy mươi tuổi rồi mà anh vẫn cặm cụi đi làm. Sao ngu dại thế!

– Ậy… Cũng vì lỡ tham công tiếc việc đó thôi.

- A! Anh chơi kiểu ‘gậy ông đập lưng ông’ với tôi hả?

– Đừng có gây. Mất vui đi. Bởi thú thật: Anh làm tôi liên tưởng tới cuộc đời của chính tôi đấy!

– Cuộc đời anh là của anh. Cuộc đời tôi luôn luôn vẫn chỉ là của tôi.

– Đương nhiên. Nhưng theo tôi ngó ngàng: Những cái khác nhau giữa hai cuộc đời, anh và tôi, dường như chỉ là hình thức, ngòai da. Còn hòan cảnh, phần số và cách thế đối xử thì có gì là khác nhau đâu..

– Đó dù sao cũng là chiều hướng lý giải của anh. Chứ rốt cuộc, tôi và anh cũng chỉ như đứng ở hai đầu sông ngó nhau mà so sánh đó thôi… Có điều, mới gặp nhau, tôi lỡ hứng quá mà buột miệng bảo rằng anh ‘ngu dại’, anh không tỏ vẻ gì giận tôi..

– Tôi hành xử không theo như anh nghĩ thì anh phải bảo tôi là ngu dại chứ. Đúng lý như thế, tại sao tôi lại phải giận anh được nhỉ!.. Hơn nữa, anh rất thật tình, nghĩ gì nói nấy, không thớ lợ, không sợ mất lòng.

– Ăn nói một cách bổ bả, ngổ ngáo như tôi, xưa nay ít ai chịu bình tâm mà bỏ qua được như anh.

– Cũng tùy.. Nhưng trao đổi với nhau, tôi nghĩ tốt nhất vẫn là cái sự thật lòng với nhau.

– Thật lòng với nhau? Họa hiếm… Xưa kia người ta có chuộng sự thật lòng với nhau không, anh nhỉ?

– Phải sóat xét lại cho cẩn thận mới trả lời một cách thỏa đáng được. Tuy nhiên, tôi còn nhớ, trước đây cả sáu thế kỷ, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng bảo“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn người đến chốn lao xao.. ” Thực tế theo tiểu sử thì cụ đã rũ áo từ quan, về ở ẩn, tu tâm dưỡng tính, dạy học và cố vấn giúp đời. Danh tiếng của cụ mới truyền mãi đến bây giờ. Thế mà cụ vẫn tự nhận là mình dại. Nhờ vậy, chúng ta mới hiểu một cách sâu xa rằng Dại khôn gì cũng do chính mình chọn, mình ưng mà sống theo là được hơn cả!

- Anh vốn là dân sính chữ nghĩa. Sẵn đây tôi nhờ anh nhá: Hãy diễn tả dùm cuộc đời tôi bằng một vài câu, được không?

- Nhất thời anh hỏi, tôi xin tạm diễn đạt là:

“Ta đã lỡ chân bước vào trần thế

rồi cứ được thể lỡ mãi đi thôi

nhưng luôn tâm niệm giữ lời

thì thầm nhân ái đất trời nào quên”




2. Phường tuồng

Chàng ta sà ngay vào chiếc ghế còn trống cạnh tôi.

– Tôi nghe không rõ: Anh tên gì? Lôi hay Lỗi? Tôi lên tiếng thắc mắc.

– Lôi hay Lỗi gì cũng là tên tôi cả!

Đúng lúc ấy, một bà bắt đầu cất giọng karaoké, nên tôi ghé sang anh ta nói nhỏ lại:

– Ồ.. lạ nhỉ?

– Đúng! Có hơi Lạ… Nhưng với tôi thì cũng chẳng có gì là lạ cả?

Giọng anh ta nói cứ lơ lớ: Những dấu sắc-huyền-hỏi-ngã- nặng anh ta phát âm nghe không rõ hẳn ra được cái âm nào một cách sắc nét cho tai nghe của tôi. Tôi đáp cho có:

– Vậy sao?

– Vậy đó. Thực ra tên thật ban đầu của tôi là Lòi, dấu huyền nhá. Lòi! Vì tôi răng lòi xỉ, người miền Bắc gọi là răng mái hiên, người Nam kêu bằng răng hô, đó.

– Tên bố mẹ đặt cho anh đó sao?

– Không. Bạn cùng tóan đội với tôi kêu tôi Lòi, nên tôi khai luôn trong giấy tờ là Lòi.

– Còn Lôi?

– Là Thiên Lôi, chỉ đâu đi đó, bảo gì đánh đó!

– Nhưng đâu có Lồi, phải không?

– Có chứ. Anh nhìn xem: Tôi có cặp mắt lồi và mồm lúc nào cũng lắp bắp nói liên hồi, không bao giờ muốn im cả, trừ khi ngủ và ‘đi đoong’! Bạn đồng đội nhiều lúc cũng bảo tôi tên Lồi nữa!

– Còn có là Lội không?

– Có: Suốt đời tôi đều lội cả! Lội sông lội suối, lội rừng lội núi, lội xình lội biển.. Thậm chí lội khắp nước Việt Nam, sang đến Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện, Trung Hoa… rồi cứ thế mà lội tuốt sang bên Mỹ luôn. Sang đến bên đây rồi vẫn chưa hết phải lội, tôi còn được( hay ‘bị’ cũng vậy) người ta cho sang Phi Châu, sang Nam Mỹ lội tiếp!

– Còn bây giờ anh về hưu rồi chứ?

– Rồi..

– Thì còn ai bắt anh lội nữa đâu?

– Người ta không bắt tôi lội nữa thì chính tôi chọn cái nghề lội!

– Anh đang lội gì?

– Tôi chuyên lội rừng đi săn..

– Quả thiệt anh rất lạ.. Thế còn cái tên Lỗi?

– A!Đến bây giờ tôi mới hiểu được,tôi phải thực tên là Lỗi mới đúng:Tôi làm cái gì cũng là do lỗi tại chính tôi cả!

– Hay quá…

– Cái thằng tôi suốt đời lỗi mà có hay ho gì!

– Xin lỗi. Tôi vội quá nên nói không đúng ý lắm. Tôi muốn nói rằng anh là một nhân vật có một số cái tên lạ lùng nhất!

– Tôi có bao giờ muốn có những cái tên tục quỉ quái ấy đâu!

– Anh không muốn, nhưng cuộc đời của anh tự nó khắc tạc thành những cái tên ấy.

– À! Anh nói ra tôi mới để ý thấy… Mà quả như vậy thật nhỉ!

– Nội mấy cái tên gọi của anh đã quá là đặc biệt rồi.. Xin lỗi trước, nếu anh không muốn cho biết thì cũng không sao. Nhưng tôi rất thắc mắc: Anh gốc thuộc người nào?

– Tôi dân Bà Na.

“ .. Tổ tiên tôi thờ ông Thánh Quang Trung Nguyễn Huệ. Cha tôi là lính Ngự Lâm Quân nhiệm vụ lo việc cai quản khu Hòang Triều Cương Thổ ở Buôn Ma Thuột. Còn tôi thì mới 15 tuổi khai thành 18 để được tuyển đi học khóa đầu tiên cán bộ Thượng trên Pleiku, năm 1966, mãn khóa là được chọn theo tóan hướng dẫn và thông dịch viên cho Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ họat động ở ngã tư biên giới Việt-Căm Bốt-Lào-Thái Lan rồi về huấn luyện cho các tóan Biệt động H’Mông chuyên phụ trách việc kiểm sóat các đường dây chuyển lậu Á phiện tại khu vực Tam giác Vàng. Sau 1975, vì tình hình và chế độ của các nuớc tại Đông Nam Á thay đổi, tôi theo dân quân H’Mông sang định cư ở tiểu bang North Carolina mấy năm, rồi lại được chuyển theo nhóm người này về khai khẩn nông trại ở vùng Fresno, miền Trung Cali một thời gian nữa. Đến khi nhu cầu đòi hỏi các tóan Mũ Xanh sang Nam Mỹ để ngăn chặn phong trào trồng và phân phối bất hợp pháp cần sa, tôi có tham dự việc bắt giữ ông Noriega của nước Panama. Sau đó, tôi lại được tuyển vào tóan hỗ trợ các đòan chuyên viên y tế – giáo dục – xã hội thiện nguyện Hoa Kỳ sang giúp xây dựng hạ tầng cơ sở bên mấy xứ Phi Châu. Đến năm 2005, tuổi trên giấy tờ tôi đã gần 60 và mặc dù chính bản thân tôi không bao giờ muốn chấm dứt cuộc đời di chuyển liên tục ấy, nhưng người ta nhất định cho tôi về hưu, bằng cách cấp nhà cấp lương hằng tháng cho sống ở Seattle này. Tuy nhiên nhà đó lương đó tôi cũng chỉ để cho vợ con hưởng, riêng tôi chỉ một cái cabine trong rừng và chiếc xe mobil-home di chuyển đó đây… ”

– Với tập quán của suốt đời, tôi thấy mình chỉ lỗ thôi: Khởi thủy ý định của tôi là chỉ muốn rời khỏi buôn làng, tôi đã tìm mọi cách để vào lính. Đó là cái ‘lỡ’ đầu tiên của tôi, kéo dài cho đến bây giờ; và ngay cả sau này nữa, tôi thấy mình chỉ từ cái lỡ này sang cái lỡ khác…

– Đó là cách anh nghĩ. Chứ theo tôi nghĩ thì anh đâu có ‘lỗ vốn’.

– Tôi có vốn đâu để mà lỗ!

– Thế anh chọn cho anh họ là gì?

Chàng ta lẳng lặng móc ví ra và đưa cho tôi xem cái thẻ căn cước Mỹ, Drive License: Tôi thấy chàng ta họ Nguyễn.

– Anh chọn họ này, cũng là một ‘cái lỡ’ nữa, phải không?

– Đúng.

– Và như vậy anh có cho là ‘lỗ’ không?

– À. Cái họ tôi chọn thì không hề ‘lỗ’ đâu ạ. Đó là cái vốn liếng từ ông cha tổ tiên tôi để lại mà!

Nghe chàng ta ăn nói một cách chắc nịch như vậy, tôi bắt đầu le lói thấy thật sự có một cái gì đó khá kỳ lạ ở trong con ngừơi anh ta. Tôi ngẫm nghĩ, trong khi anh chàng cứ tiếp tục phát ngôn khơi khơi:

– Được sang đến bên đây, và hồi giữa thập niên 1980, người ta cho tôi khai nhập tịch Mỹ, tôi đã suy nghĩ rằng mình từ Việt Nam ra đi, mà suốt cuộc đời mình đều chỉ phục vụ trong Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, nghĩa là đã ‘lỡ’ như vậy rồi thì mình nhất định phải chọn một cái họ gốc Việt chứ. Anh xem tôi nghĩ thế có phải chăng?


– Cái sự kiện anh cho là anh phải chọn cái họ của gốc Việt Nam, và anh cho đấy là cái gốc từ ông cha tổ tiên của anh, tôi chưa suy nghĩ kỹ để lạm bàn đến vội. Vì.. dù sao thì quyết định này ít nhiều bị chi phối bởi yếu tố chủ quan của riêng anh. Còn cái điều mà anh bảo là anh chỉ làm việc trong quân ngũ của LLĐB Mỹ thôi, thì.. cũng đúng như thế. Nhưng anh đã làm những công việc cụ thể nào, cho những đối tượng là ai, thì theo tôi điểm này mới thực là quan trọng. Và như anh vừa kể, tôi thấy là anh đã trực tiếp phục vụ cho quyền lợi của những nhóm người H’Mông, những nhóm dân cư lâu đời ở vùng Đông Nam Á châu; rồi tiếp theo sau đó anh vẫn tiếp tục phục vụ cho những dân tộc mở rộng ra hơn nữa, nghĩa là cho quyền sống hợp với quan niệm chung hiện nay của những dân tộc đang trên đà phát triển khác ở trên thế giới. Nói chung, mục đích công việc của anh là phục vụ quyền sống của con người trên trái đất này.

– Vậy mà khi làm việc trong LLĐB Mỹ, tôi lại cứ liên tưởng đến đòan quân Lê Dương thời Pháp thuộc xưa do các bậc ông cha tôi trước đây thường nói đến…

– Anh nên phân biệt rõ rằng Lê Dương là đội quân có thực chất chỉ là bọn lính đánh thuê, nghĩa là chỉ phục vụ cho chế độ Pháp thuộc địa ngày xưa ở Việt Nam mà thôi. Và nội dung ý nghĩa của chủ nghĩa đế quốc nửa thế kỷ trở về trước nó khác với bây giờ. Mấy thập niên trở lại đây, dựa vào sự áp dụng những phát kiến khoa học-kỹ thuật vào tiến trình phục vụ đời sống con người, xã hội lòai người đã mở rộng ‘biên cương’ cho các lãnh thổ, các quốc gia.. khiến các dân tộc xích lại gần nhau hơn bao giờ hết. Do đó, xét vào cụ thể thì LLĐB Mỹ ngòai nhiệm vụ phục vụ cho quyền lợi và sự hiện diện của quân đội Mỹ tại chiến cuộc Việt Nam, tôi thấy dù sao họ cũng đồng thời còn thi hành những công tác có tính cách nhân đạo, nghĩa là thật sự có lợi ích chung khác nữa. Như những gì mà anh đã thực hiện dứơi quyền họ hồi đó.

– Như vậy, công việc tôi đã làm trong thời dưới quyền điều khiển của LLĐB Mỹ không hẳn giống như những ai đã từng phục vụ trong đội quân Lê Dương của Thực dân Pháp sao?

- Theo như anh kể và theo sự hiểu biết của tôi, anh vô tình đã gặp may mắn trong nhiệm vụ của thời mà anh làm việc với LLĐB Mỹ đấy!

– Ồ… nhờ anh giải thích, tôi mới thấy là mình đã chỉ hiểu theo cái mặt khác về sự phục vụ của mình…

– Tôi xin xác nhận rằng anh đã hiểu sai khác chỉ một phần nào đó thôi, chứ không sai biệt hòan tòan.

– Nói chuyện với anh, bắt đầu tôi thấy.. thú vị.

– Vậy hả? Nếu anh thích, cứ tiếp tục.

– Bây giờ tôi hỏi thực anh: Tôi chọn lấy họ NGUYỄN, tức là tôi muốn chọn cái gốc mà ông cha tôi đã theo. Anh nghĩ thế nào?

– Anh người gốc dân BàNa, anh có biết dân tộc Việt Nam là gồm cả trăm giống dân khác nhau hợp lại mà thành hay không?

– Có… Nhưng có khác gì dân Mỹ ở đây đâu!

– Đúng. Tuy nhiên anh có biết rằng một cách cụ thể trải dài theo lịch sử, tất cả các giống dân sinh sống trên dải sông núi hình chữ S ngày nay đều đã đóng góp công sức vào một tiến trình hết sức là lâu dài trong việc tạo thành dân tộc Việt? Và ở vào mỗi giai đọan lịch sử Việt Nam, họ cũng đã từng thực sự góp công góp xương máu trong công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ cái lãnh thổ đất nuớc ấy?

– Mung lung cao xa quá! Anh giản dị đưa ra một vài thí dụ cụ thể, tôi mới hiểu được chớ.

– Thì chính anh cho biết, cha anh trước kia vốn là lính Ngự Lâm Quân thời vua Bảo Đại…

– Nhưng tôi cũng đã đọc được quá nhiều tài liệu bảo rằng vua Bảo Đại nhu nhuợc quá. Ông ta suốt đời chịu ảnh hưởng Pháp, chỉ ở bên Pháp và chết cũng chôn luôn ở bên ấy.

– Điểm đầu tiên chúng ta hiểu rằng đó chỉ là vì hòan cảnh của cá nhân ông ấy, trong cái bối cảnh lịch sử của dân tộc ta thời đại ấy… Tuy nhiên, quan trọng nhất là anh có đọc thì phải biết phân biệt: Lịch sử của một dân tộc khác hẳn so với những tài liệu nhằm nêu lên những chi tiết thiếu khách quan, chỉ muốn bóp méo sự thật. Chẳng hạn ông Bảo Đại hành vi cá nhân của ông ấy như thế nào và ông ấy có làm gì đúng hay sai trái đối với dân với nước, tất cả đều phải đuợc cứu xét một cách hòan tòan chính xác và khách quan, theo sử liệu. Nghĩa là phải đặt ông ta ở vai trò vua một nước, trong bối cảnh lịch sử của giai đọan ấy mà xét. Chứ chúng ta không thể để bị ảnh hưởng bởi những chi tiết bàn ra tán vào của bất cứ ai, bất cứ bài viết nào chỉ nêu lên những yếu tố tiêu cực riêng hoặc giả chỉ kể ra một chiều tòan là những gì để tâng bốc cá nhân ông ta…

– Còn vua Quang Trung suốt một đời chiến trận, không thua một trận nào. Anh hùng đến vậy mà cuộc đời lại quá ngắn ngủi. Thật uổng!

- Anh nhắc tôi mới nhớ lại rằng suốt dòng sử Việt, trừ kỷ nguyên Hùng Vương vẫn còn nằm trong huyền sử không kể, dân tộc ta có được một giai đọan nào yên bình trên năm mươi năm đâu! Nghĩa là chẳng có một thời đại nào ổn định dài hạn, trải dài qua vài ba thế hệ sống để có đuợc cái nền nếp xã hội, để có đủ thời gian yên bình cho các nhân tài thi thố thực nghiệm đủ dài mà phát triển cái khả năng sáng tạo tư tưởng đâu. Suốt dòng sử Việt, các nhân tài nào may mắn thì cũng chỉ kịp thi hành nhiệm vụ bảo vệ sức sống trường tồn của dân tộc, trong ngắn hạn. Họ chỉ đủ sức thi thố trực tiếp tài cán cho việc giữ nước…

– Thế trong sách sử ghi lại, anh có thấy chỗ nào nói đến những công trạng giữ nước của các dòng giống dân cư thiểu số nào, ngòai dân người kinh ra?..

– Theo tôi, đọc sử sách, chúng ta phải tỉnh táo mà phát giác ra những chi tiết ngầm chứa đựng trong những sự kiện mà vì nhiều lý do phức tạp đã bị giới hạn khi được tường thuật lại. Lấy một thí dụ cụ thể và tiêu biểu nhất là sự kiện ba lần chống quân phương Bắc xâm lấn nước ta vào những năm cuối thế kỷ 13 dưới các vị vua của triều đại nhà Trần, chúng ta có thể ít nhất đưa ra mấy điểm chính, nếu chỉ đọc phớt qua mà không tinh tế thấu hiểu vào sâu rộng tình huống thì chúng ta sẽ tự lược bỏ đi các chi tiết vô cùng quan hệ nói lên những công trạng của tòan khối dân Việt trong việc chống ngọai xâm, bảo tồn đất nước và dân tộc: Như ba hội nghị Bình Than (năm 1282, thống nhất ý chí của các vương hầu và tướng lãnh), hội nghị Diên Hồng (năm 1284, trưng cầu dân ý nhằm thống nhất ý chí quyết chiến của tầng lớp bô lão trên tòan quốc), và hội nghị Vạn Kiếp (năm 1285, thống nhất chiến lược quân sự của mọi giống dân cư ngụ ở vùng núi và cao nguyên, miền Trung Du lẫn miền đồng bằng của lãnh thổ nước ta thời ấy). Như những cuộc giáp chiến nhuần nhuyễn tài tình bằng chiến thuật du kích của quân dân các dân tộc thiểu số đã đánh tỉa suốt dọc những con đường tiến quân sang và rút quân về của đạo binh Mông Cổ. Tất cả các trận giáp chiến này đã là những mũi tiến công vôcùng hữu hiệu cho nhiệm vụ tiêu hao lực lượng địch, để có thể ‘dứt điểm’ở các trận địa chiến của những cánh quân chính qui đời nhà Trần, trong tòan bộ cuộc chiến chống quân xâm lăng của thời ấy.

- Cảm ơn anh đã giải tỏa cái khúc mắc mà bấy lâu nay tôi cứ mắc míu trong lòng, không sao thấu suốt được.

– Thế anh đã nghĩ gì trước đây?

– Thì tôi đã cho rằng suốt cuộc đời tôi chỉ ‘binh lội’, tôi đã để dĩ lỡ cả cuộc đời mình.. Nghĩa là tôi chỉ là kẻ lông ngông như bọn phường tuồng trong màn kịch đời mà thôi!

– Ấy. Đâu phải chỉ có một mình anh mới như thế. Tôi thấy suốt lịch sử Việt thì hầu hết các nhân tài nước ta đều đã để lộ ra những sai trái, những cái ‘binh lội’ của họ cả!

– Như vậy là anh muốn nói, những nhân tài của dân tộc ta đều ‘cà trớn’ cả sao?

– Anh khuếch đại hơi quá đấy. Tôi đang chú trọng đến vấn đề tìm hiểu con người Việt sống thực, qua hòan cảnh xã hội. Nói một cách khác, tôi chỉ muốn diễn tả rằng nhìn vào sử Việt, ta thấy cái tạm gọi là hòan cảnh của dân tộc ta bị du vào thế bắt buộc phải trui rèn trong chiến tranh liên miên. Và điểm yếu của hòan cảnh đó là chúng ta không ‘đẻ’ đuợc ra những tư tưởng lớn, những vĩ nhân có tầm mức quốc tế; thì đồng thời chúng ta lại có điểm mạnh ở chỗ biết trui rèn mà hiểu thấu được câu “thất bại là mẹ thành công”, tập luyện hòai được sức bật ‘quật cường’ ở mức độ khó dân tộc nào trên thế giới so sánh bằng. Còn tính khí của người mình cũng gồm mấy khả năng vượt trội lên rõ rệt: Bắt chước giỏi nhưng lại lười sáng tạo, ít cơ hội thực hành nền nếp phân tích và tổng hợp ý tưởng nên khó có nhận định sáng suốt và dễ bị thuyết phục về tư tưởng, về tâm lý thì dư thừa mặc cảm tự ti nên dễ bảo thủ và quá khích.

– Nhận xét của anh cho tôi thấy xác thật đúng như con người của chúng ta đang sống thực ngòai đời. Nhưng chưa cho tôi thấy rõ được cái đúng cái sai để mà tránh…

– Đúng – sai để mà tránh thì phải do chính anh suy xét lấy, mới đáp ứng thực sự cho cá nhân anh. Ở đây tôi mới đưa ra cái căn bản nhận định của cá nhân tôi về con người Việt Nam chúng ta, rút ra từ kinh nghiệm sống và từ sử liệu đúng đắn mà thôi.

– Vậy thì ý anh cũng muốn bảo rằng cái chuyện tôi suốt đời chỉ ‘binh lội’ cũng là hiện tượng phổ biến trong con người của dân mình?

– Đại khái là thế… Sau khi tôi lý giải như trên, bây giờ anh thấy có gì khác trước đây chăng?

– Anh chỉ ra cho tôi những liên hệ cụ thể và sâu xa về cỗi nguồn lịch sử, khiến cho tôi sáng ra rằng riêng cái hướng phục vụ của đời tôi nó thực sự có nghĩa lý, chứ không hề vô tình hay may mắn mà có. Đúng không?

– Vậy đấy, tuy nhiên chỉ đúng theo chiều hướng phục vụ cho nhân quần xã hội của một đời người. Nhưng cạnh đó, ưu điểm của anh là anh vốn đã nhìn ra được cái mặt trái những hành vi của anh…

– Chứ chẳng lẽ còn một mặt khác của sự thật nữa sao?

– Vâng, thưa anh. Theo tôi, chỉ nhận thức đuợc ra cái mặt tích cực như thế thì chưa đủ, chưa hòan tòan diễn đạt được cái con người sống thực của ta: Song song đó, chúng ta còn phải nhìn ra ở mặt khác của vấn đề, nghĩa là bên cạnh những hành động đúng đắn ấy còn biết bao nhiêu những hành vi sai lạc, ‘láo lếu’của con người chúng ta nữa. Vô số những sai trái trong hành trạng của chúng ta đó, như anh vừa gọi là gì nhỉ?.. Ừ, anh lúc nãy gọi là phường tuồng đấy!

– Ủa. Thế thì trước kia tôi chỉ nghĩ mình như thế, cũng đúng sao?

– Không đúng, nếu anh chỉ nhìn thấy đuợc cái mặt ‘phường tuồng’ ấy của anh thôi.

– Tôi hiểu rồi. Cảm ơn anh.

– Còn về phần tôi, tôi cũng phải nói ra lời tôi cảm ơn anh: Anh đã tạo cho tôi một cơ hội hiếm có để tôi dám đề cập thẳng thắn vào cái phần ‘phường tuồng’ vốn cũng đã và còn hiện diện ở trong cuộc đời của chính tôi!



* Phạm Quốc Bảo.
( Trích Nhục Vinh, tuyển tập, Ngươi-ViệtBooks xuất bản, 2012)






Tri âm

* Phạm Quốc Bảo

Nhét miếng thẻ vào lại túi áo và như một phản xạ, tôi nói: “9.2.4.5.3.8.”

“Thank you.”

Từ phòng kiểm soát cách đến cả 400 thước, tiếng trả lời phát ra và truyền qua máy phóng thanh nghe lơ đãng vật vờ. Ðồng thời, cánh cửa sắt được điều khiển bằng vô tuyến điện tử tự động mở. Tôi bước ra khỏi cổng xưởng.

Gió ngoài bãi đậu xe ập lên người, tôi nhắm mắt lại để tận hưởng bầu không khí trống thoáng. Dường như những gai ốc đang nổi lên cùng người, tôi hứng trọn một khoái cảm gây gây. Trong khi tai tôi vẫn còn như nghe hàng dẫy máy tiện khổng lồ chạy suốt ngày đêm ầm ầm vẫn rung động cả không gian, nơi đó tôi đã chúi mũi trung bình mỗi ngày tám tiếng đồng hồ và mới rời khỏi cách chừng năm phút đây thôi. Vừa đi, tôi vung mạnh đôi tay, vặn mình trong gió, và cảm giác như mình vừa được hồi sinh.

“Làm sao đấy?”

Tôi quay sang. Cô Jane Bloomfield cũng thợ tiện, đứng cách tôi ba máy. Cô ta hỏi tôi, tay tra chìa khóa mở cửa xe. Nét mặt cô bình thản đến bất động.

“Tôi đang hạnh phúc.”

“Ồ. Chắc anh đã sẵn có chương trình giải trí cuối tuần?”

“Không hẳn.”

“Hay tối nay anh đi dự tiệc?”

“Cũng không.”

Chưa bước vào xe, cô ta nhìn sang tôi, ánh mắt chờ đợi một giải thích. Nụ cười nửa miệng của cô nhẹ nhàng cởi mở như sẵn sàng muốn cảm thông niềm hạnh phúc đó nơi tôi.

Tôi bối rối đáp cho qua: “À… một thú nào đại khái như vậy.”

Jane nháy mắt tôi một cái, hóm hỉnh mỉm cười:

“Bí mật hả? Mong anh hưởng trọn vẹn. Cuối tuần vui nhá.”

Tôi cũng nháy mắt lại, giơ tay:“Mong cô cũng thế.”

“Cảm ơn.”Jane nổ máy, cho xe chồm tới vọt đi.

Tôi nhẩn nha quay kính cửa xe xuống cho thoáng. Tiếng máy nổ vẫn như xa xôi mơ hồ, lẫn trong tiếng rầm rập của dàn máy tiện còn âm hưởng bên tai. Nhìn quanh, công nhân vẫn rải rác ra khỏi cổng đến bãi đậu xe, rồi từng chiếc vội vã lăn bánh bỏ đi.

Tuần trước, một đợt không khí nóng bức tràn tới đây báo hiệu mùa hè đang đến gần. Ðứng ngoài bãi còn đỡ, chui vào trong xe chỉ muốn đi ngay để gió lùa vào cho bớt thấy ngột ngạt. Nhất là bây giờ, đúng chiều Thứ Sáu nữa. Chắc chắn bờ biển đang lồng lộng gió. Hay những drive-in theater, những vũ trường, những nhà hàng…

Cho xe rời bãi đậu, tôi gia nhập vào dòng xe cộ cuồn cuộn không dứt trên đường phố. Tiếng máy nổ, tiếng còi thúc giục, những giọng nóng nảy chửi rủa tục tĩu hỗn độn quện vào nhau… nhưng trong lòng tôi vẫn hoàn toàn trống rỗng.

oOo


Về đến nhà, thằng con tôi cũng vừa từ phòng tắm bước ra. Mái tóc nó còn nhẫy nước ép xuống trán hợp với đôi mắt đen nhánh long lanh một niềm thích thú tươi mát.

Nỗi vui tự dưng của trẻ thơ bao giờ cũng nhẹ nhàng xoa dịu mọi bực bội không đâu đã thường quấn quít trong tôi.

Bỗng nhiên muốn nhẩy cẫng lên như nó… nhưng tôi chỉ nói lớn hơn bình thường, khi bước vụt qua mặt con:

“Ðợi bố tí.”

Tôi vặn bông sen hết cỡ. Những tia nước phun mạnh xuống đầu cổ, ngực và lưng. Cách đấm bóp kiểu này khiến tôi đê mê sảng khoái. Sau đó, tấm khăn lông miết trên da mặt và toàn thân làm tôi có cảm tưởng thể xác mình hoàn toàn đổi mới.

Mặc quần áo bước ra, tôi rõ rệt đã trút bỏ được tất cả những gì gọi là vẩn đục trong người.

“Xin phép hai bác đi con.”

Ðang ngồi ngoài trường kỷ xem ti-vi, nghe tiếng tôi dục, Hòa ngước mắt nhìn. Tôi gật đầu để khẳng định và mỉm miệng cười khuyến khích. Nó đứng dậy, đến gần người bạn ở chung nhà, khoanh tay lí nhí:

“Xin phép bác.”

“Ừ, ngoan lắm. Cháu đi chơi với bố hả?”

Miệng Hòa mở hững hờ nhưng tôi không nghe rõ được tiếng ”vâng” của nó phát ra.

“Còn bác gái dưới bếp, con.”

“Thôi, đủ rồi. Ðể cháu nó tự nhiên.”

Hòa vẫn đứng yên như chờ đợi ở tôi. Tuy nhiên, đã có lời của anh bạn rồi, tôi không muốn ép thêm nữa.

“Cám ơn bác đi con.”

“Cám ơn bác.”Hòa nói câu này to nhất nhưng lại thật nhanh, rồi nó chạy biến ra cửa.

“Tôi đi, anh.”

“Vâng. Hai bố con vui nhá.”

“Cám ơn anh.”

Ngồi trong xe, Hòa dè dặt lên tiếng:“Bố coi record của third quarter chưa?”

“Rồi. Một O ba A và hai B. Tạm được. Nhưng môn P.E. vẫn B. Con thấy thế nào?”

“Hôm chạy, con hụt hơi mà vẫn thua tụi nó.” Hòa hậm hực ra mặt.

Tôi trấn an:“Chẳng sao. Nhưng trước khi chạy, con nên chịu khó tập thở, thật sâu thật dài mươi cái như vậy xem sao. Rồi lúc chạy con cố giữ hơi thở thật điều hòa, đừng gấp gáp. Chắc sẽ khá hơn.” “Ðể con thử…”

Liếc sang thấy Hòa còn băn khoăn, tôi bảo:“Bố con mình dạo phố trước nhá.”
“ Dạ.” Mắt Hòa đã ánh lên niềm vui thích. Chân tay nó bắt đầu chộn rộn. Cười thầm, tôi cho xe vào đậu trong một khu thương mại người Việt.

Năm giờ chiều Thứ Sáu, lác đác người đi mua sắm. Hai bố con tôi thả bộ, ngắm nghía các gian hàng. Những tiếng Việt lao xao chào hỏi, cười nói.

Tôi mua cho Hòa thêm một bộ quần áo thể thao, với đôi ba-ta mới khác. Hòa chọn cho Thu, em gái nó, một chiếc áo lụa, còn tôi mua thêm chiếc quần jean cho vợ tôi, tất cả để dành kỳ quà tới gửi về Việt Nam.

Từ tiệm này liên miên sang tiệm khác. Hết một khu đó cũng gần 7 giờ. Hòa đòi ăn phở.

Nó thích món tái gầu ròn như mẹ nó trước đây hồi 75 ở Sài Gòn.

Tám rưỡi, bố con tôi trở về nhà. Hòa hoàn toàn thỏa mãn với buổi chiều nay. Nó sửa soạn đi ngủ.

Tôi ngồi lại ngoài phòng khách, mắt xem một phim đang chiếu trong ti-vi, thỉnh thoảng nói vài câu với anh bạn cùng nhà.

Tự nhiên tôi lại rơi vào tình trạng trống rỗng buồn nản. Gọi điện thoại tới hai người bạn: Một đi chơi cả nhà chưa về, một đã đi ”xuê” tại nhà người bạn khác. Tôi có chợt nghĩ đến xoa mà-chược, chắc cũng vui thú anh em được đêm nay.

Nhưng khung cảnh chiếc bàn vuông với những tiếng lách cách của quân bài xem ra không quyến rũ tôi lúc này. Ngồi chết một chỗ, nghịch ngợm với những ”hoa” những ”chim”, chả giải tỏa được nỗi trống rỗng hiện giờ.

Vào phòng, nhìn Hòa ngủ say sưa, tôi lại càng cảm thấy buồn bã hơn nữa. Qua phòng khách, hững hờ chào vợ chồng anh bạn, tôi ra cửa.

Lái xe ngoài đường vắng, vẫn chưa biết mình đến một nơi nào. Bên đường, đèn màu nhấp nháy. Chính giờ này là lúc người ta mới bắt đầu đi giải trí.

Tôi tạt vào một quán bánh Pháp, nhâm nhi ly cà phê Espresso đặc quánh, mắt lơ đãng nhìn ra người lũ lượt diễu bên ngoài, tai nghe tiếng nói chuyện xôn xao quanh mình.

Một giờ ngồi gậm nhấm nỗi cô đơn mỗi lúc một mênh mang thêm, tôi bỏ đi.

oOo

Miên man lái xe vòng vòng, tôi mới chợt thấy là mình đã hết thuốc hút. Tạt qua tiệm Liquor, mua tạm một báo.

Lững thững đi ra, tôi chợt dừng lại nhìn kỹ: Một anh chàng Mỹ trắng râu tóc xồm xoàm, quần áo xốc xếch, trên lưng đeo mấy bao bị cái to cái nhỏ kềnh càng, chẳng biết từ lúc nào anh đã đứng chắn ngay trước cửa ra vào.

Chân vẫn tiếp tục đi, tôi tự nghĩ: Những trò của mấy anh loại này hiện nay xảy ra rẫy đầy khắp nơi trên nước Mỹ. Nhẹ ra thì xin điếu thuốc, nếu được cho lại xin thêm điếu nữa dắt tai để dành. Nặng hơn chút nữa là xin vài đồng bạc đổ xăng độ đường.

Thậm chí hồi tôi còn bán Donuts ở Chicago: Vừa đậu xe, một chú Mỹ đen bé con cầm ống xịt làm một đống sơn trên mặt kính chỗ ngồi lái. Còn loay hoay chưa biết tính sao thì có anh Mỹ khác lơn tơn đi lại, tay cầm giẻ và hộp acétone, hỏi liền:

“Mày có muốn mất đống sơn kia không? Hai mỹ kim. Ô kê?”

Biết làm sao khác được bấy giờ, tôi đành xùy tiền ra.

Lần khác, tôi bán trạm xăng ở Portland. Một thằng Mỹ to lớn dềnh dàng đi tới dí bó hoa héo quắt vào mũi tôi:

“Mày phải mua cái này.”

Tôi hiểu ý nghĩa ”phải mua” ở bộ mặt đe dọa với đôi mắt trợn trắng của hắn. Tự nhiên, máu ba gai lính tráng cũ nổi lên, tôi cung tay tính quại vỡ mặt hắn rồi ra sao thì ra… nhưng hình ảnh Hòa, lúc đó mới 7 tuổi, nét mặt vui tươi hớn hở hiện ra, khiến tôi cố nến giận. Ngó quanh, góc phố tấp nập người qua kẻ lại mà chả một ai thèm chú ý tới tình trạng của tôi, ngoài mấy tên đen khác đứng gần đó đang nhìn tôi cười nhăn nhở trêu ngươi. Xem cái điệu này cảnh sát có tới nơi thì tôi đã mềm xương mà tiền bạc lại bị lột sạch. Bóp bụng, tôi đành móc ra tờ năm mỹ kim đưa cho hắn.

“Chắc cái này mày cũng chả cần nữa, phải không?”

Nói xong, hắn tự động bỏ đi, tay quơ quơ bó hoa héo.

Sau lần đó, tôi thấm thía cái đơn độc của kẻ mất nước sống lang thang nơi xứ người.

Nỗi đơn độc bơ vơ này không giống với nỗi bùi ngùi cô đơn những buổi say rượu bí tỉ vì bạn bè bỏ xác sau các cuộc hành quân hồi 1975 trở về trước.

Và cuộc sống ở đây cứ đẩy tôi bước tới. Chính tôi cũng muốn luôn luôn lăn xả vào công việc mưu sinh túi bụi, hết thành phố này sang quận khác, hết tỉnh nọ sang đến tiểu bang kia để quên đi nỗi đơn độc của mình.

Có phải tôi nuối tiếc dĩ vãng không? Những năm mòn ghế học đường, những gót giầy đế vẹt biết bao nhiêu nơi trong đời lính hành quân khắp chốn? Quá khứ tôi vàng son gì đâu, với cái lon đại úy và hàng trăm đồng bạn thân cận đã ngã gục. Có chăng là hình ảnh quê hương ám ảnh với một niềm chua xót muốn chín cả tâm hồn…

Tất cả chỉ còn hình ảnh tươi mát ngây thơ của Hòa, con tôi, để tôi có một chút riêng tư níu kéo. Chứ ngoài ra, toàn là trạng thái vất vưởng trong nỗi đơn độc giữa xứ người, trống rỗng mênh mang…

oOo

Hình ảnh và tâm tư hiện ra trong chớp mắt. Tôi đã dừng trước anh chàng râu tóc xồm xoàm đeo vác luộm thuộm túi bị kia. Tôi chờ đợi với tư thế sẵn sàng phòng bị. Anh ta đang nhìn tôi, nhưng thấy tôi dừng lại thì lật đật nghiêng mình ép vào bên cửa để nhường chỗ.

Tưởng mình bị cản đường phiền nhiễu gì đây, tôi hơi khựng lại, rồi mới lách mình qua.

“Anh còn nhớ thơ Hài Cú không?”

Hỏi dứt, chẳng đợi trả lời anh ta liền đọc mấy câu bằng Anh ngữ.

Thú thực, tôi chỉ mang máng biết được Hài Cú là một thể thơ đặc biệt của người Nhật thôi chứ cái hay cái đẹp ở chỗ giản dị trong sáng nội dung phong phú chứa đựng tinh thần Zen gì đó thì tôi chưa thưởng thức được. Bây giờ, bất chợt nghe đọc loại thơ này lõng bõng bằng tiếng Anh bên tai, quả tôi chả hiểu được chút nào ý nhị của bài thơ mà anh ta muốn diễn tả. Bước xuống vỉa hè, tôi quay lại. Ðôi mắt anh ta đang lóng lánh như thích thú, chờ đợi một lời ngợi khen. Tự nhiên tôi cảm thấy ngượng, gượng cười lã chã:

“Tôi là người Việt.”

“A. Việt Nam… Thơ Nguyễn Du.”

Tôi bắt đầu ngạc nhiên. Cũng không chờ phản ứng, anh ta nhíu mày như cố nhớ:“Và cây đàn chỉ có một dây thôi. Ðàn gì…”

“Ðàn bầu. Ðộc huyền cầm.”Buột miệng, tôi nói ngay.

“A. Ðúng đấy. Duy nhất một dây. Ðộc đáo lắm.”

Tôi hứng thú thực sự.

“Anh có rảnh không?”

“Không bận bịu gì.”

“Anh có thể đến nhà hàng nào đó chứ?”

“Không.”

Tôi hiểu ngay: Với kinh nghiệm chín năm sống trên xứ sở này, mình còn sai lạc về anh chàng đang đứng trước mặt đây.

“Tha lỗi cho tôi.”

“Chẳng sao.”

Anh ta nở nụ cười hồn nhiên. Tôi nhìn quanh. Có một công viên bên kia đường.

“Chúng ta sang bên kia được chứ?”

“Sẵn sàng.”

Vào lại quán, mua một xách sáu hộp bia cùng vài thứ nhắm như đậu phọng rang với khoai chiên ròn, tôi qua đường… và thấy anh ta đã ngồi ngay ngắn trên tấm vải nhựa đang so lại dây đàn của chiếc Tây ban cầm.

“Không có cây đàn một dây của Việt Nam ở đây. Và tôi biết, tôi cũng không đủ khả năng chơi hay như tôi đã từng được nghe. Tuyệt lắm. Nó réo rắt… âm giai theo từng cách nhấn nặng nhẹ. Người nghệ sĩ phải có trình độ thẩm âm thật chính xác và điệu nghệ vô cùng thuần thục mới lột tả được cái diệu dụng của cây đàn độc đáo đó. Hôm nay, tôi muốn bày tỏ với anh sự khâm phục của tôi đối với những nghệ sĩ Việt Nam đã sáng tạo và sử dụng cây đàn một dây đó.”

Miệng anh ta từ tốn nói, mắt nhắm hờ và tay vẫn lướt những ngón trên năm dây đàn của chiếc Tây ban cầm đang ôm chênh chếch đứng trong lòng.Rồi đột nhiên anh gảy liên tiếp lên dây trầm nhất, ngón trỏ của bàn tay trái lướt nhấn trên suốt bậc cung. Mặc dù loại dây ni-lông pha thép âm vào thùng đàn đều khác với dây và thùng của cây độc huyền, điệu láy không được sâu như Ðộc huyền cầm nhưng tôi đã nghe mang máng như tiếng cây đàn một dây được bật lên. Mắt anh ta vẫn nhắm hờ. Cặp lông mày nhíu lại. Mấy âm thanh khác thoát ra. Cặp lông mày anh ta càng ngắn lại, nhăn nhúm một nỗi bực dọc. Rồi mấy âm thanh nữa bật tiếp. Anh lắc mạnh đầu bất mãn… và anh xổ toẹt một đường từ trên xuống dưới cả năm dây khiến tôi giật mình.

Trong khi tôi còn ngơ ngác, anh mở một lon bia, ngửa cổ ực trọn. Âm thanh xổ mạnh đột nhiên ngưng ngang. Anh biến sang điệu nhạc của xứ Tây Ban Nha. Một bên gảy một bên nhấn, hai bàn tay anh điêu luyện lướt lên khắp chiều ngang và dọc của năm dây chiếc Tây ban cầm. Âm thanh dồn dập miên man, sôi sục một sức sống cuồng nhiệt, lôi cuốn tâm hồn tôi cuồn cuộn theo.

Ðoạn nhạc đó vừa chấm dứt, anh lại bước sang lãnh vực nhạc cổ điển Tây Phương. Tôi mù tịt, không biết bài bản tên là gì và của ai nữa. Chỉ nghe thấy những âm thanh lúc thánh thót như tâm hồn mình rỏ xuống từng giọt buồn mênh mang gợi nhớ, lúc reo vui nhịp chân sáo của tuổi thơ, khi thì trầm lắng mênh mang tâm sự, khi thì rầm rập bước quân hành, ầm ầm tiếng bom đạn, sát khí tấn công, chém giết, u buồn, chết chóc… rồi vang tiếng kèn chiến thắng khải hoàn, sôi nổi xây dựng và thênh thang bước chân hướng về tương lai.

Ðoạn nhạc chót trải rộng ra, âm hưởng kéo dài cho đến nét rung nhẹ cuối cùng lẫn vào tiếng côn trùng của công viên…

Tợp thêm một lon bia nữa, đưa cay một miếng khoai chiên, anh ta lên tiếng:“Thấy thế nào?”

Cơn xúc động chưa dứt, tôi thổ lộ tâm sự luôn:

“Anh làm tôi nhớ đến cuộc sống hỗn độn vô vị của tôi bây giờ. Tôi luôn luôn bị bực dọc mơ tưởng về quá khứ của mình. Thuở nhỏ ấu thời vô tư lự xứ tôi. Những chốn thâm nghiêm lăng tẩm cung điện ở Huế, đền đài ở Hà Nội. Những hùng vĩ của Trường Sơn. Những bao la của suốt dọc dài biển Ðông. Tôi còn nhớ đến thời lính tráng xô bồ chém giết đau thương… nhưng không sao, tôi vẫn vững lòng tin là một ngày nào đó tôi sẽ trở về lại xứ sở của tôi. Ðó là mối hy vọng xác quyết trong lòng tôi lúc này.”

Anh ta ha hả cười. Cười rũ rượi. Nước mắt tràn trên má và lấp lánh đọng trên bộ râu xồm xoàm.

“Tôi có gì sái quấy phải không?”Tôi lo ngại hỏi.

Anh ta lắc đầu, chiêu thêm một ngụm bia:“Không. Không… Cuộc đời ở đây vô vị. Phải… Hay lắm.”

“Rồi sao?”

“Tôi muốn đề nghị điều này.”

“Nếu không ngoài khả năng tôi.”

“Chắc chắn. Nhưng anh không được chối từ.”

“Ðồng ý.”

“Anh phải mua cây đàn này với giá năm đồng!”

Vừa nói, anh ta vừa trao cho tôi cây đàn bằng cả hai tay. Tôi nhìn kỹ cây đàn. Những phần lõm trên cung bậc và mặt thùng đàn nhiều chỗ đã tróc sơn, chứng tỏ đàn được sử dụng thường xuyên và lâu đời. Tôi ái ngại, ngập ngừng lên tiếng:

“Nhưng… tôi không biết chơi đàn.”

“Ðiều ấy không quan trọng. Anh phải mua với đúng 5 đồng chẵn. Không hơn không kém. Anh mua mấy thứ này bao nhiêu?”

“Tôi chẳng nhớ nữa.”

“Có biên lai đó chứ?”

“Vứt đi rồi.”

Bỏ tôi đứng lóng ngóng, anh ta qua đường, vào tiệm Liquor rồi trở lại:“Tất cả 4 đồng 75. Anh phải trả thêm 25 xu nữa.”

Như người máy, tôi móc túi đưa 25 xu ra. Anh ta cuốn tấm bạt ni-lông lại cột vào cạnh một túi sách, đeo tất cả lên vai. Trên miệng nở một nụ cười thật tươi tắn và với ánh mắt long lanh thích thú, anh ta nói:“Cảm ơn anh đã cho tôi một buổi tối cuối tuần thật vui, đầy ý nghĩa. Tạm biệt.”

Bắt tay tôi xong, anh ta bỏ đi.

* Phạm Quốc Bảo.

(Trích tập truyện ngắn DÂU BỂ, Việt Hưng xuất bản, 1986)









Văn Bút Cali tháng 6 1988
(hình chụp một số văn hữu sau cuộc bầu Ban Chấp Hành Lâm Thời nhiệm kỳ một năm)

1.Phạm Khắc Hàm, 2.Lê Dình Diểu, 3.Vũ Huy Quang, 4.Nguyễn Hải Hà, 5.Nguyễn Hữu Bào, 6.Cao Xuân Huy, 7.Lưu Đình Vọng, 8.Viên Linh, 9.Nhật Tiến, 10.Đỗ Ngọc Yến, 11.Phạm Quốc Bảo, 12.Nguyễn Mạnh Trinh, 13.Vũ Thùy Hạnh, 14.Giáng Kiều









Lý Kiến Trúc, Nhật Tiến, Nguyễn Hải Hà, Phạm Quốc Bảo









Giảng viên khóa 25 tu nghiệp sư phạm hải ngoại (2014)









Ann Phong, Phan Nguyên, Phạm Quốc Bảo










Phan Nguyên & Phạm Quốc Bảo












Trở về






Chân Dung Văn Nghệ Sĩ

Danh Sách Tác Giả

Emprunt Empreinte








MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.