Sunday, 26 February 2017

Đặng Thế Phong (1918 - 1942)


















Đặng Thế Phong

(1918 - 1942)

Nhạc sĩ










Đặng Thế Phong (1918 – 1942) là nhạc sĩ thuộc thế hệ tiên phong của tân nhạc Việt Nam, một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cho giai đoạn âm nhạc tiền chiến. Ông mất năm 24 tuổi và chỉ để lại ba nhạc phẩm: "Đêm thu", "Con thuyền không bến" và "Giọt mưa thu".






Tiểu sử

Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Cha ông là Đặng Hiển Thế, thông phán Sở Trước bạ Nam Định.

Vì cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure) tại trường trung học Saint Thomas d'Aquin. Ông lên Hà Nội vẽ cho một số tờ báo và học với tư cách dự thính tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École supérieure des Beaux-Arts) tới năm 1939. Thời gian ông học ở đây đã để lại một giai thoại. Trong một kỳ thi, Đặng Thế Phong vẽ bức tranh cảnh một thân cây cụt. Giáo sư, họa sĩ người Pháp Tardieu chấm bài, khen ngợi nhưng nói rằng: E Đặng Thế Phong sẽ không sống lâu được!

Cuộc đời Đặng Thế Phong rất long đong, lận đận. Ông phải sống lang bạt và trải qua nhiều nghề. Tháng 2 năm 1941, Đặng Thế Phong lang thang vào Sài Gòn rồi sang Campuchia. Tại Nam Vang, ông có mở một lớp dạy nhạc và đến tháng 8 năm 1941 ông trở lại Hà Nội.






Sự nghiệp âm nhạc của Đặng Thế Phong chỉ có ba nhạc phẩm và đều rất nổi tiếng là: Đêm thu ca khúc viết cho lửa trại của học sinh Hà Nội 1940, Con thuyền không bến hoàn chỉnh tại Nam Vang, trình diễn lần đầu tại rạp Olympia, Hà Nội năm 1941 và Giọt mưa thu 1942. Nhạc phẩm cuối cùng Giọt mưa thu được ông viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh. Ban đầu bản nhạc mang tên Vạn cổ sầu, nhưng theo ý một vài người bạn, ông đặt lại là Giọt mưa thu cho bớt sầu thảm hơn.

Cả ba ca khúc của ông đều viết về mùa thu và hai trong số đó Con thuyền không bến Giọt mưa thu được xếp vào những tác phẩm bất hủ của tân nhạc Việt Nam. Giọt mưa thu cũng là cảm hứng cho nhạc sĩ Hoàng Dương sáng tác bài Tiếc thu nổi tiếng. Nhiều ý kiến cho rằng Trịnh Công Sơn đã ảnh hưởng bởi Giọt mưa thu khi viết ca khúc đầu tay Ướt mi.

Nhận xét của Phạm Duy, các sáng tác của Đặng Thế Phong là những bài hát khởi đầu cho dòng "nhạc thu" Việt Nam, được tiếp nối xuất sắc bởi Văn CaoĐoàn Chuẩn. Theo Doãn Mẫn, Đặng Thế Phong và Lê Thương là hai nhạc sĩ tiền chiến có sáng tác sâu đậm hồn dân tộc nhất: "Đặng Thế Phong là người hết sức tài hoa. Ông chơi được rất nhiều nhạc cụ. Ông sáng tác Giọt mưa thu, Con thuyền không bến từ khi còn rất trẻ. Đáng tiếc, ông mất quá sớm. Có thể nói sự ra đi của ông là một tổn thất lớn đối với bạn bè và cho cả những người yêu mến âm nhạc Việt Nam."

Đặng Thế Phong được xem như một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của thời kỳ tiền chiến. Ông mất năm 24 tuổi vì bệnh lao trên một căn gác số 9 phố Hàng Đồng, Nam Định năm 1942.



Tham khảo



Tiểu sử của Đặng Thế Phong in trong ấn bản Con thuyền không bến do nhà xuất bản Tinh Hoa phát hành tại Sài Gòn vào năm 1964:

"Đặng Thế Phong sinh năm 1918, thứ nam của cụ Đặng Hiển Thể, thông phán Sở Trước Bạ thành phố Nam Định, là con thứ hai của một gia đình có sáu anh em, hai trai bốn gái. Cha mất sớm, gia đình thiếu thốn, anh phải bỏ dở học vấn khi đang học lớp 2ème année P.S. Anh có lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật với tư cách bàng thính viên. Anh vẽ tranh cho báo Học Sinh (chủ bút là Phạm Cao Củng) như truyện bằng tranh Hoàng Tử Sọ Dừa, Giặc Cờ Đen để lấy tiền ăn học. Mùa xuân năm 1941 anh có đi Sài Gòn rồi Nam Vang. Ở Nam Vang anh có mở một lớp dạy nhạc. Đến mùa thu 1941 anh lại trở về Hà Nội. Lúc sinh thời Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo nên cuộc sống của anh thật là khổ cực, chật vật. Ngoài tài sáng tác, anh còn là một ca sĩ, tuy chưa hẳn được là ténor nhưng giọng hát khá cao, đã nhiều lần ra sân khấu mà lần đầu tiên anh hát bài Con thuyền không bến tại rạp chiếu bóng Olympia, phố Hàng Da Hà Nội năm 1940. Đến đầu 1942 thì anh từ giã cõi đời tại nhà, trên một căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng vì bệnh lao, hưởng dương 24 tuổi."



Những sáng tác khác

Theo Phạm Duy thì Đặng Thế Phong có sáng tác một ca khúc nữa là Sáng rừng.
Trong một bài viết của nhạc sĩ Trương Quang Lục thì Đặng Thế Phong có những sáng tác: Con thuyền không bến, Giọt mưa thu, Đêm thu, Sáng trăng, Sáng trong rừng, Sầm sơn...
Báo Tiền phong số ra ngày 11 tháng 1 năm 2006 đăng tư liệu về một nhạc phẩm mới tìm thấy của ông: Gắng bước lên chùa, lời của nhà văn trinh thám Phạm Cao Củng.









Đêm Thu


Thái Thanh


Ngọc Lan















Con Thuyền Không Bến
Bảo Yên


Thái Thanh


Lan Ngọc















Giọt Mưa Thu
Thái Thanh


Lê Thu


Hà Thanh






















Những bóng hồng trong thơ nhạc - Đặng Thế Phong: “Dương thế bao la sầu...”


Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, Đặng Thế Phong là một trường hợp đặc biệt. Ông là một trong rất ít nhạc sĩ tiên phong của thời kỳ tân nhạc còn phôi thai, chết rất trẻ nhưng kịp để lại cho đời 3 ca khúc bất hủ.

Người viết có may mắn được gặp gỡ hai người biết khá rõ về cuộc đời Đặng Thế Phong. Đó là nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tác giả ca khúc Gợi giấc mơ xưa (hiện sống tại TP.HCM) và nhà văn Phạm Cao Củng (gặp cách đây khoảng 10 năm, khi ông từ Mỹ về thăm quê hương, qua sự giới thiệu của họa sĩ Mạc Chánh Hòa). Theo nhà văn Phạm Cao Củng thì Đặng Thế Phong là một chàng trai rất đẹp, đàn hay hát giỏi, thích hóa trang thành thiếu nữ trong những vở kịch ngắn. Anh diễn rất đạt nên ai cũng yêu thích, nhất là phái nữ.

Nhạc sĩ Lê Hoàng Long thì khẳng định người yêu của Đặng Thế Phong tên Tuyết. Tuyết không đẹp nhưng có duyên. Cô là con gái một chủ tiệm buôn bán “gối màn chăn drap” ở chợ Sắt (Nam Định). Vốn tính nhút nhát, Đặng Thế Phong nghĩ mãi cũng không biết làm cách nào để “tiếp cận” người đẹp. Cuối cùng, anh vờ làm khách hàng vô hỏi giá rồi... nhét vội vào tay nàng một lá thư. Chẳng biết nội dung bức thư đầu tiên này mùi mẫn như thế nào mà sau đó cô Tuyết đã cự tuyệt một anh thông phán trẻ làm việc ở Tòa Đốc lý Nam Định, khi anh này dạm hỏi.

Thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng

Trước khi quen và yêu Tuyết, Đặng Thế Phong đã sáng tác ca khúc đầu tay Đêm thu trong một đêm cắm trại của Hướng đạo sinh (1940). Ca từ của bản nhạc rất trong trẻo, lạc quan... Còn bản Con thuyền không bến thì được sáng tác ở Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) khi tình yêu giữa nhạc sĩ và cô Tuyết đang độ chín mùi.

Một hôm, ông cùng một nhóm bạn văn nghệ sĩ lên Bắc Giang chơi, nhân đó họ tổ chức một đêm đi thuyền trên sông Thương. Cùng lúc đó, chàng nhận được tin Tuyết ngã bệnh nơi quê nhà. Lòng dạ bồn chồn, xót xa, Đặng Thế Phong ôm đàn bước vào khoang thuyền, bỏ mặc các bạn đang đùa vui. Khi đêm sắp tàn thì bản nhạc hoàn tất với những lời ai oán não nùng gửi về... chân mây: “Đêm nay thu sang cùng heo may. Đêm nay sương lam mờ chân mây... như nhớ thương ai chùng tơ lòng...”, rồi “... Nhớ khi chiều sương cùng ai trắc ẩn tấm lòng. Biết bao buồn thương, thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng...”.

Sớm hôm sau, Đặng Thế Phong tức tốc trở về Hà Nội, người đầu tiên được nghe chính tác giả hát ca khúc này là người yêu của ông. Cô Tuyết hết sức cảm động. Chưa hết, chỉ ít lâu sau, Con thuyền không bến ra mắt khán giả thủ đô tại Nhà hát Lớn Hà Nội qua tiếng hát của nữ ca sĩ Vũ Thị Hiển. Từ Nam Định, cô Tuyết đã bỏ hẳn một ngày chợ để lên Hà Nội, ngồi cạnh Đặng Thế Phong, ngay ở hàng ghế đầu để nghe bài hát “người ấy làm riêng cho mình”. Hạnh phúc còn nhân đôi bởi chỉ khoảng một tuần sau, tại rạp Olympia (phố Hàng Da, Hà Nội), cô Tuyết còn được chứng kiến người mình yêu tự đệm đàn, tự hát ca khúc này mà ánh mắt luôn trìu mến hướng về chỗ cô ngồi, trong tiếng hoan hô nhiệt liệt của khán giả.

Trời thu gieo buồn lây

Sau khi từ Bắc Giang về, Đặng Thế Phong đã nhuốm bệnh. Thời đó, bệnh lao là một bệnh nan y và luôn bị những người chung quanh xa lánh.

Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ở tỉnh không đủ điều kiện chữa trị, Đặng Thế Phong phải chuyển lên Hà Nội, sống chung với ông chú họ Nguyễn Trường Thọ trong một căn gác ở làng hoa Ngọc Hà (ngoại ô Hà Nội). Tuy vậy, tình trạng vẫn không khá hơn chút nào. Gia cảnh nghèo nàn, tiền bạc phải vay mượn để chữa trị, cuộc sống kham khổ làm cho tình cảnh của nhạc sĩ càng thêm nghiệt ngã... Cô Tuyết vì phải phụ giúp gia đình chuyện buôn bán ở thành Nam nên vài hôm mới lên Hà Nội chăm sóc người yêu rồi lại tất tả quay về.

Tháng 7 mưa ngâu. Cảnh buồn tê tái. Đặng Thế Phong nhớ Tuyết quay quắt... Nhạc hứng tuôn trào, chàng gượng ngồi dậy, ôm đàn và viết nên khúc nhạc buồn da diết: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...”. Bản nhạc được chàng đặt tên là Vạn cổ sầu. Bạn bè góp ý nhạc thì hay nhưng cái tựa bi thảm quá. Cuối cùng, tên bản nhạc được đổi thành Giọt mưa thu.

Cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi, Đặng Thế Phong nhờ ông Thọ đưa về Nam Định. Từ đấy cho đến lúc Đặng Thế Phong lìa đời, cô Tuyết lúc nào cũng túc trực bên giường bệnh để chăm sóc ông, khiến những người quen biết đều xót xa thương cảm cho một mối tình vô vọng lẫn nể phục tính cách cao thượng chung thủy của Tuyết.

Tang lễ của chàng nhạc sĩ 24 tuổi ấy được rất nhiều thanh niên nam nữ của thành Nam tham dự. Ngoài việc đưa tiễn một người con tài hoa nổi tiếng của quê hương, họ còn muốn chia sẻ và tỏ lòng trân trọng đến với cô thiếu nữ mặc áo đại tang đi sau linh cữu của chàng (việc này được phép của cả hai gia đình).


Hà Đình Nguyên









Sáng Rừng
Tác giả: Đặng Thế Phong



Sáng tới rồi ! 
Khắp đất trời đã tưng bừng ánh vàng 
Vừng đông chân trời vừa ló … 
Núi suối rừng 
Ðã thay màu thắm lẫy lừng huy hoàng 
và sương thêm màu mơ màng … 

Chim líu lo mừng sáng 
Hoa lá như dịu dàng 
Bình minh vừa mang theo sắc hương … 
Mây trắng bay từng đàn 
Man mác trên nền trời 
Ðầm đìa làn cỏ xanh láng lai sương rơi … 

Tâm hồn ai không tha thiết cảnh rừng tuyệt vời 
Và thấy trái tim thêm nồng nàn 
Tràn lấn biết bao tình yêu đời … 

Xao xuyến cây, làn gió 
Lay lá lay rộn ràng 
Lòng người cùng xôn xao với bao ánh dương 

















Đặng Thế Phong - sống và chết trước khi thời cơ đến (phần 1)
Jason GibbsViết cho BBC Tiếng Việt

28 tháng 2 2017



Đặng Thế Phong có hai mảnh đời khác nhau. Cuộc đời của ông khi bố ông còn sống, và cái thời kỳ sau khi bố ông mất độ năm 1935.

Khi bố ông còn sống gia đình của ông được hưởng cuộc sống ổn định, khá giả của một công chức của sở Trước Bạ Nam Định. Gia đình họ Đặng ở nhà số 9 Hàng Đồng là trung tâm thành phố Nam Định. Vì vậy, ông Đặng Hiển Thế, bố của Đặng Thế Phong, cho con mình được học tại các trường uy tín nhất xứ Nam Định là Trường Thành Chung (tức là École primaire superieure franco-indigène de Nam-Dinh) và trường dòng L'École St. Thomas D'Aquin. Khi bố ông mất cuộc đời của ông vào bước ngoặt mới.

Nhiều nhạc sĩ Việt nổi tiếng xưa đều bị mồ côi cha sớm giống Đặng Thế Phong bao gồm Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Trần Tiến. Không biết như vậy cũng là nguyên cớ giúp các nhạc sĩ theo nghề xướng ca vô loại, là không bị bố bắt phải học kiếm bằng và lên chức. Với Đặng Thế Phong cũng như Phạm Duy thì tình thế này đã giúp hai người nổi máu giang hồ xách đàn ra đi.

Thời thanh niên của Đặng Thế Phong là rất "thanh niên." Nhà văn Phạm Cao Củng kể rằng nhạc sĩ Phong thích bơi lội và từng đi trẩy Hội Chùa Hương. Phạm Cao Củng kể về lúc hai anh em ngủ trong chùa Ngoài ngắm ánh trăng. Một điều chắc chăn nữa là Đặng Thế Phong là hướng đạo sinh hay đi cắm trại. Trong khoảng thời gian ấy Đặng Thế Phong cũng hay lên Hải Phòng ở với Phạm Cao Củng và làm quen với hai anh em Hoàng Kim Quí và Hoàng Phú (tức hai nhạc sĩ Hoàng Quý và Tô Vũ).

Giống một số nhạc sĩ tiền phong lúc bây giờ như Phạm Duy, Văn Cao, Nguyễn Đình Phúc và Nguyễn Đức Toàn, Đặng Thế Phong học hội họa một thời tại L'École Supérieure des Beaux-Arts de l'Indochine (Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương). So với các nhạc sĩ được nhắc đến ở trên, Đặng Thế Phong là một người anh, một người đi trước. Có nghĩa là phải cố tìm cách mưu sinh trong thời gian này khi mà tân nhạc chưa có cơ sở để giúp đỡ một người nhạc trẻ kiếm sống bằng con đường nghệ thuật của mình.

Các nguồn chính (primary source) về cuộc đời Đặng Thế Phong cũng hiếm, nhưng một giai đoạn của đời ông được chứng minh bằng tư liệu là thời ông làm cho báo Học Sinh ("pour la jeunesse scolaire") do Phạm Cao Củng thành lập. Học sinh là những trang phụ lục của Tiểu Thuyết Nhật Báo dành cho giới trẻ được xuất bản từ 5 tháng 5 1939. Vì cảnh nghèo Đặng Thế Phong phải bỏ dở học hành ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật để kiếm sống. Ông được cái may là được tựa vào một người anh kết nghĩa Phạm Cao Củng và ông cũng đã cho nhạc sĩ này làm cho tờ báo mình.

Tên Đặng Thế Phong xuất hiện trong số báo đầu tiên trong mục quảng cáo "những bài hát của nhạc sỹ trẻ tuổi Đặng Thế Phong đặt ra riêng cho các em nhỏ Học Sinh." Tôi cho lời đó chứng minh rằng Đặng Thế Phong là một người có kinh nghiệm tổ chức và dạy nhạc cho các em hướng đạo sinh, dạy các bài ca Pháp với lời Việt, và đã bắt đầu sáng tác ca khúc cho lứa tuổi ấy.

Ngày 22 tháng 6 1939 bài ca "Sáng trong rừng" của Đặng Thế Phong được đăng trên trang Học Sinh. Bài ca này được "riêng tặng các bạn 'Hương đạo sinh' và Sói con'." Lời ca "Sáng trong rừng" tỏ ra nhiều xúc cảm và đắm mê bởi cảnh đẹp rực rỡ của bình minh - "Tâm hồn ai không say đắm cảnh rừng tuyệt với." Ông soạn một giai điệu có tính vui của hành khúc kèn lệnh, nhưng cũng có nét buồn của điệu rê / D thứ.

Bài ca "Sáng trăng" được đăng trên báo Học Sinh ngày 24 tháng 8 1939. Theo nhịp "gai et rythmé" (vui vẻ và nhịp nhàng) Đặng Thế Phong soạn một ca khúc ngắn theo điệu re / D trưởng. Giai điệu này cũng có tính kèn lệnh dễ cho thiếu niên hát. Lời ca của "Sáng trăng" khuyến khích các em hướng đạo sinh vui lên để đỡ buồn nhớ khi cắm trại xa nhà.

Kèm theo các sinh hoạt tòa soạn, báo Học Sinh cũng tổ chức những buổi văn nghệ. Trên trang 13 của số báo ngày 23 tháng 11 1939 có một tấm ảnh với Ban Kịch Học Sinh vừa biểu diễn ở Chợ Phiên Thanh Niên ở Hà Nội hai hôm 18 và 19 tháng 11 1939. Trong tấm ảnh ấy có ba người lớn và bẩy em học sinh. Bên trái là "anh Đặng Thế Phong đứng đầu ban âm nhạc." Còn hai người lớn khác thực hiện dàn cảnh cho ban kịch là "chị Nga" (tức Phạm Thị Trường, vợ của của Phạm Cao Củng) và Vũ Đức Toa (một nhà văn cũng có tên bút Muỗi Sài Gòn). Có bốn người trai trẻ cầm các nhạc cụ như phong cầm, banjo, ghi ta và violon. (Một chi tiết thú vị là người đứng trước chị Nga và cầm cây đàn banjo là Hà Đình Thau sau này được biết đến với tên bút Từ Linh là bạn thân của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Người thiếu nhiên đứng bên cạnh Đặng Thế Phong và cầm kèn phong cầm tên là Hà Đình Kim, chắc là anh của Hà Đình Thau).

Báo Học Sinh không đăng nhiều thông tin về âm nhạc của ban nhạc thiếu niên này biểu diễn. Chỉ có một chi tiết là "hai em Nguyễn Bá Lộ và Hà Đình Thau đã rập ra cùng các bạn hát bài "Quay quanh, quay quanh", hòa với kèn accordéon, rất vui, như dục [giục] hết thẩy các người xem cùng đứng giậy, giắt tay nhau, ca hát và quay tròn..." Bài "Quay quanh" không biết có phải là một tác phẩm của Đặng Thế Phong sáng tác hay là một bài tây đặt lời Việt?

Tấm ảnh này chứng tỏ thêm một điều quan trọng là năm đó Đặng Thế Phong là một người nhạc sĩ có đủ trình độ để tổ chức và diễn tập một đội âm nhạc. Ông phải dạy bốn nhạc cụ cho bốn học sinh trẻ. Và trong tấm ảnh ta cũng được gặp một thanh niên đúng 20 tuổi, cao, khỏe, đẹp trai và ăn mặc lịch sự.

Từ 26 tháng 10 báo Học Sinh bắt đầu quảng cáo một bài ca mới của Đặng Thế Phong. "Đêm thu" mới được đăng trên trang Học Sinh ngày 28 tháng 12 1939 trong số báo đặc biệt dành cho "các em gái." Lời ca của bài ca này cũng vẽ cảnh đẹp của thiên nhiên như "Sáng trong rừng." Buổi sáng thì xôn xao đầy hy vọng của một ngày mới, song ban đêm thì lại "im như mắc buồn." Khác với các bài ca hướng đạo sinh ngắn, "Đêm thu" là một bài ca trọn vẹn mà cũng chuyển điệu từ sol / G thứ sang sol / G trưởng. Các nghệ sĩ biểu diễn bài ca này từ xưa đến nay hay hát đoạn điệu thứ theo nhịp chậm rồi hát đoạn trưởng nhanh hơn. Nhưng, thực ra khi ghi bài "Đêm thu" trên trang báo Học Sinh nhạc sĩ đặt ra nhịp "tempo di valse moderato" nghĩa là toàn bài ca nên biểu diễn theo nhịp valse vừa.

Khi đăng trên trang báo, "Đêm thu" đề tên hai tác giả -- "âm nhạc của Đặng Thế Phong" và "lời ca của Hoàng Thái." Hoàng Thái là ai vậy? Vai tháng sau Hoàng Thái cũng viết một bài giới thiệu mục mới của Đặng Thế Phong trên báo đầu năm 1940, như vậy Hoàng Thái là một người làm việc với báo Học Sinh. Trong Hồi Ký, thì Phạm Cao Củng cho rằng Nguyễn Trường Thọ, người chú họ của nhạc sĩ "là người đã đặt lời nhiều bản nhạc Đặng Thế Phong." Hoàng Thái có phải là Nguyễn Trường Thọ? Hay có thể Hoàng Thái chính là Phạm Cao Củng là người viết lời cho bài ca "Gắng lên chùa" mà được in trên trang tờ báo Tin Mới năm 1940.

Trong quyển Hồi ký một đời người (1993), Phạm Cao Lũy đã trích dẫn những lời kể của Nguyễn Trường Thọ về thời gian đó. Ông Thọ nói rằng lời ca của "Con thuyền không bến" được viết khi hai chú cháu ở chung trong một nhà tranh tại trại hàng hoa Ngoc Hà.'' Ông Thọ hồi tưởng rằng ông viết những lời này do một "tình cảm nặng nề" của một mối tình đầu. Nguyễn Trường Thọ cũng cho rằng lời ca của bài "Vạn cổ sầu" (được phổ biến với tên "Giọt mưa thu") là của Đặng Thế Phong loạn lời với ông Thọ góp ý một ít.

Công việc chính của Đặng Thế Phong ở báo Học Sinh sau một thời gian là vẽ tranh minh họa và tranh chuyện ký. Từ tháng 9 1939 các tranh của ông được xuất hiện trên trang báo với nhiều tên bút khác nhau như Phg, Levent (tiếng Pháp là cơn gió - tức phong), thephong, Tổng Phệ, và Khải Phong. Ông làm minh họa cho các tranh chuyện nhiều kỳ như Giặc cờ đen, Tấm Cám, và Cảnh Lâm, hồ sám (một chuyện mạo hiểm như Tarzan). Từ tháng 6 1940 thì nhiều kỳ của các tranh chuyện được ký tên Bình Phong. Không biết đây có phải là Đặng Thế Phong và họa sĩ Tạ Thúc Bình làm chung. Từ 12 tháng 9 1940 thì Tạ Thúc Bình thành người họa sĩ chính của báo Học Sinh và Đặng Thế Phong vẽ tranh ít hơn.

Nhạc sĩ Hoàng Trọng, một người đồng hương của Đặng Thế Phong, đã kể cho tôi nghe rằng Đặng Thế Phong với Bùi Công Kỳ đã mở ra một "nhà hàng vẽ" ở Nam Định độ năm 1940. Thực ra Đặng Thế Phong phải làm nghệ thuật thương mại như một thợ vẽ tranh. Nhưng nói như thế không có nghĩa là ông thiếu tài năng hội họa. Học ở trường mỹ thuật thì ông biết luật phối cảnh, biết cách in đá. Làm tranh chuyện ông cũng phải biết phát triển các nhân vật. Nếu chưa phải là xuất sắc thì nghệ thuật vẽ của Đặng Thế Phong phải coi là chuyên nghiệp.

Ông Jason Gibbs có bằng tiến sĩ về Lý thuyết và Sáng tác âm nhạc từ Đại học Pittsburgh, chuyên nghiên cứu âm nhạc Việt Nam. Bài viết gửi BBC được ông viết trực tiếp bằng tiếng Việt, mở đầu loạt bài sẽ đăng về các gương mặt nhạc sĩ Việt Nam.






Đặng Thế Phong - sống và chết trước khi thời cơ đến (phần 2)
Jason GibbsViết cho BBC Tiếng Việt


Đầu năm 1940 Đặng Thế Phong soạn một mục giảng dạy những điều cơ sở về nhạc lý như cái gam, các nốt, khoa, trường độ, v.v.

Như vậy Đặng Thế Phong có một trình độ âm nhạc Tây phương rất vững chắc. Các bài hát được chép ra rất đúng, và các nốt giai điệu hợp với luật hòa âm nhạc tây phương. Chắc người nhạc sĩ đã được đào tạo rất tốt ở trường dòng (và rất có thể Đặng Thế Phong từng theo đạo Thiên Chúa - em út của nhạc sĩ, Đặng Thanh Kim, là tín đồ Công giáo). Ngoài tài năng và nền học thức, Đặng Thế Phong cũng giữ một niềm đắm mê âm nhạc. Theo ký ức của Nguyễn Trường Thọ thì "Phong thích ôm cây lục huyền cầm nghêu ngao hát suốt ngày." Đặng Thế say mê âm nhạc đến hơi thở cuối cùng. Lúc lâm chung, ông xin em út của mình ca và đàn bài "Serenade" của Schubert cho mình nghe.

Báo Trung Bắc tân văn của 22 tháng 12 1940 có bài phê bình kịch Cái Vạ của Vũ Trọng Can biểu diễn hôm 16 tháng 12 tại rạp Olympia nói đến sự tham gia của một ca sĩ tên Thế Phong. Số cuối cùng của báo Học Sinh xuất bản 14 tháng 1 1941 báo cáo các thành viên của một báo mới có tên Chiếu bóng. Tên Thế Phong có mặt trong tòa soạn. Không biết tờ báo ấy có bao giờ xuất bản, nhưng ít lâu sau Đặng Thế Phong đã đi vào Nam để cố kiếm sống bằng cách dạy âm nhạc và vẽ pa-nô cho rạp chiếu bóng ở Nam Vang.


Tôi chưa thấy tư liệu nào nói ông mắc bệnh lao từ lúc nào, nhưng chính bệnh nhân Đặng Thế Phong là hình ảnh được trao cho chúng ta. Nhạc sĩ / họa sĩ Nguyễn Đình Phúc đến hội Trí Tri nghe ông hát và kể đến "một thanh niên, mặt xanh lướt như được nạn bằng sáp, đang vừa đệm ghita, vừa hát… Cái mặt sáp ong đã xanh lại càng xanh trắng bệch ra. Đặng Thế Phong ôm ngực ho, một cơn ho rũ rượi." Đến xem Đặng Thế Phong ở rạp Olympia Nguyễn Ngọc Oánh cũng nhắc đến một "hình ảnh ... đã cho tôi một ấn tượng không quên về nghệ sĩ tài ba ấy trong hoàn cảnh nghiệt ngã của lịch sử." Đặng Thế Phong qua đời ngày 2 tháng 8 1942 ở Nam Định, chết non như một Franz Schubert của Việt Nam.

Nghệ sĩ tài hoa mệnh yểu Đặng Thế Phong để lại ba ca khúc vượt thời gian là "Con thuyền không bến," "Giọt mưa thu" và "Đêm thu." Với thêm ba ca khúc được nhắc đến ở trên thì tổng kết thì ông từng sáng tối thiểu là 6 ca khúc. Tôi biết đến thêm hai ba ca khúc khác nữa. Phạm Duy bàn đến bài ca "Sáng rừng" (khác với "Sáng trong rừng) trong những bài ông viết về lịch sử nhạc tiền chiến trong tạp chí Văn Học năm 1985. Tôi cũng có thêm thông tin về các bài ca "Đồ Sơn" (theo một bài viết của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo, một người khi còn trẻ cũng gửi bài viết cho tạp chí Học Sinh) và "Sầm Sơn (theo tư liệu Lê Hoàng Long).

Khi còn sống "Con thuyền không bến" và "Giọt mưa thu," hai kiệt tác của Đặng Thế Phong, chưa được phổ biến rộng rãi. Nhưng ít lâu sau hai bài ca này được nổi như cồn và thành quen thuộc đối với giới yêu nhạc cải cách. Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam hiếm có bài ca được thu thanh, biểu diễn và phát thanh nhiều như hai tác phẩm ấy. Mặc dù đã chưa được thu thanh hay in làm bản nhạc, nhiều người từng sống những năm Đại Chiến thứ II (1941-1945) đều nhắc đến hai bài ca này trong hồi ký và khi trả lời phỏng vấn. Chắc chúng được dần dã phổ biến nhờ việc ghi chép vào các quyển sổ và nhờ chuyển miệng.

Nhạc sĩ Vân Đông nhắc trong hồi ký Một trên gọi, một cuộc đời và tình yêu âm nhạc rằng ban nhạc của mình ở Quảng Ngãi từng hát bài ca ấy lúc bấy giờ. Giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Đình Hòa nhắc các bạn bè trẻ Hà Nội hát "Con thuyền không bến" với nhau. Nhạc sĩ Văn Ký cũng kể rằng nhóm âm nhạc của mình cũng biểu diễn "Giọt mưa thu" ở Thanh Hóa. Giáo sư nha khoa Nguyễn Thành Nguyên kể cho tôi nghe rằng khi sang Nhật du học lúc bấy giờ các nữ du học sinh cũng hát "Giọt mưa thu." Nghĩa là hai bài hát của Đặng Thế Phong đã đi vào đời sống của thế hệ đó rất nhanh.

Mồng 3 tháng 9 1946, vài tháng trước kháng chiến bùng nổ, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tổ chức một buổi nhạc "để tiếp đón thính giả ngoại quốc." Buổi biểu diễn này có vai trò ngoại giao - các vị lãnh sự nước Anh, Mỹ, Trung Quốc và một số sĩ quan Pháp đến nghe. Mục đích của buổi này là trình bày tinh hoa của nền nhạc Việt để đất nước và dân tộc của mình được công nhận và tôn trọng. Chương trình của buổi biểu diễn được chia ra thành ba phần. Một phần là nhạc truyền thống Việt Nam (nhạc Huế). Trong phần thứ hai một dàn nhạc biểu diễn nhạc cổ điển tây phương trình bày một thể loại nhạc quen thuộc cho người nước ngoại đến nghe. Người Việt có khả năng chơi nhạc cổ điển cũng chứng minh rằng người Việt được am hiểu một thể loại nhạc quốc tế được coi như là đỉnh cao của âm nhạc nhân loại. Phần thứ ba gồm ba ca khúc của tác giả Việt sáng tác. Dưới sự điều khiển của Đinh Ngọc Liên, ban nhạc Vệ Quốc Đoàn và giọng hát vợ ông là nghệ sĩ Bùi Thị Thái thính giả nước ngoại được nghe bài "Thiên Thai" của Văn Cao và hai bài "Con thuyền không bến" và "Giọt mưa thu" của Đặng Thế Phong.

Một điều tất nhiên là trong dịp này họ không thể thể hiện những tác phẩm "diệt thù," "phan thây uống máu" cho khách nước ngoại. Nhưng dù thế nữa ba ca khúc ấy được coi như sự gặp gỡ hài hòa của hai nền âm nhạc tây phương và Việt Nam. Các ca khúc của Văn Cao và Đặng Thế Phong lấy cảm hứng từ nhạc xứ Việt và được viết và trình bày theo phương pháp tây phương. Bài "Một buổi hòa nhạc tưng bừng" đăng trên báo Cứu Quốc ngày 5 tháng 9 1946 kết luận rằng các tác phẩm mới này "làm cho mọi người say sưa và đặt nhiều tin tưởng vào tương lai âm nhạc Việt Nam."

Những năm đầu kháng chiến chống Pháp ca khúc của Đặng Thế Phong còn rất phổ biến rộng rãi và được hát như bình thường. Nhưng ít năm sau, lập trường văn hóa trong vùng khánh chiến thay đổi. Trong hồi ký Chuyện mình chuyện đời, nhạc sĩ / họa sĩ Nguyễn Đình Phúc có kể đến một nữ ca sĩ hát bài "Giọt mưa thu" với tiếng ghi ta "phóng khoáng và bay bướm" của nhạc sĩ Bùi Công Kỳ đệm đàn theo. (Bùi Công Kỳ được đề tên là người viết lời trên bản "Giọt mưa thu" của Hoàng Mai Lưu xuất bản năm 1946). Nhưng trong chương sau của hồi ký ông, khi Nguyễn Đình Phúc lên chức làm "cán bộ lãnh đạo của nhà nước" thì ông lại cấm cô ấy hát "Giọt mưa thu" nữa.

Việc cấm nhạc Đặng Thế Phong ở nước Việt Nam xã hội chủ nghiã đã kéo dài độ 40 năm đến 1989. Bị cấm không có nghĩa là biến đi.

Việc cấm nhạc Đặng Thế Phong ở nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã kéo dài độ 40 năm đến 1989. Bị cấm không có nghĩa là biến đi. Nhiều người Việt đã giữ các bài ca ấy trong lòng mình - kể cả giữ lại cho tinh thần chiến đấu. Năm 1966 ở Vĩnh Linh, Nguyễn Đình Phúc lúc biểu diễn phục vụ lính chiến kể rằng các "anh giải phóng quân" cứ yêu cầu những bài ca lãng mạn xưa như "Con thuyền không bến." Chính trị viên quân đội bảo "các nghệ sĩ cứ hát" vì "chất dân gian và âm hưởng nhạc Việt Nam" trong các bài ca sẽ làm các người lính hăng hái chiến đấu. Hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh cũng kể về giá trị của một bài ca như "Giọt mưa thu" đối với một nhà văn của phe cũ như Nguyễn Tuân. Ông kể rằng có một lúc nhà văn này "vừa uống vừa khóc, vừa hát đi hát lại" bài ca "Giọt mưa thu." Bị phê phán là hát "khóc nhân tình" thì Nguyễn Tuân bác bỏ nói "mình buồn cho những kiếp người chịu oan khuất, buồn cho đời."

Ở xứ Việt dưới Pháp quyền rồi sau 1954 ở nước Việt Nam Cộng Hòa thì nhạc Đặng Thế Phong lại được tha hồ phổ biến. Ba bài "Con thuyền không bến," "Đêm thu," và "Giọt mưa thu" được phát thanh nhiều. "Đêm thu" và "Giọt mưa thu" được nhà xuất bản Tinh Hoa in từ năm 1949. Ca sĩ Minh Trang đã thu "Con thuyền không bến" cho hãng đĩa Polyphon, Châu Kỳ thu "Đêm thu" cho hãng Philips, Văn Lý thu "Giọt mưa thu" cho hãng Oria.

Các bài ca Đặng Thế Phong cũng được phát thanh và thu đĩa băng nhiều ở miền nam thời nước Việt Nam Cộng Hòa. Nhà xuất bản Diên Hồng in lại hai bài "Giọt mưa thu" và "Con thuyền không bến." Nghe ca sĩ Thanh Thúy hát "Giọt mưa thu" đã thành một nguồn cảm hứng cho Trịnh Công Sơn sáng tác bài ca "Ướt mi." Trong thời kỳ này bài tiểu sử đầu tiên về nhạc sĩ Đặng Thế Phong xuất hiện. Trên bìa sau của "Giọt mưa thu" (ẩn phẩm Diên Hồng năm 1964), Lê Hoàng Long cho lên một tấm ảnh một số chi tiết về đời nhạc sĩ mà ông trích từ tập 2 của của cuốn Nhạc sỹ Danh tiếng Hiện đại (hình như không xuất bản?).

Sau khi nước Việt được thống nhất thì các bài hát Đặng Thế Phong bị cấm toàn quốc. Ngày 15 tháng 10 năm 1989 Cục Văn hóa và Múa bắt đầu cấp phép cho các bài ca xưa được phép lưu hành. Ba bài ca của Đặng Thế Phong nằm trong đợt cấp phép lưu hành đầu tiên này. Thực ra quần chúng đã đi phía trước pháp luật. Tết 1988, Nhà hát Tuổi Trẻ ở Hà Nội cho biểu diễn "Giọt mưa thu" trong một chương trình "giới thiệu những nhạc phẩm đặc sắc trước va sau Cách Mạng Tháng Tám." Ngày 15 tháng 7 1988, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đã giúp cho Hội Âm Nhạc Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức một "chương trình thể nghiệm giới thiệu ca khúc trữ tình" với hai ca khúc Đặng Thế Phong tại Câu Lạc Bộ Thể dục Thể thao Bến Nghé. Khán giả rất đón mừng chương trình vì "vé bán sạch từ trước cả tuần."

Các nhà phê bình âm nhạc của chính phủ Việt Nam tìm mọi cách giải thích ý nghĩa các bài ca xưa có vấn đề như các bài của Đặng Thế Phong. Bởi vì nhạc Đặng Thế Phong xuất hiện trước các biến cố 1945, như vậy nó phản ánh lên một xã hội Việt bị thực dân đô hộ. Theo lời ông Đào Trọng Từ thì "Giọt mưa thu" biểu hiện những người có tính mơ mộng, nhạy cảm sống trong một xã hội bế tắc. Nó gợi ra nỗi đau đớn của một thế hệ phụ nữ khóc trong sự phiền muộn của một nước nô lệ. Còn Nguyễn Viên thì "Con thuyền không bến … lênh đênh chỉ biết trôi theo dòng đời lạc lõng, không có lối thoát, chỉ có thở than…" Trương Quang Lục cũng thừa nhận rằng những ca khúc của "dòng lãng mạn" thời xưa "đã đạt một giá trị nghệ thuật nhất định" nhưng bị hạn chế về mặt "nhân sinh quan do điều kiện lịch sử cụ thể khi chúng ra đời."

Năm 2000 Viện Âm Nhạc xuất bản một tác phẩm 1000 trang với chủ đề Âm nhạc mới Việt Nam: Tiến trình và thành tựu. Các tác giả của quyển này khen Đặng Thế Phong về sự nhạy cảm "trong việc diễn đạt nỗi buồn tê tái." Nhưng đây chỉ là "nỗi bơ vơ của một tầng lớp trung gian" là một thành phần xã hội "mất phương hướng trong cái biển cả của những xáo động lịch sử, đặc biệt là sau cơn khủng bố trắng những năm 1931-1935." Đặng Thế Phong có phụ thuộc về "tầng lớp trung gian" không? Điều đó khó xác nhận thế nào. Nếu sống lâu Đặng Thế Phong theo cách mạng, làm công chức văn hóa cho nhà nước không? Hay di cư vào Nam, xin tỵ nạn ở Mỹ? Ai mà biết được. Nhưng lịch sử Việt Nam đòi hỏi mỗi người phải chọn đúng một phương hướng. Các con đứa tinh thần của ông cũng bị biển cả đấm thùm thụp, nhưng rốt cục được vượt biên, vượt thời gian và sống sốt.

Các bài viết về cuộc đời và tình nhân Đặng Thế Phong bắt đầu xuất hiện các tờ báo Việt vài năm sau khi các bài hát của ông được cấp phép hát lại. Năm 1991 báo Nhân Dân đăng bài "Đặng Thế Phong va người tình chung thủy" tựa vào một cuộc phỏng vấn em gái út của nhạc sĩ.

Đặng Thế Phong được sinh 14 tháng 4 1918. Ông tiêu biểu cho các nghệ sĩ nghèo không được đánh giá cao và hưởng lợi lộc khi ông còn sống. Một điều đáng tiếc nữa phải đợi đến thế kỷ 21 để Việt nam mới có luật vững chắc bảo vệ quyền tác giả âm nhạc. Theo Công Ước Berne thì bản quyền của một tác phẩm chỉ được đem thi hành đến 50 năm sau khi tác giả mất. Như vậy từ năm 1992 nhạc của Đặng Thế Phong đã vào phạm vi công cộng. Khi còn sống thì hình như Đặng Thế Phong không bị ai bóc lột mà chỉ có việc là ông sống và chết trước khi thời cơ ông đến. Dù sao thì các tác phẩm của ông vẫn rất gần gũi với các người yêu nhạc Việt.

Ông Jason Gibbs có bằng tiến sĩ về Lý thuyết và Sáng tác âm nhạc từ Đại học Pittsburgh, chuyên nghiên cứu âm nhạc Việt Nam. Bài viết gửi BBC được ông viết trực tiếp bằng tiếng Việt, mở đầu loạt bài sẽ đăng về các gương mặt nhạc sĩ Việt Nam.

Cập nhật ngày 6/3: Bản đầu tiên của bài viết ghi rằng em gái cố nhạc sỹ Đặng Thế Phong, bà Đặng Thanh Kim, đã mất năm 2016 mặc dù bà hiện vẫn còn sống. Sau khi được gia đình liên lạc, BBC đã đính chính chi tiết này trong bài. 





































Trở về








Danh Sách Tác Giả

Chân Dung Văn Nghệ Sĩ
Emprunt Empreinte






MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.

















Monday, 13 February 2017

Nguyễn Lương Vỵ























Nguyễn Lương Vỵ

(1952 - ......) Quảng Nam

Nhà thơ, nhà văn








Đã có thơ đăng báo (Văn, Khởi Hành, Thời Tập, Văn Chương) từ 1969 tại Sài Gòn.












Nguyễn Lương Vỵ
Oct. 2014 Calif





















Đã in:






Âm Vang Và Màu Sắc
(NXB Trẻ, Sài Gòn 1990)



NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
NGUYỄN LƯƠNG VỴ, NGƯỜI THƠ HÁT ÂM


Một Người Thơ, hát âm giữa đôi bờ sinh tử.

Sao gọi Hát Âm? Xin nghe đoạn thơ trong bài Âm Nhạc của Nguyễn Lương Vỵ viết năm 1970:

…Âm nhập cốt
Âm binh phiêu hốt tiếng tru
Ta tru một kiếp cho mù mắt
Mù lệ đề thơ để nhớ đời… 

(Tập San Văn Chương 1973, Sài Gòn - Âm Vang Và Sắc Màu, 1991.) 

Phải chăng, Âm nhập cốt, để rồi, Ta tru một kiếp cho mù mắt / Mù lệ đề thơ để nhớ đời đã vận vào mệnh-chữ Nguyễn Lương Vỵ (NLV) cho thơ rền tiếng hú âm?

Một Người Thơ, vẽ chân dung của mình: 

...Vẽ chân dung mộng ảo mà chơi
Mắt môi nắng quái cái luân hồi... 
...Chân dung ảo thơ rền thạch động
Nước khua rằm rụng xuống hai vai... 
...Vẽ chiêm bao chào cái chân dung… 
(Hòa Âm tr.13) 

Một Người Thơ, tờ tợ hình ảnh một hiệp sĩ, hứng nghịch cảnh: 

Này cái lạnh ta thề sẽ buốt
Suốt xương da để vẽ môi cười
Mắt vời vợi lời kia trong suốt
Để ta cuồng khóc hận khôn nguôi… 
(Hòa Âm, tr.13) 

Một Người Thơ, với niềm tin duy nhất là Thơ, tận hiến trong cô độc, cảm xúc Thơ, cho dẫu chết, vẫn thơ mộng quá, một con quỷ đọc thơ, một bóng ma nhặt bóng chiều tà: 

Chết tươi làm con quỷ xướng thi
Chết héo làm con ma lầm lì
Quỷ xướng thi, kinh kỳ rụng xuống
Ma ta lầm lũi lượm tà huy 
(Bốn Câu Thất Huyền Âm, tr.74) 

Nếu con ma lầm lì, mỗi hoàng hôn được có trên tay một chút nắng tàn đem về vẽ chiêm bao để nhận diện mình, thì, tôi cũng muốn được cái lầm lì ấy của một bóng, ma. 

Vẽ ra một chân dung như vậy, thật quá đậm, hình lẫn bóng. 

Tôi đã đọc những thi phẩm: Âm Vang Và Sắc Mầu - Phương Ý - Hoà Âm Âm Âm Âm… - Huyết Âm – Tinh Âm, của nhà thơ NLV. Điều cảm nhận đầu tiên của tôi là cái khí nhất quán các tập thơ, một mạch chảy của một dòng sông, nhưng ở mỗi thi phẩm lại thể hiện mỗi lực chảy khác nhau. Từ ý tưởng, ngôn từ, nhạc thơ, và trên hết, là cảm xúc thực của tác giả, phát ra một lực mạnh mẽ truyền đến người đọc. Và bây giờ, trong tay tôi, tập thơ mới nhất, Bốn Câu Thất Huyền Âm (2011.) 

Với một chữ huyền đã khiến u buồn, nghe như mình lọt vào không khí những tiếng đàn trầm. Nghe thôi, muốn tìm ở đâu đưa đến những âm thanh ấy thì hình như chạm vào ảo mờ của bóng sáng tối. Và có phải, giữa vườn hoa chập chùng, tôi chỉ tìm được lối đi bằng tiếng rơi của cánh hoa? 

Vâng, tôi đang lắng đi theo tiếng rơi ấy. 

Đó là điều làm tôi muốn viết thêm về NLV, bằng cách lồng vào bài viết cho Huyết Âm từ năm 2009 (đã đăng trên web Da Mầu). Tôi muốn những ý nghĩ của tôi xuyên suốt một sợi chỉ cảm xúc, vì rung động từ những thi phẩm của NLV như những mắc xích nối nhau. Phải để nó phơi một mạch như thế này thì mới nhận được hết những bổng trầm của cảm xúc. Nên tôi cũng xin lỗi những ai đã đọc bài tôi viết về Huyết Âm trước đây, bây giờ lại thấy khác đi, thì cũng vì điều tôi đã nói ở trên. Và, cũng vì Thất Huyền Âm trong khu vườn Bốn Câu mênh mông của nhà thơ.

Viết về Huyết Âm, tôi chỉ nói đến cảm xúc của người đọc thơ, hôm nay, tôi lại muốn nói hơn một

điều, không, hai điều, mà cũng không chắc được, vì, cho đến lúc này, ngoài cái đồng điệu văn chương ra, tôi còn nương tựa vào đó một nghĩa bạn hiền, một đạo bạn bè. Cứ theo cảm xúc ấy mà đi...


Hồi 17 tuổi, tôi đã chép vào cuốn sổ ghi chép của mình, những câu thơ từ một tạp chí, nó làm tôi quá thích, chẳng hiểu sao mà hình ảnh và những chuyển động trong 4 câu thơ hòa quyện vào cùng một không gian một cách nhịp nhàng đến thế: 

Biển đắp một toà sương
Lạnh đôi bờ vú nhỏ
Nàng tắm trong tịch dương
Núi gầm lên khóc nhớ… 

Giữa cái cô liêu của tịch dương và tiếng gầm vô thanh hạt lệ núi cùng đôi bờ lạnh, nhỏ, khói sương kia có một nhịp tương giao rất đỗi quạnh hiu, và cũng quá thơ mộng trong 20 âm, ẩn hiện bóng chiều tàn.

Mãi đến 40 năm sau, tôi mới gặp được người viết, NLV (viết bài thơ nầy vào năm 16 tuổi). Gặp được, là nhờ cái cười vô vi, cái vẫy gọi hý lộng cuộc đời của nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan (NTN).


VÀ NGUYỄN TÔN NHAN, 


…Ba người ngồi đó, một mái hiên tây, tôi nghe NLV dạ thưa chào hỏi, tôi nghe đôi mắt NTN cười sau cặp kính trắng, tôi nghe tôi im lặng, chưa nguôi nỗi ngạc nhiên giữa nắng vàng Calif. lại đang vẽ một cách mong manh cái dáng mảnh khảnh, lãng đãng của NTN. Tôi nhìn anh, và tôi vẫn thấy ở đó, cái điệu ơ hờ như là bất cứ thứ gì bám trên màu áo bụi bụi kia cũng đều bị hụt hẫng. Anh nói lẫn trong tiếng cười: “Khánh Minh đấy Vỵ, xem tôi nói có đúng không. Rồi ông sẽ thấy những gì tôi nói đều không sai.” Giới thiệu hai bên như vậy.Tôi nghe họ cười, rất trẻ (thơ?) khiến một lúc tôi có cảm giác như mình là bà chị, của một người hơn tôi bốn tuổi, của một người thua tôi 6 tháng. NTN khuấy ly cà phê đá bằng những tiếng lanh canh thật to của cái muỗng dài, rồi hớp một hơi, đặt xuống bàn, kêu, dở muốn ói! 

Không khí buổi gặp gỡ ấy hình như im lặng nhiều hơn. Tôi thì có một nỗi xôn xao, trong buổi trưa ở phố Bolsa này, lại thấy lênh đênh dạt tới một vạt nắng ấm Sài Gòn ngày cũ. Ba người ngồi đó trong tiết xuân mát lạnh. Ca dao bảo: Ba cây chụm lại nên hòn núi cao; còn ba bóng cô đơn đang ngồi gần nhau thì làm nên cái gì đây? Nếu tôi đem câu này mà hỏi anh NTN vào lúc đó thì chắc chắn tôi sẽ nghe một câu trả lời lẫn tiếng cười ha hả sảng khoái: Thành cái bếp chứ cái gì!!! Mà hình như anh Nhan có nói thế thật, ở một lúc khác sau đó, để chọc tôi, sao anh không thấy là nó sẽ thành ngọn núi cao như ca dao đã bảo thế? 

Cái im, lặng đến nỗi tôi cảm thấy như chúng tôi đang lọt vào một cõi trời đất nào khác, mà NTN thì muốn rống lên một tiếng: Lòng như trời trống mênh mông… rỗng rang chẳng một vọng âm (NTN), NLV thì muốn thả một làn khói vào phổi mà Tri ân tiếng nói giữa trần gian, mà nghe Trong mịt mùng của một trái tim đã khô / Những niềm trời vẫn còn long lanh giọt lệ (NLV), còn tôi thì mềm lòng: Dạ thưa trời đất cùng ta cõi này, một vòng sinh tử đang quay… 

Tôi cũng cảm nhận được cái không lời giữa họ, hai nhà thơ, đồng thời với tôi, mà tôi quý mến, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Lương Vỵ; một người thì xem mọi điều trong cõi đời nầy như trò bông đùa, hóa giải mọi nỗi thống thiết thành tiếng cười, mà khi nghe thì người ta cảm thấy cả tiếng vỡ của một hạt bụi. Một người thì tận thấu những nỗi đau của kiếp người bằng cái trầm thống của máu thịt tủy xương, mà khi nghe ta cảm ứng được âm vang lồng lộng tiếng rơi của từng hạt lệ. Tôi chợt hiểu ra, tận cùng, họ gặp nhau trong cái bóng của niềm cô độc riêng tây. Bởi vậy mà họ nói với nhau bằng nỗi tri kỷ im lặng, bằng nỗi long lanh của bọt bia trắng như mép một con sóng đang vỡ ra trên bờ cát im, trong đêm trăng sáng. Đó là Nguyễn Tôn Nhan và Nguyễn Lương Vỵ mà tôi thấy trong những ngày ngắn ngủi ở Little Saigon này, cộng thêm một tôi, một cái bóng của niềm thơ cô độc nữa. 

Đó là buổi đầu tôi gặp NLV (còn thơ NLV thì tôi đã gặp từ hồi tôi 17 tuổi rồi), một nhịp của số mệnh để có một tình bạn cho tôi chỗ dựa tin cậy trong những chia xẻ đồng điệu của văn chương.

Mà phải tường tận điều này để đừng đớn đau: Vừa mới hợp là vừa mới tan / Tuyệt bi âm. Sấm dậy tro than (Bốn Câu Thất Huyền Âm, tr.18) 

Biết thế, mà vẫn nghe quá đỗi bi thương của tiếng tro than sấm dậy ấy, khi gần hai năm sau, nghe tin NTN: Thiết tha anh đến mép viền vô vi / Thõng tay chẳng đem chút gì… cho dẫu đối với anh Mai kia cõi ấy dịu dàng lặng câm...(NTN), nhưng, với tôi và NLV ở lại, thì, bây giờ đúng là đang ngơ ngác lặng câm cõi này. Anh không đem theo chút gì, nên dường như anh đã để lại cho hai người bạn nơi mái hiên tây ngày nào một chỗ mênh mông lạnh. Anh có nghe Vỵ thất thanh gọi Nguyễn Tôn Nhan không? Và anh có nghe những giọt nước mắt giả vờ của tôi trước cái đùa ly biệt của anh? 

Trong cuộc điện đàm viễn liên, một tháng trước khi anh đột ngột ra đi, anh nói có viết tặng tôi một bài thơ cuối năm, giờ đọc lại tôi thấy lời lẽ trong bài thơ ấy, y như là anh đã linh cảm được cái chết. 

Từ buổi NTN Ba La Yết Đế tới rồi / Ngó lui còn một em ngồi bên kia, và không biết bao giờ thì anh Vậy thì anh cũng xin về? 

Trong khi chờ đợi NTN quyết định xin về, những lần ngồi nói chuyện với nhau, không thể nào mà hai chúng tôi không ít nhất là, rất nhiều lần, nhắc NTN. NLV vẫn đốt thuốc nhìn trời khuya nói chuyện với người bạn tri âm của mình. Một tối, Vỵ gọi phone cho tôi,“Tui nhớ Nhan quá, nghe dùm tui câu thơ vừa viết cho Nhan”. Nỗi nhớ cũng lây hay sao?! Tối đó tôi nằm mơ, thấy NTN nói, anh chỉ cho tôi “ngôi nhà” của anh. Sau khi đi qua một con đường đất có tiếng xe ngựa chạy lóc cóc, nhà anh có ba ngọn đèn sáng, anh nói anh ở với ông Mai Xuân Thưởng và gần nhà ba tôi (ba tôi mất trước anh Nhan 4 tháng.) Sáng dậy, tôi gọi phone cho Vỵ, hỏi,“Ông Mai Xuân Thưởng là ai? Đêm qua, KM nằm mơ thấy anh Nhan, nói ở chung nhà ông ta.” Vỵ nói,“Đừng nói tào lao nữ sĩ ơi! Có nhớ thì mần thơ đi!” Tôi tìm tài liệu biết được ông là một nghĩa sĩ chống Pháp, lúc đó tôi mới biết tới Mai Xuân Thưởng mà tôi nghe anh Nhan nói trong giấc mơ đêm qua... 

Ôi, Nguyễn Tôn Nhan, anh đi vô hạn/ anh về vô biên...(NLV)


MỘT THÂN MỘT BÓNG NGUYỄN LƯƠNG VỴ, 

Máu đá hòa với máu ta
Nở ra một đoá kỳ hoa
Tỉnh ra thấy mây đầu núi
Chó bay sủa trắng chiều tà… 
(Âm Vang Và Sắc Màu, tr.29)

Thời gian?! Đàn lỗi nhịp khôn kham
Không gian?! Mây trắng nhớ vân am
Còn một mình một thân một bóng
Con Ma Ta vừa mới hội đàm… 
(Bốn Câu Thất Huyền Âm, tr.16)

Ma ta lầm lũi gom tiếng nói
Ngần sương dấu hỏi dấu than bay… 
(Bốn Câu Thất Huyền Âm, tr. 83) 

Từ con Người-Ma chênh vênh giữa buổi tiệc-máu-xương trong Huyết Âm đến bóng ma lầm lũi gom nhặt tiếng nói, về cùng người thưa thốt, có phải là băng qua giấc mộng tử sinh dằng dặc để có non xanh một quỷ xướng thi? Cái không khí Con Ma Ta vừa mới hội đàm…, làm ưng ức nhịp hiện tiền và con Người-Ma đi ra từ nước mắt, hạt máu làm tôi thấy sợ cái màu trắng của núi xương… 

Cho là tôi chủ quan, cũng không hề gì, khi nói thơ NLV, nhất là ở Huyết Âm, luôn gây ra cảm xúc đau lẫn sợ, bởi tôi cảm thấy được, dù là trong sầu bi hay đôi khi trong phẫn nộ, dù là với những lời thơ đẹp hay với những lời thơ thô xì tàn nhẫn bông đùa, thì NLV cũng đã viết ra từ phản hồi âm vang của huyết lệ. Tôi cũng cho rằng, khi đã sống trọn vẹn, sống thực với cảm xúc của mình thì sẽ thấy được, nghe được Âm Vang và Sắc Màu của tâm linh, và sẽ phổ được nó vào hồn cốt của chữ nghĩa, một chữ-nghĩa-nguyễn-lương-vỵ: 

...Thơ biếc máu để nuôi hoài chút lửa… ...Vuốt mắt sắc tím hát / Nghe âm hoa trong veo / Nghe âm đá cuốn theo…,

…Nghe hết cái không nghe… ...Gió vô sắc nhưng rằm kia quá mượt / Thơ u hồn đắp nấm gọi tinh âm…, ... Xác chữ hồn âm ngân ánh lửa…, ... Âm ngún cháy xanh lời mở cửa… ... Rú máu sông đồng vọng bóng quê nhà… 
(Trích rải rác trong thi tập Hòa Âm Âm Âm Âm…) 

Trong Bốn Câu Thất Huyền Âm, tôi càng thấy rõ rằng tôi đã cảm nhận đúng ngay từ những câu mở đầu trong bài viết về thi phẩm Huyết Âm trước đây, vẫn khí thơ: 

Vậy nhé! Xé câu thơ đứt ruột
Vẫn chưa bưa cái buốt giang hà
Vẫn hận mãi một lời đã vuột
Vẫn trông vời hồn cốt trôi xa … 
(Bốn Câu Thất Huyền Âm, tr.50.) 

Nếu Huyết Âm là âm vang vết roi bi thương của cảm xúc, thì Bốn Câu Thất Huyền Âm là nhịp búng từng tiếng trầm, những tiếng đàn được gảy ra từ một tâm khí thơ đầy nội lực, khi nghe, nếu không đủ sức thẩm âm thì sẽ khó mà nghe cho thấu, nhìn cho ra cái điệp trùng mênh mông của cõi miền hư không tịch mịch ấy. Khi đã nghe thấu, nhìn ra, thì, tất cả lại được ném vào cái phiêu bồng của nhớ quên… 

Gió cứ đi và sấm cứ rền
Cho chiều câm bầm huyết gọi tên
Cho ta cắn nát màu ưu hận
Nhai nuốt ngon lành chuyện nhớ quên… 
(Bốn Câu Thất Huyền Âm, tr.62.) 

Thấy như mình đang đi một mình trên đường đầy gió, tiếng gió rau ráu chuyện buồn đau nhân sinh, và những sợi tóc nhỏ quay lại thảng thốt…

Thơ NLV, luôn là như thế, ngoài hình gợi, nhạc gọi, ý lay, còn mở ra một không gian chập chùng muôn chiều, thổi tràn một khí lạnh, bắt người ta phải liên tưởng… 

Khí lạnh ấy là âm vang của nỗi bi thương tự tại: Chân dung ảo thơ rền thạch động/ Nước khua rằm rụng xuống hai vai… (Hòa Âm, tr.13.) Những ảo, rền, khua, rụng, kéo người ta cảm thấy như hai vai của chính mình đang chạm vào từng hạt rằm của con trăng vắng bóng.

Khí lạnh ấy là âm thang cao nhất của cô độc: Độc tấu với bóng mình / Ngực rêm rêm mộ địa (Hòa Âm, tr. 31). Hỏi ai đã từng cảm thấy nhịp đập con tim là tiếng rêm của huyệt mộ?

Mà cũng lạ, thức ngàn năm một hạt sương câm, thì Thơ mới bắt đầu chín tới, khi gỡ khỏi cái vòng Kim-Cô-Thiên-Địa ư? 

Giọt sương thức ngàn năm
Ta ngồi câm tuyệt đối
Khi thiên địa xa xăm
Thơ bắt đầu chín tới… 
(Hòa Âm, tr.34) 

Hú một mình vì khô nước mắt
Cô liêu. Trời đất ác vô cùng 
(Bốn Câu Thất Huyền Âm, bài 15.) 

Ác hay là…? Ngẫm ra, Người Thơ có được một đặc ân khi mang số phận cô độc để bước vào hành trình Thơ hun hút, thử hỏi nếu đầy tiếng xôn xao thì làm sao nghe được tiếng khô của hạt lệ? 

Nếu coi hành trình đến với Thơ là một cuộc hành hương thì Người Thơ dường như đã chạm ngõ được cái nguyên vẹn, tinh khôi, và mới mẻ được nuôi dưỡng từ những con chữ kỳ diệu ấy: 

Năm mươi năm theo em
Từ khi trong mầm khí
Con trăng non rên rỉ
Con suối khát nguồn xưa… 
(Hòa Âm, tr.27) 

Ngàn câu thơ chết yểu
Xanh hết suối hồn ta… 
(Hòa Âm, tr.28) 

Rất mát lạnh câu thơ chín tới
Nhịp bàn chân. Chuông ngân vời vợi
Vỗ bàn tay vũ trụ vần xoay
Lời vô ngôn mà sao mắt cay?! 
(Bốn Câu Thất Huyền Âm, tr.66.) 

Có phải một mình trong hang động im vắng của cõi Thơ, cái tịch mịch làm người ta nghe được mọi âm vang của cõi tồn sinh - như người xưa đã nói - mà Người Thơ đã hoà âm được cảm xúc của mình với tiếng vang của thời gian, tiếng rền của một hạt bụi?

Và cả tiếng chân của đứa con gái bé nhỏ yểu mệnh về từ âm tuyết lạnh, để thấu được tủy chiều, để nghe trời ứa mật, đá khóc? Nếu thế, thì cái-một-mình quả là một hồn ai nghiêng xuống rất bầu bạn, trong đêm. 

Xin nghe tiếng máu chảy mềm của người cha khiến nước mắt, xương tủy chờ con quặn đau đến thành tiếng hú: 

Chờ con về trong âm huyệt tuyết
Nhai tiếng chuông rền trong xương ta... 
...Chờ con về trong âm huyệt tuyết
Lạnh trầm ngân
Búng huyết
Thơ Ca 
...Con về chưa mà tuyết vẫn rơi
Ngàn bông lau
Huyệt tuyết
Hú dài… 
(Hòa Âm tr.175) 

Tôi cũng chưa được đọc ở đâu những lời thơ nói về niềm thương cảm người Mẹ như vầy: 

Con về bên Mẹ nghe huyết âm
Nghe tuỷ xương réo rắt mưa dầm…
Chắp tay hứng trọn huyết âm Mẹ
Lô hoả thuần thanh âm huyết hoa 
(Huyết Âm, tr.59.) 

Cũng hiểu được, khi biết NLV đã rút từ đâu ra những con chữ để có được nỗi niềm thương và đau dữ dội thấm thía như thế: Róc huyết âm / Đá khóc /...Róc con âm / con chữ lạnh thấu tuỷ xương… 

Vậy nhé! Xé câu thơ trắng tủy
Để còn nghe rền rĩ mưa âm
Âm đỏ ngực một bầy ngựa hí
Thây ma trôi. Thế kỷ tím bầm...
(Bốn Câu Thất Huyền Âm, tr.52)

Tủy của Thơ. Mưa của Âm, tận hiến đến thế. Hình ảnh nằm trong câu 4 của đoạn thơ trên là của thế kỷ chúng ta đó ư, nhà thơ? Tại sao chúng ta để nó hằn dấu bầm tím của vết thương vậy? Hỏi và đã biết cái nguyên do đau lòng…

Ôi cái thế kỷ!

Mẹ huyền vi / Rung huyết / Đón tinh Cha (Huyết Âm, tr.16). Rung huyết, hình ảnh rúng động thiêng liêng của giây phút sáng tạo. Để rồi đưa đến cái bất ngờ chua chát, bi phẫn: A! / Gái huyền / Đẻ đái / Cái Người-Ma (Huyết Âm, tr.17), làm tôi liên tưởng một cách rất buồn về thế giới chúng ta đang sống. Nơi người ta coi thường sinh mạng con người, coi nhẹ cái nghèo, cái đói, cái bất hạnh của người khác. Hình ảnh Người-Ma này theo hoài trong Huyết Âm như một ám ảnh, ở những trạng thái mà đôi khi không biết nghiêng về Ma hay Người… Cái bóng Người-Ma đeo đẳng như một cặp song sinh: Bóng Ta chìm bóng Ma / Bóng Ma chìm bóng Ta. Cũng không biết được cả hai có bắt tay thoả hiệp không. Hoặc giả, cười ngạo hay bất lực trước nó?

Nếu ở Hoà Âm, dòng suối lặng lẽ gửi âm vang tiếng reo sâu thẳm, thì đến Huyết Âm, cuộn lên những dòng khinh bạc, quyết liệt.

Trọn đời thống thiết Người-Ma
Bẻ đốt xương nghe cái rắc...
...Mây đùn tuỷ óc phôi pha…
(Huyết Âm, tr.24)

..Mồ-Ma-Người-Ngợm quá ể
Vỗ tay xương máu tiệc tùng
(Huyết Âm, tr.32)

Nuốt ực hết bi âm rền vang của máu và lệ - nơi chúng ta đang hít thở - nơi mà Ta-Người đối ẩm Ta-Ma, nơi mà nhân tính con người thúc thủ trước những cuộc tiệc-tùng-xương-máu. Thôi đành lui về Chi bằng độc ẩm huyết âm…, thấm nó vào trong thịt xương mình, để biết yêu quí và trân trọng máu lệ của chúng sinh. Cho nên, không phải tình cờ, cái bước lui về là bước đánh động vào cuộc tiệc-tùng-xương-máu kia…

Từ “Độc tấu với bóng mình” ở Hoà Âm đến “Độc ẩm huyết âm” ở Huyết Âm, có phải là chặng đường dài của cốt tuỷ hòa thanh, đi qua Mỗi chữ mỗi kiếp cháy sáng rực?... để nghe Vết thương ta ủ trong tiền kiếp / Mỗi chữ oan khiên hoá núi ngồi…(Huyết Âm, tr. 34)

Để mà khóc cười với ngàn kiếp thâm u có lẽ phải có nội lực của, chữ hoá núi.

Và có phải khi dùng lời như trẻ thơ thì mới hoá giải được cái đau phận kiếp, trong khổ thơ bốn câu, nghe như là đồng dao này?:

Hồn âm cứ nhấn
Xác chữ cứ nhai
Sai cái không sai
Đúng cái không đúng
Sống không để bụng
Chết không mang theo
Huyết âm trong veo…
(Huyết Âm, tr.99)

Như thể một anh mõ làng đi trong đêm vắng, trên những con đường xóm thôn đang ngủ mà rao những lời nhắc nhở, tối lửa tắt đèn…

Tôi tin với nội lực đã tấu lên được những âm vang bi thương nơi lòng người như thế sẽ lan ra, tỏa khắp, để cùng nhau chấm dứt cái cảnh núi xương, sông máu, biển lệ này.

Đọc thơ NLV, cho dù chưa thể “lên thêm một tầng lầu nữa” để “tận cái nhìn nghìn dặm” như nhà thơ Lý Đợi đã trích hai câu thơ của Vương Chi Hoán “Dục cùng thiên lý mục / Cánh thướng nhất tằng lâu” trong bài bạt thi tập Huyết Âm, nhưng với tôi, tôi cũng đã bắt được nhịp từ bản giao hưởng huyết lệ ấy. Làm sao mình biết hạt lệ mặn thế nào khi mình không-biết-khóc? Bằng cách đó tôi đọc Huyết Âm. (Có thể rồi, tôi sẽ thấy được cái nghìn dặm của Huyết Âm, nhưng chắc gì vào lúc ấy, có được cái cảm như bây giờ?) Bằng cách đó, tôi chia sẻ được chuỗi ÂM thống thiết trong thơ NLV.

Tôi tin NLV tiếp tục đi mãi trong cuộc hành trình rất riêng, rất độc sáng của mình, cho dù, Mần thơ / Quả thật / Đại tào lao như anh đã viết tinh nghịch, tếu như vậy, để tôi, và những người đồng điệu sẽ còn nghe được nữa cái “Tịch Mịch như Nguyên Thủy Nguyên Sơ” trong những bước trở về cùng Thi Ca như Người Thơ đã giải bày.

Và cũng như thế, tôi đi đến Thất Huyền Âm hôm nay, với những nhịp lắng theo dấu những tiếng trầm trầm từ Bốn Câu âm âm vô biên…


Santa Ana
Mùa Đông, 2011

Đọc lại và hiệu đính 05.2014, nhân sinh nhật lần thứ 62 của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ.















Phương Ý

(NXB Thanh Niên, Sài Gòn 2000)









Hoà Âm Âm Âm Âm...
(Thư Ấn Quán - USA 2007)











Tám Câu Lục Huyền Âm
Q&P 2013











Năm Chữ Ngàn Câu
(Nxb Sống 2014)





TRỊNH Y THƯ

NGUYỄN LƯƠNG VỴ; VẤN NẠN CỦA CÁI BEING





(Cảm nhận của Trịnh Y Thư về tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ)


Có thể nói những bài thơ trong tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ (xuất bản cuối năm 2014) là những biến tấu liên miên bất tận của cái Being.

Being chứ không phải đời sống như chúng ta thường hiểu. Bạn có thể gọi nó là kiếp nhân sinh, kiếp người, đời sống, hữu thể, hiện tồn, hiện hữu, hiện sinh, hiện tính, thể tính, hoặc cả chục từ ngữ khác tương tự. Nhưng xin bạn cho phép tôi gọi nó bằng cái từ tiếng Anh Being. Giản dị, hàm súc, nhưng hết sức bao la, gợi mở. Dịch sang tiếng Việt, gọi nó là “đời sống” hoặc “kiếp người” thì không đủ nghĩa, còn các thuật ngữ Hán-Việt thì bị tô đậm bởi màu sắc Triết học nặng nề, khó hiểu. Kì thực, dưới luồng sáng của Triết học, Being được định nghĩa là, “Một hình thái ý thức chủ quan lẫn khách quan lí giải thực tại và sự hiện hữu.” Các triết gia Hy Lạp thời cổ đại nói nhiều về nó. Sang thời cận, hiện đại các triết gia như Hegel, Heidegger, Sartre, v.v… cũng tốn khá nhiều giấy mực về nó. Tuy nhiên, bởi không mấy mặn mà với Triết học nên tôi thích hiểu từ Being theo cái nhìn của thi ca, một suy nghiệm giao thoa giữa thực tại và huyễn mộng, bằng một thứ ngôn ngữ trong suốt chứ không dày đặc thuật ngữ vốn rất dễ đưa người ta sa vào chốn hoả mù. Being dưới mắt nhìn của thi ca, có lẽ đơn giản hơn và dĩ nhiên “thơ” hơn. Vì nó, Shakespeare băn khoăn, “to be or not to be”; Nguyễn Du gọi nó là “cuộc bể dâu [với] những điều trông thấy mà đau đớn lòng”; gần chúng ta hơn, Milan Kundera gọi nó là cái “hệ toán hiện sinh”; và nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, với tinh thần cụ thể Việt Nam tính, thấy gì nói đó, gọi nó là “bầu trời lộn ngược.” Hiển nhiên, các thi sĩ cũng đã tốn không ít giấy mực cho cái Being mà tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ này là tốn kém mới nhất.

Mở tập thơ, tôi bắt gặp ngay thái độ và câu trả lời của nhà thơ, mà tôi đặc biệt yêu thích và tâm đắc, về cái Being, “Hỏi ta vui hay buồn? Theo nắng sáng xuống phố!” (Âm Cuối Thu). Một thái độ trầm tĩnh thấm đẫm tinh thần Đạo giáo đông phương! Nhẹ nhàng. Phơi phới. Thong dong. Không cần đi vào những suy nghiệm siêu hình mà lại tác động mạnh mẽ lên cảm xúc, đó là lợi thế của thi ca trên Triết học. Câu thơ biểu hiện một ý thức trong sáng nắm bắt được lẽ sống thiên nhiên, thấu hiểu lẽ đời và những hữu hạn tất yếu của con người sinh sống trong đó. Sống hài hoà với những quy luật tự nhiên, sống nương theo lẽ đời chứ không chinh phục cuộc đời; sống luôn luôn khiêm tốn, chẳng bao giờ dám vọng động đến độ tự nhận mình là đỉnh cao (mà khiếp hãi nhất là đỉnh cao trí tuệ). Phải chăng đấy là triết lí sống của người xưa mà ngày nay chúng ta gần như quên bẵng?

Theo tôi, nhà thơ chẳng cần phải trả lời câu hỏi đời buồn hay vui, bởi cuộc truy tìm ấy là một “nghịch lí chung cuộc”, nếu tôi được phép vay mượn cụm từ này của Kundera. Một nghịch lí “hết thuốc chữa” của cái Being. Và, với Nguyễn Lương Vỵ, nó là “Dấu hỏi hẳn đã chìm trong mộ / Hay vẫn lang thang trên đường về?” hay “Dấu hỏi giữa hư không thầm nhắc / Xa lòng giấc mộng vẫn cầm canh.” (Dấu Hỏi Giữa Hư Không). Mọi suy diễn và lí giải về cái Being đều mang nặng tính chủ quan và không thực. Quan trọng hơn, nó sẽ không đi đến đâu và giải quyết được gì cho chính bản thân chúng ta, nói gì đến tha nhân. Nhà thơ là kẻ nhạy cảm với đời sống hơn ai hết, đau cái đau của nhân sinh, vui cái vui của đồng loại, nhưng đừng kêu gọi nhà thơ cho lời giải đáp của cái “hệ toán hiện sinh” kia. “Đời thơ không khổ nạn / Làm sao thấu được thơ?” (Không đề IV). Bởi nó là câu hỏi giữa hư không.

Không có câu trả lời nhưng cũng không tuyệt vọng. Vâng, nhà thơ chìm đắm trong nỗi buồn, từ nỗi buồn vạn cổ cho đến nỗi buồn vu vơ, nhưng nhà thơ không tuyệt vọng. Quả thế, tôi không hề tìm thấy một ý nghĩ tuyệt vọng nào trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Ngược lại là đằng khác. Cho dù “khổ nạn” bao nhiêu chăng nữa, nhà thơ vẫn “xanh” như trong bốn câu, “Thánh ca rồi cũng tan / Cầm dương rồi cũng tạnh / Lạnh lạnh lạnh lạnh lạnh / Thi sĩ đã về xanh.” (Không Đề VIII).

Ugo Betti, nhà văn kiêm kịch tác gia người Ý có lần nói, “Tại bất cứ giây phút nào tôi mở mắt, tôi đều hiện hữu. Còn trước đó, trong suốt cái vô hạn, là cái gì? Thưa, không là gì cả.” Một tình cờ thật thú vị, tôi tìm thấy ý tưởng này của ông nhà văn viết cách đây gần ba phần tư thế kỉ trong mấy câu thơ sau của Nguyễn Lương Vỵ, “Mộng ngày quên hỏi lại / Chùm bông dại bay rồi. Lòng tay vắng tiếng trời / Biết làm sao gặp được. (Phải Vậy Không?). Sư thật là, chỉ cần sống, chỉ cần hiện hữu trên mặt thế gian này đã đủ cho nhà thơ cảm thấy toại nguyện, “Sống cho trọn kiếp, nào phải trò trẻ con.” Câu thơ của Boris Pasternak trong bài thơ bất hủ Hamlet. Tôi nghe kể hôm nhà thơ qua đời, nhà nước Sô-viết chẳng những không loan báo mà còn tìm mọi cách ngăn cản người tiễn đưa thi hào quá cố ra huyệt mộ. Thế nhưng vẫn có vài ngàn người đến dự đám tang ông. Chừng chục người ghé vai khiêng quan tài, nắp áo quan mở toang, họ vừa đi vừa cất giọng trầm hùng đọc to bài thơ Hamlet như lời tiễn đưa vĩnh biệt nhà thơ vĩ đại của dân tộc họ. Tôi chạnh nghĩ, thực ra họ đọc lời tâm nguyện sống như ông đấy. Sống cho trọn kiếp! Ôi, một điều khó khăn vô hạn!

Người là con vật duy nhất mà cái Being của riêng hắn là vấn nạn chỉ mình hắn giải quyết. Sự vĩ đại của con người không nằm ở những thành tựu chính trị hay kinh tế, không ở chỗ “thành công hay thành nhân,” mà chính ở chỗ hắn can đảm sống và sống cho trọn kiếp. Âm nhạc của Beethoven không ca ngợi con người anh hùng hay cá nhân thần thánh. Nó là bản tụng ca cho cái tinh thần sống như con người. Và đừng quên câu nói bất hủ của Jean-Paul Sartre, như nguyên lí thứ nhất cho Triết học Hiện sinh, “Con người chẳng là cái gì ngoài cái hắn tạo dựng nên chính hắn.”

*

Mặc dù tự nhận mình có sống trong mộng ảo trong những câu thơ sau, “Cuối đời càng lắm mộng / Đêm về mộng am mây / Ngày ủ trong lòng tay / Ngát thơm chùm bông dại.” (Phải Vậy Không?). Thế nhưng Nguyễn Lương Vỵ không có xu hướng quay về cõi mộng như rất nhiều nhà thơ miền Nam Việt Nam thuộc thế hệ trước. (Một hiện tượng khá lạ bởi trong một đất nước tơi bời khói lửa chiến tranh mà chỉ có vài ba thi sĩ nói về chiến tranh). Không quay về cõi mộng, Nguyễn Lương Vỵ cũng tuyệt đối rũ bỏ son phấn lụa là. Bạn sẽ không tìm thấy những thi ảnh kiểu “em buông tóc kiêu sa đi trong chiều nắng hạ” hoặc “ngón tay em dài, ngón chân em nhỏ” trong thơ Nguyễn Lương Vỵ bao giờ. Tôi mừng lắm. Bởi thú thật, tôi ớn loại thơ đó đến tận óc. Mong nó sẽ mãi mãi nằm trên kệ sách bụi bám của các thư viện thị trấn miền xa.

Thơ Nguyễn Lương Vỵ không son phấn lụa là nhưng nhục cảm thì có.

Hai bài thơ thấm đẫm nhục cảm là bài “Đêm Tượng Trưng” và bài “Hà Hà Hà!”. Thấm đẫm nhục cảm nhưng cả hai đều kết bằng tiếng cười ha hả như khoái trá, như chọc ghẹo, như đùa cợt bông phèng. Tôi lấy làm lạ. Khi đụng chạm đến vấn đề thân xác nhục cảm, người ta thường hay “chất ngất cơn say” hoặc “đưa em lên đỉnh cuộc tình” chứ ai đời lại cất tiếng cười ha hả bao giờ. Tôi có cảm tưởng đây chỉ là sự châm biếm, tự biếm thì đúng hơn, nào đó của chính nhà thơ. Nhục cảm được thăng hoa bởi tiếng cười ha hả chăng? Nhục cảm ở chừng mực nào đó biến thành sự hài hước. Nhưng cái hài hước ở đây nhất định không phải là sự trào phúng hoặc mỉa mai cay độc. Ngược lại, nó chính là tinh thần tích cực yêu cái đẹp tự nhiên. Nó được thể hiện bằng tiếng cười khoái trá. Trong thơ Nguyễn Lương Vỵ, có nhiều tiếng cười khoái trá như thế lắm. Dịch xong một câu thơ cổ, “Mừng rơn hơn trúng số” (Hương Cổ Thi). Hoặc tự biếm “Mừng ta ngày càng khù!” (Không Đề III). Tự biếm rồi cười khà khoái trá. Một thái độ khinh mạn ư? Nhưng nếu hiểu hài hước là cảm xúc chủ quan về tính mâu thuẫn (cái nghịch lí hết thuốc chữa) của đối tượng thì chúng ta nhận thức được thái độ hết sức nhân bản của nhà nghệ sĩ. “Je suis Charlie!”

Đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ, bạn sẽ ít bắt gặp những thi ảnh cụ thể của thực tại. Không có những thao thức hay trăn trở (đôi khi rất giả tạo) của kiếp sống hay kiếp tha hương. Tôi không trách nhà thơ quay lưng với thực tại, bởi thực tại lắm khi chỉ là giấc mộng vô thường, đến rồi đi, tồn tại rồi tan biến, có rồi không, hoan lạc rồi đau khổ, nói chung là cái vòng luẩn quẩn vô thủy vô chung. Nó có gì đáng cho nhà thơ ca ngợi đâu. Hãy xem nó như cỏ rác, bụi bặm bám lên người trong những giây phút vô ý, sa đà, biếng nghĩ; hoặc nếu cần thì cứ đổ lỗi cho số kiếp, cho định mệnh tai ương hay quyền lực bạo tàn nào đó. Nó là phần dư thừa, những tế bào ung thư của đời sống. Cái đáng ca ngợi trong thi ca chính là sự cô độc, sự hiu quạnh của kiếp người. “Đêm lạnh không tiếng dế / Chỉ có tiếng thạch sùng / Tiếng trời là tiếng gió / Cửa sổ khép hờ rung.” (Mấy Bận Thu Phai). Hay “Người đi đâu lặng ngắt / Đời về đâu lặng thinh.” (Không Đề V). Sự thinh lặng giúp nhà thơ chiêm nghiệm lẽ sống và những điều khác lạ mà có lẽ khó nhận thức nếu chung quanh là cảnh huyên náo của cuộc đời. “Khách lạ đứng nín thinh / Cúi nhặt vài âm lạ.” (Trưa Ở Chùa Linh Ứng).

Nguyễn Lương Vỵ bảo làm thơ tức là làm thinh. Câu “Mần thơ là mần thinh” (Tự Hỏi Tự Đáp), như một lời tuyên ngôn cho việc làm thơ của mình, láy đi láy lại như một điệp khúc trong tập thơ. Nó đồng nghĩa với sự cô độc. Làm thơ là nói với chính mình, là độc thoại với khoảng không vô hạn trong lòng mình. Đúng ra, nghệ thuật nào cũng là sự đối diện của người nghệ sĩ với sự cô độc của chính mình. Chỉ sự cô độc mới cho người nghệ sĩ tìm ra cảm hứng sáng tạo, cho “Chữ reo xanh ý tứ / Sắc màu ứa vó câu.” (Không đề IX). Trăm năm trong cõi người ta là Trăm năm hiu quạnh. Hoặc như Octavio Paz, nhà thơ lớn nhất của nền thi ca Mexico thời hiện đại nhận định trong cuốn The Labyrinth of Solitude, “Sự hiu quạnh là cái gì sâu thẳm nhất của kiếp người. Con người là sinh vật duy nhất biết mình cô đơn.”

Tôi yêu thích những bài “Không Đề” trong tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu này, nhất là bài Không Đề IV đề tặng nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh. Nó gói ghém cái nhìn của nhà thơ về nhà thơ. Như trả lời câu hỏi, “Nhà thơ, mi là ai?” Có những câu khá cường điệu trong bài thơ như, “Đời thơ không lời đáp / Tự móc mắt moi tim.” Sự cường điệu có lẽ là cần thiết như một hình thức biểu đạt, nhưng tựu trung, nó vẫn khẳng định thi sĩ luôn luôn là kẻ cô đơn. “Đời thơ không quán xá / Chữ buốt giá tuỷ trời.”

Mô-típ huyết-âm, âm-huyết xuất hiện như nốt nhạc láy rền vang động trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Chúng hiện hữu như một ám ảnh khôn nguôi, quay về mãi, mỗi lần với một ý nghĩa khác nhau, và tất cả những ý nghĩa khác nhau đó tuôn chảy qua cụm từ như dòng nước tuôn chảy qua lòng sông. Tôi muốn gọi chúng là lòng sông của Heraclitus. (“Bạn không thể bước hai lần xuống cùng một dòng sông”). Tôi không rõ lắm hiệu ứng thi ca của các cụm từ đó khi xuất hiện trong những bài thơ mà đôi khi hiện ra như tiếng kêu tắc nghẹn, ngậm ngùi. Chỉ thấy bàng bạc một cảm xúc mơ hồ dấy lên trong tâm tưởng chảy qua dòng sông này có một dòng sông khác; dòng sông với ý nghĩa mới và những ý nghĩa cũ cộng hưởng, hòa nhập vào nhau. Cuộc nghiệm sinh mỗi lần vang lên là một lần hòa nhập vào nhau khiến bản hòa âm đời sống càng thêm phong phú.

Ít thấy những thi ảnh cụ thể trong thơ Nguyễn Lương Vỵ, và nếu có thì nó mang hơi hướm cổ điển như những câu sau trong bài Âm Cuối Thu, “Chiêm bao màu nắng lụa / Hửng sáng ửng một đoá / Cúc vàng đang ngậm sương / Tóc bạc vừa níu gió.” Cú điệu, nhạc tính trong thơ đều đều, êm nhẹ, đa phần là thuận âm, bởi hầu hết là thơ năm chữ niêm luật chỉnh chu. Đọc tập thơ, thú thật có lúc tôi muốn tìm một nốt nhạc nghịch âm nào đó, và mặc dù trước khi gấp sách, tôi bắt gặp vài ba bài thơ xuôi và thơ tự do, nhưng nhạc tính của những bài thơ đó vẫn không thoát khỏi sự êm dịu cố hữu của thuận âm. Bạn cũng sẽ thất vọng nếu bạn tìm kiếm sự khai phá (hoặc đột phá, bứt phá, công phá, nếu muốn nói theo ngôn ngữ thời thượng) trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Không có những thử nghiệm mới lạ hoặc những hình thức làm dáng kiêu kì. Không có những kiểu vắt dòng ngược ngạo hay những kí hiệu gạch ngang gạch chéo ngớ ngẩn như thơ của nhiều nhà thơ ngày nay. Không có những thi ảnh trừu tượng, bí hiểm, làm dáng. Thơ Nguyễn Lương Vỵ chủ về ý nghĩa và nghệ thuật phối từ. Nhà thơ cẩn trọng với chữ nghĩa vốn là truyền thống của thi ca Việt Nam từ thời Trung đại. Đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ, tôi ít bắt gặp những từ hào nhoáng, nuột nà. Thế nhưng, nhờ tài năng và một tâm hồn yêu thơ cao độ, Nguyễn Lương Vỵ đã khéo léo sắp đặt những từ tưởng là tầm thường như hòn sỏi bên cạnh nhau để biến chúng thành chuỗi ngọc sáng ngời.

Đọc xong tập thơ của Nguyễn Lương Vỵ, nếu có kẻ hỏi tôi đời buồn hay vui thì tôi sẽ trả lời kẻ ấy bằng câu thơ “Theo nắng sáng xuống phố!” rồi thản nhiên nhìn cái Being chảy trôi trước mắt.

18.01.2015













Tuyển Tập Thơ 45 năm
(Nxb Sống 2015)





NGUYỄN LƯƠNG VỴ - 45 NĂM THI CA: 

CHỮ NÉN HUYỀN ÂM TƯỢNG SỐ NGÂN DÀI 

Tô Đăng Khoa






“Thinking and Being are The Same”
(Tư tưởng và Tồn sinh là Một)
(On Nature - Parmenides) 

Tôi đến với cõi Thi Ca và Tư Tưởng của Nguyễn Lương Vỵ (NLV) bằng con đường rất tự nhiên của một độc giả yêu thơ, thường theo dõi thơ trên các tạp chí và nhất là các trang mạng văn học nghệ thuật. Còn nhớ lúc đó vào cuối năm 2012, khi tôi đang ngồi lướt mạng, tình cờ đọc được bài thơ “Hòa Âm Âm Âm Âm... ” của NLV trên một trang văn học, tôi đã rất sững sờ và rung động vì ý tứ của bài thơ rất lạ và cũng rất thâm sâu:

"…Mẹ đẻ đỏ loe tiếng khóc
Càn khôn tìm về ngay chóc
Vũ trụ đùn ngay một bọc
Âm âm âm
AAA
UUU
câm câm câm
Chỉ biết tri âm là đây
Ngáp dài một cái tròn đầy
Xương tàn cốt lụi òa bay…"

Sau đó, tôi dùng Google để tra cứu thêm và được biết nhà thơ NLV đang cư trú tại Quận Cam, miền Nam California, cũng là nơi tôi đang ở. Tôi đã mạnh dạn email cho nhà thơ NLV để hỏi mua tập thơ "Tám Câu Lục Huyền Âm" của ông vừa mới phát hành (theo giới thiệu trên các trang mạng), đồng thời, hỏi mua thêm các tập thơ khác của ông đã phát hành trước đây. Ngay ngày hôm sau, tôi nhận được hồi đáp của nhà thơ và đã có một buổi gặp gỡ rất chân tình. Kể từ đó, tôi đã trở thành người em, người bạn vong niênrất thân thiết với ông. (Về tuổi đời, tôi nhỏ hơn ông đúng 2 con giáp, cùng bổn mạng con Rồng).

Nhà thơ NLV đối đãi với tôi như một người anh, người bạn vong niên rất chân tình, cởi mở. Mỗi sáng thứ Bảy hay Chủ Nhật, chúng tôi thường hẹn nhau ở một quán cà phê để trò chuyện tâm tình. Dáng người NLV tầm thước, mái tóc đã bạc gần hết, thường được che bằng chiếc mũ bê-rê trắng. Đôi mắt ông sáng hẳn lên và giọng nói hào sảng, đầy hứng khởi mỗi khi đề cập đến Thi Ca và Phật Pháp.

Càng gần gũi và thân thiết, tôi càng quí trọng ông, một nhà thơ rất tài hoa nhưng sống ẩn dật. NLV sở hữu vốn kiến thức rất từng trải và uyên thâm về triết học, tư tưởng, nhất là Phật học. Phong cách ông bình dân, giản dị đến mức xuề xòa. Ông đã ăn chay trường hơn 3 năm nay, sống kham khổ và đạm bạc ở một căn phòng nhỏ trong một mobile home với một người bạn cũng độc thân như ông và cũng là một nhà thơ nghèo. Nhớ có một lần gần đây, ông tâm sự với tôi: "Đã trên 6 bó rồi, nên sống theo kiểu tri túc là thanh thản nhất, vui nhất. Tu Chữ - Tu Thơ, giống như kiểu tu theo Phật pháp. Nói chung là để tu Tâm, dưỡng Tánh, cố gắng không dính mắc điều gì nữa. Thế là đại phước lắm rồi." Câu nói ngắn gọn, nhưng được hàm dưỡng một nội lực, một sức sống rất thâm hậu.

Cách nay hơn một tháng, nhà thơ NLV báo tin cho tôi biết, rằng ông đang chuẩn bị ấn hành tuyển tập thơ 45 năm (1969-2014) của ông và ông đã gửi toàn bộ thơ trong tuyển tập nầy cho tôi đọc, với mong muốn tôi viết một số cảm nhận để in vào sách làm kỷ niệm. Tôi nghĩ, đây cũng là do duyên tiền định không giải thích được. Cũng do ông khuyến khích và hết sức chân tình (có lẽ do cảm mến, thấu hiểu những nhận định về thi ca, Phật pháp của tôi trong những lần chuyện trò, tâm tình), nên trước đây tôi đã mạnh dạn viết 2 bài viết ngắn về 2 tập thơ "Năm Chữ Năm Câu" và "Năm Chữ Ngàn Câu" của ông trong năm 2014 và đã được ông đưa vào sách làm Lời Bạt. Lần nầy, tôi bày tỏ thật lòng với ông: "Viết về thơ anh là một niềm vui thật sự với em. Nhưng phải nói thật, khi đọc lướt qua tuyển tập 45 năm nầy thì em cảm thấy choáng ngợp. Sợ rằng không đủ sức đâu anh à." Ông cười và nói: "Khoa cứ viết thoải mái. Không khiên cưỡng, áp lực gì cả thì sẽ viết được thôi. Chủ yếu là sự cảm nhận về thơ, không hàn lâm lý luận gì cả. Cảm nhận như thế nào thì viết như thế ấy. Tôi muốn nhận nơi Khoa một tri tình, một cảm nhận về thơ tôi của một người bạn trẻ thuộc thế hệ sau. Đó cũng là niềm mong mỏi duy nhất và là nguồn an ủi đối với tôi rồi."

Tôi thật sự bất ngờ và kinh ngạc khi đọc những bài thơ của NLV viết vào những năm 1969-1974. Nhất là 2 bài thơ "Nửa Đêm Thức Dậy Nhìn Mây Trắng" (1969) và bài thơ "Âm Nhạc" (1970) của ông, tức là thời gian ông mới 17, 18 tuổi, nhưng hồn thơ thật bát ngát dị thường. Xin trích nguyên văn bài thơ "Nửa Đêm Thức Dậy Nhìn Mây Trắng":

"Lung linh hồn quê cũ
Mây trắng phủ khắp trời
Nhớ trăng khô hết máu
Muôn trùng dặm núi ơi..."

"Hồn quê cũ", "mây trắng", hình ảnh xa xôi, diệu vợi về nơi chốn quê nhà của nhà thơ, nhưng cũng có thể hiểu là nơi chốn nguyên sơ của con người. "Nhớ trăng khô hết máu", "Trăng" và "Máu", một cảm xúc không thể diễn tả bằng lời được thông qua cái "Nhớ". Tiếp theo là tiếng thở dài "Muôn trùng dặm núi ơi... ". Tôi không phân tích hết được ý nghĩa bát ngát mênh mông của bài thơ, nhưng đọc xong, tâm hồn bỗng trào lên một cảm xúc khó tả.

Xin trích tiếp đoạn mở đầu bài thơ "Âm Nhạc":

"Âm nhập cốt
Âm binh phiêu hốt tiếng tru
Ta tru một kiếp cho mù mắt
Mù lệ đề thơ để nhớ đời
À ơi! Rượu đỏ hoàng hôn tắt
Ta dắt hồn ta túy lúy chơi..."

Nhịp điệu của bài thơ ầm ào, thảng thốt, đúng như câu ông viết dưới tựa đề của bài thơ: "Viết trên nền nhạc symphony số 5 của Beethoven." Một bài thơ rất lạ, rất bạo liệt, sầu thảm nhưng bi hùng. Tôi nghĩ, đây là một bài thơ rất hay và rất hiếm của một người làm thơ lúc còn đang ở độ tuổi thanh niên. (Bạn đọc có thể đọc nguyên văn bài thơ nầy trong tuyển tập).

Khi chuẩn bị cho bài viết nầy, tôi có email cho nhà thơ NLV, tạm gọi là "phỏng vấn" ông quan niệm về thơ như thế nào, để làm "nền" cho bài viết, thì nhận được email hồi đápcủa ông, nguyên văn như sau:

"Câu hỏi của Khoa làm tôi nhớ đến một câu của nhà thơ Bùi Giáng. Trong một cuốn sách nào đó của ông, tôi không nhớ rõ, đại ý, ông bảo ông bắt chước "giọng" của Khổng Tử, viết rằng: "Con chim thì ta biết nó bay. Con cá thì ta biết nó lội. Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ. Nhưng thơ là gì? Thì điều đó ta không biết." Câu nói của nhà thơ Bùi Giáng thật ly kỳ thơ mộng, theo kiểu ẩn ngữ lai rai của ông.

Từ tuổi thiếu niên, hình ảnh "máu me" đã sớm đi vào những bài thơ đầu đời của tôi, nhất là khi mẹ tôi bị băng huyết, sẩy thai người em thứ năm của tôi mới chừng hai ba tháng gì đó. Tôi nhớ rất rõ, vào một buổi chiều chạng vạng, sau khi dùng đôi đũa bếp gắp cái hình hài lầy nhầy chưa tượng hình người của em tôi, bỏ vào chiếc nồi đất nhỏ, phủ tro lên, đậy nắp lại, hai tay ôm chiếc nồi đất ấy, đi theo sau ông Nội tôi ra khu nghĩa địa trong làng, gọi là Gò Chùa để chôn cất em tôi. Chẳng biết vì sao, sau khi rời nghĩa địa trở vềnhà, trên đường đi, trong tâm trí tôi hiện rõ mấy câu thơ, "Mẹ băng huyết giữa đồng / Đứa em chưa kịp tượng / Trôi tuốt ngoài thinh không / Chập chờn con bướm lượn." Mấy câu thơ nầy, mãi đến 3 năm sau tôi mới viết ra trên giấy. Cho đến bây giờ, là bài thơ nằm lòng và là kỷ niệm đẹp nhất trong đời làm thơ của tôi.

Tiếp đến, năm tôi gần 13 tuổi (1965), đang học lớp đệ ngũ tại trường trung học kỹ thuật Đà Nẵng, cha tôi và người chú ruột của tôi bị chết thảm trong một vụ án chính trị, hình ảnh "máu me" lại càng ám ảnh tuổi thơ tôi một cách mãnh liệt hơn, nên khi chuyển vào Qui Nhơn (1967) để tiếp tục việc học, tôi lại viết tiếp mấy câu thơ song thất lục bát: "Thơ là máu, kinh kỳ là nguyệt / Nguyệt đầy vơi ta biết làm sao / Nguyệt cuồng trong máu lao xao / Nói chi sấm chẻ ngàn cao giữa mùa..." Bài thơ khoảng chừng ba bốn khổ gì đó, đến nay tôi không nhớ hết, nhưng đại thể là sự bộc bạch tâm sự của mình về thơ, về cuộc đời. Bây giờ đọc lại thì thấy ngô nghê, cố làm ra vẻ "trịnh trọng" người lớn, nhưng thật tình, mỗi khi nhẩm lại những câu thơ nầy, tôi vẫn còn cảm động vô cùng.

Năm 1987, lúc đã qua ngưỡng "tam thập" (35 tuổi), tôi viết bài thơ "Thanh Ca". Bài thơ viết một mạch, khá dài, không dấu chấm dấu phẩy gì hết, để bày tỏ quan niệm về thơ của mình, giờ đọc lại cũng thấy ngồ ngộ, hay hay vì cái ý bảng lảng phiêu bồng của nó. (Bài thơ nầy, tôi cũng in lại trong tuyển tập). Tiếp sau đó, cảm nhận về thơ gắn liền vớisố phận, số kiếp con người giữa thời buổi "tang thương ngẫu lục", tôi đã viết:

"Ta quí thơ như máu
Quí gạo cũng tương đương
Thời nhiễu nhương lộn lạo
Máu cũng phí như thường... "
(Thiệt Tình - Âm Vang Và Sắc Màu)

Đến bây giờ, đã bước qua ngưỡng "lục thập" (63 tuổi), sống nơi đất khách quê người, tôi chỉ còn biết thơ là nơi chốn để mình tu: Tu Chữ và Tu Thơ. Tu như vậy cũng là tu Tâm theo nghĩa của Phật pháp. Tu để chờ một chuyến trở về cuối cùng cho một đờingười. Như một vị thiền sư nào đó đã nói: "Ta từ hư không mà đến đây, rồi lại trở về với hư không." Nhẹ nhàng. Thanh thản. Cố gắng không dính mắc điều gì nữa. Vậy thôi!

Câu Khoa hỏi, thật tình tôi chẳng biết trả lời như thế nào cho thỏa. Mỗi một người làm thơ, đọc thơ đều có quan niệm riêng, cách nhìn riêng về thơ. Cả tỉ tỉ quan niệm, cách nhìn, cách hiểu, cách cảm nhận, làm sao tổng hợp cho hết được. Chỉ biết rằng, một bài thơ, một câu thơ mình viết ra (tất nhiên, trước hết là để bày tỏ nỗi lòng của mình), khi được công bố trên báo chí, hay các phương tiện truyền thông khác, gặp được sự cộng hưởng, cảm ứng của người đọc thì xem như mình được an ủi, hạnh phúc lớn lắm rồi. Còn quan niệm thơ là gì? Tôi xin phép được quay trở lại câu của nhà thơ Bùi Giáng nêu trên là đề huề, vui vẻ, thơ mộng nhất vậy."

Đọc thư phúc đáp của nhà thơ NLV, tôi nhận ra được tính xuyên suốt và nhất quántrong thơ ông: "Máu" và "Âm" chính là định mệnh của thơ NLV, cũng chính là nguồn cảm hứng bất tận trong thơ NLV, kể từ lúc tóc còn xanh cho đến lúc tóc đã bạc trắng như bây giờ.

Thật vậy, từ những bài thơ được sưu tầm lại (1969-1975) cho đến những tập thơ "Âm Vang Và Sắc Màu", "Phương Ý", "Hòa Âm Âm Âm Âm... ", "Huyết Âm", "Tinh Âm", "Bốn Câu Thất Huyền Âm", "Tám Câu Lục Huyền Âm", "Năm Chữ Năm Câu", "Năm Chữ Ngàn Câu", thơ NLV là một chuỗi dài vang vọng bất tận của "Máu" và "Âm" bằng đủ loại tiết tấu: Lắng đọng, trầm hùng, bi tráng, bi thiết, bạo liệt, dữ dội, tịch mịch... Tôi nhớ, nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh trong một bài viết, đã mô tả, ví von một cách hình ảnh, đại ýrằng, mỗi tập thơ của NLV là một dòng chảy nhỏ của một con suối, để rồi hợp thành một dòng chảy lớn của một con sông, trôi ra biển rộng muôn trùng. Tôi nghĩ, nhận xét nầy phần nào đã nói lên được một cách khái quát về đặc điểm và tầm vóc thơ NLV.

"Hòa Âm Âm Âm Âm... " là tập thơ sung mãn và phong phú nhất của NLV, được ấn hành sau 5 năm ông định cư tại Hoa Kỳ. Khác hẳn với "Âm Vang Và Sắc Màu", "Phương Ý" trước đây khi còn ở Việt Nam, với tính cô đọng, thâm trầm - "Hòa Âm Âm Âm Âm... " đã hòa quyện âm vang bi hùng, bi tráng một cách mênh mông, sâu thẳm của nhà thơ khi phải sống cô độc, chịu nhiều cảnh ngộ bi kịch thương tâm nơi xứ người. Theo tôi, đây là tập thơ "đỉnh cao" của NLV, hội tụ tinh túy tài hoa, với tư tưởng rất uyên áo. Chính nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan, người bạn tri âm tri kỷ của NLV, trong bức thư gửi cho bạn mình, đã viết một cách thảng thốt trước Thi Ca của NLV: “Chỉ thấy Tính-Linh, phải đâu là chữ!....Tôi phải cảm ơn Vỵ nhiều lắm. Hãy cho tôi đọc nhiều thơ nữa đi, đọc suốt đờicàng thích. Vì “chữ” của Vỵ đâu phải chỉ là “chữ” không thôi, nó chính là TÍNH-LINH của chúng ta, dù chỉ là loại Tính-Linh đầy những máu.”

Tiếp sau đó, liên tục các tập thơ "Huyết Âm" dữ dội, bạo liệt tuôn trào; "Tinh Âm" lắng đọng, bi thiết; "Bốn Câu Thất Huyền Âm" và "Tám Câu Lục Huyền Âm" càng lắng đọng và trầm sâu hơn; "Năm Chữ Năm Câu" và "Năm Chữ Ngàn Câu" vi diệu và uyên áo, thơ NLV đã thực sự đi đến "mùa hương chín" của Thi Ca và Tư Tưởng.

Đặc biệt, tập thơ "Huyết Âm", theo tôi, là tập thơ dữ dội và bạo liệt nhất về sức Thấy và sức Nghe của nhà thơ. Ngay đầu tập thơ, nhà thơ viết 4 câu thơ song thất lục bát, mỗi chữ đều viết hoa (có lẽ là để nhấn mạnh từng chữ):

"Gió Bức Bách Trong Tờ Giấy Lật
Thơ Muôn Trùng Phơ Phất Nẻo Xa
Ngàn Thâu Bích Huyết Chiêu Hoa
Ngàn Trùng U Mộng Người-Ma U Hoài..."

Tuy không hiểu hết các ẩn dụ của nhà thơ trong 4 câu thơ trên, nhưng khi đọc lên một cách chậm rãi, tôi cảm nhận được khí lực, thần thái của thơ thật dữ dội, uyên áo, nói về thân phận của kiếp người.

Nhà thơ Lý Đợi, trong Lời Bạt cho "Huyết Âm" đã trích lại giải thích ý nghĩa của "Huyết Âm" mà nhà thơ NLV đã giãi bày: "Huyết, trong từ Hán Việt có hai nghĩa chính: Máu và Lệ. Huyết Âm: Âm vang của Máu và Lệ, khóc cười đủ các kiểu cho nó xôm tụ. Lấy hào cửu cửu làm gốc, nên đánh số từ 1 đến 81 (9 x 9 = 81), thêm một bài ngoại tập: Huyết Âm Tây Tạng, như một tiếng thở dài giữa thời mạt pháp." Trong đoạn cuối của Lời Bạt, nhà thơ Lý Đợi viết:

"Đọc thơ là đọc giữa hai hàng chữ, giữa hai con âm, nhiều người đã nói như vậy, nghe đã mòn tai. Nhưng quả là có những trường hợp, không làm như vậy không được. Nguyễn Lương Vỵ đã tìm mọi cách để nhét những ưu uất của mình vào giữa hai con âm. Tìm cách hướng người đọc vào những động thái bên lề, nhằm quên đi một thực tạiđang được dựng xây bằng máu và nước mắt.

Trong một cách nào đó, đọc Huyết Âm cũng như là:

Dục cùng thiên lý mục
Cánh thướng nhất tằng lâu
(Muốn tận cái nhìn ngàn dặm
Thì cứ lên thêm một tầng lầu nữa).
(Vương Chi Hoán)"

Như vậy đã rõ, Huyết: Máu và Lệ, "Huyết" và "Âm" chắc là để minh chứng, minh giảithêm cõi thơ, hồn thơ NLV mà thôi. Thơ trong "Huyết Âm" phần lớn là thơ ngắn, chỉ có đánh số mà không có tựa đề, có khi rất ngắn nhưng dữ dội và quyết liệt bằng sức Thấy sức Nghe xuyên thấu và kinh hoàng của nhà thơ:

"Róc huyết âm
Đá khóc
Xanh
Tuyệt đối... "
(# 1)

"Mẹ huyền vi
Rung huyết
Đón tinh Cha
A! Gái huyền
Đẻ đái
Cái Người-Ma"
(# 5)

"Hoàng hôn muôn thế kỷ sau
Dứt khoát
Thơ
Còn
Đỏ
Au…"
(# 33)

Đến "Tinh Âm", thơ càng cô đọng và vi diệu hơn: "Ôi con chữ máu rung / Ôi cái nghĩa kỳ cùng... " hay 3 bài thơ Nhị Tuyệt: "Nghĩa đời trong lá khô / Ý đời trong mầm biếc…" - "Cồi máu phơi tiếng hú / Óc phơi ngọn nến mù…" - "Muôn chiều. Chiều hết đời / Muôn đời. Đời phơi thây…" Thơ đã đạt đến "ý tại ngôn ngoại", không thể nghĩ bàn, chỉ còn lại sự cảm nhận, rung động, cảm ứng của người đọc thơ với thơ mà thôi.

Những tập thơ tiếp sau, "Bốn Câu Thất Huyền Âm", "Tám Câu Lục Huyền Âm", "Năm Chữ Năm Câu", "Năm Chữ Ngàn Câu", thơ NLV ngày càng đi sâu vào cấu trúc tiếng Việt với nhiều thể loại thơ truyền thống, mà tập trung nhất, phong phú nhất là 2 tập thơ "Năm Chữ Năm Câu", "Năm Chữ Ngàn Câu". Đây là 2 tập thơ thể hiện nỗ lực sáng tạorất độc đáo và vi diệu của nhà thơ, với ngôn ngữ thơ rất bình dị, trong sáng, đa phần là âm thuần Việt, nhưng ý tứ, tư tưởng trong thơ rất mênh mông, sâu thẳm về sức Nhìn, sức Thấy và sức Nghe:

"nhìn trong thơ thấy đạo
nhìn trong đạo thấy thơ
nhìn trong thơ thấy gạo
nhìn trong gạo thấy mình
có-không thiệt rốt ráo"
"nhìn trong hạt thấy mầm
nhìn trong mầm thấy mộ
nhìn trong mộ thấy âm
nhìn trong âm thấy số
ôi tượng số điếc câm…"

hay là:

"thấy và nghe huyết tan
từ rất lâu trong chữ
chữ lòn trong nắng tàn
ta lòn trong mưa lụi
lượm lên phủi hú vang…"
(Trích Năm Chữ Năm Câu)

Khi tôi đặt vấn đề với nhà thơ NLV, vì sao cấu trúc, thể loại trong thơ ông đa phần là thơ có vần theo kiểu truyền thống mà ít thơ tự do hay không có thơ theo kiểu hậu hiện đại? Ông trả lời chậm rãi và chân thành: "Có thể là do tôi đã quen với cách sống kỷ luật, kham nhẫn và chịu đựng với chính bản thân từ lúc thiếu thời. Càng sống, càng trải nghiệm, thì tôi lại nhận ra rằng: Kỷ luật, kham nhẫn và chịu đựng cũng chính là phương pháp tu tập tốt nhất để bản thân mình ngày càng được hoàn thiện, thật sự đạt đến tự do, tự tại, được sống một cách trọn vẹn với cái-đang-là bất tuyệt. Thiển nghĩ, thơ cũng vậy. Thơ có vần, tuân thủ theo luật tắc, hoàn toàn không đồng nghĩa với gò bó, câu thúc, khô khan, cổ hủ mà như ý trên đã giãi bày cái diệu nghĩa của kỷ luật, kham nhẫn và chịu đựng đối với người mà tôi tạm gọi là Tu Chữ, Tu Thơ. Thể loại, trường phái, cấu trúc trong thơ không phải là vấn đề quan trọng, sinh tử của thơ, mà suy cho cùng, chính là hồn vía của chữ, của thơ. Thông qua sức Thấy và sức Nghe, làm thế nào đểhồn vía của chữ, của thơ tạo được rung cảm cho chính mình, rồi sau đó cảm ứng đến với người đọc. Đó mới là cái chính, cái cốt lõi, cái đáng suy nghĩ nhất trong quá trình sáng tạo thơ. Chỉ xin mạo muội lạm bàn đôi điều như vậy thôi."

Tôi rất thấm thía về những giãi bày của ông. Cũng từ giãi bày trên, có thể chiêm nghiệmthêm rằng, quá trình sáng tạo thơ, cũng là quá trình tu tập về tâm thức, hiểu theo nghĩa tích cực nhất, nhân bản nhất:

"Mỗi chữ mỗi kiếp cháy sáng rực
Thâm âm thâm u từ lâu nay..."
(Huyết Âm)

***

Đối với tôi, tuyển tập thơ 45 năm của NLV là một trong những tác phẩm rất có giá trị của thi ca đương đại Việt Nam. Tôi rất tâm đắc nhận định của nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan về thơ NLV: "Chỉ có Tính-Linh, phải đâu là chữ!". Thật vậy, càng đọc và chiêm nghiệm thơ NLV, chữ thơ NLV không còn là những con chữ bình thườngnữa, mà chữ thơ đã trở thành hồn vía, thành Tính-Linh. Mỗi chữ thơ, câu thơ, bài thơ của NLV đã được viết ra từ một tâm lực đầy kỷ luật, kham nhẫn và chịu đựng, với tình yêu tận hiến cho thơ một cách tha thiết và mãnh liệt. Vì vậy, tôi nghĩ, nội lực thơ của NLV ngày càng thâm hậu theo thời gian, với một hồn thơ mênh môngvà sâu thẳm của Nhân Bản và Minh Triết.

Tính-Linh trong thơ NLV là "Chữ nén huyền âm Tượng Số ngân dài" (Huyết Âm). Sức "nén", sức cô đọng của chữ để trở thành "huyền âm Tượng Số ngân dài" trước thử thách khắc nghiệt của thời gian và sự quên lãng. Đó cũng chính là giá trị nội tại của thơ NLV, "Nghĩa đời trong lá khô / Ý đời trong mầm biếc". Đó cũng chính là bản hòa âm bất tuyệt của cái-đang-là, cái Thực Tại Hiện Tiền đang trôi chảy trong từng sát na. Tôi thật sự cảm động khi đọc 4 câu thơ sau đây:

"Hỏi cái Mình ngồi đó
Có nhớ cái Ta xa?
Chợt quên rồi chợt nhớ
Thảng thốt giọt lệ sa."
(Trích Năm Chữ Ngàn Câu)

Câu hỏi thoạt nghe qua, có vẻ rất bình thường, nhưng có mấy ai đã hỏi với chính mình như vậy, để rồi "Thảng thốt giọt lệ sa"?!

Nhà thơ nhẹ nhàng viết trong "Lời Thưa" tập thơ "Năm Chữ Ngàn Câu", từ tốn nhưng đầy niềm bi mẫn, cảm hoài:

"Câu hỏi đã từ rất lâu, không lời vọng lại hồi đáp.
Câu trả lời vẫn còn im lắng, ngất xanh trong những giấc mộng dị thường." 

Câu hỏi của NLV cũng chính là câu hỏi của William Shakespeare đã đặt ra cho Tây Phương từ khá lâu theo lối trực tiếp: “To be or not to be, that is the question” (Tồn tại hay không tồn tại. Đó chính là vấn đề). Đó cũng là câu hỏi về “Being” mà Martin Heidegger đã dành trọn đời để soi sáng ý nghĩa của nó. Nhưng để có thể tiếp xúc với câu hỏi của “Being”, đòi hỏi chúng ta cần có một thái độ thích hợp đối với ngôn ngữ, mà theo Heidegger thì:

“As soon as we have the thing before our eyes, and in our hearts an ear for the word, thinking propers.” (Heidegger - Building Dwelling Thinking).

Tạm dịch:

“Ngay khi một điều gì phơi bày ra trước mắt, và trong tâm chúng ta biết lắng nghe ngôn từ (cảm ứng cho chính nó), ấy là lúc tư duy khai phóng.”

Tôi rất hạnh phúc là một độc giả rất yêu và quí thơ NLV, một người em, người bạn vong niên của nhà thơ NLV. Bài viết nầy, tạm gọi là chút tình tri ngộ, tri tình, tri ân cùng ông giữa cõi đời và cõi người rất mong manh, mộng ảo nầy. Và, cũng giống như nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan, tôi rất mong sẽ được đọc thơ NLV nhiều hơn nữa, vì thơ NLV "Chỉ thấy Tính-Linh, phải đâu là chữ!... nó chính là TÍNH-LINH của chúng ta, dù chỉ là loại Tính-Linh đầy những máu."

Westminster - CA, September 20, 2015

TÔ ĐĂNG KHOA













Tiếu Ngạo Giang Hồ


Nxb Sống 2016





CẢM NHẬN CỦA BẰNG HỮU VỀ
TẬP THƠ
“T[I]ẾU NGẠO GIANG HỒ”
CỦA NGUYỄN LƯƠNG VỴ

Giữa thực trạng “hạn hán” trầm trọng, tính riêng cho những người cầm bút trước tháng 4-1975, ở quê người, (thì), Nguyễn Lương Vỵ vẫn hiển lộng thi ca của ông, như một dòng suối mát.
Lại nữa, chữ, nghĩa đối với nhiều thi sĩ, dường chỉ là phương tiện chuyển tải những rung động, cảm nhận về đời sống, hiện tượng,… (thì), với Nguyễn, chữ, nghĩa còn là bản mệnh của chính ông nữa. Du Tử Lê, nhà thơ, nhà văn. (Calif. Oct. 2016) 

Ngôn ngữ Việt Nam đã trở thành hơi thở của thi nhân Nguyễn Lương Vỵ. Qua tập thơ “T[i]ếu Ngạo Giang Hồ” cho thấy ông bình thản thở từng con chữ, có khi rất ngắn, một con chữ hay hai, ba, v.v… một cách vô ngại tự tại. Nếu chỉ vì dấu chấm hay dấu phẩy để bảo đó là một “ý nghĩa” biệt lập, thì thật là không nhìn ra trọn vẹn một làn hơi bao trùm trong đó nhịp nhàng ngưng ngắt như nhịp điệu của những nốt nhạc trong một bản hòa tấu “Sonate”, những nốt thở nhìn thấy riêng biệt lại liên kết nhau thành một hơi thở chứa chan và mông mênh ý tưởng, làm cho trái tim và tâm hồn va chạm bỗng rung động cảm nhận từng nét biến thể của bức tranh lập thể có vẻ kỳ dị lại cấu trúc nên một tổng thể thơ mộng vô cùng…
Lê Giang Trần, nhà thơ. (Calif., Oct. 2016) 

“T[i]ếu Ngạo Giang Hồ” là âm vang tiếp nối của Hòa Âm, Huyết Âm, Tinh Âm… trong cõi thơ Nguyễn Lương Vỵ.
T[i]ếu viết như vầy thì có Tếu bên trong. Tếu trong cảnh đời có khi là tan nát cõi lòng, nên chi cái tan nát kia là âm bản của nụ cười hắt hiu năm tháng. Đây là khúc ca được viết bằng tiết tấu máu lệ. Dường như đã thấu được núi thẳm đường dài, vừa đủ nội lực gian nan, hành giả kia đóng cửa gỗ thõng tay vào chợ? Để kề vai gánh những bi hài trần thế, tùy nguyện tùy duyên mà t[i]ếu ngạo giang hồ, mà theo hạnh Người Xưa: “Ta còn chút nợ phải trả” nữa chăng? Nguyễn Thị Khánh Minh, nhà thơ. (Calif., Oct. 2016)

Vài lời với thơ Nguyễn Lương Vỵ? Vài lời hẳn là không đủ, với bản thân tôi, người đã nhiều năm mê thơ Vỵ, đã dịch thơ Vỵ sang Anh văn dài cả trăm trang (trí nhớ sương khói, nếu tính cả kiếp trước, hẳn là nhiều ngàn trang).
Thế đó, tôi đã đọc thơ Vỵ, mê thơ Vỵ, dịch thơ Vỵ — đó là những ngày bay bổng của đời tôi, một người mê chữ từ thời còn nắn nót mực tím trên chữ i, chữ tờ. Thơ Vỵ đã mở ra các cửa sổ [và rất, rất nhiều cửa sổ đa dạng] để độc giả nhìn thấy và rung động với cái đẹp của một cõi ngôn ngữ. Tôi đọc thơ Vỵ và nhận ra một thế giới thơ rất là xa vắng, như dường Nguyễn Lương Vỵ đã bước từ cõi khác tới để hóa thân vào trang giấy, nhưng lại thấy rất gần như dường cũng từ trong tim mình nhói đau, khi Vỵ nói về quê nhà, về mẹ, về những người bạn vĩnh viễn lìa cõi này…
Thế đó, tôi rất mực trân trọng khi đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ.
Phan Tấn Hải, nhà thơ, dịch giả, nhà nghiên cứu Phật pháp.
(Calif., Oct. 2016)

“T[i]ếu Ngạo Giang Hồ” của Nguyễn Lương Vỵ là một cột mốc mới trên độc lộ “tu chữ” của Thi Sỹ. Ở đây, những con chữ đầy nội lực được viết ra từ những trải nghiệm gần gủi hàng ngày, từ nhận thức rất cô đọng của chính Thi Sỹ về những chủ đề lớn của sự hiện hữu: Thời Gian, Sự Sống và Cái Chết. Qua “T[i]ếu Ngạo Giang Hồ”, ý nghĩa của sự-sống được thiết lập trở lại, một cách chân chánh, trên nền tương phản của cái-chết, trên những nếp gấp thời gian khép lại, mở ra trong từng phút giây.
Tô Đăng Khoa, nhà nghiên cứu Phật pháp. (Calif., Oct. 2016) 

Với tập thơ “T[i]ếu Ngạo Giang Hồ,“ phong vị thơ Nguyễn Lương Vỵ như muốn lui về cổ lục nghìn năm điêu thạch, dõi con mắt thơ về quá khứ xa xăm để tìm kiếm cái ẩn mật nằm sâu kín trong vô thức tập thể của dân tộc. Nhưng thật ra, bên dưới hành trạng ấy, người ta vẫn thấy một Nguyễn Lương Vỵ với tất cả những băn khoăn bộn bề khôn dứt về cái hiện tồn trước mặt và cái miên trường sau lưng.
Trịnh Y Thư, nhà thơ, nhà văn, dịch giả. (Calif., Oct. 2016)





























Thơ Nguyễn Lương Vỵ









(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ)


(thơ














Văn








Phê bình

Chuyện vãn với mất hay còn…và, Chuyện vãn với…chuyện vãn

Nguyễn Lương Vỵ






Chuyện vãn?

Có thể là độc thoại. Có thể là song thoại. Có thể là đối thoại.

Thi sĩ chuyện vãn?

Cũng chỉ ngần ấy thôi. Nhưng, chuyện vãn của thi sĩ là những con chữ, con âm bất tận.

Rất có thể, anh bảo: “Chuyện vãn. Hai tiếng nghe sao rất thân thương. Nhất là những đêm tận, những khuya tận. Những con chữ vang lên từ muôn cõi máu xương. Hư không huyễn ảo nhưng rất thật, rất gần. Thế ra, những con chữ tri âm từ rất lâu, những giọt mưa nắng trong ngần, những Búp-Nõn-Không-Thời-Gian diệu kỳ chớp tắt. Mình cầu mong cơn bệnh hiểm nghèo nầy chậm lại, để sẽ được tiếp tục thêm một đôi lần chuyện vãn nữa là mãn nguyện lắm rồi.”

Thoáng chốc, xế bóng một đời người ! Hơn nửa thế kỷ anh đã từng trầm mình chuyện vãn với thi ca. Giờ đây, nghe như anh đang buông những con chữ chảy xuôi, ngậm ngùi:

Trong đời sống ẩn tàng muôn kiếp khác
Đôi khi ta quên gọi chính ta về.(*)

Ta vong thân? Ta kẻ lạ? Hay ta đã dự cảm cái bản thể tự hủy của ta giữa hư không?!

Tôi quay trở lại buổi sáng cuối Thu 2008, để gặp thi sĩ Du Tử Lê.

Anh cười thanh thản, hồn nhiên, viết lời đề tặng tôi trên trang đầu tiên của hai tập thơ vừa mới in xong: “Chuyện vãn với những đêm tận, những khuya tận. Gần bốn năm dầm mình sống với căn bệnh ung thư quái ác. Mình rất thèm chuyện vãn với kỷ niệm, chuyện vãn với hơi thở, chuyện vãn với những tình thân, và, nhất là chuyện vãn với Ông-Thần-Chết quái…kiệt!”

Tôi chúc mừng thi sĩ và lướt nhẹ qua từng trang còn thơm mùi giấy mới.

Tôi trở về một đêm tận, một khuya tận. Chuyện vãn với…chuyện vãn của Du Tử Lê.


1. Mất Hay Còn,
Chưa Hẳn Khác Nhau Đâu!?!.

Mất hay còn? Tồn tại hay không tồn tại? Câu hỏi của muôn thuở cát bụi ngu ngơ, của kiếp người bơ vơ tội nghiệp.

Chưa hẳn khác nhau đâu!?!.

Một con bướm bay trong một cơn gió lạnh, hanh hao trong màu nắng úa.

Chưa hẳn. Thi sĩ buông một câu lơ lửng. Nhưng, trong hơi-thở-độc-thoại, khi chuyện vãn với chính mình thì thi sĩ xác quyết:

em / tôi /không có mặt
(ở bất cứ nơi nào.)
chúng ta ở trong nhau:
khi ngọn đèn đã tắt.

Xác quyết hay dự cảm của tự-hủy-phục-sinh?!
Không hy vọng. Không tuyệt vọng.
Mất hay Còn?
Hơi-thở-độc-thoại mở và khép trong tịch mịch.

Anh ù té chạy băng băng trong khoảng không vắng lặng rợn người. Trong chất ngất cơn đau của thân bệnh. Trong sấm chẻ giữa hai bờ sinh tử:

chào thần chết, đừng nhìn tôi thế chứ!
ông trong tôi từ thuở mẹ mang thai.
trời đất những tưởng hai (mà,) vẫn một.
ông hãy cười, tôi sẽ nói:
- đi thôi!

Chao ôi! Cái Ông-Thần-Chết. Trong cái mầm phôi thai tinh Cha huyết Mẹ thì Ông-đã-là-Tôi rồi. Đó cũng là cái hoan-hỉ-tử-sinh. Đi thôi hay về thôi thì cũng…thế thôi!

Đã vậy, mùa đông, từ cửa sổ Fountain Valley Hospital, anh đã áp má vào những con chữ để chuyện vãn:

trong khu vườn mùa đông
sự chết hớn hở trình diễn khắp sân khấu
riêng cụm birdflower
bất ngờ
nở đôi chim ối, đỏ.
Trong thân thể tôi
Chemo và, radiation
Thao diễn khả năng tàn phá tận tình
nhất định không bỏ sót
dù chỉ một tế bào.
bất ngờ
tôi nhận ra
trong xó, góc
vẫn nguyên vẹn đó:
tình yêu em - -
đỏ!
ối! ngậm ngùi.

Đôi chim ối, đỏ vừa nở, còn tình yêu em thì đỏ ! ối ! ngậm ngùi.

Anh vẫn còn đang áp má vào những con chữ vừa ứa ra từ những giọt máu ối-đỏ-ngậm- ngùi. Cụm birdflower đã vươn cánh bay lên. Tiếng hót của đôi chim rền cả một đường bay, đỏ, ối…

chim ngậm hạt vong thân,
rớt, dọc đường chiếc bóng.

Một cõi quên? Có lẽ nào?!

thân nương/ ấm hạt kinh
tâm cúi, tìm kiếp khác.
gió phổ độ cánh chim.
mây quên đòi giải thoát!?!

Phổ độ cũng là một cách quên? Một cách quên ba-la-mật.

Tiếp tục nhớ để quên.

đất / da / thịt vốn chờ tôi trở lại
lửa cho tôi hơi ấm tự tiền thân.
Gió nhắc nhở đừng quên ơn hơi thở.
nước đi quanh như máu rất ân cần

Hơi thở là một huyền nhiệm của vũ trụ.

Hai vai tôi, mặt biển xuôi dài, tít tắp những ngọn sóng bạc đầu, những bóng khuất của sử lịch hiện ra vẫy gọi. Tôi nhìn thấy tôi trong chập chùng sinh linh.

Tôi tiếp tục thở.
Tôi tiếp tục thở.
Tôi tiếp tục thở…

chỉ một giọt nước thôi,
đủ biết rằng biển mặn.
chỉ một đôi môi thôi,
đủ có toàn thế giới.

chỉ một mái tóc thôi - -
nghìn sâu còn ấm áp.
chỉ một đôi mắt thôi - -
cảm ơn: rừng an, lạc.

chỉ một ngón tay thôi,
thơm đời sau. tiếng hát.
chỉ một thời kinh thôi,
che, ấm phần tan, nát.

Những con chữ, con âm bình an như hơi thở. Đêm tận. Khuya tận. Hình như có tiếng vọng lại, từ một nơi chốn, một chỗ ngồi nào đó, của một thời khắc đã trôi qua:

Tôi trở lại đáy khuya ngồi với bóng.
Những chiếc bàn trật khấc nổi cô đơn.(*)

Đáy khuya tuyệt cùng. Những chiếc bàn trật khấc. Bóng của tôi đóng đinh với tịch mịch. Thi ca hắt bóng tôi trong niềm bi mẫn của hư không. Một nơi chốn, một chỗ ngồi nào đó, của hơi-thở-hiện-tiền. Đêm tận. Khuya tận.

tôi ngồi khô vườn sau.
hỏi han tiền kiếp. lạnh.
những con chim sẻ nâu
báo tin: người xuất hiện

Thơ trùng phùng bể dâu, kéo lê rừng tóc trắng. Tôi hỏi han dư ảnh của tiền thân, tiền kiếp. Lạnh. Lạnh mà an nhiên. Bóng tôi hắt bóng người xuất hiện.

nhìn thôi. đừng nói! nói.
nhìn thôi. đừng nói! nói.

Thi sĩ khép nhẹ những đêm tận, những khuya tận. Mất hay Còn? Có hay Không? Nhớ hay Quên?

Chỉ còn nghe tiếng-hót-của-những-con-chim-sẻ-nâu trong hơi thở.

2. Lại Chuyện Vãn /

(Lần Này, Ít Thôi)/
Với Bệnh Ung Thư/

Chuyện vãn với bệnh ung thư? Lạ. Thử nghe trong đêm tận, khuya tận vang lên những lời ối, đỏ. Như cách ẩn dụ của thi sĩ.

Ung thư? Căn bệnh quái ác nhất, kinh hoàng nhất của nhân loại. Những tế bào bỗng nhiên hung hãn, vô kỷ luật, “quậy” tưng bừng trong máu me xương tủy. Liệu pháp chemo, radiation được xem như là vũ khí tối ưu của y khoa hiện đại, dĩ độc trị độc, nhằm cô lập, bao vây, tiêu diệt những anh chàng [hay chị nàng] tế bào bất hảo, bất trị nầy. Ấy tuy nhiên, y học hiện đại vẫn chưa tìm ra một liệu pháp triệt để khả dĩ ngăn chặn nguy cơ tử vong của người bệnh.

Đại để là, một cái chết được báo trước. Hoặc nhanh hay chậm. Nhanh, nếu phát hiện bệnh muộn. Chậm, nếu phát hiện bệnh sớm. Thoát chết? Có cơ may. Nếu phát hiện sớm và có những liệu pháp điều trị đúng mức.

Dài dòng về bệnh ung thư, để dẫn đến chuyện thi sĩ Du Tử Lê phát hiện [giữa sớm và muộn] cơn bệnh hiểm nghèo: Ung thư ruột già, vào tháng 2.2005. Anh đã trải qua hơn hai năm dùng liệu pháp chemo và radiation để điều trị. Như đã nhắc ở trên, đây là liệu pháp dĩ độc trị độc, đòi hỏi tiên thiên của cơ thể người bệnh phải có sức chịu đựng dẻo dai mới có thể thích ứng, vượt qua cơn hiểm nghèo. Hồng huyết cầu sẽ tiêu hao rất nhiều, tóc rụng, da xảm tái vì mất máu, chưa kể những phản ứng phụ khác, vật vả người bệnh.

Dáng ngồi gầy guộc, mái tóc hớt ngắn (vì rụng nhiều?) điểm bạc, ánh mắt nhìn còn thấm mệt, nhưng giọng nói vẫn ấm, vang: “Sống hay chết thì cũng vậy thôi. Trước đây, khi biết bệnh, cảm giác có nhói và choáng trong một vài giây khi trong tâm tưởng bật lên một tiếng vang: Tiếc quá! Thế là hết. Trong những ngày tháng sống với chemo và radiation, khó mà diễn tả được những cơn đau, có lúc tưởng đã không vượt qua nổi, và cũng không hiểu vì sao xác thân mình có thể chịu đựng những cơn hoành hành, tàn phá, giao chiến khốc liệt giữa tế bào bệnh và thuốc. Ông-Thần-Chết, giờ đây, mình có thể nói chuyện với…ổng, là nằm trong nghĩa đó! Cũng vậy thôi, nhưng nếu mỗi ngày, mỗi sớm mai thức giấc, biết mình còn sống, còn thở cái hơi thở kỳ diệu của kiếp người, của cuộc đời, được gặp mặt những người thân yêu, bằng hữu thì hạnh phúc biết bao nhiêu.”

Tuyển tập thơ, đúng như anh bảo, ít thôi, 29 bài, đúng điệu chuyện vãn.

Một Du Tử Lê rất khác, lạ. Một hơi thở cô liêu với rất nhiều hồi ức về những người thân yêu, bằng hữu. Khác, lạ: Thanh thản dầm mình trong cơn bạo bệnh để nghe và thấy rõ hơn vòng quay luân hồi của Sống-Chết.

chúng ta, những con ong:
hút mật vườn thế giới.
(rồi,) trở thành nhụy, hương:
- trả lại đời-sạch-sẽ!!!!!

người cho tôi-đời-sau
cách gì tôi đền, đáp?!?

Trả lại đời-sạch-sẽ. Nhẹ tênh nhưng nặng trĩu niềm tri ân!

…Tháp Trong Tim Bấc, Ngọn Nến, Cũ!?! Như kiểu hồn lìa khỏi xác, chập-chờn-tôi giữa sống/chết. Như kiểu nhục thân đã hắt hơi ngưng thở, hồn thoát ra nhìn lại hình hài nằm trơ vơ giữa khung cảnh thân yêu. Hồn nhìn, nghe, thấy, cảm nhận được hết:

tôi xỏ đôi tay thất lạc mình
trong tay áo / ngực nàng
rách bươm
nước mắt

buổi trưa
lũ cockatail xao xác
hỏi bầy cá koi
- vì sao bức tượng cuối vườn
bữa nay
bỗng dưng
rớt lệ?

Bức tượng cuối vườn rùng mình: “Giọt lệ hóa kiếp của ông đấy!”
Nhớ có lần, trước đây, anh bảo:

tôi muốn nhắc: niềm vui là nấm mộ/
chỉ nổi buồn mới thực của ta, riêng(*)

Một kiểu nói ngược đầy ẩn ý, để có cớ nói tiếp:

ta đi mấy kiếp còn trông lại
lồng lộng trần gian một cõi riêng(*)

Một Cõi-Người-Ta bi mẫn khôn nguôi!!!

Tôi đã đi quá xa rồi. Xin hãy trở lại tuyển tập, tiếp tục chuyện vãn.

Bài thơ có tên gọi chung cho tuyển tập, Lại Chuyện Vãn / (Lần Này, Ít Thôi) / Với Bệnh Ung Thư/, khung cảnh của một người tự dọn mình trước giờ lâm tử với những lời [gần như, đúng là, đích thị là] trối trăn bằng điệp ngữ Cám Ơn, trong đó, lặp lại nhiều nhất là cám ơn ung thư (5 lần – Không biết có trùng hợp với những lần “ăn nằm” với chemo và radiation???!!!) còn lại là cám ơn mọi điều, cám ơn trọn gói trước khi hắt hơi lần cuối, lìa đời.

Đây là bài thơ “dở” nhất trong tuyển tập! “Dở” nhất, nhưng cảm động nhất! Vì sao? Vì nó bộc lộ được hết hơi-thở-gấp của thi sĩ, đúng tâm trạng của thi sĩ. Bài thơ bất cần cấu trúc, cấu tứ, thi pháp gì ráo. Một Du Tử Lê khác, lạ, nhưng rất chân tình.

Tôi nhẫm lại trong trí nhớ, một trong những bài thơ đẹp nhất của anh cách nay trên bốn mươi năm, một khổ đầu trong Khúc Thêm Cho Huyền Châu:

hạnh phúc tôi từ những ngày con nước lớn
trời mưa mau tay vuốt mặt khôn cùng
bầy sẻ cũ hom hem chiều ngói xám
trời xanh xao chân nhỏ cũng không về
cây mộng nở từng ngón tay lá nõn
nôi tương tư cỏ ấm thịt da người…

…con dế nhỏ lớn lên đầm tiếng hát
khi đêm về ru giọng đớn đau hơn
cây niên thiếu cũng thui mầm trong sáng
lá oan khiên lả tả mái hiên người…(*)

Một Du Tử Lê lãng tử, bềnh bồng của ngày xưa. Anh có không ít những bài thơ tình đẹp thê thiết, áo não và những bài thơ đời ưu uất phận người, mệnh nước.

Và, giờ đây, một Du Tử Lê đang thọ bệnh ung thư. Những chuyện vãn trong những giây, phút, ngày, tháng thọ bệnh, thật ra, đáng quý biết bao nhiêu. Quả tình, anh phải hối hả trối trăn, vì biết đâu, như anh nói, đã từng nói chuyện với…ổng, Ông-Thần-Chết, và, nếu ổng thích quá, ổng rủ đi theo bất thình lình thì không kịp trối trăn. Ý là vậy!

Thơ-theo-kiểu-chuyện-vãn? Một cách để kéo dài thêm những đêm tận, khuya tận? Một cách để tự xoa dịu bớt nổi đau của thân bệnh, để tĩnh tâm, quán niệm theo cách thế của thi sĩ? Anh bảo, lại chuyện vãn…ít thôi, nhưng thật ra, phần lớn những bài thơ trong tuyển tập, là giọng thơ-theo-kiểu-chuyện-vãn, những con chữ, con âm rất đời thường, rất mộc, nhưng rất tươi cảm xúc, rất gợi tâm cảnh. Tôi đã dừng lại khá lâu ở một số bài: Như Con Dao Tự Hủy: Lưỡi Và, Cán, - Tôi Đã Đi Rất Xa (Cùng Thần Chết,) - Trả Lời # 1, # 2, # 3, # 4, # 5, # 6, # 7 –

Em Kỳ Quan Thứ Tám/Mây Phóng Sinh Lời Nguyền. Bài thơ cuối của tuyển tập, tôi dừng lại lâu nhất, xin trích một vài khổ, tôi cho là đắc nhất:

tóc che rừng mùa đông.
lá tận tình phát tán
những nụ hôn lao lung - -
trôi. nõn. vùng kết án.

treo ngược thời tiết xanh
người xững. im. cáo buộc.
tường trắng. đàn. giao tranh.
những ngọn đèn tự sát.

………………………

em: kỳ quan thứ tám.
bình-minh-chim thiếu đôi
lá xây đài kỷ niệm - -
giữa vườn khuya. biếc môi

……………………….

chúng ta ngoài khí quyển
tình yêu khuất nhân gian.
người hiệp thông tối / sáng.
mây phóng sinh lời nguyền.

………………………..

từng con chữ bước ra:
từ cõi tôi-bí-mật!.!

Một cách thế Du Tử Lê, khác, lạ. Bài thơ chưa [rất có thể là không] khép lại. Lời nguyền hay là lời tụng ca Cái-Đẹp-Vĩnh-Hằng của một nơi chốn khác, một “ảnh kép” của trần gian bất tuyệt, một khát vọng Ra-Đi-Từ-Chốn-Quay-Về? Hãy để những con chữ, con âm vọng lại hồi đáp. Hãy cầu mong Ông-Thần-Chết ngủ quên thật lâu, để thi sĩ được tiếp tục chuyện vãn trong những đêm tận. Khuya tận:

chào tuyệt tác / thiên nhiên / đừng lý giải
“- mất hay còn chưa hẳn khác nhau đâu.”


Quận Cam, Calif. Cuối Thu, 2008

Chú thích:
1. Hai tuyển tập thơ của Du Tử Lê vừa mới ấn hành:

- Mất Hay Còn. Chưa Hẳn Khác Nhau Đâu. Tuyển tập thơ thiền tính 3( 2004-2008). H.T. Productions ấn hành lần thứ nhất, tháng 6.2008, California, USA.

- Lại Chuyện Vãn/(Lần Này, Ít Thôi)/Với Bệnh Ung Thư/. Tuyển tập thơ (2005- 2008. H.T. Productions ấn hành lần thứ nhất, tháng 9.2008, California, USA.

2. Những câu thơ trích dẫn, chữ nghiêng trong mỗi phần của bài viết, từ hai tuyển tập nêu trên.

3. Những câu thơ trích dẫn, chữ nghiêng, có dấu (*), từ những bài thơ khác của Du Tử Lê, nằm ngoài hai tuyển tập nêu trên.

Nguyễn Lương Vỵ
















Điểm sách



22 Tản mạn của Võ Chân Cửu

Nguyễn Lương Vỵ



Sách mới


Đầu tháng 6/2013, Công ty TNHH sách Phương Nam, Sài Gòn in xong tập sách “22 Tản Mạn” của nhà thơ Võ Chân Cửu. Sách do NXB Hội Nhà văn xuất bản, in theo khổ 12x20cm, dày 216 trang, tranh bìa của Đinh Cường. Hình thức trình bày đẹp, trang nhã.

Nhà thơ Võ Chân Cửu sinh năm 1952 tại Qui Nhơn, Bình Định. Anh có thơ đăng báo khá sớm (từ 1965 trên các trang văn nghệ thiếu niên các nhật báo, và từ 1969 trên các tạp chí văn học nghệ thuật như: Bách Khoa, Tư Tưởng, Văn, Khởi Hành, Thời Tập…) Trước 1975, anh đã ấn hành 2 tập thơ: Tinh Sương, Đại Mộng. Năm 2011, NXB Thư Ấn Quán – New Jersey, Hoa Kỳ (do nhà văn Trần Hoài Thư chủ trương) đã in tập thơ Ngọn Gió với tựa đề Trước Sau. Tuyển tập này bao gồm những tác phẩm thơ sáng tác trước 1975 và một số sáng tác gần đây của Võ Chân Cửu. Những năm qua, Võ Chân Cửu tập trung viết tạp bút, phần lớn là những hồi ức ghi lại những sinh hoạt văn học nghệ thuật của miền Nam (1954-1975). 22 Tản Mạn “cho ta hình dung lại rất nhiều khuôn mặt thi ca của miền Nam. Có nhiều tác giả mà hiện nay với độc giả thế hệ 8X trở đi, hầu như không ai biết cả. Nó cho thấy sự phong phú trong sáng tác của các văn nghệ sĩ thời đó…”(trích lời bạt của nhà thơ Chu Ngạn Thư.)

Với tính nhạy cảm của một thi sĩ, với ký ức phong phú, kinh nghiệm sống dày dạn của một người luôn nặng tình với văn chương, bằng hữu, 22 Tản Mạn đã có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc bằng một giọng văn trầm tĩnh, giản dị nhưng vẫn sâu sắc, thấm đẫm chất văn học. Có những đoạn nhận định rất ngắn, rất cô đọng mang tính ẩn dụ khiến chúng ta phải ngậm ngùi khi nhìn lại một thời kỳ văn học nghệ thuật vô cùng phong phú, sinh động của miền Nam trước 1975: “Dưới dòng suối, những rễ cây vô tình ngoạm đá. Dâu biển tang thương, phá xong những cánh rừng, người ta moi đến gốc. Những rễ cây ôm đá qua các nhà sinh vật cảnh đã trở thành các món hàng vô giá. Dòng chảy 21 năm văn học miền Nam có thể sẽ được đào xới lên theo nhiều cách. Một nhà khoa học sinh học chăm băm vào các đề tài nghiên cứu, khi nhìn thấy các món sinh vật cảnh nầy quả quyết qua tháng năm, nó tích tụ nhiều chất phóng xạ; có loại đem chưng trong nhà sẽ rất độc hại. Cách nhìn duy vật thô sơ vẫn xem gỗ đá là những loài vô cơ. Cách nhìn mới cho rằng trong đó sự sống vẫn dịch chuyển. Có khi nó chứa đựng cả phần hồn. Thật vậy chăng?!”

Cách nói ví von trên ám chỉ về tình hình văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975 một cách khéo léo, bản lĩnh, ẩn chứa một mối tri tình nồng ấm, thật đáng trân trọng. Cây bút phê bình văn học Cao Huy Khanh rất quen thuộc với người Sài Gòn trước đây, trong bài tựa sách đã viết: “…Trong giới văn học Miền Nam từ trước 1975 đông hằng hà sa số vô thiên lủng. Từ các bậc lão trượng như Quách Tấn, Bùi Giáng, đến các bậc trung niên:Nguyễn Mộng Giác, Joseph Huỳnh Văn, Cung Tích Biền, Trần Tuấn Kiệt, Hoài Khanh, Nguyễn Đức Sơn…Rồi lớp bằng vai phải lứa Thế Vũ, Vũ Hữu Định, Lê Xuân Tiến, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Lương Vỵ, Thái Ngọc San, Phù Hư, Mường Mán, Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Miên Thảo, Từ Hoài Tấn, Từ Kế Tường, Phạm Chu Sa, Lê Nguyên Ngữ, Trần Dzạ lữ, Hoàng Ngọc Châu, Hồ Ngạc Ngữ, Đặng Tấn Tới, Nguyễn Đạt…

Cái danh sách còn dài này cho thấy tính quảng giao của Cửu “không bờ bến. Đẹp như kiếp bô-hê-miên”. Mà giới văn nhân thi sĩ này, trên chốn giang hồ “trường văn trận bút” thì ai cũng biết: trong ta bà thế giới, mỗi người một cá tính, mỗi người một phách, mỗi người là một quả núi, ít ai chịu ai. Thế nhưng Võ Chân Cửu có cái hay là chịu được tất cả. Và hầu như tất cả đều “chịu” anh. Ấy là bởi Cửu có tấm lòng đôn hậu, chân thật đối xử với mọi người tình nghĩa, bản chất hiền lành, như tự nhận mình vốn là người “dĩ hòa vi quý”…

Có lẽ đó cũng là lý do làm bạn đọc ở trong cũng như ngoài nước dễ cùng tác giả chia sẻ qua “22 Tản Mạn” !


California12-6/2013
Bạn đọc ở xa có thể liên lạc với Tổng Phát Hành PNC theo email sach@pnc.com.vn, hay điện thoại 091-489-1656.

Nguyễn Lương Vỵ










Nguyễn Lương Vỵ & Bùi Giáng






Hoàng Pháp & Nguyễn Lương Vỵ






Võ Chân Cửu & Nguyễn Lương Vỵ






Nguyễn Lương Vỵ, Viên Linh, Nguyễn Tôn Nhan






(Đứng) Phan Tấn Hải,
Nam Dao, Nguyễn Lương Vỵ






Nguyễn Miên Thảo & Nguyễn Lương Vỵ









Nguyễn Lương Vỵ & Phan Nguyên
Cali 2017





























Trở về







Chân Dung Văn Nghệ Sĩ

Danh Sách Tác Giả

Emprunt Empreinte














MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.