Tuesday, 12 April 2011

Nguyên Ngọc
























Nguyên Ngọc

Tên thật: Nguyễn Văn Báu
Bút danh khác: Nguyễn Trung Thành
(1932 - .........) Quảng Nam
Nhà văn. Nhà nghiên cứu văn hóa. Dịch giả



































                                                                                                                       
"Một con khỉ thật" 4/7/2010





Nguyên Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nguyên Phó Tổng thứ ký Hội Nhà Văn Việt Nam.
Tổng biên tập báo Văn Nghệ. Đại biểu Quốc hội khóa VI.
 Chủ tịch Hội đồng khoa học Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh. 
Hiện ông đang là Trưởng Ban sáng lập, Chủ tịch Hội đồng quản trị trường Đại học Phan Châu Trinh - Hội An - Quảng Nam. 
Là người luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đến các thế hệ tương lai, thế giới học đường. Với GS Hoàng Tụy đứng đầu và nhiều người bạn, ông là người tâm huyết với việc cải cách hệ thống giáo dục, xây dựng một nền giáo dục dân chủ, lành mạnh và lấy con người làm trung tâm. 






*




"Nhà văn viết bằng cái gì? Theo tôi có ba cái chính: tài năng "trời cho", sự trải nghiệm hay "vốn sống" và cái thứ ba là nền tảng văn hóa dân tộc và nhân loại mà anh ta có được, anh ta "đứng" trên đó để tiếp tục đi tới. Lớp người trẻ cầm bút ở Việt Nam hiện nay thiếu hụt hơn cả chính là cái thứ ba này..."

(Nguyên Ngọc trả lời phỏng vấn Nam Dao năm 2003)























Bài viết mới nhất











Nguyên Ngọc: 
Nước Mội, rừng xanh và sự sống




Quê tôi ở vùng Nam Trung bộ, đúng cái đoạn mà một nhà thơ từng thống thiết gọi là “dằng dặc khúc ruột miền Trung”. Ở đấy, miên man mấy trăm cây số ven biển là những cồn cát lớn, nơi trắng phau một màu trắng tinh khiết đến khó tin, nơi vàng rộm ngon lành trong nắng cháy. Làng cũng là làng trên cát; con người sống trên cát, tử sinh cùng với cát.

Tôi có đọc một ít lịch sử và tôi biết, lạ vậy, toàn cát vậy, nhưng đấy vốn không phải là một vùng đất nghèo. Từng có cả một vương quốc thịnh vượng trên dải đất này. Một vương quốc nông nghiệp và hải dương. Có lẽ một trong những bí quyết thịnh vượng của vương quốc ấy là nước, mà thiên nhiên đã rất thông minh giữ và dành cho dải đất thoạt nhìn thật khô cằn này, và con người thì cũng thật thông minh hiểu được món quà quý của đất trời, biết tận dụng lấy cho mình.

Cho đến chỉ cách đây đâu khoảng chưa đến nửa thế kỷ, ở quê tôi vẫn còn một kỹ thuật nông nghiệp rất đặc biệt, tinh tế và thú vị, gọi là kỹ thuật “tưới nước mội”, người Việt học được của người Chăm khi đi vào Nam. Nước mội là nước rỉ ra từ các chân đồi cát, trong veo, mát lạnh, tinh sạch đến mức có thể bụm vào lòng bàn tay, ngửa cổ uống ngay ngon lành.

Ở đây người ta vỡ ruộng ngay trên cát, các đám ruộng được gọi là “thổ”, những đám thổ trồng đủ các loại hoa màu. Ở góc thổ bao giờ cũng có một chiếc ao nhỏ, cạn thôi, nhưng quanh năm lúc nào cũng đầy ắp nước, tát đi lại đầy ngay, cả trong những mùa nắng hạn gay gắt nhất. Nước mội từ trong lòng cát rỉ ra, nhẹ nhàng, chậm chạp, từ tốn, mà bất tận. Những chiếc ao nước mội, những con mắt ngọc xanh rờn, mát rợi của đất đai, làng mạc, đồng ruộng quê tôi. Nhỏ nhoi và thầm lặng, chính chúng nuôi sống nền nông nghiệp từng trù phú của vương quốc xưa, và của cả cha ông chúng tôi nữa khi họ đi về Nam…

Champa cũng là một vương quốc biển, từng dong thuyền đến những đại dương xa, và từng có những cảng quốc tế rộn rịp trên suốt dọc bờ biển của mình. Những người có đôi chút kiến thức về giao thương biển đều biết rằng một trong những điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất của một cảng biển quốc tế là nước ngọt, phải rất dồi dào nước ngọt. Những con tàu lang thang nhiều tháng trời trên các đại dương mặn chát, lắm khi chẳng vì mua bán gì cả, vẫn phải ghé lại các cảng ven bờ để “ăn” nước ngọt.

Và trên dải cồn cát miên man của mình, người Chăm là những người thiện nghệ nhất thế gian về nghề tìm mạch nước, đào và thiết kế giếng nước ngọt. Họ như có con mắt thần, có thể nhìn thấy đường đi của nước ngọt âm thầm trong lòng đất, những dòng nước mội. Chính hệ thống giếng nước ngọt thánh thiện và tuyệt vời – từ nước mội bất tận rỉ ra mà có – đã tạo nên vương quốc đại dương Champa, tôi nghĩ nói thế cũng chẳng hề quá đáng đâu…

Từ nhỏ, là dân vùng cát cháy miền Trung, tôi đã có hạnh phúc được biết nước mội, nếm nước mội, ăn nước mội, sống và lớn lên bằng cây cỏ được nuôi bằng nguồn nước mội ân huệ bất tận.Của Trời.Rồi về sau, cuộc đời lại đã cho tôi một may mắn khác: tôi hiểu hóa ra “Trời” đó không phải là một đấng trừu tượng thần bí nào, mà là một thực thể sống động, khổng lồ, cường tráng, hùng vĩ…, mà lạ thay, cũng lại rất mong manh, hết sức mong manh, ngày càng đang trở nên cực kỳ mong manh!Trường Sơn. Tây Nguyên.

Tôi đã được đi đến nơi đó và gắn bó hơn nửa cuộc đời của mình ở đó.Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên. Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người Mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn… Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này.


Tây Nguyên. Ảnh: Internet


Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước.Có lẽ cũng cần nói thêm một chút nữa về điều này: không chỉ cho dải đất cát cháy miền Trung đâu. Trường Sơn có một đặc điểm quan trọng về địa hình: đường phân thủy ở đây không chạy đúng giữa mà sát ngay về phía đông của rặng núi dằng dặc này, nghĩa là sườn phía tây của Trường Sơn rộng hơn sườn phía đông rất nhiều, có thể đến bốn năm lần. Tức nước từ Tây Nguyên đổ về phía tây cũng nhiều hơn về phía đông có thể đến bốn hay năm lần. Mà đổ về phía tây tức là về Mékông, về Nam Bộ, về toàn miền Nam.

Trong một chừng mực nào đó, Tây Nguyên, rừng Tây Nguyên có ý nghĩa quyết định đối với toàn miền Nam về tất cả các mặt. Nếu chỉ nói một mặt nước thôi, thì có lẽ cũng nên nhớ: nước ở miền Tây Nam bộ, ở Cà Mau kia, cũng có thể là nước mội từ Mẹ Rừng Tây Nguyên chắt chiu đưa về đấy, cho mênh mang vùng đất lúa của cả nước ấy không bị nhiễm mặn…

Hàng nghìn đời nay có những con người đã sống ở đây, gắn bó ruột thịt với rừng và đã tạo nên cả một nền văn hóa đầy minh triết bắt nguồn chính từ sự gắn bó ấy. Để bày tỏ đôi lời thật giản lược về nền văn hóa ấy và những con người ấy, chắc có thể nói vắn tắt như thế này: người Tây Nguyên không bao giờ coi rừng là tài nguyên. Không bao giờ có khái niệm khai phá, chinh phục, chiếm lĩnh tự nhiên, rừng. Đơn giản, Rừng đối với họ là Tất cả, là Mẹ, là cội nguồn của sự sống. Mà họ kính trọng và tôn thờ.

Chúng ta, những người tự coi là rất văn minh, rất khoa học, chúng ta biết nước là nguồn gốc của sự sống, nhưng chúng ta không biết, biết bằng hành vi cụ thể chứ không phải bằng lý lẽ to tát, rằng không có rừng thì cũng chẳng có, chẳng còn nước, nghĩa là cũng chẳng còn có sự sống, chúng ta không biết cái chân lý sơ đẳng và đơn giản ấy. Nhìn thấy rừng là con mắt ta hau háu nhìn thấy gỗ, gỗ, gỗ… Và hết gỗ rồi, bây giờ, thấy tài nguyên khác. Hau háu, hung hăng, hỗn hào chặt phá,và hết chặt phá, chẳng còn gì để chặt phá nữa thì đào bới…

Ở quê tôi, nay đã kiệt nước mội rồi. Chi tiết rất nhỏ ấy thôi, vậy đó, lại đang là tai họa tày trời! Chắc chưa ai quên vụ lũ kinh hoàng ở Phú Yên vừa rồi. Cả thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu chìm trong nước sâu. Gần trăm người chết. Ruộng đồng tan hoang… Một vị có trách nhiệm rất cao và trực tiếp giải thích: Ấy là vì biến đổi khí hậu toàn cầu, và lại nữa, vì nhân dân mất cảnh giác. Tại Trời và tại dân, Trời thì ngày càng tai ác, còn dân thì mãi ngu dốt! Có một chi tiết hẳn ở cương vị của ông ấy, ông ấy ắt phải biết nhưng lại không thấy ông nói: năm 2009, ở Phú Yên áp thấp nhiệt đới gây mưa 330 li; năm 1991, cũng tại chính Phú Yên này, mưa 1300 li, gấp hơn ba lần.

Năm 1991 không có gì đáng kể, năm 2009 lại tai họa khủng khiếp, vì sao? Ở miền Trung – mà ở cả nước đều vậy – ngày xưa chỉ có lụt và lụt là mùa rất vui, thậm chí thân thiết, mỗi năm lại trở lại một lần, người ta chờ nước lụt, nước lên từ tốn, ruộng đồng được tưới tắm phù sa, cũng là lúc làm ăn rộn rã, có lẽ cũng tương tự như mùa nước nổi ở Nam Bộ thuở nào.

Ngày nay không còn lụt, chỉ có lũ. Lũ rất khác lụt, lũ là nước đột ngột đổ ập xuống, như thác, hung bạo, nhanh và dữ cho đến nỗi, như vừa rồi, có người đã leo lên trần nhà rồi còn chết ngạt trong ấy vì không kịp dở mái để leo lên nữa! Lũ không mang phù sa đến, lũ quét sạch tất cả những gì nó gặp trên đường đi, và kéo đất đá từ trên rừng xuống lấp hết ruộng đồng. Tất nhiên ngày xưa cũng có lũ, nhưng chỉ trong những năm mưa đặc biệt lớn, cả đời một con người chỉ chứng kiến vài lần.

Ngày nay hễ đài vừa báo áp thấp nhiệt đới, thậm chí chỉ áp thấp, là cả nước đã rùng rùng lo chống lũ, sập núi, trôi rừng…Con số 1300 li năm 1991 và 330 li năm 2009 là con số hùng hồn, nó nói rằng vụ Phú Yên vừa rồi không phải chủ yếu do biến đổi khí hậu toàn cầu, không phải do Trời, như lời giải thích uyên bác của vị quan chức nọ.

Do người. Do cơ chế nước mội tinh tế, tinh vi, thông minh, nhân hậu tuyệt vời của thiên nhiên đã không còn, đã bị phá vỡ, đã bị con người triệt diệt bằng cách triệt diệt rừng. Rừng Tây Nguyên. Trong một cuộc trao đổi ở Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Trung ương vừa rồi, nhiều chuyên gia đã cảnh báo: không chỉ có nguy cơ lũ quét đâu, sau lũ quét sẽ tiếp đến nguy cơ hạn hán sẽ còn khốc liệt, tai hại hơn. Bởi vì nước mội và lụt hằng năm hiền lành là cùng một cơ chế, cùng một tác giả: Rừng. Rừng Tây Nguyên.

Trong hơn 30 năm qua, từ sau 1975 chúng ta đã làm xong một công việc to lớn: cơ bản phá hết, cạo sạch đến tận cùng rừng tự nhiên trên cái mái nhà sinh tử của toàn Đông Dương này. Đã quét sạch xong hết trên mặt đất, bây giờ đang bắt đầu moi sạch nốt dưới lòng đất. Cao su tuyệt đối không phải là rừng, không sinh ra cơ chế nước mội. Các khu công nghiệp của công nhiệp hóa và hiện đại hóa càng tuyệt đối không phải là rừng. Một quy luật vận hành ổn định, điều hòa, thông minh của tự nhiên đã bị triệt diệt, nhanh và cơ bản hơn tất cả mọi giai đoạn từng có trong lịch sử. Một quy luật khác đã được thiết lập, quy luật của hỗn loạn.


Rừng bị phá. Ảnh: Internet


Hãy nhìn lên cái mái nhà chung kia mà bao nhiêu thế hệ nhiều nghìn năm qua đã giao lại cho chúng ta, trên ấy đã mất hết màu xanh của sự sống.Có còn cứu được không?Còn, với một điều kiện: biết giật mình, dừng lại, bắt đầu lại.Cũng cần nói: hầu hết các nước mà ngày nay ta gọi là những nước phát triển đều đã đi qua “con đường đau khổ”, đúng hơn là con đường ngu dại này, cũng từng tàn phá hết rừng trên mặt đất và đào bới tàn bạo lòng đất, ở nước họ, rồi ở các nước khác.

Chỉ có điều, gần một thế kỷ trước họ đã giật mình dừng lại, và từ đó bắt đầu làm lại, khôi phục lại màu xanh cho đất đai, núi non của họ.Đi sau, chúng ta có thể khôn ngoan hơn như lẽ ra phải thế. Sự vội vã, kiêu căng, và lòng tham không đáy, đã che mắt chúng ta. Đang còn tiếp tục che mắt chúng ta. Chúng ta vẫn còn hăng lắm trong việc chặt phá nốt đôi chút còn lại và đang bắt đầu một công cuộc đào bới hung dữ.Cần ngay bây giờ chấm dứt mọi khai phá ở Tây Nguyên.

Cần nghĩ đến một con đường sống khác, một kiểu sống khác, một kiểu phát triển khác. Trên cả nước. Trước hết trên mái nhà sinh tử Tây Nguyên. Bắt đầu lại một công cuộc cứu lấy Tây Nguyên. Bắt đầu một sự nghiệp to lớn trồng lại rừng Tây Nguyên, trong một trăm năm, quyết liệt, kiên định, thông minh, với những kế hoạch cụ thể, cho 50 năm, 20 năm, 10 năm, 5 năm, toàn Tây Nguyên, từng tỉnh, từng huyện, từng xã, từng làng.Khôi phục lại màu xanh cho Tây Nguyên.

Bắt đầu ngay từ hôm nay, mùa xuân, mùa của màu xanh, của sự tỉnh táo, khôn ngoan.Cho đến một ngày, có thể một trăm năm nữa, con cháu chúng ta sẽ có thể bụm vào lòng bàn tay một ngụm nước mội trong veo mát lạnh rỉ ra từ đất cát và ngữa cổ uống ngon lành. Và biết rằng cha ông chúng từng rất dại dột, nhưng rồi cũng đã từng biết khôn ngoan, để cho sự sống từng sắp bị triệt diệt, lại được cứu, lại sinh sôi, phát triển, trường tồn.

Nguyên Ngọc.


































NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC: “CHÚNG TÔI KHÔNG COI VĂN HỌC VÀ NHÀ VĂN LÀ CÔNG CỤ CỦA AI HẾT”






Liêu Thái thực hiện
26-05-2015


Thưa nhà văn, là một người thuộc vào hàng “công thần khai quốc” của Hội Nhà Văn Việt Nam, đồng thời cũng là chủ khảo của nhiều giải văn học của Hội Nhà Văn Việt Nam (HNVVN), có thể nói là bề dày cống hiến của ông với HNVVN rất dày. Nhưng ông vừa có quyết định từ bỏ HNVVN, ông vui lòng cho biết nguyên nhân và lý do dẫn đến quyết định này? Và HNVVN đã có phản ứng gì với quyết định cùa ông?

Tôi có dự đại hội thành lập HNVVN năm 1957. Tất cả những người dự đại hội đó đều được coi đương nhiên là “hội viên sáng lập”. Tôi là một kiểu “công thần khai quốc” như thế đấy thôi! Hồi đó tôi còn rất trẻ, từ tỉnh lẻ xa xôi mới ngơ ngác về Hà Nội và vừa có tác phẩm đầu tay. Được vào Hội là thích lắm rồi. Về sau mới dần dần hiểu ra và nghĩ khác.

Năm 1979, tôi có lần nói với ông Lê Đức Thọ, bấy giờ là người có vị trí rất cao trong Đảng Cộng sản Việt Nam: Theo tôi quy luật tự nhiên của đời sống văn học là những người cầm bút chơi với nhau, tập họp nhau thành từng nhóm, hoặc vì cùng khuynh hướng nghệ thuật, hoặc vì nhu cầu giúp đỡ nhau thế nào đó, hoặc cũng có thể đơn giản vì thích tính nhau, gần gũi nhau sao đó… Trong từng nhóm như vậy, họ trao đổi với nhau về nghề nghiệp, về xã hội, về mọi thứ…, nhắc nhở, động viên, an ủi nhau trong công việc khó khăn nhất, tuyệt đối độc đảm, chẳng ai thay thế hay làm giùm ai được, là viết, đối mặt với trang giấy trắng; rồi ra sách, đưa sáng tác của mình đến công chúng; giúp nhau trong đời sống, bảo vệ nhau về nghề nghiệp và về xã hội. Một nền văn học phát triển một cách tự nhiên và lành mạnh là từ những nhóm như vậy. Ở ta trước đây và ở hầu khắp thế giới xưa nay đều như thế, tạo nên một đời sống văn học nhẹ nhõm mà đa dạng, giàu có. Từ sau 1945 ta lùa tất cả vào một hội, lại là hội của nhà nước, là phi tự nhiên, chỉ chật chội và làm nghèo văn học. Trong chiến tranh, còn chừng nào chấp nhận được; trong hòa bình rất không nên… Tôi nói với ông Lê Đức Thọ rằng trước sau đời sống văn học cũng sẽ đi theo con đường đó, nếu Đảng muốn lãnh đạo thì Đảng nên chuẩn bị để thích ứng với tình hình đó. Vả chăng, theo tôi, cũng chẳng nên lãnh đạo. Nếu xã hội cần văn học, ấy là cần tiếng nói riêng, khác biệt, độc đáo của từng nhà văn, góc nhìn, cách nhìn riêng của họ, từng người, từng nhân cách và từng tài năng, bằng cách chỉ có văn học làm được, không ai giống ai. Dồn hết họ vào một hội, để chỉ đạo thống nhất, buộc họ nghĩ giống nhau, tức triệt tiêu mất cái riêng họ có, riêng nhà văn mới có để đóng góp, khiến họ chỉ có thể là công cụ tầm thường, vô dụng, còn tai hại nữa, vì khi đó họ chỉ có thể nói theo, nói dối… Rất lạ là ông Lê Đức Thọ bảo: “Nghe cũng phải, để xem…”. Nhưng rồi về sau không thấy ông nói gì, làm gì nữa. Chắc ông còn những lo toan khác, nghiêm trọng hơn, ở chốn cung đình. Mà về phần tôi, tôi cũng không chờ đợi gì ở ông. Nếu đến một lúc nào đó chúng ta có một đời sống văn học thực sự, bình thường, tự nhiên, thì đó cũng do chính những người cầm bút làm ra. Chứ không phải chờ ai cho. Như vậy cái lúc đó nay đã đến. Việc từ bỏ HNVVN hôm nay của chúng tôi là một bước tất yếu theo con đường đó.

Nhắc lại như vậy để nói rằng, ít ra từ 30 năm trước, tôi đã thấy không nên có một hội nhà văn như HNVVN bây giờ, và tôi nên ra khỏi hội đó. Chưa ra ngay vì còn đôi cân nhắc. Năm 1989 tôi được đại hội HNVVN lần thứ tư bầu vào Ban Chấp hành gồm 9 người. Tôi đã nói với các anh chị đã bầu tôi rằng tôi đang đứng trước một lựa chọn: hoặc ở lại làm, hoặc từ chức ngay. Vì tôi biết, với cơ cấu đó, thể chế đó, sẽ có những việc tôi muốn làm, thấy cần làm, cần bảo vệ nhưng tôi sẽ không thể làm được, không bảo vệ được; có những việc tôi biết là xấu, có hại, nhưng tôi sẽ không ngăn được. Cuối cùng tôi đã quyết định ở lại, vì nghĩ bằng cố gắng hết sức may ra có thể làm được đôi việc có ích, và ngăn được đôi điều có hại. Kết quả cũng có lần thành công: Như năm 1991 tổ chức được giải thưởng HNVVN hay nhất trước nay, trao cho ba tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, Mảnh đất lắm người nhiều ma và Bến không chồng. Nhưng đến năm tiếp sau thì người ta đã rút kinh nghiệm để không cho một giải thưởng “sai lầm nghiêm trọng” kiểu đó lặp lại. Còn thì nhiều thất bại: chẳng hạn đã không ngăn chặn được HNVVN vùi dập tập thơ Chân dung nhà văn của Xuân Sách…

Trong các đại hội tiếp sau đó, cho đến đại hội lần thứ 9 đang được chuẩn bị hiện nay, HNVVN ngày càng tự khẳng định trước hết là “đoàn thể chính trị” (đương nhiên là của Đảng Cộng sản Việt Nam), rồi sau đó mới đến “xã hội”, cuối cùng mới là “nghề nghiệp”. Tôi nghĩ, đơn giản: Vậy thì hãy cứ lập một HNV của Đảng Cộng sản Việt Nam đi. Còn thì để cho những người cầm bút nghĩ khác lập những hội, nhóm khác. Sẽ phong phú, đa dạng hơn, vui hơn.

Thực ra từ hơn 10 năm nay tôi đã không còn dính dáng gì đến HNVVN, không dự sinh hoạt nào, không nhận gì của hội đó. Tôi kính trọng nhiều anh chị đang ở trong hội và tôn trọng sự lựa chọn của từng người. Riêng tôi, ngày tôi càng thấy HNVVN với cơ chế và một ban lãnh đạo như hiện nay không còn có ích gì cho nền văn học Việt Nam, cho người cầm bút, trái lại đang là công cụ đắc lực và không thể khác của một guồng máy phản dân chủ gây hại ngày càng nghiêm trọng cho mọi sáng tạo chân chính, cho cả nền văn học. Một HNVVN như hiện nay thực chất chỉ là cách để Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước kiểm soát văn học.

Trước đây tôi chưa ra vì không muốn gây ồn ào. Việc lãnh đạo HNVVN chủ trương gạch tên những người có ý kiến khác mình trong bầu cử đại biểu cho đại hội của HNVVN vừa rồi chỉ là giọt nước cuối cùng tràn ly của một việc, theo tôi, trước sau cũng sẽ đến. Cũng là dịp để chúng tôi cùng quyết định một lần.

Cho đến nay tôi chưa thấy HNVVN có phản ứng gì đối với quyết định của tôi. Chỉ có việc buồn cười: Nghe nói trong đại hội của chi hội HNVVN quanh cơ quan hội ở Hà Nội vừa rồi lại có quyết định cử tôi làm đại biểu chính thức đi dự đại hội HNVVN sắp tới. Cứ như trò hề! Cũng nghe tin ông Đỗ Hàn nào đó ở cơ quan hội nói rằng lãnh đạo hội chưa nhận được đơn xin ra hội của chúng tôi, đến khi nhận được sẽ xử lý theo điều lệ. Xin nói rõ: Chúng tôi tuyên bố từ bỏ một hội đã suy thoái không phương cứu chữa, không xin phép ai đâu!

Có thể nói rằng với tư cách một nhà văn, ông là một nghệ sĩ rất nặng lòng với dân tộc, với công cuộc giáo dục Việt Nam, và đứng trên phương diện một trí thức, ông có phản ứng rất mạnh mẽ với những vấn đề liên quan đến sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Liệu tâm thế này có mối liên hệ nào với quyết định rời bỏ HNVVN của ông?

Để trả lời câu hỏi này của anh, tôi muốn dẫn lại ở đây một câu của Bernard Frank viết về cuốn sách De Gaulle của François Mauriac mà Frank rất chê, đăng trên báo Le Nouvel Observateur cách đây vừa đúng 50 năm: “Không có bất cứ một nhà chính trị nào trên thế giới đáng cho một nhà văn bẻ gãy ngòi bút của mình vì ông ta. Vai trò của chúng ta (nhà văn) – có cần nhắc lại không nhỉ? – đối với chính quyền nào cũng vậy, là không mệt mỏi đặt lại vấn đề, là thể hiện cái tinh thần phủ nhận, mà ông tướng ấy [tức De Gaulle] đã có lần phàn nàn…”. Vậy đó, tôi cũng hiểu về văn học và nhà văn đúng như vậy. Cũng có thể diễn đạt: Sở dĩ xã hội cần nhà văn, là vì anh ta nói tiếng nói khác, nhiệm vụ của anh ta là gây sự hoài nghi, anh ta khiến những điều đã tưởng là như thế chưa chắc đã là như thế. Văn học đề nghị với con người một cách nhìn khác về mọi sự vật. Tôi hiểu như vậy, sống như vậy, nên không có khác biệt cơ bản nào giữa những việc tôi can dự theo trách nhiệm công dân của mình, về xã hội, về chính trị, về văn hóa, về giáo dục… mấy mươi năm nay, với việc tôi cầm bút và thái độ của tôi đối với HNVVN hôm nay.

Là người chủ xướng xây dựng Văn đoàn Độc lập, ông vui lòng cho độc giả biết đôi nét về Văn đoàn Độc lập?

Trước hết chúng tôi muốn chấm dứt tình trạng dồn nhau hết vào trong một HNV của nhà nước, nằm chung trong cái gọi là “hệ thống chính trị” của Đảng và nhà nước, đương nhiên là công cụ của họ. Chúng tôi không coi văn học và nhà văn là công cụ của ai hết.

Chúng tôi muốn gặp nhau trong một hội đoàn gồm những người cầm bút độc lập, sống, viết một cách độc lập và chịu trách nhiệm về cái viết của mình trước cuộc sống, trước đất nước và công chúng của mình.

Chúng tôi là nhóm họp của những người cầm bút độc lập đầu tiên. Mong sẽ là mở đầu cho những nhóm họp đa dạng, phong phú nữa về sau.

Sau năm 1975, tôi nghĩ nhiều đến một cuộc phục hưng dân tộc sau một giai đoạn lịch sử kéo dài, một thế kỷ nô lệ, tiếp liền một thế kỷ chiến tranh không chỉ vô cùng ác liệt mà còn vô cùng phức tạp (đến mức tới hôm nay còn tranh cãi chưa xong chiến tranh ấy thực sự là chiến tranh gì!). Trong công cuộc to lớn đó, nền tảng là phục hưng văn hóa. Theo tôi, một công cuộc cần thiết và căn bản như vậy đã không được nhận thức đúng mức, thậm chí hầu như không hề được nhận thức. Ngược lại phổ biến tâm lý, từ trên tầng cao nhất, coi mọi sự là đã xong rồi. Trong khi công cuộc xây dựng, xây dựng lại dân tộc đáng ra cần bắt đầu, chỉ có thể bắt đầu, chứ không phải đã kết thúc. Chính vì thế mà cuộc đi tới của dất nước và xã hội 40 năm nay rất loạng choạng. Văn hóa xuống cấp như chưa từng thấy, xã hội mất ổn định nặng nề… Văn học không thể làm ngơ trước tình hình và nhiệm vụ này. Chúng tôi mong muốn góp phần xây dựng một nền văn học có thể giữ được vai trò xứng đáng của mình trong cuộc phục hưng căn bản và sống còn đó.

Theo ông, khi mà các dòng chảy văn hóa/văn chương cũng như các trào lưu tiến bộ trên thế giới đang từng ngày thâm nhập vào Việt Nam, liệu với cơ chế hoạt động hiện tại, HNVVN sẽ đi đến đâu?

Theo tôi, ở phía Bắc, do những điều kiện khách quan và chủ quan – mà chủ quan là chính – đã bị cắt đứt với dòng chảy văn hóa/văn chương thế giới trong hơn nửa thế kỷ. (Đúng ra chỉ có thông thương với thế giới xô viết và các nước gọi là xã hội chủ nghĩa, một thế giới cũng khá khép kín). Trong khi đó, ở miền Nam dòng chảy này thông thoáng, mạnh mẽ, tương đối cập nhật và liên tục hơn nhiều. Cho nên nối kết trở lại được với di sản của văn học miền Nam trong suốt thời 1954-75, cũng là một trong những cửa mở thông thương với các trào lưu thế giới phong phú và đa dạng. Và là góp phần khôi phục lại dòng chảy bình thường, lành mạnh cho đời sống văn học nước nhà. Chính trên nhận thức như vậy mà chúng tôi đã cố gắng mở mục “Văn học miền Nam 1954-1975” trên trang mạng Văn Việt của Ban Vận động Văn đoàn Độc lập. Thừa kế tốt di sản gần của văn học miền Nam 1954-1975 cũng là một trong những điều kiện quan trọng để văn học làm được vai trò cần có của nó hôm nay.

Một cơ chế đầy kiêng kỵ ý thức hệ như của HNVVN hiện nay đương nhiên ngăn cản việc mở cửa ở hướng này. Chỉ mới nói riêng về mặt này thôi, ở một việc này thôi, đã cho thấy cơ chế của HNVVN, dù muốn dù không, về cơ bản là một cơ chế đóng kín. Cơ chế đó tất cũng sẽ đóng kín với mọi trào lưu tiến bộ trên thế giới, sẽ khiến sự phát triển văn học chật hẹp lại rất nhiều, bất chấp những cái gọi là hoạt động quốc tế ồn ào, hình thức, tốn kém của hội.

Cũng là một cái cớ nữa để mà khó chấp nhận một hội như thế.

Liệu việc từ bỏ HNVVN cũng như dám đứng ra bày tỏ thái độ yêu nước, kêu gọi chống họa ngoại xâm có làm khó cho ông trong công việc hằng ngày cũng như trong hoạt động sáng tác?

Vừa có vừa không, anh ạ.

Tôi đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, đã bị đài truyền hình Hà Nội đưa hình lên khi nói về “bọn phản động bị các thế lực thù địch ngoài nước xúi giục” rồi. Sau khi lập Ban Vận động Văn đoàn Độc lập thì có chỉ thị cho các báo và các phương tiện truyền thông khác trong nước không được đăng bài vở của tôi, cũng như của tất cả những người tham gia Ban Vận động Văn đoàn Độc lập, cũng không được nhắc đến tên tuổi chúng tôi nữa. Hội thảo về Nguyễn Đổng Chi vừa rồi cũng bị cấm không được mời tôi, tham luận của tôi gửi đến từ trước bị loại ra khỏi kỷ yếu hội thảo… Về những chuyện này có hai điều cần nói: một số báo vẫn xé rào đăng bài của tôi, đưa tin về tôi. Nghĩa là họ thấy cái chỉ thị kia thật lố bịch. Và theo tôi biết tất cả cấm đoán đó đều chỉ được truyền từ trên xuống bằng miệng, qua điện thoại hay tin nhắn. Một đảng, một nhà nước kỳ lạ. Đánh người toàn bằng đánh trộm, thụi ngầm và phi tang. Nghĩa là người ra lệnh cũng tự biết việc làm của mình ám muội thế nào.

Tuy nhiên tất cả những chuyện đó về cơ bản không gây sứt mẻ gì đối với tôi. Bị quấy nhiễu, tôi đã quen. Còn khi cầm bút, tôi vẫn thanh thản. Sợ nhất là tâm không yên để mà viết, và viết cho hay. Mà cái đó thì là tự trong lòng mình, tự mối liên hệ riêng của bên trong mình với cuộc sống; quấy nhiễu chỉ là ở ngoài, chẳng làm rối được tâm mình.

Là một người có tác phẩm trong chương trình giảng văn, theo ông, vấn đề dạy và học văn hiện tại có phù hợp với nhu cầu cũng như môi trường văn chương đương đại?

Phải nói dạy và học văn trong nhà trường hiện nay đang ở tình trạng tai họa. Nói chi đến chuyện “phù hợp với nhu cầu cũng như môi trường văn chương đương đại”, sẽ là quá sang. Theo tôi, ở môn này hiện nay, người dạy chân chính đang rất gặp khó, người học thì chán ghét. Cũng phải thôi, vì văn – có lẽ cùng với môn sử – là môn bị chính trị hóa nặng nề và thô thiển nhất. Tôi nghĩ không thể nói sự suy thoái của môn văn trong nhà trường không liên quan gì đến sự xuống cấp nghiêm trọng của đạo đức xã hội. Nhân đây cũng xin nói một điều: Trong chuyện văn chương, cũng như chuyện dạy và học văn, ở ta vẫn quen coi trọng đúng sai, hơn là hay dở. Trong khi, trong văn chương, “đúng” sẽ chẳng là gì cả, chẳng để làm gì cả, nếu dở. Và văn chương dở thì cực kỳ tai hại. Nó phổ cập, truyền nhiễm cái tầm thường, khiến người ta quen với sự tầm thường, đẩy người ta vào môi trường thường trực của sự tầm thường, cũng như quen ở dơ vậy, lại là cái dơ về tinh thần. Mà tầm thường, dơ bẩn về tinh thần là môi trường của cái xấu, cái ác.

Sự suy thoái của môn văn trong nhà trường hiện nay là đáng báo động, không chỉ về văn học, cho văn học, mà là báo động xã hội.

Cơ chế hoạt động hằng năm của HNVVN dựa vào nguồn kinh phí nào và theo ông cơ chế này có phù hợp với sinh quyển sáng tác, phù hợp với nhu cầu sáng tạo của người nghệ sĩ trong hiện tại?

Dĩ nhiên, kinh phí của nhà nước. Cho nên, tất yếu, “sinh quyển”, như anh gọi, cũng là sinh quyển văn chương nhà nước! Cũng là công bằng thôi: Anh nhận tiền của người ta thì anh phải viết cho người ta chứ, gian lận sao được! Hình như chị Ngô Thị Kim Cúc có nói với anh rồi: ở Ban Vận động Văn đoàn Độc lập chúng tôi đều nghèo, nhưng chúng tôi chắt chiu góp tiền túi với nhau để làm mọi việc, cũng còn ít oi. Ngó vậy thôi, mà đây cũng là chuyện nhân phẩm và nguyên tắc của người cầm bút.

Ông có dự tính gì mới trong các hoạt động sắp tới của Văn đoàn Độc lập? Tiêu chuẩn để trở thành thành viên Văn đoàn Độc lập?

Hiện nay chúng tôi đang tập trung vào trang Văn Việt.

Tôi xin tâm sự với anh điều này, khi làm mục “Văn học miền Nam 1954-1975”, đọc lại một phần văn chương miền Nam thời ấy, tôi nhận ra một chỗ khác biệt với văn chương miền Bắc cùng thời: văn chương miền Nam thời ấy có triết học, văn chương miền Bắc thì không. Tất nhiên văn chương không phải là triết học, nhưng một nền văn chương không có triết học thì nguy. Có lẽ một trong những điều chúng tôi sẽ cố gắng sắp tới là giúp nhau đọc nhiều hơn, đông tây kim cổ, nhất là những tìm tòi mới về tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật…, để cho văn chương nghĩ về nhân tình thế thái đỡ cạn cợt, nói về con người và xã hội thấu đáo hơn. Chắc phải bằng nhiều cách, trên trang Văn Việt cũng cần tìm cách đi thêm về hướng này.

Có lần tôi nói với anh Trần Độ về mong muốn đến lúc nào đó trong văn chương ta xuất hiện được một hay vài đỉnh cao mới. Anh ấy bảo: “Mình cũng mong thế, nhưng mình nghĩ trong nghệ thuật muốn có đỉnh cao mới thì phải có trường phái mới…”. Đời sống văn hóa của chúng ta, giáo dục chúng ta, sinh hoạt văn chương của chúng ta không khuyến khích trường phái, nhất là không tạo nền tảng cho những trường phái mới xuất hiện. Có lẽ đã đến lúc nghĩ đến điều này một cách nghiêm túc. Tổ chức của chúng tôi còn nhỏ, nhiều khó khăn, nhưng chúng tôi có tham vọng. Đây cũng là một hướng chúng tôi đang nghĩ tới.

Về cụ thể, chúng tôi cũng đang tính đến một số hình thức hoạt động, như các cuộc thảo luận, đa dạng và cởi mở, một kiểu giải thưởng sao đó… Trong nghệ thuật hình như có hiện tượng: cái hay, và chỉ có cái hay mới gọi được cái hay, cái mới lại kích thích cái mới. Những giải thưởng của Tự lực Văn đoàn ngày trước là vậy, chính qua đó mà văn đoàn này có thể nói đã có công gầy dựng được cả một lớp nhà văn kế tiếp đặc sắc …

Về thành viên Văn đoàn, chắc chỉ có hai “tiêu chuẩn”: Chúng tôi mong muốn được đón tiếp những cây bút tài năng. Và là người tự nguyện phấn đấu cho tôn chỉ “Vì một nền văn học đích thực, tự do, nhân bản”.

Dự đoán của ông về tương lai văn học trong những thập niên tới?

Tôi không dám làm thầy bói. Chỉ xin nói hai hiện tượng theo tôi là đáng chú ý:

Tôi thấy đang xuất hiện một lớp người viết trẻ, chưa nhiều nhưng cũng không quá ít, có tài, và đặc biệt rất khác chúng tôi, về cảm nhận thế giới, và cả về tư duy và ngôn ngữ nghệ thuật. Tôi thường nghĩ thế này: Trong đám người chen chúc, hỗn loạn, trùng điệp đến vô diện mạo trên các đường phố Sài Gòn ta có thể thấy bất cứ giờ nào hôm nay, giá như ta có thể tách ra được từng người, có thể lắng nghe được tận sâu kín bên trong của họ, từng người, làm sao trong họ, ít ra ở một số người và từng lúc, lại không có, không nuôi những khát khao và hy vọng về một thế giới tinh khiết, trong trẻo, an lành, thật tốt đẹp… Có thể mong manh lắm, nhưng có… Hình như những người cầm bút trẻ tôi vừa nói trên, đến lượt họ, sẽ nói về cái phần lắng đọng đó, về thế giới mong ước xa xôi đó… Có thể tin.

Cạnh đó, cũng đã thấy một số bạn trẻ rất tài năng, đang đi vào con đường nghiên cứu văn hóa uyên thâm, cập nhật với những vấn đề và suy tưởng mới nhất, và từ đó đang trở lại suy gẫm về văn hóa, văn chương của chúng ta. Có thể chăng họ đang tạo một cái nền cần thiết cho chuyển động văn học mới. Họ làm việc thường lặng lẽ mà ráo riết. Tiếng nói của họ không ồn ào. Chúng tôi đang chăm chú lắng nghe. Và thiết tha chờ đợi.

Xin cám ơn ông, kính chúc ông mạnh khỏe, an lạc!


Nguồn: Bản do nhà văn Nguyên Ngọc cung cấp. Đã đăng trên Người Việt





































NGƯỜI ANH HÙNG ĐÃ RA ĐI





Nguyên Ngọc











Tôi quen anh Bùi Ngọc Tấn nhiều là từ khi đọc bản thảo Mộng du, tên ban đầu của Chuyện kể năm 2000, anh Tấn từ Hải Phòng gửi lên dự cuộc thi tiểu thuyết do nhà xuất bản Hà Nội tổ chức. Chị Hoàng Ngọc Hà giám đốc nhà xuất bản nhờ tôi đọc, đọc xong tôi nói với chị : nếu được làm trưởng ban giám khảo tôi sẽ xin trao ngay giải nhất cuốn này không chút đắn đo … Chuyện kể năm 2000 có số phận của những tác phẩm lớn, nó thuộc những cuốn sách như một danh ngôn đã nói : Các bản thảo là thứ không cháy (Les manuscrits ne se brûlent pas). Long đong, mà không, không thể chết. Nó không được giải thưởng, sách cũng không được in, dù chị Hà biết rõ giá trị lớn của nó. Phải đợi đến mấy năm sau mới có một người làm biên tập dám đánh đổi cả sự nghiệp và điều ở ta thường được gọi là “ sinh mệnh chính trị ” của mình để trang trọng đưa nó ra đời, cho nhân dân, cho đất nước, cho con người : anh Bùi Văn Ngợi ở nhà xuất bản Thanh Niên. Anh Ngợi bị kỷ luật, phải về hưu sớm. Và một vị bộ trưởng, khốn thay, từng là nhà thơ có tiếng, đã cho xử tử ngay Chuyện kể năm 2000. Cuốn sách vừa ra lò bị đem xay thành bột. Nhưng, danh ngôn kia là chân lý, mà hết lứa này đến lứa khác những người cầm quyền tư tưởng không chịu, không thể hiểu : bản thảo là thứ đốt không cháy, nghiền không nát. Như trong một truyện thần kỳ, bằng nhiều cách nó đến tay và được hàng triệu người Việt Nam đọc. Rồi nó đi vòng ra thế giới, trong bản dịch tiếng Pháp nó có tên làConte pour les siècles à venir, Chuyện kể cho các thế kỷ mai sau. Vậy đó, không thể băm vụn nó trong không gian, cũng không thể hỏa thiêu nó trong thời gian. Rất đơn giản : vì nó chứa tư tưởng, là thứ không thể diệt, là thứ mà các các triều đại liên tục không sao thoát khỏi được căn bệnh u mê tin có thể hạ sát bằng bạo lực. Càng không thể đánh bại được vì đây là sức mạnh của tư tưởng về lòng nhân từ. Cuốn sách của anh Tấn nói về một sự kỳ lạ đến tưởng khó tin : sức mạnh bất tử của lòng nhân từ. Chiến thắng của lòng nhân từ trước mọi bạo lực và nham hiểm. Tôi nói điều này mà không sợ quá sai : Bùi Ngọc Tấn có lẽ là nhà văn nhân từ nhất từng có ở ta. Hiền hậu, khiêm nhường, trữ tình, đến ngây thơ. Yêu đời, yêu người, yêu thiên nhiên, đất trời, cây cỏ… đến ngây dại. Hóm hỉnh, nhẹ nhàng, thong dong, từ tốn đến hơi vụng về và chậm chạp… Nhưng cũng là người dũng cảm nhất trong những người cầm bút chúng tôi. Một dũng khí phi thường trước cái ác cùng mọi sáng tạo nham hiểm nhất của nó.



Bùi Ngọc Tấn kể chuyện một người bị bắt và bị tù oan, vì những chuyện ở đâu đâu, hẳn là chuyện người ta đấu đá tranh dành nhau ở tận đâu đó trên cung đình xa tít kia chẳng dính dáng gì đến anh, anh là một con tốt vô danh trên một bàn cờ xấu xa bẩn thỉu, bị tù mà chẳng hề có án gì hết, cũng tức là có thể vô tận, như đột nhiên bị rơi vào khoảng không mịt mù về cả không gian lẫn thời gian. Cái nhà tù kiểu Kafka đó lại có chỗ khác Kafka, nó có một mục tiêu rất rõ ràng : đánh bại con người, hạ nhục con người đến tận cùng, quá cả sự tận cùng nữa, cho đến chỗ không thể, không còn là con người, cho đến chỗ cái con từng là con người kia mất đi cho kỳ hết chất người, chỉ còn hoàn toàn là con vật. Sạch sành sanh nhân tính, sạch sành sanh nhân cách, nhầy nhụa như con vật. Tôi cho rằng một trong những kỳ tích văn học, văn hóa lớn lao của Chuyện kể năm 2000 là nó đã chỉ ra, một cách hết sức cụ thể, vô cùng sống động và đáng sợ, cái mục tiêu sâu thăm thẳm và đen ngòm của những thế lực chủ trương kiểu nhà tù của một ý thức hệ đồi bại và tàn phá đó. Bùi Ngọc Tấn nói rằng cái đó đang có, ở đây. Một phát hiện cảnh báo và dũng cảm.



Có một câu hỏi : vì sao bọn họ lại làm như thế ? Hình như Jean Paul Sartre, trong tác phẩm lý luận đặc sắc Văn học là gì ? đã có lần trả lời khi nói về tra tấn của bọn đầu hàng trong thời phát xít Đức chiếm đóng nước Pháp. Ông bảo đấy là bọn đã sa xuống hàng thú vật, nên chúng vô cùng căm ghét những ai còn là người. Chúng căm thù nhân cách của con người. Tao đã thành thú vật sao mày còn là người ?



Câu chuyện Bùi Ngọc Tấn kể cho các thế kỷ mai sau là một câu chuyện như thế đó. Từ tốn, nhỏ nhẹ, không chút hằn học, hận thù, anh kể chuyện một con người, chuyện những con người, bị đày đọa đến tận cùng, đã uống đến cặn đáy của khổ đau, vẫn từng ngày, từng phút, từng giây giữ chắc phẩm giá của con người. Sự bình tĩnh, nhân hậu của ngòi bút anh cho thấy đức dũng cảm ở con người của anh cao cả biết dường nào. Để cho ta, cho mỗi chúng ta, cho con người mãi mãi mai sau hiểu và tin rằng không gì đánh bại được con người. Vậy đó, lạ thay, tác phẩm để đời của Bùi Ngọc Tấn, cuốn sách của khổ đau cùng cực, lại là cuốn sách của niềm tin. Niềm tin vĩ đại ở con người. Là bản tráng ca về con người bất tử. Bản anh hùng ca về phẩm giá không thể nghiền nát của con người.



Chỉ con người có lòng nhân hậu mênh mông mới có được lòng dũng cảm phi thường đó.



Vâng, Bùi Ngọc Tấn, một người anh hùng như vậy vừa ra đi.

*

Cách đây hơn hai tháng, ngay 4 tháng 10, tôi nhận được bức thư này của anh Tấn, hóa ra là bức thư cuối cùng :

“ Tôi đã về Hải Phòng được 1 tháng rồi. Ít ngủ lắm anh ạ.

Ngày mai, thành đoàn Thanh Niên Hà Nội mời tôi lên họp mặt kỷ niệm 60 năm tiếp quản Thủ Đô, đã định đi, một bạn đọc, anh Cư ( người đã gặp anh, đã in CKN2000 thật đẹp để tôi tặng) cho một chuyến xe về Hà Nội mà rồi không đi được vì sức khỏe.

……

Quyển Các bạn tôi trên ấy của anh còn đang phiêu bạt, không biết bao giờ mới trở về với tôi. Trông anh trong bức ảnh yêu quá đấy. Cuộc đời qua thật nhanh, nghĩ cũng tiếc là mình chưa sống cho mình được bao nhiêu. Tôi sẽ cố cầm cự với khối u này một ít thời gian vì còn mấy việc lặt vặt nữa phải làm.

Tết này, mong lại được đón các anh…”

Anh Tấn ạ, lỡ hẹn mất rồi, Tết này không còn được gặp lại nhau.

Bùi Ngọc Tấn là một tài năng văn học lớn. Một trong những đặc điểm của tài năng nghệ thuật là nó luôn đơn nhất, không có hai, không lặp lại. “ Mấy việc lặt vặt nữa ” anh Tấn bảo anh phải cố cầm cự với khối u để làm là những gì, không còn ai có thể biết.

Không đâu, dẫu cố an ủi nhau trước nỗi đau hôm nay, ta cũng không thể biết ta đã mất gì khi Bùi Ngọc Tấn ra đi, mãi mãi, mãi mãi …

Nguyên Ngọc


(*) Bài đăng trên báo Người Đô Thị Tết Ất Mùi 2015, đây là bản chính của tác giả.















Tác phẩm mới nhất





















Các Bạn Tôi Ở Trên Ấy
Bút ký 2013
Giải thưởng Hội Nhà Văn Hà Nội
































Tác phẩm đã xuất bản:










Đất nước đứng lên 1955













Rẻo Cao  (1959)





Mạch Nước Ngầm  (1960)





Rừng Xà Nu  (1965)






Đất Quảng  (1969)






Tháng Ninh Nông  (1979)












Có Một Con Đường Mòn Trên Biển Đông  (1995)















Cát Cháy  (1997)

















Tản Mạn Nhớ Và Quên  (2001)













Lắng Nghe Cuộc Sống  (2003)














Nghĩ Dọc Đường  (2005)













Bằng Đôi Chân Trần  (2008)
























Dịch Phẩm:






Roland Barthes: 
Le Degré Zéro De L'écriture





Jean Paul Sartre: 
Qu'est-Ce Que La Littérature





Milan Kundéra: 
La Théorie Du Roman. Les Testaments Trahis





C.Levi-Strauss: 
Tristes Tropiques





Jacques Dournes: 
Populations Montagnardes Du Sud Indochinois






Foret, Femme, Folie







P'tao, Une Théorie Du Pouvoir







Henri Maitres: 
Les Jungles Moi







Anne De Hautecloque Howe: 
Une Société De Droit Maternel.















Mấy lần đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một mạch nước ngầm
Cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng Xà Nu

Thơ Xuân Sách



















Phỏng vấn










Văn học, nội lực, trong-ngoài, và ….

vài tra vấn với nhà văn Nguyên Ngọc







Nhà văn Nguyên Ngọc tên thật là Nguyễn văn Báu, sinh năm 1932 tại Đà Nẵng, sống tại Hội An, còn có bút hiệu là Nguyễn Trung Thành. Ông tham dự hai cuộc chiến tranh, nguyên Đại Tá QĐND Việt Nam, lăn lộn trên chiến trường miền Nam, Tây Nguyên và chiến khu V cho đến ngày hòa bình. Không hỏi, ông chỉ nói mình đã từng là Bí Thư xã, một chức vụ có lẽ ít người mang ra khoe. Hỏi, ông mỉm cười ( ngượng ngịu ? ) nhận đã từng là Đại biểu Quốc Hội khóa VI, Phó tổng thư ký Hội Nhà Văn Việt Nam (79-86). Những chức vụ đó thường thuộc loại hữu danh nhưng ít khi (thiết) «thực». Ông dí dỏm kể, suốt thời gian làm Đại Biểu Quốc Hội, ông phát biểu có đúng một lần, về vấn đề tự do báo chí…





Nam Dao

- Thưa anh, anh đã làm Tổng biên tập tuần báo Văn Nghệ từ 1987 cho đến 1989. Anh có thể kể sơ qua cho độc giả Hợp Lưu cái nhân duyên nào đã khiến anh nhận cái trách nhiệm ‘’cởi trói’’ cho văn nghệ thời đó không ?



- Cái thời đó báo Văn Nghệ ế lắm, ra đâu được hai mươi hay hai mươi lăm ngàn số gì đó, đọc thì chán nên bán không ai mua, ngân sách thâm thủng, lại đèo bồng một ban biên tập ăn không ngồi rồi đông lắm…Tìm Tổng biên, chẳng ai «xung phong». Thế rồi có một ai đó gióng lên tên tôi …Anh em họ bảo, cũng được đấy, cũng tốt thôi. Anh Trần Độ lúc đó là Trưởng ban Văn Hóa Văn Nghệ nghe, rất đồng ý. Anh Nguyễn Đình Thi lúc đó là Tổng thư ký Hội Nhà Văn ban đầu cũng vun vào, nhưng sau nghĩ lại lại ngại ngùng thế nào đó nên dùng dằng. Thế nhưng bên văn phòng ông Độ, người ta cứ điện thoại giục mãi cho nên cuối cùng thì rồi… cũng tốt thôi. Cái thuở ban đầu lăng nhăng ấy ( chứ không phải là lưu luyến gì nhé ), việc cần làm ngay (nói kiểu khẩu hiệu lúc bấy giờ) là mời đâu đến gần nửa số anh em trong Ban Biên Tập là cứ lãnh lương nhưng không phải đến cơ quan, để yên cho người khác làm việc…




- Có những nghề là nghề không làm gì cả. Có những nghề chuyên thọc gậy bánh xe (thơ Nguyễn Duy) !

- Ờ (cười)…Sau những cái linh tinh, đến đoạn phải chọn, phải tìm bài. Tôi lục đống bản thảo báoVăn Nghệ đã từ chối, thấy có Tướng Về Hưu của Nguyễn Huy Thiệp, quả là chuyện nhân duyên! Sau một thời gian ngắn, người đọc rất tinh lập tức nhận ra báo Văn Nghệ đã có sự chuyển hướng rõ rệt, quyết nhìn thẳng vào các vấn đề xã hội nóng bỏng, liền quay lại với tờ báo, thật sự coi đó là tiếng nói tâm huyết và trung thực của họ, báo phát hành đến trăm năm mươi ngàn số mà vẫn thiếu. Anh Nguyễn Khắc Viện ở SàiGòn về, bảo anh ấy từng sống bên Tây mấy mươi năm, nhưng chưa bao giờ anh ấy thấy cái cảnh người ta đứng chờ ở sạp báo rồi thuê để đọc, đọc xong trả lại, có người khác thuê ngay…Đó là thời có Cái Đêm hôm ấy Đêm gì của Phùng Gia Lộc, Tiếng đất của Hoàng Hữu Cát, Người đàn bà quỳ của Xuân Ba, Lời khai của bị can của Trần Huy quang, người ít lâu sau đó sẽ viết Linh Nghiệm là những sáng tác thật sự gây chấn động.


- Thời Văn Nghệ bị phê là ‘’làm’’ văn nghệ ẩn dụ và ám chỉ ?

- Ờ …người ta mang ra họp và hỏi những nhà văn nhà thơ, Linh Nghiệm thế này có đúng là ám chỉ Bác Hồ không ? Nguyễn Duy nó bảo không, chẳng thấy Bác đâu, chắc cái anh mang tố Linh Nghiệm có tính ám chỉ mới là cái anh xấu, cứ để nói mãi thì rồi đọc mãi cũng thấy có ám chỉ thật …


- Thế còn chuyện cởi trói?

- A, cái từ sau này thường được nhắc đi nhắc lại, là ‘’cởi trói’’, và ‘’cởi trói cho văn nghệ’’! Tôi thì tôi cho rằng cách nói thế là không hoàn toàn đúng. Nói như vậy là cho rằng bấy giờ đã có một ai đó, do có lòng tốt (thiện chí), do thấy thương hại, động lòng mà cởi trói và văn nghệ được hàm ơn nên rồi đã đổi mới. Sự thực, không phải như vậy. Chẳng ai có lòng tốt cả. Và trong những việc này, lòng tốt chẳng có ích dụng gì. Cuộc sống không phát triển do lòng tốt may rủi của một ai đó. Sự thật diễn ra thời ấy không phải như vậy. Ngược lại.


- Ngược lại ? Xin anh khai triển thêm…

- Sự thật bấy giờ là sự sống bị dồn nén lâu dài , do sức mạnh nội sinh tích luỹ, cuối cùng đã phá vỡ làm bật tung những ràng buộc vô lý, phi tự nhiên. Cuộc sống tự nó phá trói, mở đường đi tới. Những trói buộc đã bị bật tung vì chúng không đủ sức kìm hãm nữa. Nói cách khác, sự đi tới của cái tự nhiên, qua dồn nén lâu ngày, đã mạnh hơn cái phi tự nhiên. Đấy mới chính là bản chất của ‘’Đổi Mới’’. Như chúng ta biết, đổi mới đã được bắt đầu trong kinh tế, trước hết là trong nông nghiệp (với sự kiện khoán chui ở Vĩnh Phú cuối thập niên 60). Rõ ràng là nông dân đã tự phá trói chứ không phải lãnh đạo, do có lòng tốt mà chủ động cởi trói cho nông dân. Tất nhiên tôi hiểu và công nhận vai trò của những cá nhân cụ thể. Sự xuất hiện đúng lúc của họ tạo kích tố cho sự sống bung ra và phát triển nhanh hơn, thuận lợi hơn. Nhưng nghĩ cho cùng thì chính sức mạnh bị dồn nén đến lúc bứt phá đã ‘’đẻ’’ ra họ vào đúng thời điểm đó. Tôi cho rằng cần nhìn như vậy để hiểu rằng thời kỳ văn học 1986-1991 là có tính qui luật.


- Điểm qua thời đó, có những NguyễnHuy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập, Dương Thu Hương, Nhật Tuấn, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường, Ma Văn Kháng, Tạ Duy Anh, Ngô Ngọc Bội…gây sự kiện đổi mới trong văn học. Sự bùng nổ này, anh cho là có qui luật. Thế thì vì sao nó ngưng lại từ 1992?

- Nói đến tính qui luật cũng để thấy nếu sau đó nó lại bị khựng lại, thì nói cho cùng, cũng là khó tránh khỏi, là tất yếu, là qui luật. Và cũng để tin rằng, đến một lúc nào đó, cũng sẽ tất yếu diễn ra một cuộc phá trói mới. Nói tóm lại, mọi diễn biến củ văn học, bứt ra, tiến lên, hay dừng lại, đều chủ yếu là do nội lực của nó. Không thể khác được .


- Nội lực của văn học? Thuật ngữ này nhắc tôi chuyện một văn hữu nhắn hỏi anh tại sao mà những nhà văn nước ta cứ như Trình Giảo Kim, chém đúng ba búa là rồi bỏ chạy dài dài… Cái «mệnh văn» của nhà văn An Nam, cụ Nguyễn Tuân than thở, nó yểu thế nào ấy. Trong văn học ta từ 92, rõ la øthiếu sự kiện và hiện tượng. Không có thành tựu trong tác phẩm. Xin hỏi anh, tại sao có hiện tượng chợ chiều này trong khi những vấn nạn và vấn đề mới mẻ trong xã hội thì đầy rẫy, nào là định hướng thị trường của cái XHCN oặt oẹo, sự bơ vơ ý thức hệ, xã hội trên đà mất (hay đang tìm…?) đạo đức (mới…?) ? Cái gì đã cản trở ? Có phải là vấn đề tự do sáng tác không ?

- Muốn hiểu vì sao có tình trạng chợ chiều hôm nay cũng không có cách gì khác hơn là nhìn lại thực chất nội lực của văn học. Văn học thời Đổi Mới đã bứt phá ra được vì nội lực của nó qua dồn nén lâu dài đã đến lúc trở nên mạnh hơn những lực lượng kìm hãm. Nhưng trong cuộc bứt phá đó nó đã «tiêu xài» hết nội lực có được, như chiếx xe cạn xăng, sức đuối dần đi, đến khi dừng lại hẳn như hiện nay.
Trong sự dừng lại hiện nay, có nguyên nhân của sự cản trở không ? Có chứ. Nhưng thử nghĩ xem bao giờ mà không có sự cản trở. Các lực lượng kìm hãm thì thời nào chỗ nào cũng không thiếu. Vấn đề là anh có đủ sức phá nó ra không ? Vấn đề hiện nay là tự anh đã yếu đi, do đã tiêu hết nội lực có thật của mình. Tôi cho rằng những hiện tượng như Nguyễn Huy Thiệp đã dừng lại, Bảo Ninh thì hầu như không còn viết gì đáng chú ý nữa …đều có thể nói là tất yếu. Họ đã «xài» hết cái «trời cho», tức tài năng bẩm sinh của họ cộng với «vốn sống», tức sự trải nghiệm của họ. Họ đã trở nên hụt hẫng.


- Có thể đây là một vấn đề quan trọng nhất của sự phát triển văn học Việt Nam nên xin anh đi sâu hơn nữa vào vấn đề này.

- Vâng…một nhà văn viết bằng cái gì ? Theo tôi, có ba cái chính : tài năng «trời cho», sự trải nghiệm, hay «vốn sống» và cái thứ ba là nền tảng văn hoá dân tộc và nhân loại mà anh ta có được , anh ta «đứng» trên đó để tiếp tục đi tới.
Lớp người trẻ cầm bút ở Việt Nam hiện nay thiếu hụt hơn cả chính là cái thứ ba này. Thử nhìn lại cha ông chúng ta, những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Đoàn thị Điểm, Hồ xuân Hương…mà xem. Khi họ cầm bút thì đằng sau lưng họ là cả một cái vốn văn hóa khổng lồ của phương Đông. Nền giáo dục thời đó đã cho phép họ chiếm lĩnh gần như toàn bộ những đỉnh cao nhất của văn hóa nhân loại ( hiểu ở nghĩa đối với chúng ta thời ấy chỉ bao gồm Trung Hoa và Aán Độ, với Nho Giáo và Phật Giáo). Chính trên cái nền tảng vĩ đại đó mà họ đã phát huy tài năng trời cho và vốn trải nghiệm sâu sắc của họ, tạo nên những tác phẩm có tầm mức kinh điển của thời đại họ. Qua đến thế hệ nhà văn thời Pháp thuộc thì nền tảng của họ là truyền thống văn hóa cũ cộng với tri thức mới do nền Tây học mang lại. Họ cũng có những đóng góp tầm cỡ, như Thơ Mới, Tiểu Thuyết…Sự hụt hẫng của lớp người cầm bút hiện nay ở Việt Nam chính bởi toàn bộ cái vốn văn hóa dân tộc và nhân loại mà các thế hệ trước có thì đến nay họ không còn có được nữa. Ở đây đương nhiên có vấn đề của nền giáo dục trong nước suốt nhiều chục năm qua. Đó là thời gian có thể nói là chúng ta gần như không có Đại Học thực sự. Anh Hoàng Ngọc Hiến gọi rất đúng Đại Học trong nước là trường «phổ thông cấp bốn». Chỉ xin lấy một ví dụ : trong nền giáo dục ở mọi cấp, gần như hoàn toàn không dậy triết học. Tất nhiên có môn gọi là «triết học Mác-Lênin», nhưng môn này không được giảng như triết học mà chỉ là những khóa huấn luyện chính trị rất sơ đẳng. Thế cho nên những người cầm bút thuộc thế hệ trẻ trong nước hiện nay có thể nói là hoàn toàn không hề được tiếp cận với di sản triết học nhân loại, cả phương Đông lẫn phương Tây. Thật khó mà tưởng tượng được một nhà văn mà không có chút vốn triết học nào !


- Còn vấn đề tự do sáng tác ? Cái mà ta gọi là một nền văn nghệ «minh họa» phải chăng đã cản trở không để cho những tài năng phát triển một cách bình thường ?

- Đương nhiên có vấn đề tự do sáng tác. Nhưng thử nghĩ giá như bây giờ không còn sự gò bó hạn chế tự do nào nữa thì có ngay được sáng tác lớn không ? Tôi không tin rằng sẽ có cái gì đáng kể ngay đâu. Cởi trói, hay đúng hơn phá trói những năm 86-91 đã tạo ra được một thời kỳ phát triển khá tốt đẹp với Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, vv… Nhưng ta đã thấy những tài năng đó không «hậu» được. Và hàng chục năm qua rồi, không có hiện tượng nối tiếp đáng kể. Tức là, tôi muốn nói, phải nhìn lại và đặt vấn đề phát triển nền văn học của chúng ta một cách cơ bản, rất cơ bản, để mong có thể đi xa, đến một tương lai văn học mà chúng ta đều mong đợi.


- Vấn đề đặt rộng như thế đòi hỏi rà soát lại toàn bộ cơ cấu văn hóa của Việt Nam, từ thời Cựu học với chữ Hán- Nôm, rồi qua Tây học với chữ Quốc ngữ đã loại bỏ hình tượng mà chỉ giữ âm thanh trong ngôn ngữ. Với một thời gian quá ngắn, Tây học chưa đủ căn cơ thì cả nước đã lao vào chiến tranh, và từ đấy văn học miền Bắc phát triển theo hướng tuyên truyền huấn dụ. Văn học «tuyên huấn» là công cụ chính trị nên ít khi phát huy được tính văn học như một nghệ thuật. Dĩ nhiên không cứ có tự do nghĩa là có nghệ thuật. Anh đã dịch Kundera, và anh có nhắc đến 3 khả năng của một nhà văn theo Kundera, là kể, tả và suy nghĩ một câu chuyện. Phải chăng nhà văn ta chỉ kể, rồi tả, nhưng không đến được, như Kundera phân loại, mức « nghĩ» một câu chuyện? Tại sao lại thiếu « nghĩ» trong trường hợp văn học nước ta?

- Nhà văn ta kể thì họ có nhiều chuyện để kể, tả (nghĩa lả có văn phong riêng) đã ít hẳn đi, và đến «nghĩ» thì trở nên thật hiếm hoi. Thực ra, họ biết rằng phải «nghĩ» chứ không thể dừng ở mức «kể» và «tả». Chỉ có điều khó có thể có một sức nghĩ sâu trên một nền tảng văn hóa triết học cạn như đã nói. Hình như trong văn học ta thường có hiện tượng ba búa Trình Giảo Kim, như anh nói : các tài năng xuất hiện rất sớm như Chế Lan Viên, Nguyên Hồng ở tuổi 16, 17…như những ánh chớp, nhiều khi thật sáng loé, nhưng sau đó không đi được xa, sớm lụi, hoặc kéo dài mãi tình trạng le lói làng nhàng. (Giọng nhỏ đi, thở dài) Nguyễn Tuân than như anh kể thế là đáng than lắm, anh à! Đấy, lại vấn đề nội lực…


- Làm cách nào tăng nội lực ?

- Mở ra, tiếp cận trước rồi hội nhập với nền văn hóa của thế giới. Nhưng làm thế nào. Những anh em trẻ cầm bút trong nước rất ít khả năng sinh ngữ để đọc và thẩm thấu văn chương nước ngoài. Trong đám anh em tôi biết ở Hà Nội, số có trình độ đọc được trực tiếp văn học thế giới bằng ngoại ngữ có thể đếm, và không hết năm ngón trên 1 bàn tay! Vậy trước mắt, phải dịch. Việc này là việc rất nghiêm túc, đòi hỏi tay nghề, là dịch thuật văn học chứ không phải dịch chỉ để ‘’lái sách’’ tung ra bán kiếm lời trên thị trường. Trong nước cũng đã có người thấy tình trạng này, mong muốn có một chương trình dịch sách văn học có nguyên tắc và tiêu chuẩn, sách dịch dễ đến 50 năm cũng chưa hết, nhưng không tìm ra tiền. Mà nước mình, dẫu là nước nghèo thì nghèo thật, nhưng không phải không có khả năng bỏ tiền vào một đề án như vậy nếu Nhà Nước biết bớt đi những thứ chi tiêu ba lăng nhăng ( thở dài, chép miệng)…Tôi cố gắng góp thử một tiếng nói bằng cách dịch một vài tác phẩm lý luận văn học của Kundera, hiện có thể đọc một phần trên Talawas. Và một tác phẩm của Roland Barthes (mỉm cười). Hiện có nhà xuất bản Đông Tây ở Hà Nội làm công việc dịch thuật là nơi rất đáng cộng tác và khuyến khích. Vấn đề của họ vẫn là có tiền để làm những việc văn hóa vô vụ lợi. Nhưng đây là vấn đề cho tất cả những người đứng đắn và lương thiện…


- Có lẽ trước mắt chỉ có con đường dịch tác phẩm nước ngoài để người viết trong nước tiếp cận với văn học thế giới. Nhưng dịch, như một phương cách tiếp cận để cách tân hay bắt chước ? Nếu chỉ bắt chước, sẽ đi đến đâu ? Tiếp tục sùng bái hàng ngoại,và làm giả loại thứ phẩm hàng nội, để bán rẻ ? Để đánh lừa nhau ?

- Gần đây, một số cây bút trẻ dường như đang cố phá vỡ những nếp viết cũ, háo hức đi tìm cách viết mới, khác, ra ngoài truyền thống và cũ mòn. Về cơ bản, đó là những cố gắng lành mạnh, đáng trân trọng. Tuy nhiên, quả thật có hiện tượng : tôi có cảm giác những tìm tòi phá vỡ này còn thiếu một cái gì đó để có thể thành công. Có lẽ phải chăng vì nó thiếu một nền tảng cơ bản, và như vậy thì rất dễ rơi vào tình trạng «học đòi», bắt chước, lúng túng, chắp vá…Đây là một vấn đề rất nghiêm túc, đòi hỏi một sự nhìn lại toàn diện cho những triển vọng lâu dài và bền vững của văn học ta.


- Hiện nay có vẻ có những giọng điệu mới trong văn học, và hình như người ta, trong cũng như ngoài nước, cho rằng cái chuyện để kể không quan trọng bằng hình thức nhà văn dùng để kể những chuyện ấy. Nội dung là hình thức? Hình thức không chỉ chuyên chở mà bao gom nội dung trong nó? Số Hợp Lưu 73 này mang chủ đề Tiểu Thuyết Việt Nam. Nhân đây, xin anh cho biết ý anh về cái cặp biện chứng nội dung-hình thức ám ảnh ngàn đời những nhà văn, nhất trong là nền tiểu thuyết Việt Nam đang có đòi hỏi hồi sinh sau những quày hàng ế buổi chợ tàn nắng vãn ! 

- Tôi quan niệm Tiểu thuyết không chỉ là một thể loại văn học. Hơn thế rất nhiều, đó là một bước phát triển quan trọng và cơ bản trong tư duy của con người về thế giới, là một thời đại mới trong tư duy của con người. Có thể kể những đặc điểm của tư duy ấy là tính không tất định của cuộc sống, phi tuyến tính, thoát ra khỏi tư duy cơ giới vốn coi những điều hợp lý như một cỗ máy, biết nguyên nhân thì rõ hậu quả, cái trước cái sau…


- Nói thế thì tiểu thuyết đang hóa thân thành cái kiếp sau của Vật Lý học nửa đầu thế kỷ 20 ư ? Thật ra, có thể văn chương đã đi trước, anh ạ…Chỗ đứng của văn chương cạnh khoa học và triết học còn là việc phải bàn cãi sau. Nhưng ta hãy tạm gác bàn cãi này lại…

- Nói cho đúng hơn thì văn học (và nghệ thuật) với vật lý (và khoa học tự nhiên nói chung) là những bổ sung thiết yếu để con người có thể làm chủ được tự nhiên đồng thời vẫn luôn giữ được chất người cuảa mình…Thế giới vật chất đã phức tạp như thế, thì ở cõi nhân sinh làm gì có một chân lý độc tôn, mà luôn có nhiều chân lý trái ngược cùng tồn tại, đan chéo vào nhau, chồng chất lên nhau. Tiểu thuyết là nền nghệ thuật có khả năng thể hiện điều đó. Khi không làm được, thì văn học chỉ có truyện kể, chưa thực sự có tiểu thuyết. Chúng ta chờ đợi tiểu thuyết Việt Nam chuyển sang một kiểu tư duy mới, tức một «nội dung » mới, chứ không phải chỉ kể chuyện mới. Trong nghệ thuật, muốn có nội dung mới thì phải có hình thức mới. Thật ra, phân biệt nội dung và hình thức chỉ là một cách nói. Trong nghệ thuật, nội dung và hình thức là một. Chúng ta chờ một sự phá vỡ đưa đến những tiểu thuyết mới.


- Bây giờ, trong văn học ta đầy Thơ và Truyện Ngắn, rất ít tiểu thuyết, khác với thời Tự Lực Văn Đoàn, thời Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng. Tại sao ? Có phải vì tiêủ thuyết không có độc giả vì nay cuộc sống tất bật, không ai có thì giờ đọc hàng trăm trang…

- Không , tôi không nghĩ vậy. Không có tiểu thuyết hay thì đúng hơn. Tài hoa như Nguyễn đình Thi nhưng Vỡ Bờ của anh ấy không thành công…
- Nhớ cách đây hai mươi năm, tôi được nghe anh Nguyên Hồng kể trong một đêm giáng sinh ở Hà Nội, có cả Nguyễn Tuân , Văn Cao ở nhà anh chị Lân. Anh Thi đưa anh ấy đọc Vỡ Bờ rồi hỏi, so với Chiến Tranh và Hoà Bình của Lev Tolstoi thì thế nào? Nguyên Hồng đáp, cái lép- tôn- ông không so được cái lép- tôn- tôi !(cười)… Thoắt một cái mà các anh ấy đã đều thành những người muôn năm cũ…

- Sóng Gầm của Nguyên Hồng đậm chất sử thi nhưng chưa phải là tiểu thuyết. Sau, có Nỗi Buồn Chiến Tranh cuả Bảo Ninh là một thành công. Hiện nay, Nguyễn Bình Phương đang thử nghiệm một số đột phá nhưng phải chờ thêm thời gian. Vâng, đúng như anh nói, ta kém về mặt tiểu thuyết…Có lẽ ta ít truyền thống tiểu thuyết. Ở ta, truyền kỳ thì có, nhưng cũng chỉ loáng thoáng, đếm ra chưa quá số ngón hai bàn tay. Trung Quốc khác, họ có truyền thống. Và nay, với những Trương Hiền Lương, Vương Sóc, Mạc Ngôn…tiểu thuyết của họ đang rộ nở. ..
- Vào thế kỷ thứ 1, Trung Quốc đã có 1380 truyện dân gian, góp thành 15 quyển. Đến thời Ngụy Tấn, hai thể tiểu thuyết chí quái và dật sư đã rất thịnh hành, ghi chuyện lạ và chuyện quỉ thần. Đời Đường, truyện truyền kỳ phổ biến rộng và sang đời Tống/Nguyên, truyện bình dân hóa đến độ có nghề đi kể truyện với các thể loại như sử, tôn giáo, kiếm hiệp, tình yêu, liêu trai…Ở ta, Truyện Thầy Lazaro Phiền cuả Nguyễn Trọng Quản là cuốn tiểu thuyết văn xuôi đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ in năm 1887. Phải đợi đến thời 1930-45 tiểu thuyết mới được mùa. Nhưng từ đó cho đến nay, tiểu thuyết Việt Nam vẫn ngừng ở chủ nghĩa lãng mạn và hiện thực, chậm mất gần 100 năm so với tiểu thuyết phương Tây. Sở dĩ so được như thế là vì tiểu thuyết Ta có vẻ như một thứ sản phẩm bậc hai, một thứ phó phẩm, của tiểu thuyết Tây . Ở Trung Quốc, Nhật Bản…tiểu thuyết hiện đại của họ có phong cách đặc thù, vì thế nhanh hay chậm không so được và không thành vấn đề. Như vậy, đúng là ta ít truyền thống. Ở bình diện văn học, chúng ta rất lệ thuộc vào cấu trúc tiểu thuyết Tây phương. Các nhà lý luận văn học dùng phần lớn những điển mẫu thẩm mỹ Aâu Châu trong tiểu thuyết để kêu gọi những nhà văn Việt Nam «cách tân», vinh danh những á thánh mới như Derrida, Foucault, và vân vân, với những trào lưu nào là Tân Tiểu Thuyết, Hậu Hiện Đại …Những tương quan giữa ngôn ngữ, văn hóa (nói rộng) và thẩm mỹ ít được quan tâm, cho nên có lẽ vì thế sản phẩm văn học của chúng ta đến nay chưa đạt được một phong cách thẩm mỹ riêng tư, một phong cách mà nói đến ai cũng có thể bảo là phong cách Việt Nam …
- Đã đành… Đói thiếu thì chỗ nào vay được là vay thôi, nhất là chả thấy ai bắt trả tiền lời ngay! Nhưng mặt khác, anh cứ để ý mà xem, nhìn đình chùa thành quách nước mình thì so ra hình như ta thích cái gì tinh sảo nho nhỏ. Tinh sảo đấy, nhưng chỉ nho nhỏ thôi. Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên trong vòng ảnh hưởng Nho giáo nhưng khác ta : họ có những công trình cả vật chất lẫn tinh thần to tát hơn, lâu dài hơn của ta…Thơ và Truyện Ngắên là những cái tinh sảo, trong khi Tiểu Thuyết thì ắt công phu hơn ( nhưng không phải là khó hơn. Cái gì hay cũng khó như nhau cả!), dài hơi hơn, rộng trải hơn…Nhưng cũng phải nói, nhà văn những nước vừa kể này có điều kiện sáng tác thoải mái hơn những nhà văn nước ta …( giọng buồn đi) Nhưng thôi, nói mãi, biết rồi, khổ lắm…


- Thưa anh, đúng là khổ lắm…Chúng ta qua một vấn đề khác nhé. Có nên và có cần phân chia ra một nền văn học hải ngoại và một nền văn học quốc nội không? Hay là cứ viết tiếng Việt thì là văn học Việt Nam mà thôi, không hàng nội hàng ngoại gì nữa?

- Vấn đề này không mới. Cách đây hơn mười năm, vào khoảng năm 1990. trả lời tạp chí Cửa Việt tôi có nói rằngtheo tôi, một tác phẩm viết bằng tiếng Việt dù của bất cứ ai, viết bất cứ ở đâu, vào bất cứ thời gian nào, miễn là nó hay, thì đều là tài sản chung của dân tộc Việt Nam , không ai có quyền tước đi của nhân dân Việt Nam tài sản tinh thần đó. Tất nhiên hồi bấy giờ, và ngay cả hiện nay, có nhiều người không tán thành ý kiến của tôi, thậm chí phản đối nó quyết liệt. Đó là quyền của họ. Còn tôi, tôi vẫn giữ ý kiến của tôi. Hơn mười năm qua rồi, tôi nghĩ rằng ý kiến đó càng đúng.

Chưa bao giờ trong lịch sử chúng ta lại có hơn hai triệu người ở nước ngoài như hiện nay. Tôi không thảo luận về nguyên nhân của thực tế này, chỉ nhấn mạnh rằng đó là một thực tế lịch sử sống động và to lớn. Những người Việt Nam ở nước ngoài trong mấy chục năm qua đã hoàn thành một khối lượng văn học không thể phủ nhận được . Đó là một bộ phận của văn học Việt Nam hiện đại, chẳng có gì phải bàn cãi. Cùng với văn học trong nước, văn học hải ngoại làm nên diện mạo của văn học Việt Nam ngày nay. Sẽ cực kỳ thiếu xót nếu biết văn học Việt Nam ngày nay mà không biết văn học Việt Nam hải ngoại. Vấn đề có lẽ chủ yếu là ở những chỗ này : ssự đóng góp đáng kể nhất của bộ phận văn học này đối với nền văn học Việt Nam hiện đại là ở chỗ nào ? Và triển vọng của nó ra sao ?
Về điểm thứ nhất, theo tôi, bộ phận văn học này phản ánh số phận của một thành phần quan trọng trong dân tộc mà những người viết trong nước khó có khả năng tiếp cận, hiểu và viết được. Thiếu nó, thì văn học chúng ta sẽ khuyết đi một mảng rất lớn và rất quan trọng của khuôn mặt con người Việt trong thời sóng gió hung bạo của lịch sử dân tộc như chúng ta đã, và đang, trải qua. Văn học Việt Nam do vậy sẽ què quặt.
Bộ phận văn học này có thể còn có một đóng góp quan trọng khác : nó đem đến cho văn học ta những kinh nghiệm của văn học hiện đại thế giới mà văn học trong nước, do những hạn chế khách quan và chủ quan, khó có được.
Vấn đề là làm thế nào cho hai bộ phận văn học trong và ngoài nước «thông thương» được với nhau, phá đi mọi cản trở vô lý giữa hai bộ phận của một cơ thể văn học thật ra là thống nhất.


- Đồng ý 100%. Đã có Hợp Lưu bên ngoài, bây giờ phải có ‘’Thông Thương’’ trong nước, đối với văn hóa thì thôi đừng ngăn sông cách chợ như quyền lực đã từng ứng xử với khâu kinh tế. Nhưng anh ơi, có một nhà văn về nước chỉ dám khai mình là thợ tiện- cái nghề kiếm sống- mà lờ đi nhà văn, là chức năng của anh ấy, vì có thế mới thuộc giai cấp công nhân tiên tiến, và nhất là không mang cái hơi hướng ‘’diễn biến hòa bình’’ trên người. Và nói chơi mà thật nhé, tôi đi khắp nơi, từ Á sang Aâu, Mỹ, Phi, qua đến hàng dăm ba chục cái phi cảng nhưng mỗi lần về đến Tân Sơn Nhất hay Nội Bài là lần nào lần ấy tôi cứ len lét, như đồng bào tôi, mà chẳng hề ăn cắp ăn trộm hay ăn cướp gì cả…

- (Cười, ngắt)…Dạo này cũng có khá hơn trước. Nhưng cứ phải về thôi…


- … nếu không còn phân biệt trong-ngoài như anh nói, ‘’thông thương’’, hay gọi khác đi là hiệp thông, đòi hỏi hai chiều trên cơ sở bình đẳng. Nay hải ngoại đã in và phát hành những tác phẩm trong nước, nhưng ngược lại thì vẫn chưa thấy gì. Vậy in ấn và phổ biến những tác phẩm của bộ phận văn học hải ngoại cần phát huy như thế nào?

- Trong nước đã in Nguyễn Văn Thọ, Lê Minh Hà, Phạm Hải Anh…


- Dạ…nhưng như thế vẫn là ‘’cây nhà lá vườn’’, thương nhà nhớ nước, sản phẩm bộ đội Trường Sơn và Trường «cấp bốn» khoa Văn Hà Nội!

- Tôi được biết đang in Hợp Âm Vùng Sân Khuất của Mai Ninh nữa đấy. Mai Ninh thì chất Âu Châu chứ, có cái mới, lạ…
- …và không có vấn đề ‘’nổi’’ dễ xếp vào thể loại diễn biến hòa bình (cười).
- Ờ…ở ta thì cái gì cũng dần dần, anh biết rồi…(vừa cười, vừa thở ra) Mới lạ cũng là vấn đề, nhưng may mà ít ai bắt bẻ…


- Đã chỉ có một nền văn hoá thì còn một hệ luận : đối với những nhà văn, nhà thơ có đóng góp trong thời Việt Nam Cộng Hoà như Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Hoàng, Cung tích Biền….đang ở trong nước, những Thanh Tâm Tuyền, Võ Phiến, Tô Thuỳ Yên…ở ngoài, làm sao để «phục hồi» chỗ đứng nhà văn của họ ?

- Chúng tôi mong mỏi các anh chị trong nước quay lại sinh hoạt với chúng tôi một cách bình thường, như mọi người …Còn «phục hồi» thì nói cho cùng, thời gian sẽ gạn lọc và phục hồi tất cả những gì có giá trị văn học. Sự phục hồi đó mới đích thực.


- Quay sang vấn đề triển vọng. Văn học hải ngoại là một bộ phận hiện có một số giới hạn : từ dăm năm nay, số người viết và số người đọc rơi rụng dần. Lý do thứ nhất là, như anh Trần Dần hay nói, chẳng có ai chống được cái kim đồng hồ, từng bước cái thế hệ thứ nhất đi về thiên cổ . Lý do thứ nhì, nói thì buồn nhưng phải nói, cái thế hệ thứ hai, nghĩa là con cái bọn chúng tôi, không còn khả năng đọc chứ chưa nói đến viết… Hiện một đầu sách có in trung bình cũng chỉ từ 3 đế 5 trăm quyển, bày bán có khi 3,4 năm mới ...chưa hết thì đem biếu bạn bè để khỏi mất chi phí tồn kho. Các tạp chí văn học cũng vầy vậy. Vừa rồi tạp chí Chủ Đề, vốn rất nghiêm túc tìm đường làm mới văn học, phải «sập tiệm», không có người viết, và có viết thì cũng chỉ đọc với nhau. Cứ thế này, chỉ độ năm ba năm nữa chắc văn học hải ngoại sẽ xơ xác như con ve sầu cuối hạ thôi…

- Đương nhiên có vấn đề về triển vọng của bộ phận văn học này. Tôi không muốn và cũng không dám làm thầy bói. Nhưng theo tôi, có lẽ một việc quan trọng có thể cố gắng làm hiện nay là tạo điều kiện cho các nhà văn đang sống và viết ở nước ngoài có được độc giả trong nước trong số nay có tới 80 triệu người. Điều đó là hết sức quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của bộ phận văn học hải ngoại. Như vừa nói, đã có một số tác phẩm hải ngoại được in trong nước. Việc này diễn ra rất chậm, quá chậm. Nhưng dẫu sao cũng đã bắt đầu…


- Xin anh chia xẻ điều vừa nói với nhà văn (chứ không phải là trình lên ông quan) Nguyễn Khoa Điềm, chắc sẽ có một sự cảm thông nhất định. Anh nhắn hộ rằng cứ đợi «về hưu» rồi mới nói thì «hơi bị» muộn, vì thế thì chỉ nói chứ chẳng làm được gì …

- (Cười khà)…văn học gần như là cái duy nhất có khả năng vượt lên trên những định kiến chính trị, đến với mọi con người Việt Nam, dù ở đâu. Tôi quan niệm : văn học đương nhiên không thể không phản ánh chính trị của một thời đại trong đó nó tồn tại, nhưng mục tiêu của nó cao hơn chính trị. Nó vì con người.


- Anh đã từng đề cập đến sự bức thiết của một nền văn học tự vấn. Tự vấn trong một nền văn hóa (nói chung) và văn học (nói riêng) : Nhưng tự vấn gì? Có phải đặt vấn đề Mình (thân phận con người, xã hội, lịch sử ) là gì ? là ai? thực sự có gì, mất gì, được gì trong cơn dâu bể của cuộc tồn sinh? Tóm gọn, đây có phải là văn hóa trong chiều dài lịch sử của dân tộc?

- Tự vấn là một nhu cầu hướng nội – không chỉ là hướng nội cá nhân mà là hướng nội dân tộc của toàn xã hội. Nhìn lại mình, lịch sử của mình, từ gần đến xa. Từ lịch sử văn hóa, đứng kẹp giữa hai nền văn hóa Trung Hoa và Aán Độ thì ta tiếp thu gì, của ai, tiếp thu thế nào, vận động ra sao để Việt hóa… Rồi đến lịch sử chiến tranh- chính trị, thời đánh giặc thì quá nhiều, thời xây dựng quá ít…


- Qua trao đổi của anh với François Julien Vìện Trưởng Viện Tư Tưởng Hiện Đại ở Đại Học Paris 7 về vấn đề «Tiêu cực là gì» và «Làm gì đây với nó», anh cho rằng ở Việt Nam tiêu cực quả là vấn đề thời sự và chống lại tiêu cực hiện nay trong hòa bình còn ác liệt và phức tạp hơn cả trong thời chiến tranh. Nếu nhà văn viết, và chỉ viết vềø những tiêu cực xã hội như Phùng gia Lộc đã đánh động một thời, có đủ không? Và nếu không, anh có thể đào sâu thêm cái hướng «văn học tự vấn» này là thế nào ? Trong phạm trù nào? Trên những vấn đề cấp thiết nào ? Có hay không luồng gió Tự Vấn từ người Việt sinh sống ở Đông Âu thổi về Việt Nam ?

- Năm ngoái ở Paris tôi có nói đến chuyện xu hướng «văn học tự vấn». Trước hết, theo tôi, văn học bất cứ thời nào, và nói theo một cách nào đó, cũng là một sự tự vấn của xã hội, của con người. Thử nghĩ xem : xã hội sinh ra nhà văn là để làm gì? Tại sao xã hội lại ‘’lãng phí’’ một bộ phận khá lớn tài năng và trí tuệ cùa mình cho một công việc trông chừng ‘’vô bổ’’ không làm ra của cải vật chất gì cả như vậy? Aáy chính là vì trong khi đi tới, xã hội và con người luôn luôn có yêu cầu tự nhìn lại mình. Văn học là sự nhìn lại đó. Song nếu bây giờ ta nói đến văn học tự vấn thì không chỉ theo cái chức năng thường trực đó mà còn là một sự bức thiết trong tình trạng hiện tại. Quả thực hiện nay cần có một sự tự vấn của toàn xã hội, toàn dân tộc hơn bao giờ hết.
Tôi thường hay nghĩ về ‘’số phận’’ của dân tộc ta. Do những điều kiện đặc thù nào đó mà dân tộc ta có những trầm luân rất đặc biệt. Trong suốt mấy nghìn năm, thử xem có một trăm năm nào chúng ta có được hoàn toàn yên tĩnh để xây dựng đâu. Chiến tranh triền miên. Mỗi lần vừa giành được độc lập và mới định bắt tay vào xây dựng một cái gì đó cho lâu dài thì đã phải lao vào một cuộc chiến tranh mới. Chúng ta có quá ít kinh nghiệm xây dựng, nhưng có thừa thãi kinh nghiệm chiến tranh! Sau 1975, muốn xây dựng đất nước, dân tộc thì đúng như anh nói, cần một cuộc rà soát lại toàn bộ lịch sử văn hoá, bản lĩnh, chỗ mạnh, chỗ yếu của mình. Lịch sử văn hoá đó trước đây đã được diễn đạt, theo tôi, có lẽ không hoàn toàn khách quan do những nhu cầu bức thiết của chiến tranh.
Chẳng hạn thử nghĩ chúng ta là một nước có mấy nghìn cây số bờ biển. Vậy mà chúng ta chỉ quanh quẩn ven bờ, trong khi, như ta biết, chính những khám phá hàng hải vĩ đại của các quốc gia Aâu Châu từ thế kỷ 15,16 đã thúc đẩy sự phát triển củ họ như thế nào. Người Việt Nam sợ biển. Đây là một điều thật lạ, và có lẽ là một trong những hạn chế rất lớn đến lịch sử phát triển của dân tộc. Chúng ta đã cố thủ mãi với mảnh đất bé nhỏ, có một lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt, nhưng cũng vì như thế, đâm có một lịch sử thậât bất hạnh. Cứ nhìn xem, qua hàng nghìn năm nhưng chúng ta có để lại công trình xây dựng vật chất nào đáng kể đâu. Và không chỉ công trình vật chất. Cả những công trình tinh thần kể ra cũng khá nghèo nàn.
Nằm kẹp giữa hai nền văn hóa Hoa và Aán thật vĩ đại, một trong những kinh nghiệm văn hóa của ông cha ta là để tồn tại trong điều kiện đó và giữ được bản sắc của mình thì phải chủ trương một chính sách văn hóa mở chứ không đóng. Đóng, sẽ bị tiêu diệt. Mở ra với mọi phía, để tiếp nhận và tiêu hóa : chính khả năng đó đã làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Ngôn ngữ của ta, 60 đếùn 70% tiếp nhận từ chữ Hán, Việt hóa và đồng thời giữ phần Việt mường. Đến khi gập phương Tây, chúng ta chấp nhận Quốc ngữ, và cũng hành xử tương tự. Tiếp nhận là phương thức tồn tại chủ yếu, là chỗ mạnh đậc sắc của văn hóa Việt Nam .


Nhưng chính trong chỗ mạnh này lại chứa đựng những cái yếu : đối với những nền văn hóa lớn, chúng ta hầu như chỉ tiếp nhận những gì có thể vận dụng ngay cho yêu cầu tồn tại, ‘’hớt lấy’’, học ngay, học cho nhanh những gì cần nhất, chưa bao giờ đi đến tận cùng những nền văn hóa đó. Với cách tiếp nhận tức thì, thực dụng và vụ lợi, chúng chưa bao giờ tạo điều kiện đủ để xây dựng được một nề nếp triết học tư tưởng riêng tư và cá thù. Nói cách khác, sự tiếp nhận của chúng ta thiếu triệt để. Phải chăng đó là một chỗ yếu quan trọng của văn hóa Việt Nam, của con người Việt Nam ?


Chưa bao giờ việc tự vấn, xét lại những vấn đề như trên lại cấp thiết bằng lúc này. Để xây dựng. Vận dụng cấp thời như cha ông ta đã làm chỉ đủ để đánh giặc ngoại xâm, nhưng thật là thiếu khi giặc là giặc nội, là một phần trong ta, ý thức được hay không ý thức được. Tôi nghĩ rằng văn học chúng ta hiện nay cần và phải tham gia vào sự tự vấn toàn bộ như đã trình bày. Đương nhiên, nó cũng phải tự vấn chính nó và lịch sử của nó. Rất có thể nó có khả năng xây dựng được chính nó thông qua sự tự vấn này.


- Trong những điều anh vừa trình bày, rõ là có những giả thiết thật lý thú. Sự tự vấn, hay nói chính xác hơn, một cuộc tra vấn toàn bộ, sẽ rất đòi hỏi, cần tính khoa học và đồng thời một công trình tổng hợp những tri thức nhân văn sâu và rộng. Nhân đây, Talawas có nghĩa Ta là Ai? Đây là một diễn đàn đã lên đường làm cuộc tra vấn này ở mức báo chí thông tin. Lạy vua Từ Hải lạy vãi Giác Duyên lạy tiên Thúy Kiều, bói mãi cứ vẫn một câu ‘’ đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh’’, nên cầu chúc anh và những người chia xẻ cách anh nghĩ, công việc anh làm, cứ chân cứng đá mềm. 

- ( Mắt sáng lên, hóm hỉnh) Cám ơn anh. Cũng chúc anh như vậy!


- Trước khi chia tay với độc giả, tí nữa tôi quên nhắc, nhà văn Nguyên Ngọc là tác giả của Đất nước đứng lên (1956), Rẻo cao (1960), Mạch nước ngầm (1961),Rừng xà nu (1965), Đất Quảng (1971), Có một con đường trên biển Đông (2000) và Cát Cháy (2002). Nhưng hiểu con người và đánh giá văn nghiệp không ai bằng Xuân Sách. Ông tai đã nhại nhà thơ Tố Hữu bằng câu «Máu ở chiến trường, hoa ở đây» để nhắc tác phẩm ‘’Việt Nam: Máu và Hoa’’, và nhà thơ Chế Lan Viên bằng câu « Ôi ! điêu tàn mà chẳng phải điêu tàn. Ta đã tính vàng sao từ thuở ấy » để nhớ tác phẩm Điêu Tàn. Tôi biết Xuân Sách có làm hai câu về nhà văn Nguyên Ngọc. Anh có thể cho độc giả Hợp Lưu và anh em cầm bút chia xẻ với anh không ?

- Xuân Sách cho tôi những bốn câu cơ chứ không phải hai, đối với tôi anh ấy quả có ưu ái và đầy thông cảm, pha đôi chút mỉa mai. Nguyên văn như thế này :

Mấy lần Đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một Mạch nước ngầm
Cuốn phăng Đất Quảng lẫn Rừng Xà nu!

- Cám ơn nhà văn Nguyên Ngọc!


Ghi 3-07, Chép 31-07-2003
Nguyên Ngọc nhuận chỉnh 7-08-2003




























Tham khảo thêm về tác giả Nguyên Ngọc
































VỀ CHUYỆN BẢN SẮC, BẢN SẮC DÂN TỘC

NGUYÊN NGỌC

Thứ sáu, 15 Tháng 4 2011 



Hôm nay chúng ta thảo luận một vấn đề trông chừng rất quen thuộc, song hóa ra lại có thể không dễ dàng, khá phức tạp, gay cấn và nóng bỏng: vấn đề bản sắc, hay như ta thấy trên flyers treo trước trung tâm kia, vấn đề bản sắc dân tộc (ở đây có chỗ hơi rắc rối về ngôn ngữ: nation trong tiếng Việt có thể dịch là dân tộc mà cũng có thể dịch là quốc gia, hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất).

Theo chỗ tôi được biết nhà xuất bản Tri Thức sắp cho ra mắt bản dịch cuốn sách nổi tiếng của Amartya Sen Bản sắc và bạo lực. Trong một lời bình, Christiane Amanpour ở CNN cho rằng với tác phẩm này Amartya Sen đã khảo sát “một thách đố trung tâm của thời đại chúng ta”, tức chính vấn đề chúng ta bàn hôm nay ở đây, vấn đề bản sắc. Tôi cũng vừa đọc trên Le Monde một bài viết về cuốn sách của Gérard Noiriel có tên là “Bản sắc dân tộc để mà làm gì?” (À quoi sert l’identité nationale?”), trong đó dựa trên nhiều nghiên cứu lịch sử trong 30 năm, Noiriel chứng minh rằng không hề có bất cứ một định nghĩa khách quan nào về “bản sắc dân tộc”…; ông đặt lại một cách mạnh mẽ ý tưởng rằng nước Pháp có một “bản sắc dân tộc”. Theo ông “bản sắc dân tộc” là một vấn đề được đặt sai (un faux problème). Ông viết: “(Bản sắc dân tộc) không phải là một khái niệm khoa học, đấy là một từ ngữ thuộc ngôn ngữ chính trị”. Chúng ta biết nhà sử học G. Noiriel là chủ tịch CVUH (Comité de vigilance face aux usages publics de l’histoire) , Ủy ban cảnh giác với việc đưa lịch sử vào sử dụng trong công chúng, và ông ở trong số 8 trên 12 thành viên của Ủy ban này đã từ chức khi chính phủ Pháp lập “Bộ Nhập cư và Bản sắc dân tộc” ngày 18 tháng Năm 2007. Chi tiết này cho thấy rõ, chính trong những bối cảnh như giáo sư Alain J. Lemaitre vừa nói, của toàn cầu hóa, của sự hình thành Liên Minh châu Âu, của sự phát triển một nền kinh tế toàn cầu không dễ kiểm soát, của sự bùng nổ công nghệ tin học và kỹ thuật số…, đặc biệt của những chuyển động cư dân chưa từng có suốt lịch sử trước đây, khuấy đảo những chuẩn mốc truyền thống…, mà vấn đề bản sắc bỗng trội lên hàng đầu trong đời sống xã hội, tạo nên những lo âu cá nhân và sợ hãi tập thể, cho đến mức nước Pháp đã cho ra đời cái Bộ chỉ nghe tên đã thấy thật kỳ lạ, Bộ Nhập cư và Bản sắc dân tộc. Nhập cư gắn với Bản sắc dân tộc, Nhập cư đe dọa Bản sắc dân tộc. Như vậy, ở Pháp, vấn đề bản sắc, bản sắc dân tộc, như cách nhìn của Artamya Sen, cũng đã trở thành “một thách đố trung tâm”. Thách đố bởi sợ hãi ấy có thể dẫn đến rối loạn ửng xử ở cấp độ cá nhân, và ở cấp độ dân tộc bùng phát chủ nghĩa quốc gia, phân biệt chủng tộc, bài ngoại, chối bỏ kẻ lạ, tự khép kín mình lại…

Có lẽ ở Việt Nam, như rất dễ nhìn thấy, vấn đề này càng lâu dài, sâu sắc, và gay gắt hơn nhiều. Lịch sử chống ngoại xâm triền miên, và trong đó cốt lõi sâu xa nhất là chống đồng hóa, đã khiến người Việt Nam hết sức nhạy cảm với vấn đề bản sắc dân tộc. Gắn liền với vấn đề bản sắc dân tộc, là tư duy về cộng đồng, và mối bận tâm ráo riết về văn hóa dân tộc. Chúng tôi cũng rất mong muốn phân tích, nhận rõ diện mạo của những vấn đề này ở con người và xã hội Việt Nam, bởi ứng xử như thế nào trong những vấn đề này rõ ràng có liên quan mật thiết đến phát triển của Việt Nam trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay.

Tôi đồng ý với giáo sư Alain Lemaitre, để có thể thảo luận, cần làm rõ một số từ ngữ. Tôi cũng đồng ý với giáo sư trên những nét chung về định nghĩa bản sắc. Bản sắc là cái đồng nhất (với bên trong) và đồng thời khác biệt (với bên ngoài). Bản sắc không đứng yên, một lần là xong, một lần cho mãi mãi, mà biến đổi, cập nhật (s’actualiser). Một nhà nghiên cứu Việt Nam, giáo sư Phan Ngọc nói: bản sắc không phải là một “cái”, mà là một “kiểu”, cái cách một con người hay một dân tộc ứng xử kiểu này hay kiểu khác trước một tình huống, một thách thức, đến từ bên ngoài, từ cái khác, cái lạ.

Hiểu như vậy thì có thể nói suốt lịch sử lâu dài, cái được gọi là bản sắc ở Việt Nam vừa có sự tiếp nối liên tục vừa có thăng trầm.

Việt Nam là nước nằm đúng ở trung tâm của Đông Nam Á cổ, được coi là trải dài từ nam sông Dương Tử xuống đến Indonésia, và từ Assam (Ấn Độ) sang đến Phillipines. Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã thống nhất rằng Việt Nam tiếp nhận văn hóa Hán, tức tiếp nhận Nho giáo, không phải trong thời gian dằng dặc một nghìn năm chịu đô hộ của Trung Hoa, trong một nghìn năm đó người Việt đã kháng cự lại đồng hóa của văn hóa Hán (người Trung Quốc gọi là “nấu chín”-chử lý) bằng văn hóa bản địa kết hợp với văn hóa Phật giáo tiếp nhận rất sớm từ Ấn Độ theo con đường phía nam. Nhưng đến khi giành được độc lập vào cuối thiên niên kỷ I, đầu thiên niên kỷ II, tức là khi đã thoát khỏi đô hộ của Trung Hoa, thì Việt Nam lại chủ động tiếp nhận Nho giáo của Trung Hoa. Vì sao? Và tiếp nhận như thế nào? Việt Nam đã tiếp nhận Nho giáo như một học thuyết cai trị có hiệu quả cao, cụ thể là học ở Trung Hoa mô hình tổ chức nhà nước theo lối trung ương tập quyền mạnh; và như thế tự nguyện từ bỏ lối tổ chức nhà nước theo kiểu liên hiệp các tiểu quốc của Đông Nam Á truyền thống, “dân chủ” hơn, nhưng rất lỏng lẻo, hoàn toàn có thể bị đánh tan ngay bởi uy hiếp xâm lược thường trực từ phương bắc. Giáo sư Phan Ngọc nói Việt Nam học Trung Hoa là để chống xâm lược của Trung Hoa, bảo vệ nền độc lập của mình. Đây quả là một ứng xử văn hóa lạ, từ bỏ văn hóa truyền thống của chính mình, chủ động tiếp nhận văn hóa của chính đối thủ.

Còn một khía cạnh đáng chú ý nữa trong ứng xử văn hóa này: tiếp nhận lối tổ chức nhà nước trung ương tập quyền mạnh ở cấp triều đình, nhưng vẫn giữ lối sống tự trị lỏng lẻo, “dân chủ” kiểu Đông Nam Á cổ truyền ở làng xã. Một lối “pha chế”rất Việt Nam.

Quả đây là một lối giải quyết vấn đề bản sắc độc đáo và khôn ngoan, như nhà nghiên cứu Lê Thị Hiền Minh ở đại học Québec, Canada nói, đã giúp cho Việt Nam suốt lịch sử lâu dài và rất khắc nghiệt “giữ được thành công khoảng cách đối với uy hiếp” nặng nề, dai dẳng của một láng giềng rất mạnh và dữ.

Đây là mặt mạnh trong ứng xử văn hóa độc đáo. Tuy nhiên, “kiểu” ứng xử đó có mặt yếu và có để lại dấu vết nhược điểm trong văn hóa Việt không? Theo tôi là có.

Rõ ràng trong ứng xử này bộc lộ một ý thức thực dụng sẽ có thể kéo dài và ăn sâu trong tâm thức người Việt. Học lấy cái lạ đến từ bên ngoài cho yêu cầu sống còn tức thì của mình, nên rất thường chỉ “hớt” lấy cái cần, cái trên bề mặt mà học, và rồi chỉ dừng lại ở đó. Ngay đối với Phật giáo trước đấy cũng vậy, ở cấp triều đình chủ yếu cũng chỉ được khai thác cho mục đích cai trị, ở cấp nhân dân thì hòa trong đạo lý nhân ái dân gian của người bình dân, chẳng mấy khi tìm đến Phật giáo như một nền triết học uyên thâm bậc nhất của nhân loại, có lẽ chỉ trừ thời Lý Trần, dẫu đã cố gắng nhiều nhưng quả cũng chưa có mấy thành tựu lớn và sâu. Đối với Nho học cũng vậy, suốt một nghìn năm học Nho, nhưng Việt Nam không hề có được một nhà Kinh học như Hàn quốc hay Nhật Bản. Nếu thông minh và khôn khéo trong tiếp nhận văn hóa là đặc điểm quý của người Việt, thì không triệt để, không đi đến cùng, hời hợt, cũng là đặc điểm khác không hề kém quan trọng. Một mặt khác của tâm thức này là luôn lo sợ “mất bản sắc”. Hình như ít ở đâu vấn đề bản sắc lại được nói đến nhiều như ở Việt Nam, và cũng hình như nhiều nhất lại là ngày nay. Khi vừa nói đến tiếp biến, tiếp nhận, thậm chí cả trước đó nữa, là đã nói ngay đến bản sắc, bản sắc dân tộc, như một cảnh giác, đề phòng, ngăn ngừa. Chưa nhận đã sợ…

Chính điều này đã khiến Việt Nam thất bại ở lần thử thách lớn thứ hai trong lịch sử, khi giáp mặt với phương Tây.

Nói đến đây không thể không nhắc đến Nhật Bản. Những ngày vừa qua nếu cả thế giới bàng hoàng vì tai họa khủng khiếp đã xảy đến cho Nhật Bản, thì cả thế giới cũng thật sự kinh ngạc vì phẩm chất tuyệt vời của người Nhật bộc lộ trước thảm họa, thậm chí có thể nói toàn nhân loại tự hào vì giữa một thời đang biết bao nhiêu ngổn ngang hiện nay, trong gia đình rộng lớn của mình có một thành viên xứng đáng như Nhật Bản, tiêu biểu cho phẩm giá của con người, của loài người. Xin cho phép tôi lợi dụng chút ít thời giờ của các bạn để thuật lại một chi tiết nhỏ do giáo sư Vĩnh Sính vừa kể trong một bài viết gần đây: “Ngày 26-3, trên đài truyền hình NHK của Nhật chiếu buổi tốt nghiệp tại một trường trung học ở tỉnh Miyagi, một vùng bị địa chấn và sóng thần. Một em học sinh 15 tuổi đứng lên đọc diễn từ; em nói: “Chúng tôi không oán Trời. Chúng tôi tự nguyện cùng chung sức với bè bạn để vượt qua những khó khăn. Đó là cách chúng ta mang lại ý nghĩa cho những người đã bỏ mình trong trận địa chấn và sóng thần này”…” Đằng sau một câu nói giản dị, bình tĩnh đến kinh ngạc của một em bé 15 tuổi, là cả một chiều sâu thăm thẳm về văn hóa. Người Nhật “không oán Trời”, người Nhật lẳng lặng cúi đầu “cùng chung sức” làm lại tất cả trên đất nước vô cùng khắc nghiệt của mình…

Chúng tôi đặc biệt muốn nói đến Nhật Bản vì Nhật Bản là nước duy nhất đã thành công vượt qua được thử thách lớn, tiến lên thành một cường quốc hiện đại, trong khi tất cả các nước châu Á khác, trong đó có Việt Nam, đã thất bại ê chề khi giáp mặt với phương Tây, cũng tức là giáp mặt với toàn cầu hóa lần thứ nhất, cách đây vài thế kỷ. Vì sao? Tôi cho rẳng câu hỏi đó còn nỏng hổi lâu dài đối với người Việt Nam, và nó có liên quan chặt chẽ đến vấn đề chúng ta thảo luận hôm nay, vấn đề bản sắc.

Trong bài viết vừa kể trên, Vĩnh Sính có nói đến một số điều ông cho là đặc trưng của văn hóa Nhật Bản, ông nói người Nhật rất chú trọng đến sự hòa hợp (harmony). Chữ “hòa” đối với người Nhật quan trọng đến mức “hòa” đã thành đồng nghĩa với Nhật Bản. Ví dụ, khi người ta nói “Ei-Wa Jiten”, tức “Anh-Hòa từ điển” thì có nghĩa là “Anh-Nhật từ điển”. Ở Nhật cái mới đến không bằng cách triệt tiêu cái cũ, tiếp nhận cái lạ không bằng cách từ bỏ cái quen. Tôi cũng từng được nghe nói rằng người Nhật không thể nào quan niệm được vì sao lại có thể có chiến tranh tôn giáo, chiến tranh ý thức hệ. Họ có thể tiếp nhận tất cả, tiêu hóa tất cả. Người Nhật có bản sắc rất đa nguyên…

Một đặc trưng khác của nhật Bản là tính hiếu kỳ, hết sức nhạy cảm đối với văn hóa nước ngoài. Họ không ngừng theo dõi những diễn tiến trên thế giới bên ngoài, cân nhắc và đánh giá ảnh hưởng của các trào lưu và xu hướng chính đối với Nhật Bản, khi biết trào lưu nào đang thắng thế thì họ có khuynh hướng chấp nhận, nghiên cứu, học hỏi, không để mất thời cơ.

Mặt khác, nếu một đặc điểm trong lịch sử Trung Quốc (và Việt Nam) là khi triều đại này thay thế triều đại khác thường có hai quá trình “phá” và “lập”, tức là trước khi thiết lập hay xây dựng một chế độ mới, phải phá hủy chế độ cũ trước đã, thì ở Nhật hoàn toàn khác. Vào cuối thế kỷ 12, khi giai cấp vũ sĩ nắm được quyền bính, họ không triệt bỏ chế độ thiên hoàng. Trong gần 700 năm giai cấp vũ sĩ nắm quyền, triều đình thiên hoàng vẫn không bị phế bỏ. Đồng thời, khi quyền bính được phục hồi cho chính phủ thiên hoàng, những người trong dòng họ tướng quân Tokugawa (vũ sĩ) cũng không bị giết chóc, trừng phạt, hay đày ải; ngược lại được cấp bổng lộc và có thể đóng góp phần mình trong công cuộc xây dựng thời Minh Trị…

Tôi xin được nói thêm một ví dụ về văn hóa Nhật Bản có thể rất lạ lùng đối với chúng ta. Có một cuốn sách tên là “Mười hai người sáng lập nên nước Nhật” do Sakaiya Taichi, chuyên gia kinh tế hàng đầu, bộ trưởng Bộ Kinh tế Kế hoạch của Nhật dưới thời Thủ tướng Obuchi viết, đã được dịch ra tiếng Việt và in ở nhà xuất bản Sự Thật, trong đó tác giả không hề nhắc đến một vị vua khai quốc hay một tướng lĩnh Nhật Bản lừng danh nào, chỉ nói đến những người theo ông có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tính cách của người Nhật và số phận nước Nhật ngày nay. Và trong số 12 người được ông kể ra, coi là có công lớn “sáng lập nên nước Nhật”, thật kỳ lạ, có Mac Arthur, Tổng tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương trong Thế chiến thứ hai và Tổng tư lệnh quân đội Mỹ chiếm đóng nước Nhật sau chiến tranh. Khi ở cương vị này trong sáu năm Mac Arthur đã có ý tưởng và kế hoạch xây dựng Nhật Bản “thành một nước như Mỹ, không phải là nước Mỹ hiện thực bây giờ, mà là nước Mỹ ông coi là lý tưởng”, một “nước Mỹ (theo ông) phải nên như thế”. Chắc chắn chỉ có một tác giả người Nhật mới có thể viết như vậy về một vị tướng là “kẻ thù” đã đánh bại và chiếm đóng nước mình. Có lẽ chỉ riêng điều này thôi cũng đã đủ để nói về bản sắc Nhật Bản, nếu ta muốn gọi là bản sắc, bởi hình như theo chỗ tôi được biết người Nhật rất ít nói về cái gọi là bản sắc, đề tài cuộc thảo luận của chúng ta hôm nay. Cũng bởi vì, như giáo sư Alain Lemaitre vừa nói, nói bản sắc không phải nói ta là gì mà là ta là gì trong tương quan với người khác, khái niệm bản sắc gắn liền với khái niệm cái khác, ta ứng xử như thế nào với cái khác lạ, cái không phải là ta. Theo nghĩa đó, có thể nói “bản sắc” của người Nhật là không chằm chằm quan tâm hàng đầu đến bản sắc, không nơm nớp lo sợ mất bản sắc khi gặp và tiếp nhận cái lạ. Đấy chính là bản sắc Nhật, đã làm nên sức mạnh và phẩm chất tuyệt vời của họ.

Nhân đây cho phép tôi được nói một chút suy nghĩ di tích Hoàng Thành của chúng ta đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới và ta rất tự hào một cách chính đáng. Đương nhiên tôi cũng chia sẻ niềm tự hào về dấu vết nghìn năm của cha ông ấy, song được đi xem Hoàng Thành tôi cũng nghĩ: hóa ra ở đấy không phải là di tich kiến trúc của các triều đại nối tiếp nghìn năm, mà là di tích những cái nền của các kiến trúc ấy, bởi ở ta rất khác ở Nhật, một triều đại mới lên thì lập tức san phẳng hết tất cả những gì thời đại trước đã dựng nên, cứ vậy liên tiếp trong nghìn năm. Nói đến bản sắc rất nhiều, lo lắng rất nhiều, quá nhiều về bản sắc, nhưng lại kỳ thị, không chỉ với cái lạ đến từ bên ngoài, mà ngay cả cái khác của chính triều đại trước mình vừa mới sụp đổ. Theo tôi, đi xem Hoàng Thành, nên ngẫm cả về điều đó.

Một tâm thức về bản sắc, bản sắc dân tộc như vậy thì rất dễ trở thành một ám ảnh nặng nề và vô ích, nếu không nói là có hại, nó rất dễ dẩn đến nghịch lý vừa tự co mình lại trước mọi văn hóa khác lạ, lại vừa rối loạn trong tiếp nhận.

Như vậy có thể nói cả hai nước chúng ta, Pháp và Việt Nam, đều có vấn đề với bản sắc. Việt Nam thì vì những nguyên nhân để lại từ lịch sử, và ý thức hệ, Pháp thì vì tình trạng nhập cư, hay như cách nói của giáo sư Alain Lemaitre, tình trạng “chuyển động cư dân chưa từng thấy xưa nay”. Chúng ta đang phải đối phó với tâm lý thu mình lại trong bản sắc đơn nguyên, cường điệu cộng đồng đến thành chủ nghĩa cộng đồng hay cộng đồng luận, hoặc tự đóng mình lại trong những hộp nhỏ và kín của những “nền văn hóa”, những “nền văn minh” - theo cách gọi của Huntington, tự định nghĩa mình một cách chật hẹp theo những tiêu chí không thật. Trong khi đó con người là một thực thể đa dạng, đa nguyên, như Armatya Sen đã nói rất đúng: “Cùng lúc tôi có thể là một người châu Á, một công dân Ấn, một người Bengal có tổ tiên ở Bangladesh và là một người cư trú tại Mỹ hay Anh, một nhà kinh tế và là một người làm triết học không chuyên, một tác gia và là một nhà nghiên cứu tiếng Phạn, một người tin tưởng mạnh mẽ vào chủ nghĩa thế tục và dân chủ, một người đàn ông và là người ủng hộ nữ quyền luận, một người dị tính luyến ái và là người bảo vệ cho các quyền của người đồng tính luyến ái, một người có lối sống phi tôn giáo trên nền của Ấn giáo, người không theo đạo Bà-la-môn và là người không tin vào cõi âm v.v…” Và tôi có quyền lựa chọn trong tất cả những cái đó đâu cái quan trọng nhất đối với mình. Tôi đồng ý với ông khi ông nói: “Lý trí đi trước bản sắc”. Đừng để cho những tác động không lành mạnh khiến mình tự làm cho mình thành “đơn sắc”. Tôi nhớ lời J.P. Sartre: “Người Do Thái là người mà người khác xem như một người Do Thái;… đó là người mà người bài Do Tháikhiến cho thành người Do Thái”. Đừng để cho các áp lực, bất kỳ đến từ đâu, dữ dằn và dai dẳng đến mấy, buộc mình chỉ vào một bản sắc đơn nhất, dù bản sắc đó nghe có vẻ rất cao sang, đẹp đẽ. Hoặc khi đã bị như vậy, thì nên cố mà giải thoát mình ra.

Đầu thế kỷ XX, có một trí thức của Việt Nam, là Phan Châu Trinh, đã thống thiết nhận ra điều này và dũng cảm chỉ rõ, theo ông dân tộc Việt Nam có hai nhược điểm chí tử khiến cho nó thất bại trong giáp mặt với phương Tây, đó là chủ nghĩa yêu nước hẹp hòi, và rất nghịch lý, cùng lúc với ý thức vọng ngoại mù quáng. Rất lạ khi thấy những tư tưởng của Phan Châu Trinh thật gần gũi với Armatya Sen, người ráo riết chủ trương bản sắc đa nguyên, và thống thiết cảnh báo, ở tầm toàn nhân loại và ngay trong thời hiện đại, rằng cách khư khư bản sắc đơn nguyên tất yếu dẫn đến bạo lực bi thảm như ta đang chứng kiến khắp nơi ngày nay.

Vậy nên, cho phép tôi nói thật, tôi không quá mặn mà với chuyện bản sắc, bản sắc dân tộc, không quá lo lắng về nó. Không nên quá chú tâm vào nó, không nên đến mức lập một Bộ Bản sắc dân tộc, hay ngày nào cũng ra rả nói chuyện bản sắc, bản sắc dân tộc, nên thoải mái, rộng rãi và nhẹ nhàng hơn với nó, như người Nhật đã rất hiện đại và rất “bản sắc” như toàn thế giới đều thấy, chính vì họ đã rất hiền minh để rộng rãi, nhẹ nhàng, thoải mái do đầy tự tin trong vấn đề này.

٭٭٭

Cho phép tôi nói thêm đôi điều về vấn đề cộng đồng Pháp ngữ đối với Việt Nam, hưởng ứng những suy nghĩ của giáo sư Alain Lemaitre. Đúng như giáo sư Alain Lemaitre vừa nói, “cần nhớ quả cộng đồng Pháp ngữ thoạt tiên là đứa con gái của công cuộc chinh phục thuộc địa, trong thế kỷ XIX và cho đến những năm 1950-1960 khi các dân tộc bị đô hộ giành lại được tự do của mình”.Tôi xin nói thêm, ở Việt Nam, ngay cả trong thời gian đó, tiếng Pháp có cả hai mặt, một mặt đó đương nhiên là một trong những công cụ của công cuộc thực dân hóa, nó đã được dùng để đào tạo hệ thống viên chức bản xứ cho công cuộc thực dân quả đã từng có mặt rất tàn bạo; mặt khác nó cũng lại là công cụ giải phóng. Và trong hai mặt ấy chưa hẳn mặt nào là quan trọng hơn. Là công cụ giải phóng bởi vì nó là phương tiện chuyển tải của một trong những nền văn hóa lớn nhất, đẹp nhất của nhân loại. Nền văn hóa đó lớn đến mức, vượt qua và bất chấp ý đồ của những người đi truyền đạt nó, nó đã trở thành một công cụ vô cùng quan trọng của những người vùng dậy đấu tranh cho độc lập và tự do của mình. Riêng tôi, tôi đã có dịp nói với một chị bạn nhà báo Pháp khi được hỏi về ảnh hưởng của văn hóa Pháp với Việt Nam, rằng: Nên nhớ chính nền văn hóa Pháp đã góp phần thậm chí có mặt quyết định tạo nên cả một thế hệ các nhà cách mạng Việt Nam, nếu cần nói cụ thể là từ Hồ Chí Minh cho đến Võ Nguyên Giáp… Song không chỉ có thế. Còn có điều quan trọng không kém: tiếng Pháp có vai trò hết sức to lớn trong sự hiện đại hóa của xã hội Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX và gần nửa đầu thế kỷ XX. Chẳng hạn trong việc ra đời và phát triển có thể coi là kỳ lạ của văn học hiện đại Việt Nam. Chúng tôi không có một nền văn học créole như ở Martinique và Tahïti với những Aimé Césaire, Jacques Stéphen Alexis, René Depestre… Nhưng dấu ấn của văn học, văn hóa Pháp lên sự hình thành của văn học hiện đại Việt Nam là hết sức to lớn, sâu đậm. Khoảng 45 năm đầu thế kỷ XX, như đã được xác nhận trong nhiều nghiên cứu gần đây, do chính tác động đó, đã thực sự có một thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của văn học Việt Nam. Và đây rõ ràng là một tiếp nhận thành công, Chúng tôi không viết bằng tiếng Pháp như các nhà văn Algérie, bằng tiếng créole như các bạn Martinique và Tahïti. Chúng tôi viết bằng một tiếng Việt lâu đời đã được hiện đại hóa đẹp đẽ trong tiếp cận với tiếng Pháp, văn học và văn hóa Pháp.

Và đương nhiên không chỉ có văn học. Trong chừng mực nào đó có thể nói hiện đại hóa của văn học là phản ánh của hiện đại hóa xã hội Việt Nam trong một giai đoạn quan trọng của lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại.

Rõ ràng văn học, văn hóa, và xã hội Việt Nam không hề mất gì trong hội nhập với tiếng Pháp, trái lại được rất nhiều, giàu có, hiện đại lên, và nếu ta muốn nói đến chuyện “bản sắc” thì chính trong quá trình này lại rõ nét bản sắc của mình hơn. Nhân đây tôi muốn được nói một suy nghĩ: tôi không thích lắm cách nói thường gặp hiện nay ở Việt Nam: “một văn hóa hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc”, cứ như hể hiện đại thì phải coi chừng mất bản sắc dân tộc. Theo tôi vấn đề là một nền văn hóa dân tộc Việt Nam hiện đại, điều văn học và văn hóa Việt Nam đã làm được khi tiếp xúc với văn học và văn hóa Pháp vào đầu thế kỷ XX như vừa nói.

Có lẽ vấn đề hiện nay của Việt Nam đối với cộng đồng Pháp ngữ là cố gắng khôi phục lại quan hệ tốt đẹp đã có và đã bị mất đi phần nào, phần khá quan trọng, trong một thời gian không ngắn, tạo lại quan hệ không phải chỉ hình thức mà là thực chất. Và trong việc này, cần khắc phục thói quen tiếp nhận có tính thực dụng như đã nói trên kia.

Trong ý nghĩa đó, những cuộc trao đổi như hôm nay thật sự là có ich, mong sẽ thường xuyên và phong phu, sâu sắc hơn./.

Nguồn:nguyenxuandien blog

































Nguyễn Huệ Chi & Nguyên Ngọc






























































Nguyên Ngọc & Anh hùng Núp












Hiện sống và làm việc tại Hà Nội - Hội An - Tây Nguyên . 
Việt Nam





















Trở về 










MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.