Saturday, 9 April 2011

Nam Dao






















Nam Dao

(1944 - ......) Nam Định
tên thật: Nguyễn Mạnh Hùng
Bút danh khác: Dã Tượng
Giáo sư Kinh tế học Đại học Laval, Canada.
Nhà văn. Nhà thơ
























                                                                                                                       
Xòe ra, mười ngón bàn tay
Bắt làm sao, thoáng
mây bay
cuối trời
25/11/2011















                                                                                                                        
Bụi trăm năm nổi gió một đời. 
Đá nghìn tuổi lửa bừng cõi tạm.
5/1999











Nguyên Giáo sư Kinh tế học Đại học Laval, Canada, giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Paris-Sorbonne, Paris 10, National Australian University, University of  New Southwales.
Ông đã công bố trên 40 công trình nghiên cứu trên những tờ báo chuyên ngành. 
Được giải nghiên cứu xuất sắc nhất của tờ Asian Pacific Economic Review năm 1999.
 Là thành viên Ban tuyển chọn của Hội Đồng Nghiên Cứu Khoa Học Nhân Văn của Canada về kinh tế học. 
Nam Dao làm thơ, viết văn và dịch sách.




*




"Viết là cách làm người của nhà văn. Viết không đơn giản là chuyện văn hay chữ tốt. Văn chương khác với son phấn. Khác với ánh đèn sân khấu của những màn kịch tung hô. Cái còn, đo bằng độ lắng của văn chương
ở chiều sâu tâm thức người đọc."

ND

















Bài viết mới nhất







Nam Dao NM Hung
22 November ·


49 ngày Võ Phiến vượt ngưỡng hư vô

Điện thư của một người quen ngày 28 tháng 9, tin báo: Võ Phiến đã đi rồi.
Nghe, lòng bồi hồi. Gọi phone hỏi, một câu thừa thãi: ông ấy 90, đi đâu ở tuổi gần đất xa trời.
Thì đi gần thôi chứ còn đi đâu bây giờ! Rõ hay, dớ dẩn...
Vượt ngưỡng hư vô, ai dám bảo là gần? Tôi nhủ, phải gọi cho chị Viễn Phố.
Chuông reng. Không ai bắt máy. Rõ hay, gia đình người ta tang ma, ai bắt máy nói chuyện ấu ơ chia buồn! Và lại, buồn thì chia thế nào được! Đâu có như vui, càng chia càng nhiều.
Đành nhờ bạn đến viếng thì thắp giùm cho một nén hương. Bạn ta thở ra dài thườn thượt. Tôi nuốt vào trong, choáng váng! Cái choáng váng khi chạm mặt đối diện hư vô dẫu chưa đến lượt mình.

&

Lửng lơ chẳng biết là đêm, là ngày. Nhớ Nguyễn Mộng Giác và những lần cùng anh đến chơi với Võ Phiến. Lần đầu, Giác gọi Võ Phiến bằng chú và xưng cháu. Mình thì cứ anh anh em em, thấy chướng nhưng lỡ thế, cho lỡ luôn. Thời đó là thời mới in ra 2 cuốn tiểu thuyết lịch sử Gió Lửa và Đất Trời. Giác chặc lưỡi. Anh từng bảo tôi bắt tiểu thuyết đèo bồng chuyện cực chẳng đặng, chuyện ‘’...tìm hiểu nguyên do của một mẫu hình văn hóa VN từng khiến dân tộc chúng ta liên miên chìm đắm trong nội chiến và bạo lực’’. Giác bình phẩm ‘’... Đó là những tư tưởng lớn, cao vọng lớn. Nhưng giao phó những cao vọng và tư tưởng lớn ấy cho tiểu thuyết, liệu có nặng nề lắm không, cho tiểu thuyết gia? Liệu có thích hợp không, cho thể loại tiểu thuyết? ‘’. Gợi lại vấn đề này, tôi vẫn hăng say khẳng định này nọ. Tôi say sưa nói về nhiệm vụ của chữ nghĩa, và con người như tác nhân chứ không chịu cam phận làm nạn nhân của lịch sử. Võ Phiến chỉ nghe, chỉ cười, cuối cùng hỏi một câu chẳng dính líu gì đến đề tài tiểu thuyết, lịch sử và tiểu thuyết lịch sử tôi đang huênh hoang thuyết giảng. Khi viết về đất nước quê hương, anh từ tốn nói, Nam Dao ít khi sa đà vào đời sống làng mạc và những con người bình thường, và vì thế nên người đọc khó có cảm tưởng là những chuyện có thật. Tôi đáp, xả lả, thì tiểu thuyết mà anh. Vừa dứt lời, tôi giật mình. Câu anh hỏi không thể trả lời quấy quá như thế được.
Hai ngày sau, tôi điện thoại cho anh. Tôi vừa đọc lại Tuyển Tập Võ Phiến, với những nhân vật ở quê anh sống và chết bi đát trong xã hội hỗn mang một cuộc nội chiến. Đó là những nhân vật “có thật”, và sức thuyết phục của chữ nghĩa cũng đến từ cái “thật” ấy. Thì ra, anh hay anh Giác là những nhà văn có quê hương trên đó những nhân vật có da có thịt từng sống và chết. Các anh đèo bồng thứ cội nguồn sâu thẳm, có đất, có người. Các anh viết, viết mãi về cái các anh sở hữu trong tâm hồn, như tiếng chuông leng keng trong một truyện ngắn của Võ Phiến, chuông kêu lên để nhắc nhở những cuộc dâu biển đổi dời. Có lẽ chính qua những con người có ‘’thật’’ trong một quê hương “thật”, các anh có thể viết về cái ‘’ thật’’ các anh có trong tâm hồn? Còn tôi, phải chăng tôi viết về một quê hương huyễn tưởng, thứ quê hương của đứa con lãng tử trên bước đi hoang chẳng có một ngày về?

&

Lục cuốn sổ tôi ghi lại trên những bước giang hồ, tôi tìm được một bức thư anh gửi sau chuyến hội ngộ với anh ở Cali. Nay, muốn xin phép anh để đăng lại, nhưng lược đi những cái tư riêng, và chỉ gợi lại những dính líu với cái hư vô mà trước sau ai cũng phải đối mặt. Tôi mạn phép, và mong anh lượng thứ :
Trích Thư Võ Phiến:
... Còn tôi ? ra sao? Mình mô tả chính mình, mình mà ‘‘nhận định’’ về mình? Lố lăng để đâu cho hết. Nhưng không thế thì phụ lòng anh. Anh cho sách, tôi đọc rồi thin thít là thế nào? Vả lại, sách của anh thật sự chấn động tôi, tại sao lại giấu giếm? Thôi, không giấu : đọc anh, tôi bất giác nghĩ về mình. Nhưng xin không dông dài : chỉ xin lôi nguyên con ra, trình anh.
Trình ngược : từ cuối đến đầu.
Cuối đời có mấy câu :
Mải miết ra đi, đâu tính đến
Đến nơi nào?
Bảy tám mươi năm rồi cũng đến
Đến rồi sao?
(11-1998)
Năm năm trước đó, nghĩ là sắp ‘‘đến’’, tôi kêu :
(...) Ngẩng mặt, mây bay trời bát ngát
Ta vỗ lên cái thi thể sắp lạnh của một đời người mà hát :
‘‘Thời gian ơi, thời gian’’
(8- 1993)
Không phải tới giai đoạn gần sụm mới não ruột thế. Năm 18 tuổi, tôi nghĩ về mình thuở lên bảy lên tám, sống lủi thủi bên cạnh ông bà nội già nua :
... Những buổi mai rực rỡ
Trời xanh nắng chan hòa
Nghiêng nghiêng vành tai nhỏ
Lắng tiếng gọi vu vơ
Tôi thương những đứa trẻ
Sống bên cạnh người già
Âm thầm như chiếc bóng
Ngày mù và sông xa
(1943)

Tiếng gọi vu vơ từ xa - rất xa - đứa bé đã nghe từ hồi 7, 8 tuổi!
Một bẩm chất hướng về hư vô ngay từ đầu, tôi chắc nó không hợp với anh. Nhưng tôi tiếp xúc với ( cái viết) anh lại không tránh khỏi náo nức.Tôi tự biết : rồi đâu lại vào đấy. Rồi tôi lại sẽ thu mình, cô độc, không bạn bè tri kỷ, không hoạt động giao du....
Tôi cảm tạ anh đã cho hưởng những giờ phút dấn thân sôi nổi vào thế cuộc. Tôi chắc chắn anh có bản lãnh, anh không nhiễm lạnh vì tôi. Nhưng tôi vẫn phải xin lỗi anh.
Thân kính
VP, quận Cam, 7-2006

&

Khoan nói về hư vô. Để tôi kể chuyện gặp lại anh 4 năm sau lần đầu. Dịp đó, Giác đau, không còn đi được với tôi đến thăm anh. Hôm trước, tôi cùng các anh Lữ Quỳnh, Thành Tôn… đến chơi với Giác. Gắng ngồi lên, Giác vui vẻ tiếp chuyện chúng tôi, và khi nói đến văn chương thì anh vẫn cứ sôi nổi trẻ trung. May, Giác có chị Diệu Chi bên cạnh, lúc nào cũng cao giọng cười như đùa nghịch bất chấp phần số ngặt nghèo. May, có thày Võ Thắng Tiết bên cạnh, đi ra đi vào làm bạn với Giác trong những phút giây bệnh tật.
Tròi vào xuân, mây lơ lửng trôi trong nắng rơi trên thế gian nhuộm lên vạn vật một màu vàng óng ả. Ra vườn ngồi với Võ Phiến, tôi kể dịp mới thăm Giác, nhưng anh chỉ im lặng thở dài. Chợt nhớ ra lời Giác kể là Võ Phiến rất kiệm lời khi nói về cái chung cục ắt rồi sẽ có trong mọi đời người. Chắc hẳn anh không tin vào luân hồi, vào kiếp sau. Và không cảm thấy sự liên tục của sống và chết, nỗi kinh hoàng trước cái ta gọi là hư vô làm sao tránh được.
Anh nhờ chị Viển Phố lấy cho anh tập sách đặt tên là Cuối Cùng anh mới cho in năm 2010. Anh ký tặng, miệng hỏi chị, Nam Dao hay Nam Giao, d trên hay gi dưới ? Chị cười, nói nhỏ ‘’ Ổng nay hơi lẫn rồi!’’. Thế đấy, nhưng ổng chưa lẫn đâu. Đọc 2 cuốn Bể Dâu tôi in năm 2007, anh hỏi : Cuộc Chiến Việt Nam là chi? Cuộc chiến chống Đế Quốc Mỹ? Hay một cuộc chiến ủy nhiệm giữa 2 phe, một bên là Tư Bản, bên kia là Cộng Sản? Hay chỉ là một cuộc nội chiến giữa người Việt? Tôi đáp, cả ba! Nhưng tôi có lẽ nhấn mạnh khía cạnh nội chiến, vì hai khía cạnh kia thì đã có văn chương ‘’ cách mạng’’ và văn chương ‘’ chống Cộng’’ rêu rao chán rồi! Khía cạnh nội chiến thì chẳng qua là sự tiêp nối oái oăm cùa lịch sử từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh. Không mổ xẻ để chữa trị cho lành thì vết xe cũ có thể lại lặp lại, máu người Việt lại đổ, và oán hận lại chồng chất…Anh hỏi, giọng rầu rầu, sau những cơn Bể Đâu thì ta liệu có hàn gắn với nhau được không? Câu tôi trả lời trong Bề Dâu là được, với điều kiện chúng ta hành xử với nhau như những con người vì con người và vì tương lai. Hóa giải hận thù là chuyện sống còn của cả một dân tộc đã oằn lưng ra gánh bao nhiêu oan khiên vì theo-chống, vì được-thua, vì còn-mất... Rồi hóa giải hận thù có xong thì ta mới nói được chuyện Hoà hợp Hoà giải dân tộc.

&

Hư vô anh viết trong thư có phải là Bản Thể và Hư Vô, tên tác phẩm triết học của J.P. Sartre? Hoặc giả hư vô là Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc. Hay Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị?
Cảm thấy hư vô có phải là khi trực giác chợt nhận ra đời sống không miên viễn, và sau cái sống thì chẳng thể hay biết nó là cái gì. Đây là trường hợp của những người không tin sau vật chất có linh hồn, sau đời sống có hoặc Thiên Đàng hoặc Địa Ngục, hoặc Niết Bàn hoặc những cõi u minh chập chùng Ngạ Quỉ. Câu hỏi thiết thân về cái đến sau đời sống không được đáp trả, hư vô xuất hiện, ám ảnh, đeo đuổi khiến mọi cuộc tồn sinh tự nó đèo bồng mầm mống của cái gì rất mỏng mảnh phù du, thậm chí vô lý vô nghĩa.
Tiếng gọi của hư vô - vu vơ từ xa - rất xa - cậu bé Đoàn Thế Nhơn đã nghe từ hồi 7, 8 tuổi. Trời cho cậu thứ trực giác bén nhậy: đó là một ân huệ trong cuộc sống, thứ ân huệ đã biến cậu thành nhà văn Võ Phiến. Nhưng cái gì cũng có mặt trái. Ân huệ kia hẳn cũng đèo bồng ý thức đau đớn về cái tạm bợ trong cái cõi ta bà này.
Anh Võ Phiến, vậy thì xin cầu chúc anh vĩnh hằng ở một cõi khác, nơi rồi ta sẽ lại gặp nhau, nơi khoa học vật lý gọi là hố đen (black hole), nơi năng lượng không còn, và mọi qui luật của những thế giới vật thể đều bị phủ định.
Thân kính,

Nam Dao
3-11-2015






















Trí thức làng Vũ Đại



Nam Dao









( nhân một cuộc lại luận bàn)



Thật khổ. Ngày Xuân, định hầu chuyện vui, nhưng chẳng được. Vì cái chuyện đang râm ran, chuyện trí thức làng Vũ Đại. Hẳn làng này nhiều người biết, có dịp tham quan, và đôi khi chuyện trò với những nhân vật làng. Nào Bá Kiến, nào Chí Phèo, nào Thị Nở. Nhưng ít người tiếp xúc với Mõ.



Mõ làng Vũ Đại trạc trung tuần, nhỏ thó, gầy guộc, nói thì nhướng mắt, vênh mặt, nhưng chỉ vì hai cái nỗi bẩm sinh. Một là mắt kém. Hai là thấp bé, không vênh mặt để người đối thoại thấy dung nhan mình thì bị kết là thiếu trung thực, thành khẩn. Mà vênh thì...Tai ương thế đó, ai bảo Tạo Hoá đã lỡ sinh ra một con người dị dạng, vừa xấu xí, vừa dễ bị hiểu lầm...Nhưng cái gì khiến Mõ liên quan đến Trí Thức. Và lại là tầng lớp trí thức thời hiện đại trong khi cái làng Vũ Đại có một Mõ vốn đã xa xưa. Làng xa xưa truyền thống khi nào cũng có nhân vật Mõ này, kể cả làng Vũ Đại do ông Nam Cao làm giấy khai sinh. Thêm dăm ba nhân vật cũng rất truyền thống: ông Xã, ông Lý và anh Trương tuần. Khỏi cần nói, họ đều có những liên hệ mật thiết với Bá Kiến.



Dân làng Vũ Đại hỏi, trí thức là gì? Làm gì? Ăn nói thưa gủi ra sao? Làng ta thật có một tầng lớp trí thức không? Tầng lớp này, nếu có, liệu có thể coi như là tầng lớp tinh hoa (intelligentsia) của làng không? Ôi thôi, những câu hỏi này sinh ra từ ‘’vấn nạn’’ truyền thông thời thế giới phằng phẳng. Châm ngòi là nhà văn Phạm thị Hoài [i], người đã từng gọi trí thức phò chính thống là trí thức quan văn. Thêm một lần, nhà văn lại sáng tạo ra cụm từ ‘’ đối lập trung thành’’, chỉ những người phản biện (nghĩa là nói ngược) trong những khuôn khổ không đụng đến cốt tủy sự tồn tại của tính thống soái chính trị nằm lù lù trong làng Vũ Đại. Nghĩa là chớ đụng đến quyền uy của bộ tứ Xã, Lý, Trương tuần và ( mới đây, nhất là) Bá Kiến. Ngày chưa xa lắm, có Mõ nhưng Mõ chỉ ú ớ rao lại những lời lẽ cấp trên thông qua, tên là nghị quyết. Hiện thời, bộ tứ ngày một hủ hóa, dân làng Vũ Đại rục rịch lời nọ tiếng kia. Không ai đến chặn họng, thì nói. Những người phản biện làm Mõ tân thời. Họ vạch ra những yếu kém trong Giáo dục, Y tế, Quản lý Tài Nguyên, Bảo vệ biên cương... Họ cũng nêu lên sự cần thiết của Tam quyền phân lập (mong chống tham nhũng!), sửa đổi Hiến Pháp, đòi quyền Tự do Ngôn luận và Tư tưởng. Những Mõ đảng viên ĐCSVN thì rụt rè ‘’xin’’ nới cho chút dân chủ nội bộ. Họ ở trong hệ thống, và nói cho chính xác, họ đề đạt những cải cách nhằm tân trang môi má cho hệ thống mỹ miều hơn.



Muốn thế, họ nói phải có lý luận. Lý luận cho sắc bén thuyết phục, họ phải có kiến thức. Mõ tân thời đi học, có kẻ có học hàm học vị, kiếm sống bằng ngành nghề chuyên môn. Có Mõ tự học, trau dồi kiến thức, và qua những thành tựu họ được dân làng trọng vọng gọi là nhà văn, nhà báo, nhà...nọ nhà kia. Nói chung, dân làng gọi họ là trí thức. Nhưng không phải là Mõ ắt ai cũng làm cái công việc phản biện mong góp phần vào việc lèo lái xã hội làng ta. Hơn kiến thức, họ phải có dũng khí nói lên điều có thể nói được trong những điều kiện o ép của một hiện thực ngặt nghèo. Bộ tam quyền hợp nhất Xã, Lý, Bá sẵn sàng dùng hèo anh Trương tuần để ổn định dư luận. Mõ nào ớn lạnh, trùm chăn, dân làng gọi là ông trí thức câm như hến im như thóc. Mõ nào còn hăng, phản biện nhằm hướng dẫn dư luận trong làng về những gì Mõ thấy hợp lý hơn, tốt đẹp hơn, làng Vũ Đại gọi họ là trí thức chịu chơi phản biện. Ngôn ngữ sang cả hơn, loại này là trí thức dấn thân, chữ của những J.P. Sartre, rồi N. Chomsky.... Kẻ trong nước, người hải ngoại, tầng lớp Mõ này mang đặc thù ‘’ ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng’’. Khi đi từ đầu làng đến cuối thôn rao và giảng, Mõ phản biện cẩn thận giới hạn lời lẽ mình trong cái khuôn cải lương cải cách, tránh không kêu dân làng làm cách mạng vùng lên và lật đổ bộ tứ quyền uy. Đối lập, dĩ nhiên tí ti. Nhưng để tồn tại, đành trung thành nháy nháy. Chiến thuật giai đoạn này khiến ông Bá, ông Lý không thể sai anh Trương ồ ạt xử dụng hèo ( tên mới là roi điện), chỉ đáp lại phản biện bằng sự im lặng khinh khi. ‘’Đối lập trung thành’’ như thế cũng nhục, nhưng không thể khác được. Và sự ‘’lạc quan vô tận’’, chữ của nhà văn Phạm thị Hoài, nếu có thì... đó chỉ là thuộc tính sìu sìu ển ển của một nền văn hóa ca ngợi dân làng Vũ Đại giẻo như tre yểu điệu múa may trong gió dữ. Ấy, nếu giẻo thế mà giữ được gốc thì ‘’cũng tốt thôi’’. Nhưng e đây mới chính là cái lạc quan tếu vô tận. Thượng bất chính, hạ tắc loạn. Cái gốc đạo lý đang bị đánh bật ra khỏi con người. Cứ đọc tin như học trò đánh thầy, con giết cha, mẹ mang con đi bán...thì ôi thôi!



Mới vừa rồi, lại thêm một cơn Tsunami trong tách trà Thiết quan âm. Số là GS kiệt xuất Ngô Bảo Châu [ii] cho là không có phản biện thì xã hội chết lâm sàng. Nhưng ông lại nêu vấn đề trách nhiệm của những phản biện với cộng đồng, và cảnh báo (?!) nguy cơ phong trào lạm dụng phản biện để được phong ‘’hàm’’ trí thức [iii]. Thế là cộng đồng Mõ rêu rao ‘’ con người tự do thành chú cừu thông thái’’, đưa ngay ông từ vị thế một nhà Toán học sáng láng ‘’ không có lề’’ sang chỗ chú cừu con ‘’lề phải ‘’. Kinh thật. Châm trích, chòng ghẹo, mạ lị...nhiều khi khó thật biết động cơ đằng sau. Nhưng hệ quả là Mõ làng ta nhộn nhạo, chia rẽ, khiến quyền bính đương ngự trị tha hồ vỗ tay khoái chí. Và dĩ nhiên, thế thì chẳng mấy vui buổi trời đất vào Xuân.



Bước khỏi vũng lầy làng Vũ Đại ngày đầu năm, cùng hướng mắt nhìn bốn biển trong ba năm qua thì, khổ thay, lắm chuyện trên thế giới này cũng cần phản biện. Môi trường bị hủy hoại, những tập đoàn tài chính Âu -Mỹ trở thành cướp ngày, tiếp nối mùa xuân Ả Rập có thể sẽ có một mùa đông Hồi giáo chính thống với khả năng Thánh chiến tạo đụng độ giữa những nền văn minh kiểu civilization clash theo Huntington, kinh tế toàn thế giới xuống dốc và, eo ôi, ông Trung Quốc đang hùng hổ dướn người bay lên như Rồng vẫy đuôi ngay cạnh Hữu Nghị quan, dương móng vờn cợt Biển Đông đổi tên thành biển Nam Hải...Kinh tế và chính trị toàn cầu, như chuyện làng Vũ Đại ta, cũng lại cần tái cấu trúc....Thôi, trí thức ở đâu phản biện ở đó, và xin chúng ta cùng hô ‘’ Mõ trên toàn thế giới nhỏ xíu phẳng phằng phăng này, hãy đoàn kết lại!’’. Hô như thế là hô cho cả Mõ làng Vũ Đại ta, quê hương Chí Phèo, Thị Nở, nơi có cái lò gạch cũ. Xin đạo văn [iv] ( trích và có bổ sung ):



Sáng tinh mơ, anh thả ống lươn nhặt được một đứa bé mới đẻ đùm trong cái váy đụp vứt ở lò gạch cũ. Anh đem về cho người đàn bà góa mù, bà này bán lại cho bác phó Cối. Bác cưu mang nó, đặt tên là Chí. Khi bác phó Cối chết, thằng bé bơ vơ, lớn lên như cây cỏ, và mãi năm 18 tuổi đi làm tá điền cho Bá Kiến. Vợ ba Bá Kiến bắt Chí xoa bụng đấm lưng... Bá Kiến ghen, lập mưu khiến một hôm Chí Phèo bị bắt giải lên huyện… Đi tù bảy, tám năm sau, Chí trở lại làng. Về hôm trước thì chiều hôm sau hắn xách vỏ chai đến thẳng nhà Bá Kiến gây sự. Xô xát với Lý Cường, hắn đập vỏ chai, rạch mặt kêu trời ăn vạ. Mấy hôm sau, Chí Phèo đốt quán bà bán rượu... Hắn mang theo một con dao nhọn đến đòi giết Cụ Bá để đi ở tù. Tránh né và rồi nói khích, cụ đã sai được Chí Phèo đến nhà đội Tảo đòi 50 đồng bạc nợ cho cụ. Chẳng phải đổ máu, hắn đã đòi được nợ đem về. Cụ Bá cho hắn 5 đồng và bán cho hắn 5 sào vườn ngoài bãi sông mới cắm thuế của một người làng. Hắn trở thành anh đầy tớ chân tay mới của Bá Kiến, chuyên đâm thuê chém mướn... Hắn đập đầu, rạch mặt, chửi bới, dọa nạt... trong lúc say rượu. Say mãi, say bí tỉ, hắn chửi trời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi con mẹ chết tiệt nào đẻ ra hắn cho hắn khổ... 



Tình cờ một đêm trăng, Chí Phèo lần vô nhà Tự Lãng, tên hoạn lợn kiêm nghề thầy cúng. Hai đứa uống hết 3 chai rượu. Hết rượu, Chí lảo đảo đi về lều. Hắn gặp Thị Nở đang há hốc mồm ngủ dưới trăng. Hắn ôm chầm lấy thị, ăn nằm với thị. Gần sáng Chí bị cảm, hắn được Thị Nở, người đàn bà xấu đến ma chê quỷ hờn cho ăn cháo hành. Cũng là lần đầu tiên hắn được ăn cháo do bàn tay một người đàn bà nấu cho. Hắn bâng khuâng nhớ lại một thời trai trẻ, những giấc mơ xưa, và hắn muốn cùng thị xe duyên. Chí Phèo thèm trở thành người lương thiện, vợ con đàng hoàng. Thị Nở xin phép bà cô lấy chồng nhưng bị bà xỉa xói. Thị ton ton chạy về trút giận dữ lên đầu người tình rồi bỏ đi. Chí Phèo ngẩn mặt , chạy theo Thị Nở. Hắn bị thị giúi cho ngã lăn xuống đất. Toan đập đầu ăn vạ nhưng hắn chưa thật say. Và hắn lại uống, uống thêm chai nữa, càng uống càng tỉnh. Hắn nay biết kẻ nào đã dồn hắn vào con đường bất lương. Đến nhà Bá Kiến với con dao ở thắt lưng, hắn đòi lại lương thiện. Chém chết Bá Kiến, hắn đâm cổ tự sát...



Truyện Chí Phèo của Nam Cao kết bằng hình ảnh Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng mình, và thoáng chợt thấy một cái lò gạch cũ bỏ hoang. 



Để đỡ bức xúc, mời các bạn thư giãn đọc postcript do tôi bịa ra, với lời xin nhà văn Nam Cao thứ cho cái tội lam nham cắt dán văn bản kiểu hậu hiện đại:



Thị Nở hạ sinh được một đứa con trai. Mặc dân làng Vũ Đại dè bỉu, thị nuôi con, bắt đi học. Trong chiến tranh, nó nhập ngũ, lên đến Thượng Tá rồi mới về hưu. Năm nào, cứ đến Tết, ông Thượng Tá lại dẫn vợ và một đứa con trai trạc mười ba mười bốn về thăm Thị Nở. Nay lưng còng, mặt mũi nhăn nheo, nhưng cụ Nở so ra trông còn đỡ xấu hơn thời con gái. Gia đình bốn người đi lại cái lò gạch cũ, cạnh đó là nơi xưa Thị Nỡ chôn cất Chí Phèo. Họ khệ nệ hương hoa, và bưng theo một chai rượu thật hoành tráng. Cụ Nở bảo đứa cháu:

Mộ ông mày đây, cúi xuống nhặt cỏ cho ông đi cháu!

Thôi bà ơi, cháu sợ rắn lắm...

Cháu không nghe thấy tiếng xe cào, xe ủi đất đang chạy rầm rầm kia à...Rắn nào còn dám ở đây!


Ông Thượng Tá nhìn quanh, hỏi:
Bu ơi, họ đền bù có khá không?
Tao nghe nói là dân khiếu nại lên đến Trung Ương nhưng chưa ăn thua gì. Ủy Ban ở đây họ đã làm hợp đồng xử dụng đất với một công ty bên Quảng Châu rồi, bảo là tình thế không đảo ngược được nữa, có ăn vạ thì cũng vậy. Bà cụ thở dài, mơ màng - ngày còn sống, ăn vạ là bố mày đập chai rượu lấy mảnh cào cho nát mặt ra mà cũng chẳng ăn thua gì...Những Bá Kiến với Lý Cường lúc nào cũng bình chân như vại thôi! Này cháu, nhặt cỏ với bà đi...

Thằng bé toe toét:
Nhặt thì bà thưởng cho cháu cái gì nào?
Mày muốn gì, cứ nói bà biết...
Cháu muốn một khẩu súng. Súng hoa cải [v], bà ạ!



ngày 2 Tết Nhâm Thìn



[iii] Từ trí thức này có nguồn gốc sâu xa, mời bạn tham khảo bài tiểu luận của Thái Kim Lan (2008)
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=3&News=36
[iv] http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%AD_Ph%C3%A8o
[v] Súng này trở thành nổi tiếng sau vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng.

































Tác Phẩm mới nhất:














Ghềnh V 
(tiểu thuyết, NXB Phương Nam, 2013)


































Tác phẩm đã in









(Tiểu thuyết lịch sử. Toàn tập 3 quyển)







Gió Lửa
















LỬA ĐÀNG NGOÀI








GIÓ ĐÀNG TRONG


























Đất Trời







































Bể Dâu
















I Chớp Bể













II Ba Đào











III Bờ Dâu











































Vu Quy 
(tiểu thuyết NXB Phương Nam)





































Tiếng Cồng 
(tiểu thuyết)





































(Nhà xuất bản Lao Động đã in TNS nhưng sau đó bị cấm phát hành)
















Trong Buốt Pha Lê 
(tập truyện ngắn)








































Trăng Thuê Ảo Ảnh 
(tập truyện ngắn)


















Khoảng Chơi Vơi 
(tập truyện ngắn)



































Và nhiều truyện ngắn khác đăng rải rác chưa in thành tập





















Kịch






































Những Con Người, Những Bóng Ma
tập hợp những bài viết :

Ngỡ ngàng, nước đục bụi trong…

Sau trăm năm, gạn đục và khơi trong không phải là chuyện của người đã nằm xuống.  Ở chốn về vĩnh cửu chỉ còn im lặng.  Trong và đục là chuyện nơi chốn trọ của những kẻ còn đang ở trọ. Là chuyện để nói với những lữ khách còn xuôi ngược bước trần gian.  Và trong trường hợp Trịnh Công Sơn, xin nói ngay, trong là bụi.  Ðục là nước.
Nước đục !
 Ghê rợn và kinh hoàng, đục ngầu một màu máu đỏ.  Ðau xót hơn, máu của anh, của em, của chị, của mẹ.  Có * người chết hai lần, thịt da nát tan +.  Trong * từng vùng thịt xương có mẹ có em, anh đã hát, tiếng hát đến thẳng từ trái tim. Giữa tiếng * đại bác đêm đêm dội về thành phố + và bên cạnh * người phu quét đường dừng chổi đứng nghe +, anh đã nhắc đến gia tài của mẹ.  Còn gì ?  *  Một bọn lai căng !  một lũ bội tình +.  Tôi có hỏi Sơn, Sơn không sợ à ?  Phản chiến giữa khi người ta hò hét đâm chém nhau là cách hành xử của một tên tử tội, nhát dao thường bổ xuống từ hai phía.  Sơn cười * ...lúc đó mình sẵn sàng.  Chết, như tự tử.  Nhưng rồi sống...  và bây giờ  chỉ muốn quên thời gian đó đi +.  Quên là quên cả những bài hát ?  Không !  Tôi thì không quên.  Lời  những bài trong * Ca khúc da vàng + là tiếng nói của lương tâm.  Trước cái chết của một người, kẻ còn sống động lòng thương thân.  Trước cái chết của một xã hội, thì thương mọi người để cất giọng tìm cách hồi sinh, bất kể thân thế của mình.  Giữa hai lằn đạn thuở đó, Sơn là một hạt bụi.  Một hạt bụi trong ngần.
Nước vẫn đục.  Sau 75, Sơn tiếp tục * ...đi về đâu hỡi em, khi trong lòng không chút nắng + và kể tâm sự những * cây cành, giờ giới nghiêm +.  Sơn nhớ.  Và với những kẻ lưu vong, Sơn hỏi * Em còn nhớ hay  quên ? + rồi dặn dò * Em ra đi, nơi này vẫn thế.  Vẫn có em, trong tim của mẹ... +.  Nơi này vẫn thế.  Thế là thế nào ?  Vẫn thế, là không đổi.  Không đổi được !  Ơ, chẳng nhẽ Cách Mạng rồi mà thế ư ?  Và Sơn lại có vấn đề.  Hỡi những ai đã ồn ào gọi Sơn bằng thằng khi anh đã nằm xuống, xin hãy nghĩ lại.

Nước vẫn cứ đục.  Sơn hát, * Sống có trăm năm, vui vui buồn buồn, người người ngợm ngợm +.  Chữ ngợm này có lẽ là chữ ngợm đầu tiên trong ca khúc Việt Nam.  Và nước đục, vì ngợm ?  Ðể  * sống chết trăm năm như thân cỏ hèn mọc đầy núi sông +.  Núi sông ở bản đầu, khi Sơn hát cho tôi nghe, lâu rồi.  Sau này, núi sông thành núi non.  Dĩ nhiên thế là nhẹ đi, nhẹ đi nhiều lắm...  Nhưng xin nói, Sơn không làm * chính trị +.  Anh hát điều anh cảm nhận.  Ở chỗ này, nhà chính trị thập thò nhìn người nghệ sĩ, nửa hoài nghi sợ sệt, nửa lại cơ hội đòi nắm bắt cái cảm nhận kia để dùng nó mà giữ ổn định.  Ở đây, ổn định đồng nghĩa với quyền lực của mình ( và phe phái ).
Người người ngợm ngợm !
 Cuối năm 98, tôi ở với Sơn một tối.  Sau khi cả hai chúng tôi từ chối dự một bữa cơm thân mật với * lãnh đạo +, có tiếng điện thoại.  Sơn bắt máy.  Tôi chỉ có thể kể những gì tai nghe.  Có một đoạn, Sơn nói * Thôi, mấy cái mẫu đất ấy dân người ta còn ở... +.  Im lặng ( không phải đầu dây bên kia im lặng ).  * Không anh, cám ơn anh...  Tôi không lấy đâu.  Tôi chẳng biết lấy đất làm gì cả +.  Im lặng ( không phải đầu dây bên kia im lặng ).  * Thôi...  ai lấy cứ lấy, anh cho ai thì cho... +.
Người không tham, nhưng ngợm ?  Người thì * ...đôi khi cho tôi tiếng nói vui tươi +.  Còn ngợm * ...cho tôi tiếng nói đôi khi ngậm ngùi... +.  Anh ngậm ngùi kể, lần đầu ra Hà Nội, anh có một buổi * thật vui + với Bùi Xuân Phái.  Hai người vẽ nhau trong một cuốn sổ tay thì phải.  Vẽ suốt đêm, và Phái tặng hết cho Sơn.  Bạn anh mượn.  Ai ?  Anh không kể tên.  Rồi có tiếng phao lên là anh định hiếp con gái bạn.  Sơn bảo, xì-căng-đan thế là nhằm xí xóa sạch.  Tập tranh Sơn - Phái hóa thành bụi, đòi không được !  Khi tôi nói * ...chắc là hiểu nhầm + thì Sơn thở dài * ...xin moa, moa cho.  Ðặt điều thì ... +.  Thuở đó, tranh Phái đang lên giá.  Một bức nhỏ bằng ba bàn tay cũng năm, bảy nghìn USD.  Tôi lại ba phải * ...tranh Phái giữ được không bán cho ba Tầu ở Singapore thì trong tay ai cũng thế ! +.  Lần này, Sơn cười, cười rất buồn. Nhưng Sơn im lặng.  Những bức tranh đó nay đâu ?  Trời biết !
Nói chuyện người.  Chênh chếch Vương Cung Thánh Ðường Sài Gòn cách đây trên hai mươi năm có một cô gái bán nước dừa.  Tôi có cái duyên ghé uống, vội đến háo hức lôi Sơn đi.  Cô ta độ đôi mươi, áo bà ba đen, quần cũng đen, chít một cái khăn rằn.  Dưới ánh nắng Sài Gòn, da cô rám hồng, cặp mắt thăm thăm màu nước, và trời ơi, trên mép cô những hạt li ti mồ hôi óng ánh kim cương.  Hai thằng điên đội trời nắng rát trầm trồ thì thào, trời ơi, đẹp quá, như phép lạ.  Rồi cứ dăm ba ngày, lại đúng giữa trưa, đến uống để ghé thăm những giọt mồ hôi bên trên cái khóe mép đã nhếch lên cười khi thấy khách không còn lạ mặt. Tôi bảo, để tôi làm quen nhé.  Sơn can, chớ, thế là quen rồi, từ xa thì giữ được cái đẹp. Từ xa là cái khoảng cách giữa những người đàn bà và Sơn.  Oái oăm thay, anh lại là tác giả một số lượng những tình khúc đẹp nhất trong âm nhạc của chúng ta.  Trong các tác phẩm đó, nhiều là chỉ có môi hôn ngọt, bờ vai nhỏ, ngón tay gầy... lãng đãng.  Những người tự nhận là người yêu (của) anh vênh vang giữ vẹn tiết trinh.  Ai lòng nào rêu rao buộc anh vào những thô bạo khó hiểu ?  Thôi, thây kệ !
Chuyện người đối với anh, trước hết là gia đình.  Anh yêu mẹ, như một đứa trẻ.  Có lần ở xa, anh thốt lên * ...moa nhớ mạ moa quá +.  Rồi anh cười khoe * ...mỗi khi làm xong một ca khúc, moa hát cho mạ moa nghe.  Cái mạ bảo được, thường là ai cũng thích.  Nếu không, moa sửa...  lắm khi bỏ luôn +.  Sau là các em anh, đặc biết với Vĩnh Trinh, anh cứ tội cô em nhỏ này sinh ra là mồ côi cha.  Cái tình anh san sẻ cho gia đình không nhỏ.  Em dâu em rể anh quí anh như ruột thịt.  Các cháu anh coi anh còn hơn cha.  Phải chăng * bống bồng, bống bồng ơi ! + là tiếng lòng anh đến con trẻ ?  Hồn nhiên, anh hát, vì thực sự anh vẫn giữ được trong sâu lắng con người anh tâm hồn một trẻ thơ.
Chuyện người với anh, sau gia đình là bè bạn.  Với bạn, Sơn chân tình và rộng lượng.  * Moa chơi với ai, là chỉ moa với người đó.  Dẫu có kẻ nói này nói nọ, moa cũng mặc...+  Nhà Sơn lúc nào cũng rầm rập khách.  Khách đến uống rượu của anh, lê la vài câu văn nghệ vui vẻ tìm chút tự tin.  Khách đến, khoe cái này, chê cái nọ.  Từ bốn phương. Từ Tây, từ Mỹ, từ Úc, Canada.  Rất ồn và hỗn tạp.  Nhưng bạn khác khách.  Cô bé người nhà tên Síu ê a * Cậu Sơn ơi... có cậâu...đến + chứ không phải, như khi gập người lạ mặt, nói máy móc  * ...dạ thưa, cậu Sơn con đi vắng ! +.  Nghe riết, một số chúng tôi  thành cậu tuốt.  Có cậu Cường.  Sơn có lẽ yêu nhất cậu.  Có một lần Sơn chép miệng * ...Nó tròn quá, đầy quá.  Chứ nó góc cạnh một chút thôi thì nó là grand maitre đấy ! +  Ê, Sơn!  Toa có thấy mấy bức họa vài năm sau này của Cường chưa ?  Góc cạnh đấy chứ ! Có cậu Quỳnh.  Cậu hiền lành nhỏ nhẹ hết lòng tận tụy với bạnï.  Có cậu Cung.  Cậu này là cái cậu kêu * ...ừ  thôi em về + để cậu Sơn phổ nhạc (có lẽ là lần duy nhất ?) . Cậu ăn lẻ được thì cậu lỉnh đi ăn một mình nhưng xong lại hồn nhiên kể lại.  Thỉnh thoảng vào chơi, có Bửu ý, người Sơn rất quí mến tin cậy.  Vài năm cuối, có cậu Quế.  Sơn nói với tôi * Toa bảo xừ lũy cho moa nghỉ, moa mệt lắm +.  Tôi biết là Quế yêu Sơn, lại rất dai sức, lúc nào cũng cặp kè chuyện thơ văn.  Nhưng đôi khi * yêu nhau lại chẳng bằng mười phụ nhau... +.
Và lần cuối gặp, tôi hiểu là Sơn đã rất mệt, mệt nhoài.  Thường Sơn ngồi trong ghế bành, mím miệng, mắt nhìn xuống đăm chiêu, có cái nét nghiêm nghị của một người kiệt sức.  Anh ngồi, ai muốn nói gì thì nói.  Anh có mặt, nhưng anh ở đâu ?  Những người khách quanh anh cứ thế, ô nhiễm ồn ào. Bạn anh, sợ khách, lảng và tìm những phút anh chỉ có một mình.  Hiếm hoi làm sao những phút ấy.  Hệ quả tất nhiên, anh cô đơn.
 Bấy giờ, muốn gặp Sơn như bạn thì không thể gặp ở nhà Sơn.  Tôi hẹn anh ở nhà Trần Long Ẩn.  Hôm đó, anh đi taxi lại, đầu chụp nón, dáng một  chàng đạo sĩ lênh khênh xuống núi.  Anh cười.  Chỉ có ba chúng tôi, anh lại hồn nhiên như ngày nào.  Sơn vui ra mặt, ăn được đến nửa bát phở ở cái quán nổi tiếng trong ngõ cạnh nhà Ẩn.  Bức tranh trên vách anh vẽ vợ Ẩn đẹp lạ lùng, là một bức vẽ dở.  Anh nói * Dở dang thế mà lại đẹp.  Nắn nót, đâm hỏng... +.  Một hai tiếng sau, Sơn nhìn giờ.  Anh bắt đầu cau có * Moa phải về, có tay X, việt kiều luật sư ở bên Mỹ nó hẹn.  Nó lo chuyện copyright cho moa... +.  Tôi can * ...thôi, lâu mới có một buổi sáng nhẹ thế này.  Toa gọi điện thoại hẹn lại... +.  Sơn ngần ngừ.  Rốt cuộc, anh vẫn về.  Mặt anh lại nghiêm, mắt đăm chiêu.  Chúng tôi đưa anh ra con lộ chính.  Người đạo sĩ vẫy taxi lên lại núi.  Cái núi cao kia thành nơi ồn ào danh lam thắng cảnh. Thành một địa điểm du lịch cấp cao.  Ôi hệ lụy !  Danh vọng dẫn nhau đến chỗ ấy sao ? Mệt ghê, mệt chết người.
Ngoài bạn bè, còn tình yêu trai - gái.  Tôi đã thấy nhiều người đàn bà yêu Sơn. Một người đã định làm vợ Sơn than * ....anh ấy yêu chai rượu hơn em ! +. Có kẻ đến từ ngoài khơi, ở đâu đất Phù Tang xa lắc, đeo đuổi đến cảm động.  Sơn nhận.  Và cái anh cho lại, hình như là cái gì khác với tình yêu.  Như anh - em. Ðôi khi như bè - bạn. Với Khánh Ly. Với Hòng Nhung. Có lẽ chỉ trừ một lần.  Anh đã sắm xe hơi và định lấy vợ thật.  Lần này, a ha, vui được rồi đây.  Nhưng không.  Mối tình đó vuột đi. Chuyện lại xảy ra hình như sau sự ra đi vĩnh viễn của mạ anh, và * có điều gì gần như niềm tuyệt vọng...+. Gần như thôi, chứ chưa phải là...Anh viết :
*....may thay trong cuộc đời này vừa có tình yêu vừa có tình bạn. Tình bạn thường có một khuôn mặt thật hơn tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quí hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không tái tạo được nữa +.
Ru tình à ơi !
Viết về Sơn, không thể không nói nghệ thuật Sơn.  Phần này, tôi nghĩ rằng nhiều người sẽ nói, còn nói.  Và đã có Ðặng Tiến, có Cao Huy Thuần.  Tôi có thêm thắt, cũng là thêm thắt thôi.  Với ca khúc, Sơn đi từ hình thức lãng mạn, sang siêu thực, mang mang chất Thiền để rồi cuối đời anh trở về với nỗi lòng anh một cách trực tiếp, giản đơn, không chút phù phiếm chữ nghĩa.  Bàn với nhau về thơ, cách đây đâu mười năm, Sơn chủ trương không chơi chữ, viết ngắn ( hai câu ), chỉ một hình ảnh để dẫn đường cho một tư  tưởng.  Ðó là những câu lục bát khi anh lang thang ở Paris, tôi giữ và đã trao lại Vĩnh Trinh.  Ðó là những câu lục bát khi anh lãng đãng ở Montréal. Anh không muốn * phổ biến +, anh cẩn thận, và anh không bao giờ nhận là nhà thơ.  Mặc dầu, có lẽ anh là một nhà thơ lớn.
Nhà thơ lớn ?  Là thế nào ?  Tôi có nói với Sơn về một số hình tượng trong ca khúc của anh, dẫu cùng một cung bậc rung, vẫn là những hình tượng mới so với thơ Ðường.  Nhưng ngoài hình tượng, còn ngôn ngữ.
·     Sơn là người đầu tiên nói với tôi rằng cách phân chia động, tĩnh, danh từ đều phần nào giả tạo.  Anh cố ý đảo, chẳng hạn như viết * em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh +. Bình minh không còn là danh từ mà thành tĩnh từ.
·     Anh thường sử dụng tính mơ hồ của ngôn ngữ, như * ru ta ngậm ngùi +.  Ta ngậm ngùi, hay ru ngậm ngùi ?  Cả hai.  Và mơ hồ nhân lên nhiều lần lượng thông tin trong ca từ Trịnh Công Sơn. Rất nhiều thí dụ như tôi vừa nêu ra. Anh giầu là vì vậy.
·     Sơn cũng là người có những cách ghép ngôn từ hết sức bất ngờ.  * Sóng lao xao bờ tôi... + chẳng hạn.  Sóng mà lao xao ?  Bờ, không phải bờ biển, bờ sông, bờ vực mà * bờ tôi +.  Hoặc * đêm gội mưa trong +. Ghép chữ độc đáo tạo ra những kết hợp hình ảnh rất lạ.  Như * Chim... ngậm hạt sương bay +. Như vuốt mái tóc bạc mà thành * chập chờn lau trắng trong tay +.  Hoặc những câu hỏi siêu hình, hỏi * ta xô biển lại, sóng về đâu ? +.
 Ðếm tên ca khúc, ta thấy có ru và tình.  Ru  ta ngậm ngùi.  Giọt lệ ru người.  Ru em.  Ru đời đã mất.  Ru em từng ngón xuân hồng.  Ru đời đi nhé.  Ru tình.  Tôi ru em ngủ.  Tình  thì bài nào cũng nhắc, nhưng tựa có Tình xót xa vừa.  Tự tình khúc.  Tình khúc  Ơ Bai.  Tình nhớ.  Tình xa, Tình sầu.  Tình yêu tìm  thấy...  Nếu chịu khó đếm từ trong toàn bộ trên tám trăm ca khúc Trịnh Công Sơn, có lẽ ở bài nào cũng có chữ tình.  Và về thân phận con người, rất nhiều hư vô, tuyệt vọng, tàn phai, mong manh...  Tám trăm ca khúc ?  Bỗng nhiên tôi muốn làm một so sánh ( mặc dầu thấy mình lố bịch ).  Với J Brel, G Brassen, với B. Dylan... Sơn của chúng ta có một độ dày so những kẻ * nòi tình + vừa kể trên.  Ðó, có lẽ vì Sơn trả giá để cho và chúng ta có cái may được nhận.
Hình tượng, ngôn từ...đến từ tài hoa. Ðiều kiện cần, nhưng chưa đủ để thành một nghệ sĩ lớn. Sơn lớn, theo tôi nghĩ, là vì Sơn dâng cả trái tim để vẫy gọi chúng ta, những con người.

Bụi trong ...

Trong 128 ca khúc in ở * Tuyển tập những bài ca không năm tháng + của Sơn, tự nhiên có những cái tựa rất lạ. * Bống không là bống +, * Bống bồng ơi + và *  Thuở bống là người +.  Trong ba ca khúc này, Bống ở nơi nao ?  Ði đâu mà vội ?  Là những câu hỏi đi hỏi lại...  Và ngỡ ngàng, * em đi bống về, em về bống đi +, * Tìm tình trong nắng. Em gặp cơn mưa.  Tìm tình giữa ngọ.  Buồn lưa thưa về +.  Rồi * ngày bống, mẹ bồng.  Nhẹ quá tơ tằm, lay nhẹ bống bồng bông + để kết cục * Ngày xưa ngần ngại, xõa tóc trên vai.  Hư vô bỗng về, câu thề đã bay +...  Tôi có cảm nghĩ Sơn hát bống bồng là hát cho riêng mình. Rất ngỡ ngàng, như trẻ thơ.

Ngỡ ngàng bởi nước đục, như chẳng thể khơi trong. Ngỡ ngàng, người với ngợm.  Ngỡ ngàng bởi mong manh.  Bởi chia ly, bởi phụ bạc.  Ngỡ ngàng, với vinh  quang tung hô, ca tụng trần trụi và những « cuộc đời hết sức ngây ngô».

Ngỡ ngàng, anh nhận.  Ngỡ ngàng, anh cho.  Phải nói Sơn cho rất nhiều.  Ngày Sơn chia tay đời, một người chị gái gọi cho tôi, bảo Sơn là người tình của cả triệu phụ nữ Việt Nam.  Khi hôn mê giữa dở dang, bội bạc, sống chết, họ lắng nghe lòng và rồi họ hát Trịnh Công Sơn.  Những tiếng hát về thân phậân.  Và về tình yêu. Nhưng dẫu ngỡ ngàng, Sơn không ngần ngại rủ chúng ta :
* Hãy yêu như đang sống và sống như đang yêu. Yêu để sự sống tồn tại và sống cho tình yêu có mặt +
Bởi thế, tôi xin với Tố Như  rộng lòng cho phép  đổi hai chữ lỡ làng của người thành ngỡ ngàng cho Sơn.  Và * còn hai con mắt +, tôi dành * một con khóc người +.  Con kia, để tôi còn nháy với hư vô, vì * bầy vạc ( í a ) bay qua, hát lời ( ối a ) mệnh bạc, từng giọt (í a) vô biên, trôi chìm ( ối à ) tiếng tăm +.
Sơn suốt một kiếp * ngỡ ngàng, nước đục bụi trong +.  Và chắc Tốâ Như cũng đồng tình với kẻ hậu sinh này rằng hạt bụi trong ngần kia, như một nghệ sĩ lớn, đã * trăm năm để một tấm lòng từ đây + Ðó là cách duy nhất , như Sơn từng hát, tạ ơn người tạ ơn đời.

Nam  Dao













































Phùng Cung, thơ và người



Kính viếng Phùng Cung và Phùng hà Phủ

Nam Dao





Năm 14 tuổi, tôi đọc Con Ngựa già của Chúa Trịnh. Đọc lén vì bản thảo nằm trong một cái tủ cha tôi khóa kỹ, thỉnh thoảng mở ra rồi thận trọng nhét vào một cái hồ sơ trên có đề chữ mật. Chữ này đầy mãnh lực, hấp dẫn đến đỗi quên ăn quên chơi ngay ở tuổi tôi đang lớn. Tôi đánh được chìa, mở tủ lấy hồ sơ, leo lên trần nhà. Ghé vào những khoảng sáng hắt qua kèo cột, tôi say sưa đọc, mồ hôi nhễ nhại trong cái hừng hực nóng của mùa hè Sài Gòn đổ lửa. Năm sau, cụ Hoàng văn Chí in Trăm Hoa đua nở trên đất Bắc. Tôi lại đọc lại, lần này đàng hoàng đọc. Nhưng tôi chưa thật hiểu thế nào là ẩn dụ, tuy bụng vẫn quặn thắt đau cái nỗi đau của con ngựa chiến đứt ruột chạy vòng cuối, cái vòng khốn nạn của thứ định mệnh oái oăm. 



*

Lần đầu tôi đọc Phùng Cung khi ông ta vừa 30 tuổi. Về Cải Cách Ruộng Đất, ông Võ Nguyên Giáp đã công khai nhận sai xót, và như một hình thức kỷ luật, ông Trường Chinh thôi chức Tổng Bí Thư Đảng Lao Động. Vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm đã yên ắng.Tuy thế, người ta vẫn xử lý nội bộ, định tội, bắt đi ‘’thực tế’’, bỏ tù và vô hiệu hóa những người dám đòi lại quyền lãnh đạo văn chương-nghệ thuật về tay chính những kẻ làm văn chương-nghệ thuật mà không chịu uốn cong ngòi bút phục vụ những tiêu chí thuần chính trị, những khẩu hiệu vô hồn, những ý đồ được khôn khéo che đậy bằng thứ ngôn từ uốn éo như rắn hổ mang chui ra từ những chiếc lồng khi nghe tiếng kèn phù thủy. Năm sau, tình hình miền Nam sôi sục. Những người tập kết xốn xang tung hô khẩu hiệu giải phóng miền Nam, bộ xe-pháo Duẩn-Thọ phất cờ, trong khi mâu thuẫn giữa Trung Quốc mao-ít và Liên Xô xét-lại đã hóa ra công khai. Với miền Nam, giải phóng thế nào đây? Chiến tranh cách mạng kiểu Bắc Kinh hay vận động chính trị trong bối cảnh chung sống hòa bình Mốt-cơ-va? Đột nhiên, cái gọi là «xét lại chống Đảng» được xì xào như một mối nguy cơ, và nhân đấy đám thân Tầu tiếp tục cuộc «chỉnh đốn tổ chức» đã phải bỏ lưng chừng trong đợt sửa sai Cải Cách Ruộng Đất. Những mối thâm thù lại có cơ tác quái, và mọi thứ bạo lực từ những động cơ ngu muội tô hồng bằng bạo lực Cách Mạng được xử dụng nhằm thanh trừng nội bộ, xoán chiếm quyền lực mông muội. Tiểu tư sản-trí thức thành thị- cái anh tạch tạch sè- thình lình thành đối tượng đấu tranh của giai cấp nông dân (được nâng cấp thành liên minh công-nông). Vào năm 1961, người ta bắt Phùng Cung khi chị Thoa- vợ anh- có 2 đứa con còn cắp nách.



Tại sao? 



*



Hơn bốn mươi năm sau khi đọc Con Ngựa già của Chúa Trịnh, đầu tôi vẫn cứ một câu tại sao? Phùng Cung xưa phụ trách nhà in, không ‘’chính trị’’ như Nguyễn Hữu Đang, uy tín như Phan Khôi, và cũng không là chiến tướng như những Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán…Trừ Đang và Thụy An, tất cả đều đi thực tế, một cách cải tạo không phải là gay gắt nhất. Sau thực tế thì về Hà Nôị nhưng bị treo bút, cô lập. Khổ nhất là bị cô lập, không ai dám ‘’dây với hủi’’, kể cả những người trong gia đình!

Năm 1999, tôi có dịp hỏi một nhân chứng ruột thịt của Phùng Cung. Con anh, là Phùng hà Phủ, đến thăm tôi vào dịp Giáng Sinh. Phủ kể, ‘’ …thời Cải Cách Ruộng Đất, ông nội cháu lo vì có thể bị qui là địa chủ cường hào, và quả là sau ông bị đấu tố rồi đưa lên giam trên Thái Nguyên. Bố cháu lên thăm, nhưng đến nơi thì mộ ông cháu mới đắp, trên chỉ có một ngọn sắn lá đã héo để đánh dấu, đất còn ướt…’’. Phủ châm thuốc lá, rít một hơi, thở dài ‘’ thế mà trước đó bố cháu cứ tin rằng có một bày con đi kháng chiến thì sẽ chẳng đến nỗi nào!’’. Nói qua quít để an ủi, tôi bâng quơ ‘’ chắc ông ấy hận lắm…’’. Cời thanh củi cho cháy bùng lên trong lò sưởi, Phủ khe khẽ lắc đầu. Lát sau, Phủ trầm ngâm ‘’ Bố cháu hận thì không, nhưng buồn thì có. Buồn đến độ bố cháu chẳng còn muốn gặp ai…Sau, bố cháu kể, oan thì có oan, sai thì có sai, nhưng thời đó chuyện ấy đầy rẫy, cải cách rồi sửa sai…’’. Nghe Phủ thì thào, tôi thốt nhiên chột dạ. Tôi nhớ đến lời những lãnh tụ nhắn nhủ, cứ vừa làm vừa học, rút kinh nghiệm, hễ thấy sai thì sửa. Trời ơi, nhưng sai mà gây ra án mạng, cướp sống những cuộc đời vùi vào ba tấc đất oan khiên mất rồi thì sửa làm sao? Nhưng sai mà phá tan nát cái cấu trúc cơ bản làng xã, kích thích lòng tham lam và hận thù khiến nhân nghĩa lộn lạo, thì sửa làm sao? 

Sửa thế nào được khi những con rắn giáo ba đầu sáu tay lẩn vào ước mơ và dùng ngôn từ để ngóc đầu nhe răng phun nọc!

*
Phùng Cung chỉ buồn? Anh tiếp tục công tác trong cơ quan hội Văn Nghệ. Đến khi Nhân Văn ra đời, anh đợi đến số 4, tháng 10, năm 1956 mới đưa in Con Ngựa già của Chúa Trịnh. ‘’ Thế thì 5 năm sau, tức vào năm 1961, người ta lại bắt bố cháu đi tù? Và tù liền 12 năm? Tại sao?’’

Phủ không trả lời, chỉ thở dài. Nhưng sao tôi nghe đâu đây như có tiếng ngựa hí? Không , ở xứ này giờ đây là mùa Đông, ngoài trời lạnh –20 độ C, nước chỉ dăm phút là đóng đá. Gió rít lên, lửa trong lò sưởi chập chờn, tuyết bay bám vào cửa kính vẽ mơ hồ những đoá hoa trước lúc hóa băng.

Tại sao?

Lại tiếng ngựa, nó hí, vó đạp lộp cộp xuống mặt đất co cứng. Con Kim Bông chăng? Chắc nó đang ‘’cao đầu phóng vĩ’’, cái thế con Thiên lý mã lệnh xông xáo trận mạc ven sông Gianh. Mà nào đâu sông Gianh, nay hòa bình lập lại rồi. Đây là Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Như vậy thì Kim Bông đang hàm ân thánh đế, ở mã đài, để bọn mã phu dăm bảy đứa chải bờm tỉa lông. Rồi một ngày:

‘’…khi mã phu buông tay; lạ lùng lắm, nó thấy hai vật gì to bằng cái lá đa che ngang hai bên mắt, khiến nó có thể nhìn thẳng phía trước mà thôi. Rồi mã phu đẩy nó lùi lại, đứng vào giữa hai càng gỗ sơn son thếp vàng. Ủa lạ quá chừng, những cái gì mà đẹp thế này? Ta sẽ làm gì đây? Nó rùng mình, thấy hãnh diện như được sống một kiếp sống khác, sung sướng hơn trước.
Bỗng dưng hai càng gỗ dúi mạnh một cái,cổ nó bệt xuống, miệng nó gần chạm đất, nó vừa ngóc được thì dây cương đã ghìm thẳng. Nó cất bước thấy nặng; cái nặng quái gở, như bóp nghẹt lấy cổ, có lúc bềnh bồng nhẹ đi một chút nhưng rồi gáy no càng như lún xuống…Khi nghe tiếng bánh xe nghiền trên mặt đá, nó mới biết là nó đang kéo xe cho Chúa.
Nó gục đầu xuống lủi thủi kéo chiếc xe qua sân, hai mắt lờ đờ nhìn thẳng, mỏi mệt, chán ngán…’’ 

(Trích Con Ngựa già của Chúa Trịnh)

Phủ tiếp, giọng trầm hẳn xuống, Bố cháu ra tù khi hai anh em cháu đâu mười một, mưòi hai. Một hôm, cả nhà cháu đi bộ trên lề phố Trần Hưng Đạo, khúc gần Bà Triệu, thì có tiếng gọi, Cung ơi, Cung. Mọi người quay lại. Bác Dần đứng lề bên kia vẫy. Bố cháu chưa kịp phản ứng thì mẹ cháu giằng lấy tay, miệng van vỉ, em lậy anh, đi thôi…Em và các con đã khổ lắm rồi…Đi thôi, anh ơi! Ra tù, bố cháu cách ly với bạn bè, chỉ chuyện áo cơm cũng đã khổ sở. Đập đinh, rồi làm bánh. Và khi có việc thì nề, mộc…Thế mà công an họ cứ đến ‘’làm việc’’, khủng bố tinh thần đến độ mẹ cháu bảo thà là ở trong tù còn hơn…

*
Tại sao? Hay là…

‘’ Nó gục đầu xuống lủi thủi kéo chiếc xe qua sân, hai mắt lờ đờ nhìn thẳng, mỏi mệt, chán ngán.

Nhưng chẳng bao lâu,những chậu thóc trộn mật vừa ngọt vưà bùi, những bó lá trúc quân tử vừa thơm vừa dòn sậm sựt đã cùng những buồn tủi sầu muộn, cùng những ước mơ trôi qua ruột, tống ra ngoài trả lại cho quá khứ. Con thiên lý dần dần quen với chức vị. Nó thấy mình phải phò Chúa đến hơi thở cuối cùng mới xứng danh Thiên lý mã’’ (Trích Con Ngựa già của Chúa Trịnh).

Chức vị nào trong Hội? Hội Nhà Văn hay liên hiệp hội Văn Học Nghệ Thuật? Ông Nguyễn đình Thi? Hay là ông Tố Hữu? Hay cả hai. Hoặc lại ông Tô Hoài, con dế mèn phiêu lưu nó phình to hơn chính người ông, như Phùng Cung từng nhắc lại sau này trong một truyện ngắn? Tôi không biết. Và nay, có những người đã nằm xuống. Nghĩa tử là nghĩa tận. Tôi chép bài thơ Bụi sao rơi, rất Phùng Cung, gửi viếng họ:

Đèn bên sông
Hay bụi – sao rơi
Mà hiu hắt cơ hồ muốn tắt
Có phải bóng hình người
Đã khuất
Mộng công hầu chưa đạt
Nay lại lần về mượn cửa
tái sinh.

*
Cơn bão tuyết đêm qua đánh tan những đám mây khiến sáng dậy mặt trời nở ra rực rỡ. Dưới ánh nắng tươi vàng, hai chú cháu đi dạo trên những con đường tuyết phủ trinh bạch, chưa một vết chân, chưa có gì thừa thãi, dẫu một lời, dẫu một hơi thở. Chúng tôi bước trong giấc mơ nguyên thủy, khi lời nói còn âm điệu tiếng chim ban sơ. Phủ ngừng chân, buột miệng ‘’ …tiếc là bố cháu chưa gặp chú !’’. Chép miệng, tôi ngần ngừ, duyên phận cả. Phủ kể, bố cháu một hôm nắm tay cháu, cao hứng đọc thơ cho cháu nghe. Bố bảo họ Phùng nhà ta chẳng có gì, chỉ có cái này, tay đưa cháu một tập bản thảo, toàn chữ là chữ. Cháu còn ngơ ngác thì bố cháu đập tay lên vai, cười, ‘’…có cái này là có đóng góp cho đời…Con phải biết hãnh diện! ‘’.

Tôi nói, Phủ nhớ, đọc một bài đi. Phủ rưng rưng :

…mồ hôi Mẹ
Tháng ngày đăm đăm nhỏ giọt
Con níu giọt mồ hôi
Đứng dậy làm người

Tôi lặng đi, lần đầu nhớ một người chưa gặp.

Lát sau, nhìn Phủ, máu mủ của cái con người ấy, tôi thành thực ‘’…Chú gặp bố cháu rồi đấy. Gặp ở cái thế Đứng. Đứng dậy làm người’’. Vừa dứt lời, tôi ứa nước mắt. Vâng, dẫu nước mắt là cái chẳng một ai dám tưởng mình có thừa!

*

Vào đầu thập niên 80 tôi có hỏi nhưng không một ai biết gì ngoài Con Ngựa già của Chúa Trịnh. Như vậy, chẳng phải những Truyện Ngắn viết từ 56 đến 59 nhưng không phổ biến đã là cái đẩy Phùng Cung vào cảnh tù tội. Thế thì Tại sao? Nói đến chức vị thôi, làm sao có thể gây thâm thù đến độ đày đọa nhau đến thế? Bỗng đâu tiếng chân ngựa lại chậm rãi lộp cộp. Có phảI vẫn Kim Bông, con ngựa Mã lệnh mang danh Thiên lý nay kéo xe…

‘’…Từ ngày vào phủ Chúa, lần đầu nó được đi ra ngoài. Nó ao ước thăm cảnh cũ. Xe ra khỏi phủ Chúa, bon bon trên con đường đất rộng thênh thang. Nhìn thẳng phía trước, nó lấy làm lạ, nó kêu í í trong cổ như tự hỏi ‘’ Làm sao con đường này ngày xưa rộng mà nay nhỏ bé như thế này!’’ Đi được một quãng nó nhìn lên phía trên, lại đứng tự hỏi : ‘’ Ô hay, ngôi chùa kia, ngày xưa rõ ràng nằm bên cạnh một quả đồi lớn, mà bây giờ quả đồi lại nhỏ bằng con đường ta đi là nghĩa làm sao? ‘’ Tất cả những cảnh vật trước mắt nó đều nhỏ lại, và thẳng tắp. Nó nhìn cánh đồng, cánh đồng cũng chỉ là một đường thẳng. Rồi cây cỏ, núi đồi cho đến mầu giời xanh cũng chỉ thu lại là một đường thẳng. Nó không ngờ hai chiếc lá đa che hai bên mắt chỉ cho nó nhìn được một chiều. ‘’

(Trích Con Ngựa già của Chúa Trịnh).

Anh Cung, chịu anh! Quả đồi cũng thẳng, mầu trời xanh cũng thẳng nốt, và tất cả đều nhỏ bé lại bằng con đường ta đi. Anh nói thế là chạm nọc rồi, và lại nói gần năm mươi năm trước như một lời tiên tri, ở thời điểm có kẻ lu loa rất ‘’khoa học’’ là có sức người sỏi đá cũng thành cơm!

Ôi cái thân trâu ngựa! Kim Bông hỡi Kim Bông! Con ngựa chiến đi kéo xe,

‘’ trước hơi thở cuối cùng, nó lấy hết sức tàn, ngóc đầu lên cao, co co hai chân trước, thẳng thẳng hai chân sau, chừng như cố để giữ lấy cái thế ’’cao đầu phóng vĩ ’’. ‘’
(Trích Con Ngựa già của Chúa Trịnh).

Cái thế đó còn gọi là cái thế có kẻ ao ước làm một tên hát rong, un chantre, mà Tố Hữu kể cho Phùng Quán nghe vào lúc thất thế cuối đời. Chantre, là kiểu Văn Cao gọi Trịnh Công Sơn. Và đến nay tôi vẫn chưa hình dung ra nổi sự tương đồng giữa Sơn và nguyên Ủy viên Bộ Chính Trị ĐCSVN Tố Hữu. Ô hay, tôi ơi, đừng tuyệt vọng!

*
Đến giữa những năm 90 người ta mới biết có Xem Đêm, và câu chuyện cảm động : Nguyễn Hữu Đang mang hết tiền dành dụm chắt bóp cùng Phùng Quán tìm cách in thơ Phùng Cung. Phủ nói, cháu có tâm nguyện in cho bố cháu một tuyển tập. Dẫu có đọc, nhưng đọc chút ít, tôi khuyên, thơ không cần nhiều, nhưng phải hay. Một đời thơ chỉ 5,10 bài là đủ. Phải đến khi Phủ chuyển cho tôi, tôi mới biết dòng thơ Phùng Cung có cái chất long lanh của những hạt sương đậu trên cánh lá non xanh một sáng tinh mơ của vạn vật. Mời nhau cùng nghe:

Lá súng lát mặt ao
đốm ngọc
Con sộp phàm vồ hão
Bóng hoa lay
Lá tre rụng
Nhuộm hoàng hôn đỏ gạch
Tiếng cuốc bèo da diết
Gọi Ngày Mai

Đố con sộp là con gì? Tôi mở Từ Điển Tiếng Việt do Trung Tâm Ngôn Ngữ ở Hà Nội in năm 1992, nguyên Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Phạm Văn Đồng có viết tay trân trọng giới thiệu, là quyển từ điển đầu tiên ở nước ta do một tập thể cán bộ ngôn ngữ học biên soạn trên cơ sở tư liệu tương đối đầy đủ. Tra xem sao :

Sộp (kng.) Sang, tỏ ra nhiều tiền và hào phóng. Khách sộp, Vớ được món sộp.

Thế thì con sộp là cái quái gì? Từ điển im như hến. Vậy xin mách, sộp, danh từ, là một loại cá sống trong ao. Còn phàm. Dễ thôi. Con Mực phàm ăn vồ hão cục xương. Nhà thơ phàm danh vồ hão những con chữ trống trơn. Thế mà sao Nhà Nước ta không mời Phùng Cung vào làm Từ Điển nhỉ? 

Nhưng thôi, cho tôi quay về với thơ, không chơi trò chiết tự nữa. Đầu tiên, phải nể cái kho chữ Phùng Cung. Chữ thôn dã, nhưng anh nâng lên thành một vẻ đẹp hồn nhiên, chẳng khác cái duyên thầm không tô son điểm phấn, mà sao nét cười quanh vành nón cứ vấn víu lòng ai. Xin kể : Đêm về khuya. Trăng ngả màu thiên lý. Tiếng gọi đò. Căng chỉ sang sông . Hay là Gió bạc cánh. Chưa hết vòng kim cổ. Làng cách làng. Từng quãng – phong dao. Hoặc Chó sủa làng xa. Sủa hơn xóc ốc. Sáo diều ai hóc – gió ven sông. Quay lại cấu trúc thơ, dẫu câu có cắt ra 3 hay 4 chữ, ta vẫn dễ dàng nhận ra gốc gác Đường thi. Nhưng trong thơ Phùng Cung, ngôn ngữ và hình ảnh thuần ca dao, nâng cái đẹp chân quê lên mức hết sức trang trọng với mặt ao đốm ngọc, hoàng hôn đỏ gạch. Và không chỉ có cái đẹp hình thức, nhà thơ đột nhiên để tiếng cuốc bèo da diết gọi Ngày Mai nói thay cho lòng mình, tức là chuyển đi cái nội dung mà thơ hay văn, bất kể hình thức nào, cũng cần có để sống còn với thời gian.

Anh Cung, tiếng cuốc trong thơ anh chắc cũng đau đáu cái nỗi đau con quốc quốc của Bà Huyện Thanh Quan. Nhưng chỗ tụ lửa trong tâm hồn anh, tôi đồ, vẫn là Ngày Mai anh viết hoa. Và anh vẫy gọi. Da diết gọi.

Nhưng Ngày Mai ở đâu? Và bao giờ, hở anh?

*
Lần cuối về Hà Nội, tôi đến thăm anh Hoàng Cầm và báo tin Phùng hà Phủ đã qua đời. Phủ đi làm về, ghé quán bia với bạn, bỗng ngật người đi hôn mê, đưa vào cấp cứu nhưng không qua được bàn tay tử thần. Rủ nhau xuống chia buồn với chị Thoa, nhưng mấy ngày sau anh Cầm lại bị ngã gẫy xương chậu, nằm bẹp. Thế là chịu. Thôi thì cứ ngày ngày đến chia sẻ với anh Cầm, mong anh có được chút niềm vui trong những ngày nằm bệnh. Chuyện trò, anh lại kể. Con người Phùng Cung là một con người của những thái cực. Xưa, Trần Dần nhận biết anh ấy là loại tử vì đạo, im lặng thì có nhưng đầu hàng thì không. Một vai, anh ấy âm thầm gánh cái nặng của anh em, giọng ‘’kiểm thảo’’ vẫn cứ ngoan cố lửng lơ, đúng là theo kiểu cao dầu phóng vĩ của một con ngựa chiến không chịu thành gia súc cho nhà Chúa. Khi anh ấy bị đưa đi quản thúc trên Bất Bạt, chị Thoa lên thăm nuôi, nhưng anh ấy nhất định không nhận chị Thoa là vợ, không cho nhìn mặt, trả lại tiếp tế và khăng khăng một mực là mình không còn liên hệ gì với thế giới bên ngoài. Lần đầu, chị khóc sướt mướt. Đành về, rồi ít lâu sau chị lại lên. Anh Cung vẫn thế. Quản giáo vặn, lý lịch anh khai là đã kết hôn, thế là khai man. Anh đáp, thời ấy Đảng không đồng ý cho tôi lấy vì cô ấy thuộc giai cấp phong kiến, mà tôi thì mê mẩn, mất lập trường giai cấp. Nay tôi tỉnh ngộ, nhận có chung sống ngày trước, nhưng từ bây giờ tôi xin chấp hành…Thế thì anh lợi dụng hủ hóa, thêm một tội, quản giáo gằn giọng. Ừ thì thêm một tội. Thêm một chứ mười tôi cũng chịu…Chị Thoa lại về, để tiếp tế lại chia chác cho anh em tù. Và chị cứ lên. Anh tiếp tục ruồng rẫy. Ba lần, bốn lần…

Tôi thở dài, có lẽ là anh Cung mong chị quên anh ấy đi, chứ đã mang cái án miệng là phản động, là chống Đảng, bôi bác lãnh đạo như anh ấy thì biết ngày nào ra! Vả lại, chị Thoa khi ấy còn trẻ…Anh Cầm chép miệng, chắc vậy! Nhưng chị Thoa vẫn cứ đều đặn lên thăm nuôi, cho đến một ngày, hơn hai năm sau, hai vợ chồng mới lại nhìn lại nhau…Và chị Thoa sống cảnh chia ly như vậy suốt 12 năm đằng đẵng! 

Tại sao? Tôi muốn hỏi lại, một lần cuối, tại sao? Đọc Xem Đêm, tôi nói với anh Cầm, tôi chưa hề thấy Phùng Cung mang thù hận vào thơ. Anh buồn và xót xa. Nhưng anh vẫn nhân hậu. Anh vẫn trong trẻo. Thậm chí độ lượng. Anh Cầm giơ tay xoa mặt, mắt đờ đẫn nhìn vào khoảng không choãi về phía nơi quá khứ còn nương náu. Tại sao ư? Đó là câu chuyện của những con ngựa cung đình. Chúng không thể để dăm con ngựa chiến tồn tại để phủ nhận chính chúng. Còn Vua Chúa, thói thường là họ yên tâm với những con ngựa đã thuần, leo lên lưng, ra roi, nắm bờm và chờ tiếng hí đã rập khuôn rắp mẫu. Nhưng có hoạn nạn, anh Cầm cao giọng, thì Cung nó mới có thơ hay như vậy! Anh cười, thế là bội thu đấy. Anh tiếp tục cười, nhưng tôi nghe có gì như tiếng nấc ừng ực…

*
Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều, thực lòng tôi chưa bao giờ quan tâm đến cái thuyết Tài Mệnh tương đố, bảo Cung có tài nên trời xanh ghen với má hồng đánh ghen. Tôi cho rằng Phùng Cung trả giá chẳng phải vì anh thâm thù chuyện cha anh bị đấu tố mà hóa ra ‘’chống phá Cách Mạng’’. Tôi tin Phùng Cung trả giá chỉ vì anh níu giọt mồ hôi Mẹ, đứng dậy Làm Người. Và ở cái tư thế làm người, anh không muốn nhìn một chiều kiểu con ngựa cung đình có hai chiếc lá chắn che mắt, chỉ thấy con đường ta đi nhỏ bé trước mặt, thẳng tắp cho đến độ màu xanh da trời cũng thẳng. Vì thế, anh không đành tâm để Vua Chúa cưỡi lên lưng khiến anh làm con ngựa tôi đòi. Anh chẳng thể cuống cuồng nhai danh vọng trộn với thóc và mật ngọt trước khi chạy những vòng đua nịnh hót. Và anh lại chẳng như Hữu Loan xuôi ra Thanh Hóa, như Nguyên Hồng bỏ lên Bắc Giang, đi cho khuất mắt những con ngựa cung đình rắp ranh bổng lộc. Anh sờ sờ ở Hà Nội, nơi ngựa cung đình nhởn nhơ nhưng chưa an tâm. Đợi dịp, chúng xúm lại, hóa thân thành giống biết sủa biết cắn và biết đẩy anh vào cái thân phận tội đồ.

Trong tù, anh chỉ còn thơ. Và trăng.

Trăng qua song sắt
Trăng thăm ngục
Bỗng ta chợt tỉnh
Sững sờ
Trên vai áo tù
Trăng vá lụa
Ngày xưa ơi!
Xa mãi đến bao giờ.

Ra tù sau 12 năm, giam ở Hỏa Lò, rồi Bất Bạt,Yên Bình, Phong Quang, anh còn gia đình. Và bè bạn. Và nhất là anh có một Di cảo Thơ-Văn anh đã dặn dò Phủ ‘’…Có cái này là có đóng góp cho đời…Con phải biết hãnh diện!’’.

Không phải chỉ có Phủ hãnh diện, những ai theo gót anh cũng hãnh diện, anh Cung ạ! Cuốn sách Phùng Cung 11 Truyện Ngắn Tập thơ Trăng Ngục Thơ Xem Đêm được in và phát hành ở hải ngoại chẳng phải là cách tưởng niệm anh, một nhà văn ở cái nghĩa đúng nhất, hay sao.



Nam Dao
15-06-2004




























Bút ký

Nam Dao







Bác Nguyễn







1



Chợp mắt, đã đâu đó đúng 18 năm, thưa bác. Đấy là kể từ cái ngày bác nhắm mắt, và thôi chẳng mở ra một lần để tiếp tục nhìn gió. Và cát. Và những hạt bụi một thời. Những hạt bụi bay vào làm cộm mắt, nước chảy, cứ như khóc, tay đưa lên quệt cho nó chảy vào trong theo kiểu nói của Văn Cao. Nuốt nước mắt, a cái ngôn ngữ tuyệt vời ông cha để lại. Nhưng Giời ơi, ai lại khéo dư nước mắt, thưa bác! Ấy thế mà khi nghe cái tin bác lẳng lặng ra đi, kẻ tiểu tử này, theo cung cách xưa, cũng đã ngậm ngùi rơi lệ. Vào một cái quán rượu trên Avenue du Parc ở Montreal, hắn ngồi một mình, uống liên miên, rồi động lòng khóc hu hu trong một cái góc khuất. Cho đến nay, hắn vẫn còn tự hỏi, hắn khóc cho một người tài hoa vừa vượt cái biên hữu hạn, di tản khỏi cuộc thế chẳng mấy vui, hay hắn khóc vì thương thân mình? Hắn nghĩ đến Một trăm cách cười rất Nguyễn Tuân, kê giấy viết thành một trăm cách khóc. Thưa bác, tiểu tử này đã tìm ra đủ số trăm để phúng viếng. Khóc rưng rức, tỉ tê, tức tưởi, khóc trong lòng, khóc ủ ê, ti tỉ, rấm rứt, i ỉ, ấm ức, khóc gào, khóc toáng, khóc thét...Nhưng thảm nhất, là khóc như cười. Thanh âm ằng ặc, như bị chẹn họng khiến khóc thành cười, không mấy ai phân biệt được trừ người khóc.



2



Thuở thiếu thời, tôi đã biết bác Nguyễn không chỉ qua Vang Bóng Một Thời , Mái Tóc Chị Hoài, hay Chùa Đàn, mà còn những dịp cha hoặc mẹ nuôi tôi chuyện trò nhắc lại dăm ba kỷ niệm có cái tên nghe rất xa xôi là kỷ niệm ngoài Bắc của đám Bắc Kỳ di cư 54. Cha nuôi tôi, vốn là bạn thân bác Nguyễn, kể ‘’... bác ấy dẫn mẹ mày đi bắt tao ở chỗ hút thuốc phiện, nhưng đứng trốn đằng xa. Khi tao biết, tao chỉ tay bảo, lần sau thì ông giết mày, bác ấy chỉ cười hề hề!’’. Còn mẹ nuôi tôi, là chị dâu của bà giáo Thảo, tức Bồ phu nhân, và chính là chị Hoài có mái tóc đi vào văn học sử qua cái ngòi bút chao ôi đến là tài tình của bác Nguyễn. Phu nhân khiến tôi không hiểu sao cứ mường tượng ra Dương Quí Phi, cao lớn nhưng thướt tha, răng đen chứ không chịu cạo trắng mặc dầu rất tân thời, và có cái cười má lúm đồng tiền nghiêng thành đổ nước. Dĩ nhiên, ai mà biết được mặt giai nhân trong huyền thoại, rồi thành có đổ nước có nghiêng thì cũng vì các vị tu mi chẳng qua là loại anh hùng bất quá mỹ nhân quan. Ôi, tôi dễ thông cảm, và vô cùng thông cảm các vị. Tôi không anh hùng mà cũng thế!



Về Sài Gòn sau 14 năm xa cách, tôi sao vẫn thấy có điều gì hình như là thê lương mặc dầu nắng vẫn thế, nóng rừng rực, ập xuống từ trời cao và xanh. Ngay cả với những người ruột thịt, một khoảng cách vô hình nào đó ngăn không cho vượt qua. Đứa con đi hoang trở về như đứa a tòng với những kẻ chiến thắng, buộc một thành phố vào cái cảnh bị chiếm đóng, tà áo dài đủ mầu đủ sắc thướt tha vờn gió mới ngày nào đâm phạm tội Mỹ-Ngụy và nay được thay bằng đồ bộ, áo ngắn trắng quần bà ba đen, đồng phục một thời hộ khẩu thành nếp mới với sổ gạo, sổ đường... và những buổi họp lúc tối trời với ủy ban nhân dân phường để nghe phổ biến chính sách xây dựng xã hội XHCN. Bây giờ, làm thế nào đây để lấp cái khoảng cách kia? Nghe và hùa theo những than vãn? Vô ích, đã không thay đổi được gì mà e chừng có ngày còn vạ miệng! Vả lại, đó là những ngày đầu một cuộc đổi đời, chiến tranh đã chấm dứt, chính mình đây cũng đang mơ một bình minh tươi đẹp, đặt bước trở lại quê hương là mong góp tay vào xây dựng lại, không thể nâng tầm những sự ma xát giao thời lên mức sống còn. Nhưng phải chinh phục lại tình ruột thịt máu mủ thôi. Hãy bắt đầu bằng biến mọi sự thể giao thời thành chuyện tiếu lâm. Và tôi đã chọc cười, mua vui, làm cho ai nấy thấy nhẹ đi. Và mong là hiểu dẫu tôi không nói nên lời, tôi đâu có được là tên VC đeo trên cành đu đủ nhe răng ra cắn cấu cuộc đời.



Những người thân bị cái cười chặn lại, không nói được cái chuyện độc nhất ám ảnh là ra đi. Ông anh con chú con bác với tôi có lẽ được nhắn nhủ, yêu cầu cho nói chuyện riêng, chuyện đứng đắn. Anh rủ tôi lên sân thượng. Nhìn qua phía bên kia là nhà ga xe lửa trước khi bị phá đi để xây công viên hiện nay, anh thình lình ôm lấy tôi khóc rú lên, nghẹn ngào ‘’ ...chú ơi, chú làm sao thì làm, mang gia đình đi đi, báo hiếu ông bà...’’. À, chuyện đứng đắn là thế. Tôi đẩy nhẹ anh ra, nhìn vào cái mặt mếu máo nhưng trên không có giọt nước mắt nào. Muốn cười, nhưng tôi không cười được, chỉ ngại ngùng nói nhỏ, nhưng nói thật, ‘’...thưa anh, em có quyền hành gì đâu!’’. Nhưng thật kỳ lạ, một người duy nhất hiểu được tấm lòng tôi là một người đàn bà. Bà ít, hay có thể chưa bao giờ, cắp sách đến trường. Nhưng bà có một trí nhớ tuyệt vời, thơ văn thuộc làu làu, chẳng phải thơ cổ thời cụ Chu Mạnh Trinh vốn là hàng ông phía bên ngoại của bà, mà cả thơ tiền chiến, nào Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Đoàn Phú Tứ...Bà là mẹ nuôi tôi, tính khí rất ‘’ đàn ông’’, góp chuyện ngang hàng với đám tao nhân mặc khách của cha nuôi tôi, nên học kiểu truyền khẩu rất nhiều, và vanh vách kể những thứ giai thoại làng văn chỉ người trong ‘’cuộc’’ mới biết. Trong khi cha nuôi tôi cứ nắm tay tôi cấu, cái cấu vừa có niềm bực dọc nhưng lại đầy xót thương, và dặn tôi phải cẩn thận thì bà lẳng lặng quan sát, và một hôm, thình lình bà nói lớn, ‘’ tao hiểu mày rồi!’’. Hiểu thế nào, tôi đang ngơ ngẩn, thì bà phá lên cười, cái cười có chất đồng bóng, tiếp ‘’... con ạ! Mày là cái thằng Kiều Phong ấy mà’’ . Ơ, Kiều Phong, hắn là ai? Tôi hỏi, bà đáp, thì cái thằng rợ trong Lục Mạch Thần Kiếm ấy mà! Phải nói khi ấy kiến thức ‘’chưởng’’ tôi chẳng có gì, và vài năm sau tôi mới biết Kiều Phong họ Tiêu, con Tiêu Viễn Sơn, người cao lớn, râu rậm, võ giỏi nhưng nhân hậu, chết vì đứng làm con đệm hòa giải giữa võ lâm Trung Thổ và các hiệp khách gốc Khất Đan. Tôi nhỏ con, vốn là nhát, không có (hay nói cho sang, ít) râu, chưa muốn chết nên chỉ xin hai chữ nhân hậu, nhưng thế mới khó, nhận chỉ sợ mình lại hợm mình.

Ở Sài Gòn được vài ngày, Kiều Phong đi Hà Nội dự Hội Nghị Toán Học Toàn Quốc năm 1977, và trước khi lên đường thì cha mẹ nuôi đã sửa soạn một gói quà nhỏ, dặn con đến thăm hai bác hộ chúng tao. Cha nuôi tôi viết vài chữ cho Nguyễn Tuân, thì cũng lại những nhung nhớ, những kỷ niệm...Phần tôi, có cái gì như một vinh hạnh. Chưởng tôi chưa đọc, nhưng văn bác Nguyễn vừa ngông nghênh, vừa tài tử, lại vừa nhuốm mùi khinh bạc thì Kiều Phong đã thưởng ngoạn rồi.

3

Hà Nội vào độ nồm, oi ả khó mà tưởng tượng được. Trời hầm hập chĩu hơi, nặng như xà xuống, đe dọa. Mùa bão, nhác nhìn những con chim, con người không có cái tinh nhậy của loài lông vũ ngước mắt lo lắng đợi giông gió. Rồi bão ập về. Cây đổ. Ngói bay. Tất cả tớn tác. Đấy, lầu đầu tôi về Hà Nội là vậy. Và cũng là lần đầu tôi tiếp xúc với một xã hội phe XHCN, với nhiều háo hức, và cũng không ít âu lo.

Một buổi tối, sau công việc, tôi nhờ một người anh họ đèo xe đưa tôi đến nhà Nguyễn Tuân trên phố Trần Hưng Đạo. Chỉ vài ngày, tôi đã không còn lạ chuyện phải cúp điện, cái nghèo, và sự tất bật với miếng ăn ở Hà Nội tem phiếu. Hà Nội ta xơ xác, vì Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, tựa một bài phiếm ký của bác Nguyễn trong những ngày chiến tranh ác liệt. Thế cho nên tôi lần mò trong bóng tối leo hai nhịp cầu thang lên nhà bác như một sự rất bình thường. Và hồi hộp gõ cửa. Tiếng dép nhựa quét sèn xẹt trên đá lát, rồi tiếng hỏi ai đấy, thanh âm đèo thời gian mà thanh xuân ở phía đằng sau. Tôi xưng lai lịch, nói rằng có quà miền Nam, nhìn qua cánh cửa vừa hé ra. Nguyễn Tuân đầu bạc, tóc dài chấm đến gần vai, râu lún phún, mắt hấp háy sau cặp kiếng lão, tay dang ra mời vào rồi thủng thỉnh bước.

Tay gạt gói quà sang một bên, bác Nguyễn mở bức thư cha nuôi tôi, đọc chăm chú như không có khách. Rồi bác im lặng châm trà. Lát sau, bác hỏi, giọng trầm như đặc lại, ông Nguyên bà Thống khoẻ mạnh cả chứ. Tôi gật, dạ thưa bác, bố mẹ cháu vẫn thường. Đẩy hai chén nước trà về phía chúng tôi, bác nhìn ông anh họ tôi, trầm ngâm rồi thốt lên, nhà Nước nên để cho hai ông bà ấy đi ngoại quốc đoàn tụ với con cái chứ giữ ở Sài Gòn làm gì. Câu nói bất ngờ khiến tôi ngạc nhiên, chưa biết ứng xử thế nào, lúng búng :

- Thưa bác, cháu có nghe...

Chưa dứt lời, bác Nguyễn dơ tay lên chặn, buông thõng :

- Tôi với anh chẳng họ hàng hang hốc, có gì mà bác với cháu!

Tôi điếng người. Kiều Phong bị lão quái đánh một chưởng đỡ không đặng, ngực tức, hơi thở ngưng ở đan điền, máu nóng dồn lên mà không thổ ra được, huyệt Bách Hội như có kiến bò vào đốt lấy đốt để. Vận khí, tay bắt quyết Bình Tĩnh, tôi mặc ông anh họ cũng choáng người vì sức ép của chưởng phong đang... thưa với bác, em nó là người dưới, xưng hô thế là...vân vân. Được, tiểu tử đây tuổi mới ngoại tam tuần, xưa nay đi không đổi họ, đến chẳng giấu tên, mặt mũi dẫu có khó coi nhưng đâu có mang cái tạng yêu cho roi cho vọt mà lão quái xuất chưởng Đoạn Tình như vậy. Một lời nói ra, tứ mã nan truy, bốn con ngựa cũng chịu, theo không kịp nữa là. Tay thò ra phía sau, tôi kín đáo bấm vào huyệt Ngọc Chẫm, hít hơi theo thủ pháp Cửu Âm Chân Kinh (sau này luyện sách Kim Dung tôi mới tìm thấy tên), từng bước điều hoà kinh mạch, sửa soạn thế phản công. Nhỏ nhẹ, tôi hỏi :

- Thưa...cụ, cụ vẫn viết lách đều chứ ạ!

Lão quái gật gù, ờ thì vẫn viết! Mượn đà, tôi vuốt gió phẩy chỉ phong, giả như vô tình, hỏi, nghe đâu như nhà văn ở đây đều được nhà Nước trả lương cho viết, phải không ạ? Lão quái gật gù, ờ có thế! Tôi xuỵt xoạt bỏ nhỏ, cái lịch sử nước ta nó kinh hoàng và thương đau loại hạng nhất thế giới, chất liệu văn chương đầy rẫy...Lão quái gật gù, giọng trưởng thượng, đúng đấy! A, thế này thì vào thế rồi. Không ngần ngừ, tôi thình lình vận 10 thành công lực, phát :

- Được nhân dân nuôi cho ăn cho viết, thế bao giờ cụ đoạt giải Nobel cho đất nước này có chút mặt mũi trên văn đàn thế giới? Không viết mà chỉ lách thì hy vọng gì?

Chuyện viết và lách, tôi học được từ cái giai thoại sau. Trong một buổi họp của Hội Nhà Văn, thủ tướng Phạm Văn Đồng hỏi bác Nguyễn, dạo này có viết lách gì không? Bác đáp, viết khó vì phải lách, mà lách thì lại khó, khó lắm. Bác ngước mắt nhìn tôi, vẻ như bảo, đúng là trẻ con. Thế thì tôi phải bồi thêm Loạn Đả chưởng thôi, vận chỉ lực điểm:
- Giá mà cái Chùa Đàn của cụ không phải kèm vào mấy chục trang bắt anh chàng nghệ sĩ giác ngộ cách mạng thì chẳng biết chừng là có giải cũng nên..

Nghe câu tôi nói, bác Nguyễn hình như tái mặt, ngả người ra dựa vào lưng ghế. Lát sau, bác chậm rãi :
- Nói dễ, nhưng muốn làm được...khó lắm!

Đáp đòn Đoạn Tình của bác, tôi, con ngựa non háu đá thỏa mãn, hít hơi rồi lịch sự kiếu về nhưng bác Nguyễn giữ lại. Lôi trong tủ chè một chai Johnny Walker đã vơi ra, bác bảo, uống một tí đã. Thế rồi bác thò tay mò cái gầm bàn khách, lấy hai cái ly chạm bạc ra, để một trước mặt tôi, một trước mặt bác, coi ông anh họ tôi như không có đấy. Bác lẳng lặng rót rượu, thầm thì :

- Nhuận bút cho Phở đấy. Ở Liên Xô họ dịch tùy bút Phở, khi mình qua thì họ định trả bằng rúp, nhưng mình bảo, rúp không lấy mà rượu thì lấy, hà hà..

Nhìn bác, quả là chướng. Tội nghiệp cho ông anh họ, lúng túng chẳng biết cư xử thế nào, ngượng ngập nói mình kiêng không uống được rượu. Lão quái lại thản nhiên gật gù. Khinh bạc đến thế thì ... tôi phải đối phó. Đẩy chén rượu đến trước mặt ông anh, tôi bảo, anh thử đi, rượu Tây đấy. Thế rồi chúng tôi im lặng. Và xin kiếu.

Xuống đến dưới nhà, chúng tôi dắt xe men ngõ ra đường. Ngõ khá sâu, có lẽ đến 2 trăm thước, đèn đóm tối om. Tôi ngước lên nhìn. Tầng ba, trên lan can, bác Nguyễn ra đứng nhìn theo cho đến khi chúng tôi đi khuất. Chính cái hình ảnh ấy làm tôi mủi lòng, và thú thật, có chút ân hận trong cách hành xử của mình. Về Sài Gòn, tôi kể lại cho cha mẹ nuôi tôi nghe, cố biến chuyện gặp bác Nguyễn thành một chuyện vui, nhưng khá gượng gạo. Cha nuôi tôi bảo, từ ngày xửa ngày xưa, lúc nào bác ấy cũng làm dáng lập dị. Nhưng còn con, mày ăn nói thế thì ác miệng quá, con ạ!

4

Cũng phải đến 4 năm sau tôi mới lại gặp lại bác Nguyễn. Trước đấy, tôi có về Hà Nội, nhưng ngại gặp bác. Một phần, tôi hơi xấu hổ vì cư xử có gì như quá mức, một phần tôi cứ sợ như trong Hương Cuội, bác là kẹo mạch nha cuộn quanh hòn cuội trắng, ngọt ngào tài hoa đấy nhưng vô ý cắn vào là có thể gẫy răng như chơi. Đầu đông năm 81, tôi ở khách sạn Hoàn Kiếm. Sáng sớm một ngày Chủ Nhật, cô tiếp viên gọi lên phòng báo có người đến tìm. Ai dấy cô? A, tiếng cười khúc khích, tìm anh thì chỉ các cô, có cái cô nào ấy, tóc búi cao... Ấy ư, thật à, và tôi vuốt tóc chỉnh trang nhan sắc, vội vã đi xuống. Phòng khách chỉ có một ông cụ ngồi quay lưng về phía chút nắng hanh len qua song cửa, mái tóc búi củ hành chóa sắc bạch kim. Cô tiếp viên lại khúc khích, tay chỉ, người đẹp đấy! Ô, hóa ra bác Nguyễn. Bác đứng dậy, tươi cười, về đây sao không đến thăm mình, hả? Lúng túng, tôi đáp, thưa...Không nhẽ lại xưng cháu? Thế là tôi bỏ lửng, thành ba cái chấm... trống không. Tôi hỏi thăm, dạo này ...Gọi bác bằng gì đây. Bác? Cụ? Thôi, cứ để bác Nguyễn cũng thành ba cái chấm, như tôi, nghĩa là ...trống không, chứ lỡ miệng lại có thể bị thêm một chưởng, lần này Kiều Phong đã nhụt chí đấu tranh, chắc chỉ còn ngậm bồ hòn làm ngọt! 

Bác rủ, đi ăn bánh cuốn với mình. Thế là một già một trẻ khệnh khạng bước như hai kẻ nhàn du, một lát sau thì đến phố Yết Kiêu, ngay dưới nhà Văn Cao. Bác Nguyễn chào bà hàng, nheo mắt, khủng khỉnh, bà cho hai suất, như lệ thường. Không hỏi, bà hàng cười, đẩy đến trước mặt chúng tôi hai cái ly nhỏ, rút gầm bàn một cút rượu trắng, vừa rót vừa nói, thưa cụ cứ xem rượu sủi tăm thì biết, rượu chào khách đấy. Bác Nguyễn cười, râu mép bần bật thứ thanh âm khô mà ấm một lời cám ơn. Bà hàng đổ bánh, hỏi, cậu đây người ở đâu? Tôi chưa kịp đáp thì bác Nguyễn bảo, bên Tây đấy, tận Canada. Bà hàng hấp háy nhìn tôi từ đầu chí chân, ngỡ ngàng, thôi cụ đừng lỡm nhà cháu, Tây gì mà đi dép Bình Trị Thiên, lại mặc cái áo zết bộ đội thế này? Bác Nguyễn phá lên cười sằng sặc, đáp với giọng giễu cợt, thì về đây phải nhập gia tùy tục, ăn vận như thế mới Hà Nội mình chứ. Mà này, bác tiếp, thế nhưng cũng biết nước mắm ăn bánh cuốn mà không có cà cuống là không đậm đà bản sắc dân tộc, vậy xin bà mỗi chén một giọt cho nó thơm. Ở đây, tả cái ngon của bánh cuốn nhân thịt nóng hôi hổi chấm với nước mắm có bột ngọt chấm đầu cây tăm và giọt cà cuống thứ thật chứ không là cà cuống hóa học Thái Lan, tôi xin để hai ông Thạch Lam và Vũ Bằng làm hộ. Tôi chỉ nhắc, hình như lời của cụ Tản Đà, ăn muốn ngon thì người cùng ngồi ăn cũng phải thế nào mới ngon. Như thế, chắc là tôi không bao giờ quên bữa điểm tâm sáng này. Ăn xong, bác Nguyễn lại chỉ cút rượu, cười khà khà, uống cho nó sạch miệng. Khi đứng dậy, tôi xin phép bác rồi thò tay móc túi. Bác trừng mắt, cái này để tôi, tôi mời...Rồi bác thủng thỉnh, xách cái can lên, ngoái bảo bà hàng, bà ghi sổ cho, như lệ thường.

Chúng tôi lên nhà Văn Cao. Lại uống. Bác Nguyễn nói, chính Văn cao báo bác tôi về đây tuần trước. Thật kẹt. Với người nghệ sĩ đủ ngón cầm kỳ thi họa này tôi cứ anh anh em em. Bác Nguyễn ở đấy, xưng hô thế nào cho tiện. Thế là chúng tôi tiếp tục là ... trống không lơ lửng. Khi về, tôi ngại ngùng nói về chuyện xưng hô và hai chén rượu với ba người 4 năm về trước. Bác cười hóm hỉnh, gọi tôi là ông và xưng tôi, bảo, tôi là bạn với bố ông còn được nữa là làm bạn với ông!

Còn chuyện không mời ông anh họ tôi uống rượu thì bác cười ngặt nghẽo :

- Cái anh chàng đó mình gập ở Mạc Tư Khoa thời Liên Xô họ mời, làm cố vấn thứ nhất cho Sứ Quán, cứ xoa chân bóp tay nhưng lại bắt ne bắt nét mình cho đúng... thể thức ngoại giao. Ngay cái chuyện nhận rượu thay rúp như tiền bản quyền dịch Phở mà cũng khó dễ, đòi gọi đến ông Phạm Văn Đồng để xin phép...

Bác lại cười. Cái cười tinh quái, nhưng hồn nhiên, chỉ nghịch ngợm! Sau này tôi mới biết uống rượu Tây của bác không dễ. Nghe đâu cũng chỉ vì kéo một đệ tam nhân đến đòi rượu mà không được nên Nguyễn Sáng, một họa sĩ tài danh, không chơi với bác nữa.

5

Trở thành một thứ tiểu đồng hầu rượu bác Nguyễn có cái thú là nghe bác kể chuyện. Bác dí dỏm, biết ngưng câu chuyện ở đúng chỗ, chờ người nghe vừa đủ nóng ruột là tiếp, nhưng lưng chừng, khiêu dụ, úp mở khiến cả người kể lẫn kẻ nghe nhập cuộc - cái cuộc lên đồng ngôn ngữ bắt buộc ít nhất là có hai tác nhân để phát và thu - và nhất là sau thì cười, cười hể hả, cười đủ một trăm cách Nguyễn Tuân.

Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, chắc không? Tôi đùa cái tít bài bút ký của bác. Nguyễn Tuân khề khà : Chắc quá đi chứ lị. Cái trận gọi là Điện Biên Phủ trên không ấy, loa gọi dân sơ tán. Đi, đi đi, nó bom thế này ở lại thì chết. Mình bảo mình, sống thế này đủ quá rồi, đi là phải bỏ những thói hư tật xấu ở lại, như một rượu, như một chè ...và còn cái món thứ ba (giọng hóm) thì thôi, quen nhịn mất rồi (cười), cho nên mình ở lại. Cứ báo động là mình leo lên nóc nhà trên cao, ôm chai rượu, ngất ngưởng ngắm thành phố đang tối om bỗng sáng lòa, đạn phòng không như pháo bông xanh lè, đỏ rực, thi nhau chớp lên nhoang nhoáng, chạy đuổi nhau như chửng giỡn thành những vệt quanh co ngoằn ngoèo định mệnh. Trời Hà Nội lúc ấy đẹp, đẹp vô cùng.Tôi nghe đến đấy chặn bác lại, hỏi, thế bác không sợ gì cho thân bác, không nghĩ đến cái chết đang tràn ngập 36 phố phường, B52 chứ có phải chơi đâu, lại nghe có cả bom bi khi nổ bắn ra hàng chục ngàn mảnh. Ôi dào, mặc nó, chuyện nó nổ cứ nổ, chuyện mình ngồi ngắm nó cứ ngắm, duyên phận mà đến thì gặp nhau. Ấy thế mà khi nghe cái đài mình kè kè ở bên cạnh báo bom rơi vào Khâm Thiên thì mình nhói lòng buốt ruột, nhắm mắt lại, và mình nghe tiếng hát của cô Diệp, bà Kim hát những bài hát ả đào một thời xa xưa. Lạ thật, mình tự hỏi, sao lại đau những cái đã không còn mà dửng dưng trước bao nhiêu điều đang bị hủy hoại đi. Mất và còn. Những điều đáng mất, những điều đáng còn? Ôi chao, sao mà phức tạp đến vậy. Lúc đó, thèm một quả bom rơi ngay vào đầu để khỏi bắt nó nghĩ thêm những điều rối như tơ vò...

Còn rượu, thưa bác, văn nhân nói chuyện rượu có ông kêu đất say cũng lăn quay ra cười. Bác Nguyễn bắt vào, nhấp môi, ề à :Ờ, tài hoa sinh ra đủ chuyện như ông trời, khi say mặt cũng đỏ gay, ấy là uống rượu ta, chứ rượu Tây uống đến say thì mặt lại tái nhợt... Để tôi kể cho mà nghe. Thế này, này. Hàng năm, cứ ngày cát-tó-zuy-ê - có người đùa gọi là ngày cắt tóc phi-dê, tức ngày kỷ niệm Cách Mạng Pháp - là mình được Toà Đại Sứ Pháp trên phố Trần Hưng Đạo gửi cho một cái giấy mời, có lẽ vì rằng mình cũng bi bô dăm ba câu, kiểu c’est la faute de Voltaire! Cho nó ‘’văn hóa’. Và năm nào cũng vậy, mấy anh công an chặn ngài cổng, đưa giấy mời ra thì các anh ấy làm phận sự lắc đầu, cứ phải vẫy đến khi ông Tùy Viên văn hóa ra bắt tay thì công an Ta mới để Tây dắt mình vào...Merci, c’est bien gentil ! Trong sân tòa Đại Sứ, họ bày ê hề, nào là thịt nguội, xúc xích, ba tê, phó-mát đủ loại. Nhưng tuổi mình, ăn không được mấy nên mình cứ sà vào mấy chai vang đỏ, nhấm nháp hết loại này đến loại kia. Cụng ly và nói Vive la révolution - cách mạng muôn năm - thế là mình được lòng cả công chức Tây lẫn công an Ta, cả hai đều vơ hai chữ cách mạng vào cho mình. Năm ngoái, sợ quá chén, đến khi ngà ngà thì mình ngưng, tự nhủ phải giữ thể thống quốc gia nên thôi cụng ly, thôi hô khẩu hiệu, và khi đi về nhà vẫn còn nói được au revoir, Monsieur l’embassadeur, à l’an prochain. Ấy thế mà đi được dăm chục thước trên hè phố, vừa đến ngay trước cửa Sở Công An Thành Phố thì mình xây xẩm mặt mày, bèn ngồi thụp xuống bên hè đường. Thế là một anh công an ra hỏi, mình khai chóng mặt có lẽ vừa mới uống rượu Tây và vừa hô cách mạng muôn năm. Anh ta tưởng mình xỏ xiên, gọi thủ trưởng ra giải quyết, nhưng anh này lại biết mình, liền đưa mình về nhà, cũng gần đấy. Vừa mở cửa, bà nhà mình nói giỗi, say gì mà mặt lại xanh lè tái nhợt thế kia. Mình đáp, rượu đỏ của Tây ngày Cách Mạng Pháp cắt tóc phi-dê, nó thế. Còn rượu Ta trắng tệch trắng toạc, ngày Cách Mạng Ta, uống dẫu đỏ mặt nhưng lại không say được, bà ạ!

Đấy, văn chương truyền khẩu theo thủ pháp đa nghĩa, ám chỉ, và ẩn dụ đâu cứ đợi thời Đổi Mới ‘’cởi trói’’ mới lộ diện trong chốn võ lâm.

6

Cha mẹ nuôi tôi thế là đi. Qua Pháp, rồi Cali, một cuộc đoàn tụ với những người ở xa. Và chia ly với những người ở lại. Ở cuối đời, thế là hết. Căn hộ xưa phố Tô Hiến Thành ở Hà Nội nay công an quản lý. Di cư, cái nhà hai tầng trong hẻm số 54 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Rồi nay, vượt biên đoàn tụ thì căn nhà trên Phan Kế Bính, ai muốn ở thì ở, có tiếc chăng là bao nhiêu kỷ niệm những độ đổi đời. Gặp đứa con đi hoang, cha mẹ tôi tới tấp hỏi ai còn ai mất, và tất nhiên là có ra thăm bác Nguyễn không. Dạ có, tôi đáp. Bác vẫn khoẻ mạnh. Đưa những bức ảnh ngày tôi ‘’lên xe hoa’’ ra cho cha mẹ nuôi tôi xem, tôi chỉ đây bác Tuân đây này. Cha nuôi tôi nghiêm mặt hỏi ‘’cưới hỏi thế có phép tắc gì không?’’. Tôi thưa, dạ không, cứ làm đại! Ông lắc đầu, bật miệng, hỏng rồi. Đến khi tôi đưa ông đọc bản đề trình của tôi lên Hội Đồng Bộ Trưởng về Ổn Định và Phát Triển Kinh Tế Việt Nam thì ông bực tức kêu, thế thì hỏng thật, hỏng hết rồi. Sau đó, ông mắng tôi ‘’cái Cộng Sản trong đầu con là thứ do mấy thằng trí thức Tây Âu có truyền thống nhân văn tưởng tượng ra, không có thật, và khác một trời một vực với cái Cộng Sản phương Đông kiểu Mao. Con viết thế này, đề nghị toàn những chuyện động chạm đến cơ sở nền chuyên chính của họ thì làm sao có đứa nào nó ngửi cho được! Hỏng hết rồi con ạ! ’’

Vâng, hỏng thật. Và không hỏng cũng chẳng được. Có những sự việc tôi chưa bao giờ kể lại cho cha tôi nghe. Chẳng hạn như khi tôi đi ăn mỳ ở Chợ Cũ ở Sài Gòn. Ăn chưa hết, một bầy con nít xô vào tranh mỳ thừa nước cạn, và tôi về khách sạn, nước mắt ròng ròng, thề rằng sẽ bao giờ cũng đứng về phía những kẻ đói ăn. Chẳng hạn như khi tôi ở Hà Nội, có một người con một vị tai to mặt lớn trong Học Viện Quân Sự đến tỉ tê, cái kho vũ khí Long Bình cướp được của Mỹ để lâu ngày nó hỏng, mà mình không dùng, nhưng biết đâu những nước Trung Đông lại chẳng cần. Anh lại thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, và có cái hộ chiếu Canada muốn đi đâu thì đi... Lắc đầu, tôi làm như không hiểu, lơ đi, ngu ngơ nói chuyện xây đựng một nền kinh tế đa thành phần và những thứ... vân vân ... trên đầu lưỡi bọn ‘’tư sản mại bản’’. Chẳng hạn như khi tôi lên lớp về Kinh Tế cho cán bộ giảng viên của Đại Học trong Thành Phố Hồ Chí Minh thì ngay bàn đầu có một cô học viên xinh xắn, mặt mũi son phấn điểm trang, và áo quần thì mầu sắc chứ chẳng phải đồng phục áo trắng quần bà ba đen như mọi người. Lên máy bay ra Hà Nội vào thời ấy cực khó, nhưng cô ta lại ngồi ngay ghế bên cạnh tôi. Đến sân bay Gia Lâm, cơ quan tiếp tôi không ra đón. Cô học viên thì lên xe Volga, cho thầy đi ghé, và thỏ thẻ mời thầy ngày chủ nhật nghỉ thì đến nhà em chơi! Tôi đến, biết cha cô là một vị Trung Uỷ, và được cô ta dẫn đi tham quan khi thì chùa Trấn Quốc, khi thì đền Ngọc Sơn...Chỉ có thế mà vị quản lý tôi, cấp Thứ Trưởng, vỗ tay reo ‘’ nhất cậu, cơ quan bọn mình là ‘’nhà trai’’ đấy nhé, nào lên kế hoạch đi!’’ Bỏ mẹ, tôi kêu thầm, thế này là thế nào. Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên. Vả lại, đến tay cô ấy mình cũng chẳng dám cầm, nữa là...Thế là tôi đánh trống lảng. Ông Thứ Trưởng cáu, nói gần như quát, ‘’ cậu đi chơi với con gái nhà người ta nay cả Hà Nội biết, không lấy là họ mang tiếng. Cậu có biết nhà người ta là nhà nào không, cũng gốc Nam Định mình...’’ Ấy chết, tôi lúng búng, ‘’thưa anh đi chơi đúng hai lần, chỉ chùa Trấn Quốc với đền Ngọc Sơn thôi, để còn ‘’tìm hiểu’’ đã chứ !’’. Tìm hiểu chứ chớ ‘’ quất ngựa truy phong nhé ‘’. Ông cấp Thứ Trưởng này là công an, chớ đùa. Nhưng tẩu vi vẫn là thượng sách. Làm thế nào đây? Anh bạn mới quen là nhạc sĩ Hồng Đăng tài hoa nhưng phận có hơi mất mầu vì nắng gió bàn, cứ lăng quăng túc tắc với tớ thì... ắt ‘’nhà gái’’ sẽ giẫy ra, khỏi phải chạy. Thế là tôi theo bạn vào Xưởng Phim thăm những diễn viên, nào Thanh Quí, Phuơng Thanh, Kim Thanh...Rồi đi uống cà phê, gặp anh em Nhân Văn Giai Phẩm, chẳng còn có vẻ sợ chuyện ‘’quan trên trông xuống người ta trông vào’’, nhưng cũng xin nói ngay là chẳng có làm cái gì mất mỹ tục để có thể mang tội hủ hóa trụy lạc...

Nhưng anh hùng bất quá mỹ nhân quan, bắt đầu là đùa nhưng sau đâm hóa thật. Cái nhìn của nàng có bóng tối, và chính niềm u uẩn đó khiến tôi sau này lao vào một chuỗi những đêm mầu đen có lúc tưởng mình không còn ngày thấy ánh sáng. A, cái ải mỹ nhân! Ôi chao, vực sâu chưa rơi thì vẫn gọi mời, và gió thốc từ đáy vực tăng tốc độ hụt hẫng đến chóng mặt hôn mê. Bạn tôi, Nguyễn Duy, từ Sài Gòn ra. Nào, tôi lấy vợ! Nhất định chẳng hỏi phép tắc ai, chuyện cá nhân mà lị! Thiệp cưới, không có giấy cạc-tông ở giữa một thủ đô xơ xác, Đăng chạy mua (xin?) những cái tấm làm phiếu sách của thư viện. Báo hỉ, phải mầu chứ không lẽ lại đen thùi lùi. Mực in mầu đỏ thì báo Nhân Dân độc quyền. Duy đi cầu cứu Nguyễn Văn Bổng ở Hội Nhà Văn; Bổng viết, giới thiệu đồng chí...Tổng Biên Tập báo...về nước cưới vợ (!), xin các cơ quan hữu trách tích cực giúp đỡ. Nhà in báo Nhân Dân in xong, người đầu tiên Duy mang bó thiệp cưới buộc bằng lạt đến mời là bác Nguyễn. Bác nheo mắt, nói với Duy, tao nghĩ thế là nó lấy phải công an đấy, bảo nó thế! Ừ thì thế, thế thì phải thế. Lê Đạt vỗ đùi, cười bỗ bã, chú mày thế là mang về cho anh em chút dưỡng khí để thở. Trịnh Công Sơn không ra được Hà Nội, hẹn về Sài Gòn làm thêm ‘’ đám’’ nữa cho anh em trong này. Trần Dần viết tặng 5,6 trang thơ, chữ như kiến bò, kêu nợ tình nợ bạn nợ thơ, n~ nợ cosmic bao jờ cho xong trong cái hỉ khúc xíc thằng. Đặng Đình Hưng thì chép thanh xuân = hạnh phúc và chép một đoạn có câu ghé bến cắn một quả vả mầu xanh chưa chín... mãi hàng chục năm sau mới xuất hiện trong Bến Lạ. Còn Hoàng Cầm, lại chạnh nhớ những mối tình với Chị, lãng đãng nhắc thuở ấy mây Em tìm núi Chị, ngửa mặt hường hoa khép gió xanh ...

Chỉ ảnh bác Nguyễn đi ăn cưới, cha nuôi tôi lẩm nhẩm một mình, trông hắn thế là vẫn khoẻ. Như sực tỉnh, ông nhìn tôi, nhắc lại, ‘’... thế là hỏng, hỏng thật rồi! Con chưa sự nghiệp gì, bất quá có cái nghề kiếm ăn, vừa bỏ qua một cái dịp để thi thố...’’ Tôi thật không hiểu, hỏi, thì ông đáp, sự nghiệp là làm được cái gì cho người khác, đồng loại, đồng bào. Rồi ông thở dài ’’...con có tí kiến thức kinh tế, nhưng chỉ chữ với nghĩa, việc thật là đi kinh bang tế thế thì bây giờ chẳng làm được nữa, hỏng rồi! ’’ Mấy ngày sau, trước khi tôi lên đường bay về Canada, cha nuôi tôi vỗ vai, bảo, hóa ra con cũng là giống nòi tình. Vậy thì sau này nhớ câu chuyện về bác Nguyễn. Ông thủng thỉnh : ‘’ Xưa bác ấy đưa tao xem cái truyện bác viết về một anh đánh giậm, ngày nào như ngày nấy, đều đặn sáng trưa nơi đồng không mông quạnh, đều đặn đến nỗi chỉ nhìn bóng anh trên mặt nước là biết mấy giờ, như một cái kim đồng hồ mà không cần răng cưa, trục quay, giây cót. Tao đọc, chê là bất cập nhân tình, viết thế là không được! Tao bảo, con người là người, ác có thiện có, nhưng ở cực nào thì cũng không thể kéo xuống để thànhra và là bất cứ một thứ dụng cụ vô tri vô cảm nào, dẫu nó tinh vi cách mấy cũng vậy. Sau, chẳng biết bác làm gì với cái truyện ấy, bác vốn ngang như cua, tính thì kênh kiệu. Nhưng con có hiểu tao nói gì không? Điều này mới quan trọng... ‘’

7

Mắc chứng ung thư ác tính, những ngày cuối cùng của cha nuôi tôi có thể ước chừng. Tôi lại bay sang Cali. Những ngày đầu hạ ở quận Cam có thoáng ngậm ngùi, mặc dầu trời rất cao, rất xanh, và nắng trải lên mạ vàng cây cỏ. Cha tôi cho tôi cuốn Kim Cang Kinh. Ông bảo, cụ Nguyễn Du khi xưa đọc nó hơn ba nghìn lần. Cười móm mém, ông tiếp, chữ không của nhà Phật tao hiểu là tự do, và cái làm mất tự do là nỗi sợ. Nhưng tại sao lại sợ nếu như ý thức được không có gì là có, cũng không có gì là không, vì đến cái ngã cũng không thì có cái gì gọi là có... Rồi ông chậm rãi, mắt hấp háy nhìn lên đỉnh cây chao trong gió sớm, đọc Sống không tham, tham gì? Chết chẳng sợ, sợ gì? Sống chết thì cũng thế! Vậy tham gì sợ gì.

Hai tháng sau, cha nuôi tôi ra đi, khi tôi đã xa cách ông đúng 6 giờ chim bay với vận tốc Boeing trong những chuyến bay xuyên lục địa. Đúng năm giờ sáng, tôi được báo tin qua điện thoại, thức dậy ngẩn ngơ ngồi dựa vào vách, một lát thì mơ màng. Ông đến đứng sau gọi. Tôi quay lại, ông cười, lại cái cười móm mém, nhưng mắt hóm hỉnh, hỏi ‘’ mày tưởng tao chết hả con...’’ Tai tôi vang lên câu kệ tử sinh đồng nhất thể, hà úy hựu hà khinh...

Năm sau, tháng 7 năm 1987, tôi được tin bác Nguyễn cũng theo bạn mình sang cõi khác. Chợ Hà Nội sạch hoa. Bao nhiêu hoa những kẻ biết ơn chữ đã mua hết để mang viếng bác, người tài tử đã thổi vào ngôn ngữ mảnh đất này những nét hào hoa kênh kiệu Vang Bóng Một Thời trước Tổng Khởi Nghĩa chống Pháp. Đó là một thời Ta. Cha nuôi tôi có kể, bác ấy cứ ấp ủ viết thêm Vang Bóng Một Thời Tây. Còn thời Mỹ, bác Nguyễn thở ra, thôi để cho thế hệ sau chứ mình thì già mất rồi. Ôi chao, thật tiếc, thời Tây cho đến nay vẫn chưa kịp vang bóng, nói chi đến thời Mỹ, dư âm nếu còn vang vọng thì cũng chỉ độc là tiếng nổ của đủ loại súng bom mang thử nghiệm trên những xác người. Khi bác ra người thiên cổ, Nguyễn Minh Châu kể, một hôm râu tóc run rẩy, nước mắt tràn ra trên má trên môi, bác vừa khóc vừa nói‘’ ...mình tồn tại được cho tới nay là bởi biết sợ! ‘’ Thương làm sao, cái nghiệp nhà văn An Nam, sống đã khổ như chó, mà lại là những con chó lấm lét cụp đuôi biết sợ trong một góc nhà!

Nhưng chết thì sao? Những vòng hoa của bao nhiêu kẻ ngưỡng vọng không phải là một niền an ủi lớn à? Tôi hỏi Bửu Chỉ, người có mặt ở Hà Nội khi bác Nguyễn mất, khi anh sang Pháp làm triển lãm hè năm 88. Không đáp, Bửu Chỉ kể, ông ấy nằm ở nhà xác chờ các thứ cơ quan như Hội Nhà Văn, Hội Liên Hiệp Nghệ Thuật...họp để bàn giao xem nơi nào làm chủ lễ tang, kinh phí đào ở đâu ra, tri trả thế nào...Ba ngày liền phải chờ, trời thì nóng, Hà Nội mất điện liên tục nên xác ông ấy bắt đầu trương lên, chuột nó vào gặm cái tai trái cắn nát ra, da mặt đã xám lại. Để trang điểm cho ông, người ta lấy phấn viết bảng nhà trường ghiền ra bôi lên mặt. Còn môi ông, người ta thoa son, son loen ra cằm nhếch nhác, trông chẳng khác gì hề trong những vở chèo. À, thì chết như vậy, hỏi có não lòng, hở Trời!

8

Về Hà Nội, việc đầu là tôi đến thắp hương vái bác Nguyễn. Vẫn căn phòng với giá sách bám bụi như xưa. Nhưng thôi, đâu rồi cái giáng gù gù, mái tóc bạc xõa đến gần vai, và nhất là cái nhìn hóm hỉnh đèo nụ cười nửa miệng. Nay, có khác là cái bàn thờ đặt ngay lối vào phòng. Nay, chỉ còn bức ảnh bác lặng lẽ trang nghiêm đặt trước một bát nhang đầy tro rải xuống nhắc chuyện về nơi cát bụi. Bác gái bật diêm cho tôi châm hương, thì thào, ông nhà tôi đi sau ông bạn già đúng một năm, đôi lúc không còn tỉnh là hỏi tôi có tin gì từ bên Mỹ không...Còn tôi, tôi chắp tay vái, tai văng vẳng câu ‘’... mình tồn tại được cho tới nay bởi biết sợ’’.

Như bác Nguyễn mà phải sợ thì hỏi có ai mà không sợ? Nhà văn Kim Lân kể, trong một buổi họp hành gì ở Hội Nhà Văn, bác Nguyễn bực dọc kêu với đồng nghiệp rằng gì cũng sợ, nhưng ngẫm lại thì chẳng biết sợ cái gì! Bác nói, rồi uể oải chống batoong đi ra. Nhưng lần này, lần đi cuối, chắc bác chẳng cần cái sợ theo chân. Sống chết thì cũng thế, vậy sợ gì tham gì,chắc chắn người bạn già của bác cũng đã đọc cho bác nghe rồi. Nói chuyện với anh Lân, ngày đưa bác đi Văn Điển quả bao nhiêu hoa ở Hà Nội đều là hoa tiễn bác. Và từ thời đám tang cụ Hồ, chỉ lần này dân Hà Nội mới lại tự động xuống đường đưa đám một người. Lại một người không quyền cao chức cả mà chỉ mang danh phận nhà văn. Aidám bảo bạc là dân nào?

Danh phận nhà văn? Trí thức phương Đông xưa’’trung quân’’, và nay tiếp tục phò chính thống như một cái nếp tiềm thức bao che một loài vi khuẩn mang tên nô vong. Thỉnh thoảng mới có một Nguyễn Hữu Chỉnh, một Cao Bá Quát, hay một Hồ Xuân Hương, những người dám nổi loạn. Ngoài ra, phần đông họ ngâm vịnh cho sướng miệng, đánh tráo nghĩa bằng chữ, và thường mang giấc mơ tiến vi quan, dẫu cho quan thì nhất thời nhưng dân vạn đại vẫn cứ vạn đại là loài thấp cổ bé miệng. Nhưng may thay, chính những kẻ thấp cổ bé miệng đó mới đồng thanh tương ứng với những người cầm bút nói thay được ước vọng ngàn đời của họ để âm vang của những con chữ có nghĩa sẽ truyền qua vách vực thời gian...

Bác Nguyễn, thế là đâu đó đúng 18 năm bác đã thành người thiên cổ. Năm kia, phúng bác dăm câu thơ. Năm nay, chép lại một đoạn, 

... 

Viết toạc trời xanh
chữ người tử tù
Những chữ ngoằn ngoèo
rạch mây nhỏ máu
Ô này,
một thời từng vũng…
Vũng nào vang bóng chốn thiên thu ?

gửi bác với tấm lòng kẻ hậu sinh này ngày xưa đã đi tìm một trăm cách khóc để khóc bác.

























Xổ bụi





Tôi sinh ra dưới một ngôi sao trái nết nên đời có đôi phần vất vả. Nhưng chị Liên, bà chị kết nghĩa của tôi, còn vất vả ít là gấp năm gấp bảy lần. Trái nết nên khó dậy, riết thành trắc nết lêu lổng, mẹ tôi gửi tôi nhà «hai bác» năm tôi mười hai tuổi. Thuở đó, cha tôi đi làm xa, mẹ tôi một mình than khổ ơi là khổ, nhà không có đàn ông ! Phần tôi, thật là thú vị. Trên «hai bác» có mấy đứa loai choai cùng tuổi. Rồi mỗi nơi một chốc, mẹ hỏi ở đâu, tôi đáp con ở trên nhà hai bác, bác hỏi đi đâu, tôi thưa con về dưới nhà cha mẹ con. Cứ như thế, cuộc lêu lổng dẫu danh bất chính nhưng ngôn lại thuận.



Hai năm sau ngày tôi làm con nuôi hai bác tôi gặp chị lần đầu. Chị mang đứa con trai bé tí về nhà. Khi ấy tôi mới biết chị cũng là con nuôi và mù mờ nghe chị vào Nam vài ba năm trước cuộc di cư năm 54. Nhà bố mẹ nuôi lúc nào cũng tấp nập khách ra khách vào. Bố nuôi tôi lúc đó là Chủ tịch Hội Ðồng Kiểm Duyệt thời Trần Chánh Thành còn làm Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin trong nền đệ nhất Cộng Hòa của miền Nam. Khách có hai loại. Loại nòi tình chữ nghĩa, làm văn làm báo, nhớ không xuể. Có Ðái đức Tuấn, Lê văn Trương. Có Nguyễn mạnh Côn, đang hoàn thành Ðem tâm tình viết Lịch Sử. Có Vũ hoàng Chương, Ðỗ bằng Ðoàn, Bùi khánh Ðản. Ðám trẻ, Thanh Tâm Tuyền, thỉnh thoảng đếân thăm bác Kha, cha anh gần như trú ngụ thường xuyên trong nhà. Rồi Dương hùng Cường, Mai Thảo, Doãn quốc Sĩ, Nguyễn sĩ Tế, Trần thanh Hiệp…Nhà báo, có Phạm việt Tuyền, Lý Thắng, Văn Giang. Ký giả, nào Lô Răng, Anh Tám Xạc Ne. Loại chính trị, không ít. Phan huy Quát, «bác» Quỳnh, Vũ quốc Thông, thậm chí Trần kim Tuyến…



Họ đến thế giới «trên gác» nơi bố tôi tiếp khách, xì xào to nhỏ, và thường là im bặt khi bọn trẻ con chúng tôi, thế giới «dưới nhà», bưng nước, rót trà. Họ giả tảng lơ đãng, rít thuốc lào, nhìn như giục như đuổi, và chúng tôi chỉ quay lưng là họ lại tụm đầu vào, lại nghiêm trọng hạ giọng, khi chép miệng, lúc thở dài. Khách về, tôi để ý bố tôi xếp lại giấy tờ hồ sơ vào một cái tủ gỗ, cửa kéo dọc xuống như một bức mành, và khóa lại, tiếng nghe một cái cách, đến là kích thích. Ngày nọ qua ngày kia, sự tò mò khổ còn hơn là cơn ngứa mà không được gãi. Tôi vê kẹo cao-su, nhét vào lỗ khóa, và đi đánh chìa. Ðợi cả nhà đi vắng, tôi mở tủ, ôm chồng hồ sơ ngoài có chữ Mật, leo lên trần nhà tìm một nơi có ánh sáng hắt vào. Năm 58, tôi đã đọc trên những tờ pơ-luya mỏng tanh Con ngựa già của chúa Trịnh, vừa uất ức vừa ngậm ngùi. Tôi đã rưng rưng nước mắt lẩm nhẩm Tôi vẫn đi, không thấy phố, không thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ. Tôi đã hít cho căng lồng ngực lập đi nhắc lại bút giấy tôi ai cướp giật đi, tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.



Vâng, tôi đã tiếp cận Nhân Văn-Giai Phẩm như thế, trên trần nhà tranh tối tranh sáng, trong cái nóng hừng hực của mùa hè Sài Gòn. Vài tháng sau, cụ Hoàng văn Chí đem xuất bản Trăm Hoa Ðua Nở trên đất Bắc. Lúc ấy, tôi mới biết rằng tôi đã đọc văn Phùng Cung, thơ Trần Dần và Phùng Quán…Chuyện đánh chìa khóa đọc hồ sơ Mật rồi cũng lộ. Bố nuôi tôi không đánh không mắng, chỉ bảo, giọng buồn buồn «…có những cái tao cho là ở tuổi con, con chưa cần biết » rồi dặn, cứ giữ cái chìa, muốn thì đàng hoàng mở tủ, và đừng bao giờ hành xử như quân bất lương trộm cắp.



Trưa hôm ấy, tôi mang cái chìa khóa ra cầu Bông. Nhìn dòng nước lờ lờ triền sông Thị Nghè, tôi lẳng nó xuống, một lần, và mãi mãi.



*



Chị Liên là một nhân vật tiểu thuyết. Từ Cao Bằng về ở với bố mẹ nuôi tôi lúc đâu cũng mười hai, mười ba tuổi, chị đột nhiên một mình bỏ vào Nam. Vài năm sau, chị lấy anh, giòng dõi đích tôn Phan Thanh Giản, nay là một gia đình đại điền chủ. Thời gặp chị, phải nói, chị là người đàn bà có nhan sắc. Về bản lãnh, vứt ra đường đời từ thơ ấu, chị không cắp sách đến trường, cứ than, chị thất học, cậu ạ ! Nhưng những điều chị học, không có trường dạy. Cực kỳ thông mẫn, chị cảm nhận một cách lạ lùng những mảnh đời oan trái. Năm tôi mười lăm, tôi nghe chị hỏi « Tại sao sinh ra ? Tại sao rồi chết đi… Phi lý ! » Ðó là câu hỏi rất « hiện sinh » đầu những năm 60. Rồi chị quậy cuộc hiện sinh không thương tiếc, không giới hạn, ràng buộc. Chữ Tây chỉ bonjour bonsoir giắt bụng, chị leo máy bay đi Thụy Sĩ. Không có Visa, chị vẫn trốn sang Pháp, đến bằng được kinh kỳ nơi có cà phê Les Deux Margot ở St-Germain, xem cái bàn Jean P Sartre vẫn ngồi nó hình dáng ra làm sao ? Mà lỡ gặp người ta ở đấy ? Có thể lắm chứ ! Cuộc hàn huyên của triết gia Tây phương đắt giá với cô công chúa dị thường Giao Chỉ. Không thể phi lý hơn thế được sao ?

Dĩ nhiên, chị yêu tiểu thuyết. Chị ái mộ văn nhân. Trên hai mươi năm qua, chị sống ở Cali, nhưng cứ gần đây một hai năm chị lại về Sài Gòn, về Hà Nội. Mỗi lần chị gọi điện thoại, và tôi lại xin chị, chị về đến 47 Lý Quốc sư, thăm anh Hoàng Cầm hộ em. Lần nào chị cũng vui vẻ nhận lời. Mỗi lần chị qua lại Mỹ, chị chịu khó mang theo từng chai rượu làng Vân anh Cầm gửi cho tôi, lắm khi giữ cả năm mới có dịp trao tận tay, tươi cười bảo, quà của ông anh cậu. Cứ mỗi lần như vậy, tôi rưng rưng ngậm ngùi. Một phần là vì anh Cầm, một phần vì tấm lòng chị đã cưu mang thêm một tình bạn giữa hai người đàn ông, một già tuổi đã hôn hoàng, một trẻ thì cũng đang chập choạng lớp xế trưa. Cưu mang, bất cứ cái gì đi thì cũng nặng !

Thế nhưng lần cuối, tôi cũng nhắc lại bằng ấy lời. Chị ngập ngừng, rồi nhỏ nhẹ, lần này chị chẳng chiều cậu được. Tôi ngạc nhiên, gặng hỏi. Chị nói quanh, rồi lát sau, bảo chị gửi cho cậu quyển sách. Ðọc rồi cậu sẽ hiểu.

Ðó là quyển Ghi 1954 – 1960, của Trần Dần[1].

*

Tôi gặp Trần Dần khoảng tháng 11 năm 81. Ðó là thuở tôi gồng mình chống lại tan vỡ của những huyễn tưởng. Bắt đầu, từ giải phóng đất nước, đến xây dựng một xã hội công bằng. Rồi từng bước một nhích vào thế giới hiện đại, đỡ nghèo, đỡ khổ, và nhất là băng bó cho lành vết thương nội chiến. Nhưng phía dưới những con nắng là bọt xà phòng cả. Bọt xà phòng phản chiếu hình ảnh những trại cải tạo. Học tập một tuần, một rồi ba tháng, và nay đã sáu năm. Những đứa em gái tôi tuổi hai mươi lấm lét uống thuốc ngừa thai sẵn sàng vượt biển. Các em ơi, sao vậy ? Bảy phần chết, ba phần sống, không sợ à ? Cướp biển hãm hiếp, giết chóc. Trời nổi cơn, sóng cuộn, nước nhận người vào đáy đại dương. Vả lại, cứ như nhà thơ kia hát, « ( nếu em ? ) có vết bẩn trong hồn, vết nhơ trên má. Thì tình yêu Tổ Quốc chữa cho lành » ( thơ Chế Lan Viên). Nhưng ai có cái quyền phán xét bảo vết này bẩn, vết kia là nhơ, hả Trời ! Tình yêu Tổ Quốc không nhốt ai để chữa cho lành, kẻ đi nhốt nhởn nhơ hô mình nhân đạo chỉ mong cải tạo đám lầm lối lạc đường, người ở tù ấm ức khẩu hiệu hòa hợp hòa giải dân tộc nghe như tiếng gọi hồn oan.

Ghê rợn hơn, chính quyền non trẻ ( từ 1945, hay 55, sao cứ vẫn non trẻ ? ), « vừa học vừa làm, sai thì sửa…», mà có sai thì, chẳng phải « cấp trên» mà do « cấp dưới » không ( hoặc chưa ) thông nghị quyết ( thường rất chung chung ). Ðảng dẫm lên chân nhà nước, cơ quan nào cũng có một vị đảng ủy, từ cấp Bộ trở xuống. Tôi có ‘’làm việc’’ với một vị Trưởng ban Ngoại Giao của Ðảng, nghĩa là ngang cơ và lắm khi còn quan trọng hơn Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch thời bấy giờ. Ðó là Ðảng, mà Ðảng thì phải vận động quần chúng, nhất là quần chúng như tôi, nhân sĩ ngờ nghệch sống xa quê hương. Ôm vai tôi (để gần quần chúng), vị ấy bảo, « Chú là tiến sĩ kinh tế thật đấy, lại chuyên môn về tài nguyên, nhưng chú chưa biết cái này đâu ! » Ghé vào tai tôi, ông thì thào « Chú biết không, dầu lửa của ta ở thềm lục địa ấy mà. Này nhé, trữ lượng ở Trung Ðông ai cũng bảo là lớn nhất thế giới, phải không ? » Tôi gật đầu, ông xiết tay, mắt tóe lửa, say sưa « …thế mà nó chỉ như con tem ! So với trữ lượng của ta thì là lấy tem dán lên đít con voi ! » Ông phá lên cười, nước bọt bắn vào mặt tôi, răng vàng xịt khói thuốc lào Vĩnh Bảo. Một tay vẫn xiết vai tôi, tay kia ông quơ cái điếu cầy ( rất quần chúng ), hồn nhiên phán, thế thì còn sợ cái ‘’đếch’’ gì ! Vâng thưa anh, mừng thật. Chúng nó ( bọn đế quốc, dĩ nhiên ) mù cả, đi sờ voi mà chẳng biết đâu vào đâu. Chỉ có ta mới biết chỗ nào là đít con voi, dán tem lên mông, và đợi voi ỉa ra dầu. Dầu thô, màu đo đỏ, công nông ra phết. Lỡ có mùi, ừ thì « cũng tốt thôi » ! 

Ðít voi trên bong bóng bọt xà phòng cho phép tiến mạnh, tiến nhanh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa mà không qua giai đoạn tư bản, chỉ hai mươi, ba mươi năm ta sẽ kịp, và tất nhiên là vượt bọn Mỹ. Người người hồ hởi, nhắc đi nhắc lại, vẽ vời ra viễn tượng một tương lai rực rỡ. Nhưng tôi không thể nói như thế khi gặp anh Dần. Tôi không nói gì cả. Buổi trưa hôm ấy, nắng hanh và trời lên cao đến không còn đó. Anh dựa lưng vào tường nơi quán nước cửa nhà Dương Tường, nâng chiếc điếu cầy rít sòng sọc, miệng chiêu ngụm nước chè, mắt nhắm, đầu khẽ ngật ra đằng sau. Khò khè ho khan, anh mở mắt ra rồi lại nhắm lại. Tường vỗ vai tôi, nhón nhén bảo, cậu này cũng là bạn của Nguyễn Hữu Hiệu đấy. Lúc ấy anh mới mở mắt nhìn tôi tròng trọc. Cặp mắt anh sáng, sáng lạ lùng. Và long lanh rừng rực đam mê, ánh đỏ lè, như mắt cọp. Từ đấy, nghĩ đến anh, tôi cứ liên tưởng đến một con cọp. Một con cọp ngủ ngày, thình lình thức dậy, quắc mắt. Kỷ niệm leo lên trần nhà trên hai mươi năm về trước bỗng ùa về. « Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc. Ðất hôm nay tầm tã mưa phùn. Bỗng nhói ngang lưng máu nhỏ xuống bùn. Lưng tôi có tên nào chém trộm ? A, cái lưỡi dao cùn. Không đứt được mà đau ! »

Anh lửng lơ, « Có tin gì của Hiệu không ? ». « Dạ, Hiệu đã đi Mỹ ! Nghe đâu gập cả Henry Miller, tác giả sách Hiệu đã dịch…». Anh mỉm cười, cái cười méo mó vui buồn, lại nhắm mắt lại. Con cọp nhắm mắt nhưng không ngủ, chòm râu bạc thỉnh thoảng lại nhếch lên như từ phản xạ. Khuôn mặt anh tạc đá, thứ nham thạch lạnh mặt trên, bốc lửa phía dưới. Gò má u lên nhô thành một khối hoạn nạn, liệu dưới sâu còn một hỏa sơn nào âm ỉ chực phun ra chất bỏng cuộc đời ? Anh xua tay, quán nước không phải là chỗ nói. Người ta thuở đó có thói quen thầm thì với nhau, ghé vào tai, và thường là cứ ngoái lại, nhìn ra sau, miệng rì rầm như khấn vái những điều làm như ma quỉ đang rình mò đợi lỡ lời nói to là xẻo lưỡi.

Vào độ cuối đông, Hà Nội thu mình khép gió. Những tàn cây trụi lá co ro trơ xương chống đỡ cơn may hiu hắt lạnh, mênh mang nhớ, rưng rức đau nỗi niềm không tên gọi, có đây rồi lại vụt mất, chập chờn kéo hiện tại nhập vào một tiền kiếp không thể ngày một tiêu ma dấu vết. Trần Dần chống gậy, lao chao bước, vứt lại một « thôi nhé », đi không quay đầu lại. Tấm áo cánh trắng xóa ngõ Phan Huy Chú, chiếc mũ len sùm sụp, anh một mình lê cho về đến phố Vũ Lợi, chẳng gần, cũng chẳng xa, để vào lòng tôi một nỗi man mác.

A, cái lưỡi dao cùn, không đứt được mà đau !

Tôi chạnh nghĩ đến đợt anh bị « quân kỷ ». Ba tháng tù. Chị Khuê đang có mang cháu đầu lòng. « Tổ chức » không vun vào việc « xây dựng ». Chị công giáo, gia đình lại di cư vào Nam hết. Anh viết đơn xin giải ngũ. Và đơn xin ra khỏi Ðảng. Trong lao lung, anh ngẫm, tại sao ? Tại sao đám quan lại văn nghệ hò nhau đánh bài « Nhất định thắng ». Có phải ta đầu hàng giai cấp ? Hay là năm trước, ta đã cùng Hoàng Cầm, Ðỗ Nhuận, Tử Phác… đệ trình « Ðề nghị cho một chính sách văn hoá » yêu cầu tự do sáng tác, trả quyền lãnh đạo văn nghệ về văn nghệ sĩ… Hay là trước đấy, ta quá nặng lời phê bình « Cách nhìn sự vật của nhà thơ Tố Hữu ». Ta bảo, một, thơ Tố Hữu không có cách nhìn mới nào rõ rệt. Hùa với Lê Ðạt, ta cũng nhận xét rằng Tố Hữu nói những chuyện mới mà không hiện tại, lại đẩy lùi vào quá khứ. Hai, là thơ lười biếng, chính trị công thức, kiểu « cụ Hồ sáng soi », hoặc « Chúng bay chỉ một đường ra. Một là tiêu diệt hai là tù binh », chỗ nào có hay thì lập lại Nguyễn Du, Tản Ðà, ca dao. Ba, cách nhìn Tố Hữu thật nhỏ bé quá. Nhìn vấn đề gì, vấn đề ấy thu hẹp lại. Yêu ai, người ấy nhỏ đi. Nhìn lãnh tụ, hình thức gượng gạo « Chòm râu mát rượi hòa bình », sau lại biến ra đạo sĩ nhàn tản « ung dung yên ngựa bên đường nói reo ». Sau cùng, cách nhìn Tố Hữu bao phủ lên vấn đề một cái buồn yếu đuối, và « chất tiểu tư sản là cái chính của tập thơ Việt Bắc ». Trời ơi, Tố Hữu là ủy viên Trung Ương phụ trách Văn Hóa Văn Nghệ ! Thế thời…

Thế thời, thế thời phải thế, cái kiếp phải lột quần đánh trên sân Văn Miếu, có khác gì Ngô thời Nhậm xưa. Ðêm thăm thẳm. Tôi thui thủi mơ mòng. Ván cờ, tốt chúng qua sông, lơ láo nhập cung, lách ca lách cách những chân lý mới, như tính tổ chức, tính giai cấp, quần chúng… rồi lủng củng nào những chính sách, những quan hệ…tít mù quay như chiếc đèn cù. Tôi, con pháo tịt ngòi, ngửng đầu tìm lửa, sờ soạng một ván chiêm bao, tay lại quơ vào lưỡi dao cạo.

Trần Dần cứa cổ.

Ôi, không đứt được mà đau ! A, cái lưỡi dao cùn.

*

Lưỡi dao cùn để lại một vết sẹo. Vết thương trông tưởng lành, nhưng ba mươi năm máu nhiễu vào trong, giọt rơi tí tách đánh nhịp tháng năm một trái tim bị chấn thương đời. Trần Dần thở phào, « Không có gì chống lại được với cái kim đồng hồ ». Tôi nghe, im lặng. Những buổi đến với anh, thật khác khi thăm Lê Ðạt, Hoàng Cầm, Ðặng Ðình Hưng, Văn Cao. Có « rượu», anh chỉ nhấp. Không ham vui, ăn ít nói ít, mắt trừng trừng, anh thỉnh thoảng câu đực câu cái, đôi khi đúng một chữ. Thường, tôi dựa xe đạp cạnh cái cửa sổ có chấn song, ngồi đối diện anh, nơi có chút ánh sáng hắt vào, trước cái khay có để ấm chè, cái điếu cày và một ngọn đèn hoa kỳ le lói cháy.

Tôi kể, đêm qua tôi chiêm bao. Nhìn đồng hồ, chiếc kim dạ quang quay ngược chiều đẩy mọi sự về phía đằng sau. Hoảng hốt, tôi chồm dậy, nhìn lên tường. Chiếc đồng hồ treo cũng vậy. Nó câm, không cứ tích ta tích tắc, nhưng kim cũng quay ngược, mỗi lúc mỗi nhanh. Tôi tung cửa lao ra đường. Hà nội giữa trưa không một bóng người. Ven theo hồ, tôi cắm cổ chạy về phía Bưu Ðiện. Nhìn lên cái đồng hồ lừng lững ngất ngưởng, tôi nhướng mắt, ô hay, hai cái kim đồng hồ quay, cũng ngược, và quay mỗi lúc một nhanh, như chong chóng. Cứ thế này, tôi thầm nhủ, chắc trở lại thời nhà Tiền Lê trong một khắc. Ðúng thế thật, mặt đất chao nghiêng, tiếng người ơi ới thứ thổ ngữ tôi không thật hiểu. Thêm dăm phút, tôi chắc mẩm, chắc là đến thời Hồng Bàng mất. Nhưng hai chiếc kim bỗng tuột ra, bay lên, mỗi lúc một cao, tít tắp cuối trời. Mặt đồng hồ trơ ra. Mấy giờ rồi ? Tôi nhìn xuống cườm tay. Hai chiếc kim dạ quang trên chiếc đồng hồ tay của tôi cũng biến đâu mất. Ghé nóù cạnh tai, tôi lắng nghe. Tích tắc, tích tắc. Nó vẫn sống. Nhưng chiều quay đẩy thời gian về đằng sau hay kéo ta lên phía trước ? Tôi réo lên hỏi. Tiếng tôi kêu lạc lõng. Mặt hồ Hoàn Kiếm lăn tăn bọt. Tôi chắc là Rùa thần sắp lên. Tôi đợi. Thình lình một bọn người áo vàng ập đến túm lấy lưng, hò nhau, nó đây, bắt được nó rồi. Tôi vùng vẫy. Tại sao ? Tôi làm gì mà bắt. Tôi sợ. Phía dưới cơ thể bỗng nóng lên, rồi uớt nhơm nhớp … Tôi hét cho đến khi tỉnh dậy.

Anh Dần nghe, nhếch mép, được, viết nó ra. Tôi không đáp. Kim quay ngược, lúc này là đến kỷ Hồng Bàng rồi. Anh thì thào, thời « vỡ kỷ », mảnh văng tứ phía. Anh nhắm mắt. Cọp ngủ ngày, chiêm bao cái chiêm bao của cọp. Tôi khẽ khàng đứng lên. Anh mở mắt. Thì ra cọp giả ngủ, đang rình. Rình một tứ thơ chăng ? Anh đọc hai câu thơ anh tặng tôi :

Tôi đã hát những lạc quan không hát
Bây giờ tôi hát lạc quan đen
( thơ Trần Dần ).

*

Năm 82, Hoàng Cầm viết trên tập « Về Kinh Bắc » anh tặng tôi « …là một năm đầy hạnh phúc và cũng đầy oan nghiệt ».

Hạnh phúc ? Tôi muốn hát lạc quan xanh. Nhưng hiện thực màu tro nghiệt ngã. Phản chiến, bị chính quyền Thiệu cấm về miền Nam, rồi Canada trục xuất… nhưng tôi chưa hề bi quan, tôi vẫn giữ trong tôi một ngọn lửa. Phải chấm dứt chiến tranh đã. Rồi về để xây dựng, bắt đầu lại, tất cả. Nghĩa là từ từng người, với từng người . Hàn gắn cho nhau những vết thương chưa đóng miệng, cùng nhau xua những cơn ác mộng vẫn rình đêm về để đánh úp, và chân thành nói với nhau bằng lẽ phải, với con tim. Nhưng về, tôi chỉ thấy sự sợ, sự nghĩ một đằng nói một nẻo, sự có hai ba nhân cách trong một con người. Và con người tư riêng hình như bị cắt khỏi con người xã hội, cái thằng lúc nào cũng phải đối phó, phải tranh thủ, phải ngụy trang bằng nụ cười và ém dao dưới áo đề phòng mọi kẻ khác, già cho đến trẻ, từ hàng xóm đến cán bộ cùng cơ quan. Hồng Ðăng, nhạc sĩ nghèo, xoay thế nào mời tôi được bữa cơm có một phần tư con gà luộc. Gọi bọn cháu, con Ly và thằng Phương, chúng đáp « …chúng cháu ăn cả rồi ! » Cuối bữa, dọn bát đĩa đi rửa. Tôi thấy Phương lúi húi ra bươi đất gốc cây cuối vườn. Làm gì vậy cháu ? Nó lấm lét « …cháu chôn xương gà ! Không thì hàng xóm họ biết… ».

Hạnh phúc cũng có, nhưng phải may. Tôi gặp và kết bạn được với những người đáng yêu và đáng tin. Ðầu tiên là Hồng Ðăng, rồi từ Hồng Ðăng, tôi gặp các anh Nhân Văn-Giai Phẩm. Thuở ấy, Tạ Trọng Hiệp ở Paris tiễn tôi ra phi trường Charles de Gaule đi chuyến bay Air France về Sài Gòn. Anh dặn dò giao tiếp phải cẩn thận. Anh kể kinh nghiệm của anh. Ðinh Trọng Hiếu, cũng đã từng về nước, cười khuyên phải « khép lại mà đi » ( marcher les fesses serrées ), dạng háng ra là phiền. Thì tôi cũng biết vậy. Nhưng làm sao đây ? Nếu không đánh cho tan cái sự sợ, người đâm thành ngợm cả, thì tiền đồ một xã hội đa phần hóa ngợm sẽ ra sao ? Mới vừa giao tiếp với Nhân Văn-Giai Phẩm, đã có người đến « nhắn », quan hệ không được tốt. Tôi đáp, dạ, xin cứ cho tôi một danh sách những người không nên quan hệ, tôi sẽ tuân thủ. Thách thức như vậy, quả là tôi là một người không biết điều. Không biết điều, nhưng tôi biết sợ. Như đứa bé sợ ma trong bóng đêm giữa nghĩa địa hoang vu, chống lại cái sự sợ không có cách gì khác là vừa đái, vừa hát, hát càng to càng đỡ sợ. Cứ thế, tôi đã hát những lạc quan không hát.

Tôi đã hát, với Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Văn Cao. Và rồi với các anh. Có « Gấu chợ », giữa bề bộn khăn, màn, giấy vệ sinh, xà phòng. Ở một căn nhà phía dưới là tạp hóa trên phố Hải Thượng Lãn ông, Lê Ðạt gấu ( với các vị chức trách ), nhưng mẫn cảm và trí tuệ. Anh đùa bảo, cậu cứ về chơi, mang cho chúng tớ một ít không khí để thở, thế là « đóng góp » rồi. Tôi đọc những bài thơ gom lại trong Bóng Chữ xưa làm tôi ngỡ ngàng. Có « Phượng bặt hơi », nhà khu Trung Tự, thuở ấy vừa mới có tin con trai « sắp » được giải Chopin. Ðặng Ðình Hưng dán trên tường một Bến Lạ những thơ. Bến lạ và đẹp, lạ như phong cách hào hoa của anh, và đẹp nghiêng ngả xa vắng những giấc mơ nửa chừng, cũng của anh, mang mang day dứt. Có « Hạc nội », lâng lâng một nỗi mây ngàn, rượu Ðình Bảng mang ngâm mơ, ngâm mận. Phần anh, anh cũng ngâm, ngâm thơ. Giọng ngâm của anh nửa như hát cung văn, nửa như than van khóc lóc, tức tửi nghẹn ngào. Còn thơ, là thơ Hoàng Cầm của Về Kinh Bắc, của Men Ðá Vàng, với những Cây tam cúc, Quả vườn ổi, Lá diêu bông. Có « Én trái mùa », mang chút hơi xuân ngơ ngác xót lại buổi đầu đông, se sẽ buồn, se sẽ hát, se sẽ nhớ. Dương Tường dịu dàng, quí bạn, hấp háy nhìn làm vẻ vô tư qua cặp kính cận dầy bằng nửa gang tay. Và các chị, Thúy của Ðạt, Khuê của Dần, Yến của Cầm. Lấy nhau, họ đều có vấn đề với tổ chức vì « quan hệ xã hội phức tạp » cả. Trường hợp Trinh và Tường, chắc không. Còn Ðặng Ðình Hưng, anh ở một mình, chuyện riêng tư với vợ là bà Thái thị Liên, anh không nhắc. Có nhắc, anh nhắc Ðặng Thái Sơn, ôm vai tôi, dặn ra ngoài nhớ tìm cháu, chú cháu gặp nhau cho tôi vui.

Thuở ấy, Cọp ngày đang loay hoay với Lễ Zàng Sao, với các Tư mã, Tư mã gãy, Tư mã ổi… và nỗi buồn « vỡ kỷ » cùng những hạt bụi anh xổ vào bao la. Xổ bụi, đó là cách trối trăn với đồng loại. Bóng anh hắt hiu khập khiễng cuối ngõ, khiến gió cũng chẳng nỡ lòng thổi, nắng chẳng nỡ lòng lên. Nỗi ấy, có tên bơ vơ. Tôi đọc Cổng Tỉnh những ngày cuối năm 81 :

…Có phố nào xanh
Hoa lay hàng dậu tím ?
Có phố mờ chờ tha thiết tự ngày xưa
Ðể tôi phải bơ vơ
Bơ vơ ?
Tôi ?

…Tôi cô đơn trời xanh cô đơn trời tím
Cô đơn nắng đào cô đơn mưa tái nhợt đầu ô
…Cô đơn lòng ngõ rỗng trăng chênh
Cô đơn sân ga tầu chạy tốc hành
Không đỗ lại các cuộc đời xé lẻ…

Tôi thấm câu anh hỏi « Tôi có thời cay đắng, nào kịp cay đắng đâu ? Sao đã cho tôi những phố xào xạc ? Sao đã ghi tôi vào mép sổ buồn rầu ? » Anh hỏi, nhưng hỏi ai ? Ai đáp ? Mà dẫu có đáp, tin được gì

Khi thế kỷ còn rung chuông lừa bịp
Những canh gà báo trượt rạng đông
Con rắn lưỡi cắn người như cắn ngoé
Khi xe tăng chửa đi cấy đi cày
Như một lũ tội nhân cần cải tạo
Khi con thò lò ngày đêm hai mặt đói meo
Còn quay tít trên kiếp người hạ giá…
( Hãy đi mãi, Văn, 1957 )

Bài thơ này anh viết, hai mươi bốn năm sau tôi mới được đọc. A, thì ra hai mươi bốn năm chẳng thay đổi được gì à ? Phạm thị Hoài ghi đây là chương kết của Trường ca Ði ! Ðây Việt Bắc. Năm 90, Trường ca được xuất bản ở Hà Nội với tên Bài thơ Việt Bắc, song toàn bộ chương Hãy đi mãi bị cắt bỏ. Trên tập thơ tác giả đem tặng người « biên tập » cho mình, anh Dần viết :

Gửi Vân Long,
Người biên tập lại Ði ! Ðây Việt Bắc !
Thông minh và công phu !
Song tôi vẫn phản đối mọi kiểm duyệt…
( Ghi, trang 451 )

*

Hai tuần sau khi nhận được Ghi chị Liên gửi, tôi đọc kỹ, và rất kỹ những trang, những đoạn chị đánh dấu, khi thì bằng bút bi đỏ, khi thì bút « phớt » vàng. Tôi điện thoại cho chị.

- A, cậu đấy à ( giọng chị làm ra vui )…
- Cám ơn chị, em đã nhận được tập sách chị gửi !…
- Cậu đọc chơi cho vui thôi…
- Không em đọc thật, chứ không đọc chơi. Nhất là những chỗ chị có đánh dấu…

Chị nói quấy quá :

- Ừ, chị có cái tật gạch xanh, gạch đỏ vào sách. Lẽ ra phải mua gửi cậu quyển sách mới, đằng này…

Tôi ngắt :

- Thế mới quí ! Em vừa đọc được sách, vừa đọc được cả tâm tình người đã đọc sách trước em, mà lại là chị…
- Thế cậu thấy thế nào ?
- Buồn…
- Chị cũng buồn !
- Nhưng em tin rằng một phần nào, em buồn như chị buồn. Còn một phần em buồn, chắc khác với nỗi buồn của chị…

Chị Liên ngạc nhiên, hỏi giống là giống thế nào, khác thì khác thế nào ? Tôi nhẩn nha, gợi cho chị nói. Dĩ nhiên, chị lập lại, bằng lời, những nét gạch đỏ, gạch vàng trên những trang Ghi của Trần Dần. Thì ra, chị ấm ức, những người chị coi là thần tượng, đã « đầu hàng ». 

Ngày 8 - 01-1958, Trần Dần ghi « Một ngón tay, Nhân Văn cũng không có ! Non năm nay, họ đã nằm ẹp cả xuống, vắt tay lên trán, suy nghĩ như các nhà hiền triết cả rồi… Họ đang tranh nhau đi vào con đường cầu an… Tôi biết họ chỉ duy nhất một điều, là mong « Thánh Ðế hồi tâm ». Nhưng hình như thánh đế bị bọn quan hoạn lừa phỉnh… Bơm to, vu cáo, ton hót lừa trên, dối dưới, các thứ thủ đoạn, tinh vi thì không tinh vi gì đâu. Song không hiểu sao con mắt Ðảng, con mắt to thế mà chưa nhìn thấy chuyện ? » ( Ghi, trang 187 – 88 ).

Ðó là thời Hội Nhà Văn bị đánh. Hội thành lập tháng 4 – 57 sau Ðại Hội lần II, trong đó Tổng bí thư Trường Chinh công khai đập Nhân Văn-Giai Phẩm, sau khi Nhân Văn ra được năm số và Giai Phẩm ba số. Tô Hoài làm tổng thư ký Hội, xuất bản báo Văn do Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân và Nguyên Hồng phụ trách. Khi đó, guồng máy quyền lực đã thành lập Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, chỉ đạo bởi Nguyễn Ðình Thi ( và đằng sau là Tố Hữu, phụ trách công tác Văn hóa- Văn nghệ của Trung Ương đảng ). Bối cảnh chính trị là thời hậu Cải cách ruộng đất. Chân rết « Xứ ủy Bắc bộ », đứng đầu là Trường Chinh, đang từng bước mất chân đứng với Lê Duẩn, « Xứ uỷ Trung bộ » ( và ảnh hưởng không ít đến Nam bộ ), đang xông vào hất cẳng, lợi dụng những sai lầm « tả khuynh » của Cải cách ruộng đất. Hội Nhà Văn ( đàng sau là Xứ ủy Bắc bộ ? ) bị Hội Liên Hiệp tấn công, gán cho là cánh tay nối dài của Nhân Văn-Giai Phẩm. Văn, có Lời mẹ dặn của Phùng Quán, Hãy đi mãi của Trần Dần, sống được bảy tháng, cho đến đầu năm 1958 khi đăng trong số 36 Ông năm chuột của Phan Khôi thì bị đình bản.

Không khí thời gian đó là không khí khủng bố. Một số nhà văn thấp thỏm sẽ phải ra « biên chế », tham dự những lớp « đấu tranh tư tưởng » và cuối cùng Hội Liên Hiệp tổng kết cuộc đấu tranh thắng lợi với Nhân Văn-Giai Phẩm vào tháng 6 – 58. Tháng 7, Nguyễn Ðình Thi thành Tổng thư ký Hội Nhà Văn, thông báo kỷ luật các văn nghệ sĩ đã tham gia Nhân Văn-Giai Phẩm. Trần Dần bị khai trừ khỏi Hội Nhà Văn, sau phải đi lao động cải tạo tại công trường Chí Linh cùng Lê Ðạt, Tử Phác, Ðặng Ðình Hưng, vv…

Hai tháng trước đó, con người nói chung, và nhà văn « phản cách mạng» nói riêng, hoàn toàn « mất giá » dưới tất cả những thứ áp lực, từ miếng ăn đến tư tưởng. Thậm chí, tội kết có cả tội làm gián điệp, tội âm mưu lật đổ Trung ương bằng phương pháp hòa bình ( thì ra diễn biến hòa bình thời nay cũng chỉ là lập lại một « truyền thống » ! ) Ðó là trường hợp của Nguyễn Hữu Ðang và Thụy An ( Ghi, trang 254). Phùng Cung có những phản ứng không khoan nhượng, khi học tập « hỗn » đến bị đuổi khỏi lớp ( Ghi, trang 253 ), chửi « mẹ nó, nhục lắm. Mình xin về nhà có được không nhỉ ?» Trần Dần khuyên, rằng nên « đầu hàng », « họ » là « chân lý », không nên xin ra khỏi biên chế, lúc này việc cũng có thể bị coi là một sự tiến công của « tư tưởng thù địch ». Tháng 5 – 58, Hội Nhà Văn « để cho » nhà văn tự kiểm thảo sáng tác. Ai cũng phải tự phê. Về mình, Trần Dần tự kết tội là « …giặc – bút, viên đạn xét lại, mũi tên độc địa của chủ nghĩa cá nhân đồi trụy, chủ nghĩa vô chính phủ và đầu óc làm phản, v.v… » , và rồi anh dí dỏm « …tôi sáng tác thêm vaì chữ để miêu tả chân tướng mình, cho nó hết lòng một thể ». ( Ghi,trang 257 ).

Trong không khí khủng khoảng tâm thần tập thể, cá nhân thành một con kiến, không có tư thế chống đỡ gì khi bị « đưa » lên mũi nhọn, và đàn áp tinh vi là làm thế nào « chia để trị », tìm ra những mâu thuẫn, buộc nhau vào cái thế anh nọ « đổ vấy », « tố điêu » anh kia. Hoàng Cầm lắm tội, nghiện thuốc phiện, lại bị ra tòa về việc chung sống với chị Yến, thú với Văn Cao « mình dát, bị đánh quá, mụ đi như « con đồng », họ hỏi đâu thì cứ phun ra tuồn tuột, không nghĩ gì cả nữa » ( Ghi, trang 265 ). Văn Cao, chắc có Tiến Quân Ca là cái lá chắn, bảo « Tao chỉ có tội chống Tố Hữu, chứ tao có chống Ðảng đâu ? ». Trần Dần tổng kết «… tình hình nay là một thứ hỗn tạp mới :
- chủ nghĩa xét lại, khuynh hướng bôi đen đang bị đánh tan tác,
- bên sự đầu hàng thực sự đó đây có kẻ trá hàng,
- chủ nghĩa giáo điều, khuynh hướng bôi hồâng đang nhăm nhe ngóc dậy. Ðó đây có ló mặt chủ nghĩa cơ hội, thính mũi và vô tài.

Văn học đang có cái nguy cơ hạ giá trị, nguy cơ ca ngợi một chiều, chạy theo sự cần thiết trước mắt, nguy cơ bôi bác và nhất là nguy cơ tràn ngập tác phẩm xoàng, phỉnh nịnh đảng. Còn cái nguy cơ xét lại đã bị đẩy lùi tới cái mức không thể nào phản công lại dù dưới hình thức tinh vi nào. Có chăng, chỉ là lẩn lút nổ bằng mồm dăm quả mìn muỗi còn vương sót lại trên chiến trường, không tài nào thu dọn hết ! Có vậy thôi ! ».Vì thế, Trần Dần nghĩ, thì thôi, cải tạo chân thực, nhưng không chủ nghĩa cơ hội, lập công giả dối, hay buông tay thả mặc. Anh vẫn tin « chủ nghĩa nhân đạo không cho phép đè nén, lăng nhục ai, dù người đó có tội nặng… Dùng sự sỉ nhục để cải tạo người ta, không thể là một phương pháp cách mạng : vì nó hết sức phản khoa học, phản trí thức…» ( Ghi, trang 268-269 ).

Hai mươi năm sau khi viết những dòng chữ trên, anh đúng một nửa, sai một nửa. Văn học ( miền Bắc ) hạ giá không phải là nguy cơ mà là một hiện thực, rất não lòng. Còn xã hội. Con người. Ðiều anh tin là một huyễn hão : chủ nghĩa nhân đạo đẻ thiếu tháng trên những văn kiện và nghị quyết, tã lót máu me, và tiếng khóc đứa bé đẻ non lịm đi chẳng khác gì một tiếng mèo văng vẳng trong đêm vô vọng.

*

- Chị ạ, quyền lực dọa dẫm bằng cắt cái miếng ăn, cấm không được lấy người mình yêu, bắt phê, tự phê, kiểm thảo tư tưởng, rồi chiêu dụ, lấy người nọ đánh kẻ kia… Hóa ra, ở đằng sau, có thể nào vẫn hai thế lực « đàng trong » và « đàng ngoài » húc nhau, Nhân Văn-Giai Phẩm chỉ là con muỗi tế thần ? Thành thử, khôn cũng chết, dại cũng chết, chỉ biết mới sống…
Chị Liên ngắt :
- Sống ! Sống thế nào, mới quan trọng !

- Một mặt lý tưởng, mặt khác lại có phần ngây thơ nên khi vạch cái mặt trái của Cải cách ruộng đất, bêu cái tính cơ hội cuả bọn quan lại bàn giấy, phải chăng phe Lê Duẩn « đàng trong » ngầm ủng hộ Nhân Văn-Giai Phẩm để phá phe Trường Chinh « đàng ngoài » ? Nhưng đến khi một thế lực đã chiếm được tiên cơ, họ phải giữ quyền lực, và họ co lại hệt như « đàng ngoài », quay đánh vào tính « vô chính phủ » của những kẻ đã phản kháng… Lịch sử lập lại tấn tuồng nhàm chán nhiều lần. Hệt như sau này, Mao dùng Hồng vệ binh nắm được quyền lực, rồi cũng chính Mao ra tay diệt Hồng vệ binh. Dưới lớp son khẩu hiệu, quyền lực thời tàn dư phong kiến chỉ có thể mang thuộc tính của những ông Thành Hoàng giơ roi cầm vọt, và dùng hàng đàn chó, hàng đàn cừu, loại sai đi cắn và loại dễ bảo… Cọp ngày, Gấu chợ, Hạc nội, Phượng bặt hơi là … hàng mỹ thuật xa xỉ trong một xã hội phải « cào bằng », ngôn ngữ quá độ phải đậm đà tính cày sâu cuốc bẫm tiêu biểu nền nông nghiệp mang truyền thống cha ông. Truyền thống, nghĩa là cứ con trâu đi trước cái cày theo sau, trên những thửa ruộng bón bằng phân tự mãn chèn vào là hò hét vinh quang đến độ bệnh hoạn.
Chị Liên xen vào, giọng cao lên :
- Nhưng cậu nói thế nào thì nói… Ai cũng phải biết chết. Chị thì chị chết chứ không chịu nhục !

Tôi khựng lại. Quả bà chị tôi đủ cái gan chết chứ không chịu nhục. Chị bỏ nhà đi giang hồ từ tuổi ấu thơ, lặn lội, đấu tranh và thành người bằng ý chí nghị lực, giữa những lựa chọn trắng - đen, sai - đúng, thật - giả lúc nào cũng rình rập thách đố. Tôi thở dài, tay sờ lên cổ :

- Vâng… anh Dần đã cứa cổ bằng dao cạo một lần, khi chị Khuê có mang cháu đầu lòng. Nếu anh ấy chết được lần ấy, bỏ vợ bỏ con, thế có gọi là « biết » chết không ? Chết như vậy, cứu vớt được ai và thay đổi được gì ?

Chị Liên im lặng. Ở đầu dây, tựa hồ một tiếng nấc. A, cái lưỡi dao cùn, không đứt được mà đau…

- Cứ giả dụ cái lưỡi dao ấy không cùn. Nó rạch toang cần cổ, máu nhiễu xuống có vòi, anh dẫy lên, hét, kiểu Nguyễn văn Trỗi, chính chúng bay là giặc, chẳng hạn ! Miền Nam sẽ tung hô anh, kẻ chết vì tự do và chính nghĩa, đặt anh lên hàng thánh tử vì đạo ! Còn Miền Bắc, chắc giới văn nghệ sĩ lặng đi, và sợ, trở nên dễ « cải tạo » đến độ không hô vẫn theo, không dạy vẫn ngoan, đánh đĩ « thoải mái » ! Ðấy, chết thì như thế ! Còn sống thế nào ? Trời sinh làm giặc bút, thì viết. Muốn mỗi con chữ là một tiếng gào thất thanh, không thể viết gì ngoài cái thống khổ, sự ruồng bỏ, phản bội… O ép vật chất may còn qua được, nhưng tinh thần thì, ôi thôi ! Ðầu những năm 60, Hoàng Cầm viết được Về Kinh Bắc. Trần Dần hoàn thành Cổng Tỉnh, rồi Ðêm núm sen. Những Bóng Chữ của Lê Ðạt và Bến Lạ của Ðặng Ðình Hưng không biết có phải cũng từ những ngày ấy không ?

Chị Liên vẫn im lặng. Tiếng điện thoại viễn liên vo ve như muỗi ngày. Tôi tiếp :
- Vậy giả dụ tất cả những lưỡi dao không cùn, nó cắt, xoẹt một cái, đứt cổ và chúng ta có thêm dăm vị á thánh, anh hùng, chết vì cái nọ cái kia. Nhưng đổi lại chúng ta mất đi những tác phẩm đã cứu vớt phần nào được ba mươi năm văn nghệ bị trói khuỷu, tay ê buốt mãi đâm mang cái hình dạng tê liệt thương tật của cả một tập thể « những nhà văn » chỉ giỏi ê a « chống Mỹ cứu nước », hát bài hát hy sinh, anh dũng… để tiếp tay gây ra một cuộc hủy diệt, số tử vong lên đến số triệu đếm đủ ngón một bàn tay… Không, trăm phần không. Không ai có cái quyền bắt người khác làm anh hùng ! Và cái chết, dẫu chết thế nào, vì cái gì cao đẹp đến đâu chăng nữa, cũng không thể đánh đổi lấy sự sống. Nhất lại là sống để tiếp tục nhả tơ nuôi đời.

Như anh Dần, 1961, nhả tiểu thuyết Ðêm Núm Sen. Năm 1963, Zờ Zoạc ( thơ ). Năm 1964, Mùa Sạch ( thơ ). 1965 là thời gian sung sức, hai tác phẩm Một Ngày Cẩm Phả ( tiểu thuyết ) và Những ngã tư và những cột đèn ( tiểu thuyết ). Năm 1967, Con Trắng ( thơ hồi ký ). Năm của Tết Mậu Thân 1968, 177 Cảnh ( hùng ca lụa ). Không biết sao anh đợi 6 năm sau, đến 1974 mới ra Ðộng đất tâm thần ( nhật ký thơ ). Rồi 1978, Thơ không lời – Mây không lời ( thơ, họa ). Liền sau đó là 1979 với Bộ tam Thiên Thanh – 77 – Ngày Ngày, 1980 với Bộ tam 36 – Thở dài – Tư Mã dâng sao. Ba năm sau, anh bệnh. Nhưng đến 1987, anh viết Thơ Mini. Anh viết, cứ viết. Biết bao giờ in ? Há chi ! Không cần, viết là nghiệp. Cứ thế, anh viết gần ba mươi năm. Một mình. Không độc giả ! Rồi năm 88, Trần Dần, Lê Ðạt, Hoàng Cầm… được phục hồi hội tịch Hội Nhà Văn. Tác Phẩm Mới xuất bản Bài thơ Việt Bắc ( bỏ chương Hãy Ði Mãi, đã nói trên ). Sau là Cổng Tỉnh năm 94, được trao giải thưởng năm 95. Anh mất năm 97. Ðến 98, tập Mùa Sạch được nhà xuất bảnVăn Học cho ra mắt. Trả lời Nguyễn Quang Lập, hỏi qua thời Nhân Văn, anh tự thấy anh được cái gì nhiều nhất ? Trần Dần đáp, được cái hoạn nạn. Do được cái hoạn nạn nên được không dưới ba chục tác phẩm trong ba mươi năm.

Ðó là thời anh đi Huế gặp anh em làm báo Sông Hương. Hoàng Phủ Ngọc Tường hỏi, sau khi anh nhận « hội tịch » :

- Thưa anh, con người sống ai cũng cần có nhân cách, nhà văn lại càng phải có nhân cách. Theo anh, nhân cách nhà văn quan trọng nhất ở chỗ nào ?

Trần Dần đáp :

- Nhân cách nhà văn chính là văn cách của anh ta… ( Ghi, trang 439 )

Sau đó, Trần Dần vào Sài Gòn. Và đó là dịp tôi gặp anh lần cuối.

*

Gặp những người tôi gắn bó, lần nào tôi cũng tự nhủ, ai biết đâu những bất trắc và tình cờ, với thời gian thì không chừng lần nào cũng có thể là lần cuối. Ðó là cách tôi sửa soạn tâm thế sẵn sàng nhếch mép cười trước mọi được – thua, mất – còn, đời người ai cũng có. Lần gặp các anh sau dịp Tết Dương Lịch năm 82 cũng vậy.

Chúng tôi « hội sao » ở nhà Dương Tường một buổi xế chiều. Gió mùa Ðông bắc vi vút qua những cành bàng trơ lá dọc con lộ Lý Thường Kiệt, đẩy cái se se băng giá ngấm qua những chiếc áo len mỏng mảnh chụp xuống con người khiến dáng dấp co ro tội nghiệp đến xót lòng. Các « tư mã » lục tục, người trước, kẻ sau, gặp thì cười, nhưng là cái cười của những cuộc chia tay ai cũng tránh nói thành lời. Quà cho tôi là những bài thơ các anh chép tặng. Thơ Ðặng Ðình Hưng thơm mùi ổi, bốn câu. Thơ Lê Ðạt, dập dờn bóng chữ, bốn câu. Thơ Hoàng Cầm, thê thiết quan họ, bốn câu. Thơ Dương Tường, gập gềnh lyrique, tám câu. Riêng Trần Dần, bốn trang thơ, viết chữ như kiến bò ngang bò dọc, rồi vẽ vẽ, viết viết, đọc trên, mũi tên chỉ xuống, sang trang mũi tên lại bay lộn về. Ghim vào tim với những nỗi đau « vỡ kỷ », những hạt bụi « xổ » vào bao la, với nhân duyên và những sợi tơ hồng đứt đoạn trong niềm đau « mạt kỷ » thuở lễ Zàng sao…

Ôi tài hoa, bao nhiêu đây quanh tôi là tài hoa. Và tài hoa, khốn khổ thay cũng là hoạn nạn, bao nhiêu là hoạn nạn. Tôi thầm hỏi, này sông này núi, ai trấn ai yểm gì mà cái đất nước này cứ phải chôn sâu vùi chặt những đứa con ưu tú nhất ? Cớ sao những gì là tinh hoa trí tuệ cứ muôn đời phải chống trả với cái vung tay thô bạo của thứ quyền lực nhất thời ?

Năm 82, Hoàng Cầm lại bị bắt. Tội danh là bán rượu chui ! Oan nghiệt ló mặt nhìn bằng cặp mắt những con chuột nhắt chui ra lúc đêm đổ xuống thế gian. Bán rượu chui đâu phải chỉ một Hoàng Cầm ? Lẽ nào là vì anh giao du với tôi, Việt kiều, tức là người nước ngoài ( ngoài nước ? ). Thời gian đó tôi ở Paris. Tin anh bị bắt tôi đọc trong tờ Le Monde giữa một tiệm ăn Việt Nam khu Quartier Latin. Nước mắt tôi ứa ra, không cầm lại được. Tôi bắt Métro trạm St Michel, nhìn xế qua là bồn nước có những con sư tử há miệng phun có vòi. Có lẽ dáng điệu tôi lúc ấy thảm thương lắm. Ðến độ một người da đen nghèo khổ vỗ vai, một kẻ sans abri có lẽ, đưa cho tôi điếu thuốc anh đang hút dở. A, con người với nhau. Thật may, cũng có chút tình ! Tôi lẳng lặng rít một hơi, rồi trả lại. Sau Hoàng Cầm, còn ai nữa ? Trần Dần, Ðặng Ðình Hưng, Lê Ðạt… Tôi lại còn giao du cả với Nguyễn Tuân, Văn Cao, Bùi Xuân Phái … toàn thuộc diện Nhân Văn xưa có vấn đề… Tối hôm đó, tôi ghép thơ các Tư Mã tặng, để báo đền chút tình tri ngộ. Tiện đây tôi xin chép lại :

Một chùm sao nhấp nháy những âu lo
Về tụ lại lễ Zàng Sao giữa hạ
Nơi đã đặt tên và chỗ định số dăm chàng Tư mã
Nhễ nhại trăng khuya nhiễu xuống ngân hà
Thuở Bích Câu vọng câu tao ngộ
Chuyển tần số lòng những ánh sao sa
Chở đá đến một vùng chưa tiếng nói
Ðốt lửa lòng lên đuổi mù sa
Ai khép gió giữa hai mùa vội vã
Trời quê hương xao xác một canh gà
Tiếng chó sủa
Tiếng huýt sáo một người đi chơi đêm về đánh thức
Mắt lũ ánh buồn kẻ ở xa
Bờ ao mẹ nắng trở mình, sáo tắm
Rỉa cánh gầy xổ bụi giữa bao la
Xin đợi nhé mùa chim mây vỡ tổ
Ðầu ăng ten sẽ lại tin nhà

Khâu lý lịch chữ, Lễ Zàng Sao, Tư Mã, nhấp nháy âu lo là clignetitude, chữ Trần Dần bịa. Tiếng huýt sáo, mắt lũ ánh buồn là Dương Tường. Mùa vội vã bờ ao mẹ, Ðặng Ðình Hưng, từ « bao giờ về trong khoanh một cái ao – ngồi giặt áo cả ngày ». Nắng trở mình, khép gió, chữ Hoàng Cầm. Rỉa cánh, xổ bụi, lại Trần Dần. Mùa chim mây vỡ tổ, và ăng ten, là chữ Lê Ðạt. Những chữ này lý lịch như thế chẳng hiểu chúng có được ba đời bần cố nông hay không ?

*

Về Hà Nội hè năm 88, tôi sững sờ, không biết là buồn hay vui khi nạn nhân Nhân Văn-Giai Phẩm đều « được», và đều « nhận », phục hồi hộ tịch. Văn Cao trước đấy được Huân chương hạng tư, hân hoan càvát vét-tông đi chụp ảnh, với Hải – Không quân, vì là tác giả của những bài hát biểu trưng những binh chủng này. Ðó là cái rớt sau khi Tổng bí thư Nguyễn văn Linh « cởi trói » văn nghệ sĩ năm 87 và Trung Ương thông qua nghị quyết do Trần Ðộ, Trưởng banVăn hoá Văn Nghệ, soạn thảo. Nhưng chỉ năm sau Ðổi Mới đã khựng lại. Trần Ðộ mất chức. Linh thụt lùi và Ðỗ Mười xông lên. Tôi trách Văn Cao. Tôi bảo, tiếng tăm anh chỉ mất đi chứ thêm được gì với cái Huân chương đó. Anh giả say, mắng tôi là quân khiêu khích -agent provocateur – rồi giơ tay dọa đánh. Thái bá Vân, chuyên gia và là nhà phê bình Mỹ Thuật có ở đó, đứng dậy chìa mặt cho Văn Cao, kêu, anh muốn đánh thì cứ đánh tôi. Thao, con trưởng anh, cũng nhổm lên, bảo tôi chú đừng chấp bố cháu. Không đóng được kịch đánh (trước một khán giả có thể là kẻ đi theo «bảo vệ» (!) tôi), anh đành đuổi vậy. Thật ngộ nghĩnh, chị Băng vợ anh can thiệp. Xấu gì ở Văn Cao cũng đổ cho « bà» Băng là sai. Hôm ấy, hành xử rất tư cách, chị quát anh. Phần tôi, tôi xin với bạn bè có mặt là quên đi, để giữ « huyền thoại » Văn Cao. Bởi huyền thoại cũng cần : có tí gì để hãnh diện, để vênh vang, cũng là một cách giữ cho mình tồn tại giữa một cơn hỗn mang đạo lý.

Gặp nạn nhân vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, tôi bớt gay gắt, nhưng cũng chẳng giấu gì cách mình suy nghĩ. Không khác với trường hợp Văn Cao, tôi nghĩ nhận hội tịch là phá đi một cái huyền thoại, không phải về những con người, nhưng là huyền thoại về phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, ngọn lửa dẫu ai có giang tay dập sao vẫn cứ âm ỉ ba mươi năm nay trong lòng người. Vâng, tôi nói thế, dẫu các anh có thể không vui. Phần Trần Dần, anh buồn, im lặng. Con cọp ngày khật khừ, nhướng lên, ánh mắt không rừng rực như cọp nhớ rừng. Với thời gian, anh thành cọp nhà, cọp phố Vũ Lợi, cọp chống gậy đi dọc Yết Kiêu, đến Trần Hưng Ðạo rẽ trái, và lững thững bước về phía Bờ Hồ. Vài ngày sau anh bay ra Huế.

Chúng tôi gặp lại nhau ở Sài Gòn giữa một buổi trưa nắng gắt. Anh đợi, ngồi rià một cái quán bên đường. Vẫn cái tư thế cọp ngồi chống mắt nhìn đời, chập chùng xe qua xe lại nhả khói khét mùi xăng nhớt. Cọp nheo mắt chóa nắng lừng lững chống gậy đứng lên. Lần ấy là lần đầu anh vào miền Nam. A, cái lưỡi dao cùn. Nó chẳng phải chỉ cứa cổ người . Nó chém ngang lưng Tổ Quốc. Không đứt được thật, miền Nam vẫn đó. Nhưng mà đau, nỗi đau còn đó, lưng rướm máu, nay vết sẹo mới tấy da non, xin chớ ai động mạnh. Chúng tôi lại hẹn hò.

Tối hôm sau, liên hoan trên gác ba nhà Nguyễn Quang Sáng. Nguyễn Duy mới đi Liên Xô và Ðông Âu về, đang đánh tiết canh vịt dưới bếp. Ðã hẹn, nhưng sao mãi chưa thấy Trịnh Công Sơn. Khoảng bảy giờ, có tiếng chân, tiếng người. Sơn đi trước, Lữ Quỳnh đang xốc Bùi Giáng theo sau. A, hay thật là hay. Con đười ươi Tề Thiên tối nay gặp cọp ngày. Năm 24 tuổi và đầu một đời thơ, Giáng hạ bút Vòng theo máu hai vòng tay khép chặt. Ồ thưa em ta thấy mộng không thường.Năm xấp xỉ 20, Dần «chôn tiền chiến», và trong Dạ Ðài, bản tuyên ngôn Tượng Trưng, anh gầm :

Không thể rung cảm chúng ta nữa cái văn chương cổ tích chỉ có một chiều chỉ nhắc gợi một cõi đất một tâm tình…Sau cái thế giới hiện trên hàng chữ, phải ẩn giấu muôn nghìn thế giới, cả thế giới đương thành và đương hủy…Bọn lãng mạn, sau khi chùi xong nước mắt lại lảm nhảm nói chuyện những nàng tiên.

…Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đương kể những câu chuyện cổ tích cho người đứng tuổi nghe. Phải gây nên cả hai không khí hoang đường và hiện thực…Chúng ta cũng không thể tách lập được hẳn thực hư, và chia đôi địa trấn bằng một bờ sao rõ rệt…Làm sao mà giải quyết được sự mâu thuẫn phi thường đó ?

Chúng ta chỉ có một con đường đi để thoát khỏi mê đồ. Chúng ta chỉ có thể dung hợp được thực và hư bằng hình tượng…Thế nên chúng tôi – thi sĩ tượng trưng – chúng tôi sẽ nói lên và chỉ nói lên bằng hình tượng, thứ ngôn ngữ tân kỳ, ngôn ngữ của những thế giới yêu ma, của những thế giới thần nhân mà cũng là của cái thế giới âu sầu đây nữa.

Thế ra anh cũng mộng không thường ! Anh bổ những nhát cuốc đào mồ «tiền chiến» : …cái thi ca cổ rích, cái thi ca tĩnh của tiền nhân ngâm vịnh, của bọn lãng mạn chẳng làm chúng ta quên, vì chẳng có thể đẩy đưa chúng ta theo những nhịp điệu bồng bềnh của bản thanh âm hoàn vũ. Thế nên chúng tôi – thi sĩ tượng trưng – chúng tôi sẽ đón về đây tất cả những thế giới quay cuồng, chúng tôi sẽ bắt một vầng trăng phải lặn, một ánh sao phải mờ đi, một chế độ phải tàn vong và một bài thơ phải vô cùng linh động. Và với anh, nghĩa là một bài thơ…không được dùng lý trí, không được dùng cảm tình, nghĩa là không được chỉ dùng có một quan năng tách bạch của chúng ta – dù quan năng nào đi nữa. Hãy đem tất cả linh hồn, hãy mở tất cả cửa ngách của tâm tư mà lý hội. Trận gió sẽ lên : tức khắc và đột nhiên, vì thơ đã không cần lý luận.

Chẳng biết đười ươi Tề Thiên đã đọc Dạ Ðài hay chưa ? Chỉ thấy đười ươi huyếch miệng cười khan và sáp lại, mắt hấp háy. Cọp bất động, nhưng nhìn đười ươi chằm chằm. Anh em xếp cho đười ươi ngồi trước mặt cọp. Sơn tươi tỉnh « …anh Giáng, hứa không được phá nghen ! » Móm mém, Giáng cười, tiếng cười trong vắt hồn nhiên. Chưa đụng vào đũa, Giáng bi bô chỉ trỏ vào Dần, và nói, tay vung lên, miệng say sưa. Chẳng ai hiểu gì ! Vì anh nói một thứ tiếng lai tiếng Ðức, tiếng Anh, tiếng Pháp, nghĩa là thứ tiếng riêng của Bùi Giáng, lộn nhộn đủ loại ngữ ngôn. Lạ thật, Dần gật gù. Thình lình, Giáng đứng lên ghế, tiếp tục nói, như diễn thuyết. Sơn ra bên cạnh, kéo Giáng ngồi xuống, nhắc « …phá quá cha nội ! Hứa gì quên rồi ư… ». Giáng cười khì khì, giả ngồi yên. Sơn vừa về chỗ, Giáng lại đứng dậy. Con đười ươi Tề Thiên nghiêng ngả, kêu chí choét, lại nói. Lúc ấy Dần giơ tay. Giáng ngừng ngay, mắt trố lên nhìn. Con cọp giọng trìu mến thốt « …người ta bảo Bùi Giáng giả điên ! » Giáng lại kêu chí choét, như giục, còn gì nữa ? Dần im lặng. Giáng vùng đứng lên ghế, rồi giả xiêu giả vẹo. Lữ Quỳnh phải chạy lại đỡ. Con đười ươi Tề Thiên cứ thế, diễn màn độc thoại, nhưng vô ngôn, có lẽ dành riêng cho cọp. Lữ Quỳnh và tôi, mỗi người một bên, dìu Giáng xuống thang, ra đường gọi xe xích lô. Ðẩy Giáng lên, chúng tôi trả tiền xe. Vừa quay lại thì Giáng đã nhảy tót xuống xích lô, tay chìa ra, miệng kì kèo «.. « tau » không đi xe, mi chia « tau » một nửa tiền xe hỉ ! ». Rồi Giáng lẩn trong bóng đêm trên đường xưa là Công Lý, nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa, vạt áo bà ba trắng vụt biến vụt hiện như một linh hồn lạc lõng. Lữ Quỳnh kể, người nghe lo cho Giáng. Sơn cười « …già ấy tỉnh, khôn thấy mồ tổ, đừng lo ! ».

Hai bữa sau, tôi lại lên đường. Nhưng sao chưa đi mà đã nhớ ! Lại tự nhủ, lần cuối, nhưng miệng cứ hẹn sẽ gặp lại, còn gặp lại, dẫu trời mang mang, đất mang mang, vì đại dương bây giờ, lời Nguyễn Tuân, chỉ còn là cái ao ếch một đêm mưa.

Từ trụ sở báo Văn Nghệ số 43 Ðồng Khởi, Nguyễn Duy, Hồng Ðăng và tôi ghé lên căn gác nơi Trần Dần nghỉ trưa nhà Hồng Văn, một nhà báo hưu non, đang ở tạm. Trần Dần nằm, mắt nhắm nghiền, tay vẫn nắm chiếc gậy hôm nọ tôi xin anh. Khi đó, anh nói « …Bửu Chỉ mới cho » và tôi đành « thế thì anh giữ làm kỷ niệm ! ». Nhìn anh, tôi thì thào với Ðăng, « …thôi để ông ấy ngủ ! », dẫu tôi biết anh chỉ nhắm mắt. Anh thừa biết tôi đến chào anh. Nhưng cả anh lẫn tôi, chúng ta nào có ai biết đấy là lần cuối.

Tám năm sau, tôi ghé Bolsa gặp Trịnh Cung. Câu đầu Cung nói, là « Anh Dần mới mất, mình vừa nhận được tin ! » Về nhà Hoàng Khởi Phong, tôi dìm nỗi đau xé lòng trên phiến máy điện toán, viết về con cọp ngày vừa chia tay cả phố thị lẫn rừng xanh. Bản viết đó, rõ ràng tôi gõ « save », nhưng nó lại trôi tuột vào hư không vì máy hỏng. Hoàng Khởi Phong loay hoay chữa nhưng vô phương. Dẫu có « Save », ai làm thế nào cứu vãn được cái mất mát chính, là anh. Vâng, mất mát đó vô cùng lớn cho tất cả những kẻ lòng còn gắn bó với chữ nghĩa và quê hương.

*

Một chuỗi biến cố kể từ cuộc đàn áp ở Thiên An Môn đến sự sụp đổ bức tường Bá Linh khiến tôi lại chẳng được visa để « qui cố hương » thăm hỏi các anh sau năm 90. Thế là Ðặng Ðình Hưng đi. Rồi Bùi Xuân Phái, Văn Cao. Và Trần Dần năm 97. Nghe tin Lê Ðạt « được » qua Paris, tôi vội bay đến hàn huyên. Chúng tôi có vài ngày với nhau nơi nhà một người bạn nhà văn Ðỗ K. đã mượn cho ở. Sáng nào chúng tôi cũng ra uống cà phê trên St-Germain. Nhìn ra phía trước là Métro Odéon, quay về phía sau, sao chúng tôi vẫn lại chỉ thấy Bờ Hồ trong cơn mưa bụi. Lê Ðạt bảo « …Dần mất thế là hơn nửa năm rồi ! Nhanh thật, cứ như mới hôm qua… ». Vâng, mới hôm qua. Những cái mặt đồng hồ trơ trẽn không kim trong giấc mơ ở Hà Nội ngày nào lại hiển hiện trước mắt tôi. Ở Paris, kim đồng hồ là một hiện thực. Vòng quay của kim một chiều, và chiều đó là chiều quay đánh dấu những tiến bộ trong một số địa hạt nhất định. Như khoa học. Kỹ thuật. Như công, thương nghiệp. Dưới một mức, là quyền con người. Nhưng dẫu sao, nó cũng nhích lên, trong một thế giới thông tin mở, không chập chạp, ù lì, chai cứng đến độ mất hết sức sống. Lê Ðạt nhắc kỷ niệm xưa, giọng tiếc nuối « …Dần nó có tư cách « chưởng môn » ! Còn mình thì không, cứ bông lơn ba lăng nhăng… ». Tôi lại hình dung ra con cọp ngày, mắt rừng rực, quyết liệt tuyên ngôn, rằng cái kho chữ là tài sản quí nhất của một dân tộc. Anh nhếch mép, râu rung rinh đùa hỏi tôi, cái môn kinh tế học của cậu nó có dạy thế không ? Không hả, anh cười, thế thì « hỏng ». Những phút ấy thật hiếm. Ðùa xong, anh lại trầm ngâm.

Tôi hỏi Lê Ðạt, đã đến lúc anh viết về Nhân Văn-Giai Phẩm như những chứng nhân và nạn nhân chưa ? Ðạt bảo, Hoàng Cầm nói và thu cát xét, dễ có đến cả chục cuộn băng. Còn mình, anh cười, mình chưa ghi chép gì cả. Tôi bàn, viết về Nhân Văn-Giai Phẩm là viết về một giai đoạn và một tinh thần văn học. Anh gật gù, thế cậu thấy cái gì gọi là tinh thần Nhân Văn ? Câu anh hỏi, tôi chưa đáp, khất đến hôm nay. Xin thưa gọn : tính nhân bản cộng với tinh thần sáng tạo. Và như phương tiện vận chuyển xã hội đến lý tưởng mà chung quyết là hạnh phúc con người, văn chương hành động dấn thân, can đảm phê phán hiện thực. Tệ quan liêu, chủ nghĩa tô hồng cơ hội, và bản chất phi nhân giữa thập kỷ 50 là đối tượng. Nghĩ kỹ lại, đến nay là thiên niên kỷ thứ 21, tình hình xã hội cũng chưa khác là bao, thậm chí so với thời đã qua thì nhiều vấn đề cấp bách hơn, trong đó sự mất niềm tin vào tương lai đến độ tuyệt vọng là căn bệnh ung thư bộ não đã vào giai đoạn cuối cùng.

Tương quan giữa quyền lực và văn hóa trong xã hội có một số thuộc tính khó chối cãi được. Năm 87, ông Nguyễn văn Linh « cởi trói » cho văn nghệ sĩ, thừa nhận hiện thực « bị trói », và trói bằng những vòng kim cô xiết lại nới ra tùy theo nhu cầu chính trị. Ðùng một cái, từ 87 đến 91, liên tiếp một số tác phẩm sáng giá ra đời. Tướng về hưu, Thiên sứ, Những Thiên Ðường mù, Nỗi buồn chiến tranh, Ði về nơi hoang dã, Những mảnh đời đen trắng, Bến không chồng… Và những khuôn mặt mới như Dương thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm thị Hoài, Bảo Ninh, Nhật Tuấn… làm nổi lên một không khí sáng tác, mạnh dạn hơn, chất lượng có, và gầy nên được cái hy vọng lấp dần khoảng trống của thứ văn học khẩu hiệu, xoàng xĩnh, có tính dịch vụ tuyên huấn, uỷ lạo, động viên thi công thúc chiến. Rồi cũng đùng một cái, Linh co lại, Ðỗ Mười lên. Ðùng một cái, sáng tác lại khuôn phép ngậm miệng. Và ở giai đoạn bỏ bao cấp xã hội chủ nghĩa quá độ tiến lên (tiểu) tư bản thủ công đỏ và đen, văn hóa trong nước tràn lan trăm chuyện xe cắn chó, chưởng rẻ tiền, tình Hồng Kông, Ðài Loan, Thái Lan… Ðất nước chúng ta có phải chăng đang phá sản ở mọi mặt ? Kinh tế tụt hậu, nợ cứ nợ, thế hệ sau ( ? ) trả. Con người hạ giá, xuất khẩu làm tôi mọi khắp nơi, ô-sin vinh quang với nhiệm vụ quốc tế. Còn văn hóa, ta chỉ còn độc cái món thi hoa hậu, hoa hậu từ làng tới huyện, từ huyện tới tỉnh, từ tỉnh tới vùng, từ vùng tới thành phố, rồi từ thành phố đến toàn quốc. Giáo dục, ôi thôi, cả nước «lãng» học nhưng tiến sĩ, phó tiến sĩ nhan nhản đầy đường. Tiếng báo động chục năm vang như tiếng sấm, sấm động nam bang theo cách nói một sứ giả đại quốc đến thăm viếng ta trong huyền thoại Trạng Quỳnh. Nhưng các vị lãnh đạo nay đang hy sinh cho tiền đồ hay hy sinh tiền đồ ? Họ kiên quyết ngồi yên, không động đậy, bằng chân như vại, rủng rỉnh ngựa xe. Mặc dầu có 25 triệu ( tức là 60% lực lượng lao động ) người thất nghiệp, theo thống kê của Ngân Hàng Thế giới năm 2002. Thế thì trăm ngàn ô-sin, triệu gái mãi dâm, là tất yếu, là…« qui luật », thứ qui luật mới.

Chưa bao giờ, tinh thần nhân văn cần như lúc này ! Gió ơi, đừng nghe lời khuyên chớ đừng rung cây! Gió hãy lên ! Cho cây đổi mùa thay lá. Vì sông mấy khúc nhưng rồi nước cũng chảy, mây mấy tầng nhưng rồi chim cũng bay…

*

Nhà văn Phạm thị Hoài, người biên tập và hiệu đính GHI, nói rõ « Với chúng ta, đó là những văn liệu và tư liệu vô giá về một giai đoạn văn chương và lịch sử cho đến nay vẫn xếp sổ, nếu quả còn có sổ… » Ghi trở nên một hình phạt, Trần Dần viết, nhưng « kết quả của hình phạt với một người lại có thể là quà tặng không ngờ tới bao nhiêu người khác ». Ðiều này rất đúng. Nhưng nó đòi hỏi người khác, tức là chúng ta, một cách đọc để hiểu.

Chị tôi, chị Liên, đã đọc. Chị cũng hiểu, là Trần Dần đã từng đầu hàng, Hoàng Cầm thế này, Lê Ðạt thế kia… ai cũng có lúc nhụt chí , yếu xìu, hèn đi, qui thuận và thậm chí đôi khi van lơn chạy « tội ». Chị buồn vì đèn tắt, nến tàn và dăm cây nhang cháy đến gốc không còn cái mùi ngất ngây gây mê trên bàn thờ nơi thần tượng vừa sụp đổ. Vâng, nếu là thần tượng, thì có thế thật. Nhưng nạn nhân vụ Nhân Văn-Giai Phẩm là những con người. Và nhất là những nhà văn. Họ có thành thần tượng, là do chúng ta nặn lên cho chính chúng ta. Nhu cầu tế lễ không phải là lạ, từ ngày con người tìm ra lửa, biết tầm quan trọng của quá khứ, và đẻ ra huyền thoại như một trong những phương cách nhằm xác định bản thể mình.

Họ là những nhà văn. Lập lại lời Trần Dần, nhân cách của họ là văn cách. Ðiều sau, đòi hỏi họ có tác phẩm. Chính cái sự rất người là yếâu, hèn… đẻ từ hoạn nạn mới cho phép họ viết về cái rất người của những con người. Giả như họ chỉ anh hùng ( rơm ), kiên cường, móc mắt mình như Thụy An ( rồi chết ), thì bất quá họ để lại cũng chỉ một hai câu, đại loại kiểu « bay là giặc ! », « không thành gì thì thành nhân », hoặc « thà làm quỉ xứ tự do ( miền Nam xưa, USA bây giờ ? ) còn hơn làm vương đất độc tài toàn trị ( miền Bắc xưa, Nga mafia bây giờ ? )». Trời ơi ! Ðất nước ta đã có quá nhiều anh hùng. Họ là những kẻ đã nằm xuống rồi, và cho sống dậy chắc gì họ chẳng không hối tiếc ?

Cách đây bốn năm, tôi lại về Hà Nội. Tôi đến thắp hương cho Trần Dần, cho Văn Cao… Như những năm xưa, tôi đến thắp hương cho Nguyễn Tuân, cho Bùi Xuân Phái… Tôi có cảm giác họ vẫn đâu đây, như những người muôn năm cũ, lẩn quẩn trong tâm tư những kẻ nòi tình gắn bó vào chữ, vào nghĩa, và vào cả cái định mệnh khốn khổ của những người làm nghệ thuật nhưng không có tự do. Ðâu đó, tôi nghe tiếng Nguyễn Tuân rủ rỉ, nước mắt tràn trề trên những sợi râu bạc, kêu khẽ … Sợ ! Tôi tồn tại được là vì tôi biết sợ !

Tôi cũng thế, nghĩa là tôi từng sợ, từng hèn, từng yếu,… có lắm lúc buông trôi, nhưng cũng có đôi khi nổi loạn ! Và tôi hỏi chị Liên, còn chị ? Tôi kể, tôi mơ thấy ông Dần ngồi trên vạch phấn, một bên là thiên đường, một bên là địa ngục. Cạnh ông, một rổ đá, cục nào cục nấy to bằng nắm tay. Ai đi qua, ông cũng chìa cho một cục, miệng bảo « Không từng sợ, không từng hèn… thì cứ ném đá cho tôi chết thêm một lần ! »

Làm gì có kẻ chết được hai lần !

Nói đến cái chết. Và chôn. Trong dịp chuyện trò với anh em biên tập Sông Hương, Trần Dần kêu «…Thế hệ trẻ à ? Tôi cứ đợi mãi. Nó bị trong vòng vây của văn chương cung đình, tôi sốt ruột đợi lớp trẻ lớn lên để chôn bọn tôi, như chúng tôi đã chôn tiền chiến. »

Những ai đã chôn Trần Dần ? Chưa chôn ? Vì anh chưa chết, thế hệ trẻ ơi !

Vài tháng sau khi tôi đọc GHI, một hôm tiếng điện thoại viễn liên reng lên. Cầm máy nghe, lại chị Liên. Chắc chị mới từ Hà Nội bay về Cali. Chị kể chuyện, con cà con kê, rồi bảo, có một món quà bất ngờ cho cậu. Tôi hỏi. Giọng dịu dàng, chị nhỏ nhẹ :

- Chị mang quà anh Hoàng Cầm gửi. Vẫn như mọi bận, một lít rượu làng Vân. Ðể hôm nào chị qua chỗ cậu chị mang sang !

Cám ơn chị, đến thăm anh Cầm là chị đã hiểu. Chị cứ kêu chị thất học, nhưng chỉ học chữ dễ khiến lắm người quên mất nghĩa. Và cái học trường đời, chữ cần một, nghĩa cần đến mười, mới thành người được. Chai làng Vân chị mang qua cho em lần trước vẫn còn một nửa. Tối nay, em sẽ uống, một ly cho chị. Một ly cho những huyền thoại chúng ta cùng nhau gìn giữ, không phải để phong thánh ai rồi nhang đèn điếu đóm, mà là từ đó ta lại khởi đi một cuộc lên đường sáng tạo. Còn lại, em uống để nhớ món quà Nhân Văn trao cho những thế hệ sau.

Rượu làng Vân, rượu tình rượu nghĩa. Cũng những chén rượu đó tôi nhắp môi vào, hai mươi năm trước, nghe anh Cầm nghẹn lời, hạ giọng «…Chỉ mình ta…Ta say ta đạp lùi tinh tú. Ngủ yên rồi đôi cá đòng đong». Trên nền đất nện, một cái bàn mộc, dăm chiếc ghế chân lay, xộc xệch bao nỗi đời nên may mà có rượu chui, thơ chui. Như thơ các anh, những nhà thơ không được có độc giả, sao dám mãi cứ thi gan nhả chữ vào vực thẳm để tiếng vọng xô từ vách đá là tiếng thở dài lẫn trong tiếng nguyền rủa. Thế đấy, nhưng Trần Dần vẫn cười khẩy, thách thức « tôi có thể mặc thây ngàn tiếng chửi tục tằn, trừ tiếng chửi ‘’sống không sáng tạo’’».Như rượu làng Vân, cũng phải chui. Quốc lủi, khác rượu quốc doanh ở chỗ nó thật, không dối trá, không lên gân hô khẩu hiệu. Nó thoang thoảng hương nồng chất nếp than, để lại đầu lưỡi buốt bỏng vị cay của hoạn nạn. Uống vào, bỗng dưng sẽ thấy con chữ ở dạng nào cũng đèo trên mình chữ tâm của người viết, chữ tình trong kiếp nhân sinh. Và nhất là trách nhiệm, với mọi người, kể cả những người muôn năm cũ.


Nam Dao
18/11/2002






[1] Trần Dần, Ghi (1954-1960), Biên tập và Hiệu đính : Phạm thị Hoài, Xuất bản : td memoire, Paris, 2001.



























Thơ
































































Dịch














































Thơ Đường (dịch theo nguyên thể. 1995)




































Chinh Phụ Ngâm

dịch theo nguyên thể






































Lang bang thế luận






















































tựa













Mới









































Phỏng vấn

























Dịch






Apollinaire

Paul Éluard





















Thư mục dựa theo Amvc.free.fr


















Hồn Tôi
(tranh Nam Dao)




































                                                                                            
Thủ bút Nam Dao


Đỗ sắc vào không 
mầu vào sâu, lên cao
Hẫng bước tình ven cuộc
Gió loãng cơn
chiều chưa mưa,
trói buộc
Bước chân về trắng đọng
sáu vì sao

Tặng Phan Nguyên & Anh


































                                                                               
Nam Dao
ảnh: Phan Nguyên





















Honfleurs, France, 2000




















                                                                                                                        
nv Nam Dao & hs Phan Nguyên
Sài Gòn, 2011





















Tham khảo thêm về nhà văn Nam Dao
























Hiện sống và làm việc tại Québec (Canada)
















Trở về








MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.



MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.