Sunday, 10 April 2011

Nguyễn Viện


























Nguyễn Viện
(1/2/1949 - .........) Hải Dương
Tên thật: Nguyễn Văn Viện

Nhà văn. Nhà thơ













Tôi ở đấy và đêm sâu ngút mắt
Một mai kia, ánh sáng có quay về?

10.6.2016










                                                                                                                      
"Không thấy tôi đâu"
2.2010





*











Từng làm việc và cộng tác với các báo, đài: THANH NIÊN, GIA ĐÌNH & XÃ HỘI, THỂ THAO & VĂN HÓA, ĐẸP, SAIGON CITY LIFE, BBC… 

Chủ trương: Nhà xuất bản CỬA (một nhà xuất bản tự do tại Saigon) .

Phổ biến tác phẩm trên các tạp chí: Hợp Lưu (Hoa Kỳ), Văn Học (Hoa Kỳ), Văn (Hoa Kỳ), tienve.org, damau.org, talawas.org, procontra.asia, vanchuongviet.org, litviet.com, vandoanviet.blogspot.com…














"Chưa bao giờ nhà văn Việt Nam có những điều kiện thuận lợi như hiện nay để có những tác phẩm lớn. Bối cảnh xã hội phong phú bày cỗ sẵn cho những ai biết đón nhận, dĩ nhiên với điều kiện tiên quyết là anh không hèn. Với tôi, tôi cảm nhận một cách chân thành rằng mình đang đứng đúng "điểm rơi" của lịch sử. Bởi thế tôi đã viết miệt mài mê mải, viết tưởng như không bao giờ hết, viết ngấu nghiến, viết như sợ không còn cơ hội nào khác" 

(Nguyễn Viện trả lời phỏng vấn của Pierre Bùi)






























Tác phẩm mới nhất


Đĩ Thúi
nxb Cửa 2013










Đĩ thúi (1)



Tháng 5 3, 2013



Nguyễn Viện


Tiểu thuyết

Trong cuốn tiểu thuyết phản lịch sử, phản hư cấu, phản hiện thực và phản tiểu thuyết này, các nhân vật chính của tác phẩm văn học Việt Nam nổi tiếng nhất, Truyện Kiều, và cả tác giả của nó, Nguyễn Du, bước thẳng ra từ hư cấu và lịch sử để lăn lộn trên một bàn cờ thế sự quái đản mà tất cả chúng ta dường như đều có mặt.

Bạn có thể thích hay ghét, rất thích hay rất ghét, khen hay chê tác phẩm Phản Kiều, hay Tân Đoạn trường tân thanh này, nhưng tôi tin rằng bạn sẽ không thể dửng dưng với nó. Tôi hân hạnh giới thiệu tác phẩm mới nhất của nhà văn Nguyễn Viện, đăng thành 5 kì trên pro&contra.

Phạm Thị Hoài

_______________

Gặp Mã Kiều Nhi trong một lầu xanh tại Bắc Kinh nhân chuyến đi sứ năm 1813, Nguyễn đã chới với. Đó là một kiều nữ tài hoa. Cầm kỳ thi họa đủ món ăn chơi vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề, đặc biệt là món thổi kèn điêu luyện theo đúng tinh thần Karma Yoga không phân biệt đối xử của nàng. Dẫu sao, Nguyễn cũng không tránh được cái mặc cảm của người tiểu quốc đi trả thù dân tộc. Vì thế, hành động vô cầu bất phân rất lương tâm chức nghiệp của Kiều Nhi khiến cho Nguyễn cảm động. Và chàng muốn chiếm lấy nàng, theo một cách nào đó tương tự như Từ Hải trong một giả định hóa giải oan nghiệp. Tất nhiên, khoản được gọi là “bo” của Nguyễn không thể so sánh với các hào phú bản địa, nhưng Mã Kiều Nhi thượng thừa bản lĩnh và thâm hậu nhân sinh hiểu được đây là cơ hội nàng bước vào một thế giới khác, mà ngay cả một hảo hán như Từ Hải cũng không thể làm nổi. Thế giới của ảo tượng văn chương.

Mã Kiều Nhi trốn theo Nguyễn về Việt Nam năm 1814.

Cho đến sau năm 1820, không còn ai ở Việt Nam biết Mã Kiều Nhi là ai nữa. Nàng đã có một khai sinh mới được gọi là Vương Thúy Kiều. Tôi chưa bao giờ ngưỡng mộ Truyện Kiều, nhưng tôi thích cái hệ lụy củaTruyện Kiều.

Vì thế, có một Mã Kiều Nhi trở thành nhân vật văn chương và cũng có những Mã Kiều Nhi khác vẫn quanh quẩn đâu đó trong các lầu xanh. Nàng đi xuyên suốt dòng lịch sử từ những kỹ viện đầu tiên do Quản Trọng, Tể tướng nước Tề sáng lập khoảng 2700 năm trước đến các khu đèn đỏ đương đại. Đĩ là vĩnh cửu.

Sau khi vượt ải Nam Quan, Mã Kiều Nhi đã rũ bỏ bộ đồ hóa trang làm tên lính hầu của Nguyễn. Nàng trở lại là một cô gái xinh đẹp. Xinh đẹp và e lệ thì cũng đến lúc phải đi tiểu. Tiết tháng ba ở rừng biên cương mát mẻ và phong quang, vì thế nàng đã phải đi hơi xa để tìm một chỗ kín đáo. Kiều Nhi nhìn thấy một gò đất. Và nàng ngồi xuống. Cỏ vàng hiu hiu. Bỗng nhiên, Kiều Nhi nghe thấy tiếng nói sau lưng mình: “Cô đã đánh thức tôi dậy.” Nàng quay lại thấy một cô gái dường như rất quen. Đoán được điều ấy, cô gái nói: “Tôi là Đạm Tiên, cũng từng ở lầu xanh như cô ở Bắc Kinh. Tôi theo Mạc Đĩnh Chi sang đây.” Kiều Nhi hỏi ngay: “Sao chị không về Tràng An mà lại ở chốn hoang vu thế này?” Đạm Tiên bảo: “Chuyện dài lắm, không có thì giờ để nói đâu. Em hãy đi theo chị.” “Tại sao?”, Kiều Nhi hỏi lại. Đạm Tiên nói: “Vương phủ không phải là chỗ của chúng ta. Chị đã đến đó và chị đã quay về.” Kiều Nhi lại hỏi: “Chị muốn đưa em về?” “Không, không phải trở lại Bắc Kinh, mà là trở về con đường của mình”, Đạm Tiên giải thích.

Thấy Mã Kiều Nhi đi lâu, Nguyễn đích thân cùng vài tên lính đi tìm. Trong vòng vài dặm, không thấy một bóng nhà. Khi tối trời vẫn không thấy nàng đâu, Nguyễn và đoàn tùy tùng đều cho rằng Kiều Nhi có thể đã bị thú hoang ăn thịt.



1.

Mã Kiều Nhi đến một trong những trang trại ở khu vực rừng biên giới được các nhà đầu tư Trung Quốc thuê của Việt Nam. Đạm Tiên dặn Kiều Nhi: “Em không được nói tiếng Hoa.” Kiều Nhi thắc mắc: “Ở đây toàn là người Trung Quốc không mà?” Đạm Tiên bảo: “Tất cả bọn đàn ông đều thích của lạ. Bởi vậy em hãy nói tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc nào ở Việt Nam cũng được.”

Chính sách mỗi gia đình chỉ có một con của Trung Quốc dẫn đến tình trạng đàn ông khó tìm được vợ. Đến Việt Nam không phải chỉ là lời mời gọi của miếng cơm manh áo mà còn bởi cơn quẫn bách thèm khát giống cái của lao động giống đực Trung Quốc đòi được giải quyết. Giống cái Việt vừa đẹp vừa nhiều vừa rẻ. Việt Nam trở thành thị trường giống cái của thế giới.

Kiều Nhi và Đạm Tiên mở quán nhậu bán rượu Mao Đài. Mái tôn vách lá sơ sài. Nhưng chiều tối nào quán cũng đông nghẹt. Công nhân Trung Quốc cũng không khác Việt Nam, lao động cật lực rồi uống rượu. Rượu lên cơn thì gái nào cũng là gái, kể gì hàng dạt hàng xịn. Kiều Nhi thường tiếp khách suốt đêm, sáng ngủ bù. Khô rát âm đạo, để đỡ đau Kiều Nhi phải dùng gel bôi trơn. Bọn Trung Quốc bảo nàng không có chút biểu cảm.

Kiều Nhi từng là ngôi sao của vũ trường Kit ở Sài Gòn. Trong số những khách quen của nàng có Thiếu tá Việt Nam Cộng hòa tên Tùng. Tuy không oai phong ngang tàng như các sĩ quan Dù, Biệt động Quân hay Thủy quân Lục chiến, nhưng Tùng hào hoa đẹp trai và nhiều tiền nhờ bán hàng quân tiếp vụ cho Việt cộng. Tùng yêu và chiều Kiều Nhi. Nàng thích chàng không phải vì tiền mà ở những bước nhảy bay bướm cũng như thái độ sùng tín gái đẹp của chàng. Nhưng có một người đàn bà khác không cho đó là mối tình đẹp. Vợ Tùng đánh ghen bằng một lon acid và một bản án chung thân máng vào cổ nàng: “Hồng nhan bạc phận”. Sau này, Kiều Nhi đã giải phẫu thẩm mỹ khuôn mặt nhưng bản án “Hồng nhan bạc phận” nàng khắc vào miếng lắc đeo ở tay. Từ đó, không ai thấy được cảm xúc của nàng trên khuôn mặt nữa. Bù lại, thân thể của nàng càng ngày càng đẹp và quyến rũ. Kiều Nhi trở thành đĩ tinh ròng.

Vào đầu những năm 2000, khi nền kinh tế thị trường trong nước phát triển, những cô gái sở hữu một thân hình chuẩn có vơ vàn cơ hội kiếm tiền. Họ làm người mẫu trình diễn hoặc quảng cáo và được các đại gia theo đuổi. Những giá trị mới được xác lập. Kiều Nhi được một đại gia bao trong căn biệt thự tuy không lộng lẫy nhưng cũng đủ danh giá. Nàng tân trang lại trinh tiết. Thỉnh thoảng bán trinh tìm cảm xúc mới. Nàng phát biểu, nhận tiền từ tay những người đàn ông đi mua trinh nó khác hẳn làm điếm chuyên nghiệp. Không hẳn vì những số tiền lớn lao, mà nàng nhận được cả niềm tin thiêng liêng của người mua trinh về cái lộc của tạo hóa. Nàng bảo “lộc trời bao la, sao nỡ hẹp với mọi người”.

Đôi khi nhớ tới Nguyễn, nàng cũng muốn tặng chàng “chữ trinh còn một chút này” để cảm tạ tấm lòng tri kỷ. Nhưng dường như Nguyễn không quan tâm đến điều ấy. Chàng vẫn nói: “Lần nào đụ em, anh cũng tìm thấy cảm giác của sự trinh bạch.” Lần nào cũng là lần đầu tiên. Kiều Nhi cũng không hiểu được lòng mình, tại sao với Nguyễn, nàng luôn luôn trinh bạch. Nguyễn bảo “anh vẫn nhìn thấy khuôn mặt thật của em dưới lớp da nhân tạo.”

Hoài niệm vẫn là một khuynh hướng tự nhiên của con người. Thời kỳ chuyên chính vô sản xã hội chủ nghĩa, ai cũng khổ như chó. Kiều Nhi sống bằng cách tham gia đoàn văn công thành phố. Nàng có nhiều khách. Nhưng họ chỉ trả bằng tem phiếu hoặc nhu yếu phẩm. Không huy hoàng, nhưng vẫn được sống tiện nghi hơn người. Nguyễn có rượu ngoại uống và thuốc lá thơm hút cũng nhờ Mã Kiều Nhi từ bi nhân hậu chia sẻ.

Thơ mộng nhất trong cuộc đời Kiều Nhi có lẽ phải kể đến giai đoạn hưng thịnh của cô đầu. Phẩm chất nghệ sĩ hoang đường với cây tì bà của nàng cùng nhịp phách tiếng hát đa tình của Nguyễn Công Trứ quả là một cặp đôi hoàn hảo, anh hùng và mỹ nhân kinh điển cho mọi thời đại. Trong số những người tình của Mã Kiều Nhi, không kể Nguyễn Du, thì Nguyễn Công Trứ làm nàng say đắm nhất.

Không như Từ Hải, Trứ phụng sự triều đình tận tụy theo cốt cách của một quân tử. Và Trứ cũng trở thành một hình tượng đối nghịch với bọn văn nô nịnh thần trong thời đại của ông. Cùng với một đức hạnh ngay thẳng như Nguyễn Công Trứ, nhưng Kiều Nhi vẫn chan hòa với bọn văn nô dịch vật, bởi vì với nàng “tiền nào cũng là tiền” và nàng phục vụ theo đúng nghĩa vụ công bằng mà thiên hạ đã mua nàng. Kiều Nhi bảo “Em tam giáo đồng nguyên, vô vi theo Lão giáo, hành động mà không làm gì cả. Phục tùng ước muốn của đàn ông mọi lúc mọi nơi theo kinh tế thị trường định hướng Khổng Nho nên em đòi hỏi ăn bánh trả tiền. Đời là ảo tượng vô thường, vì thế không bám níu chấp trước để giải phóng oan nghiệp theo lời Phật dạy.”

Không hối tiếc. Đàn ông hay tiền bạc cũng là một thứ nhu cầu. Cũng chẳng thấy đâu là ngu muội hay minh triết. Nàng bảo “không có tiền thì cạp đất mà ăn à”. Vì thế, khi Nguyễn mang cho nàng đọc Truyện Kiều, nàng chỉ nói “em không biết mình có thiện căn hay không, nhưng em tin rằng em luôn sống thành thật.” Nguyễn biết điều ấy, chính vì thế Vương Thúy Kiều trở thành bất hủ. Sau 200 năm ngày sinh, Nguyễn Du được Hội đồng Hòa bình Thế giới phong tặng “Danh nhân văn hóa”.

Năm 2012, nhà văn đồng hương của Mã Kiều Nhi đoạt Giải Nobel Văn chương. Dư luận không thống nhất về kết quả này bởi thái độ chính trị của Mạc Ngôn đối với một chế độ toàn trị như Trung Quốc. Văn tài và nhân cách trở thành một vấn nạn thời đại. Bất cứ nhà văn nào cho rằng mình đứng ngoài chính trị đều là ngụy biện cho sự ẩn náu trước cái ác.

Kiều Nhi viết một status trên Facebook: “Nếu anh Mạc Ngôn muốn, em sẵn sàng chiêu đãi miễn phí món phong nhũ phì đồn đặc sản thiên nhiên của em để tưởng thưởng cho tinh thần đồng văn đề huề giữa đĩ hiện đại và truyền thống thập thành của Trung Quốc cố cựu.”

Tin Giải Nobel cho Mạc Ngôn tuy đến được với xóm lao động Trung Quốc trong rừng sâu đầu nguồn của Việt Nam, nhưng không ai quan tâm, ngoại trừ Mã Kiều Nhi. Đêm đó, nàng tiếp gần hai chục khách. Lần đầu tiên, nàng cảm nhận một cách khác thường về những con cu Trung Quốc. Tất cả đều vội vã. Tất cả đều tột đỉnh. Nhưng cũng tất cả tinh dịch đều khô như bột. Mã Kiều Nhi hỏi Đạm Tiên về hiện tượng này, Tiên cũng chỉ phỏng đoán: “Có lẽ đó là kết quả của một chính sách về toàn cầu hóa của người Trung Quốc. Chị ngờ rằng, đàn bà chỉ ngửi bằng mũi cũng có thể thụ thai.”

Tinh khí bay mù mịt. Những cô gái người dân tộc thiểu số sống ở quanh vùng đều mang bầu khống. Bụng của họ càng ngày càng to ra nhưng rỗng tuếch. Nỗi hoang mang lan tỏa khắp rừng núi. Nhưng hơn chín tháng sau, bụng của họ tự xẹp xuống như chưa có chuyện gì. Tuy nhiên, cái tai nạn kỳ cục đó đã để lại những vết nhăn di chứng không những trên bụng họ mà còn trên bụng của tất cả những bé gái sinh ra sau này. Các thày cúng đều cho rằng đó là hội chứng “thiên triều”.

Một trong số những cô gái từng mang bầu khống đã theo anh chàng buôn gỗ lậu về miền xuôi nói với Kiều Nhi: “Em hoàn toàn mất cảm giác về chuyện ấy. Nhưng em muốn theo chồng để phục hồi chức năng. Chị giúp em được chứ?”. Kiều Nhi bảo: “Không cần đâu. Cảm giác chỉ là sự bịa đặt của mấy ông nhà văn. Em muốn thế nào thì nó sẽ là như thế.” Cô gái không hiểu. Nhưng cô ta có bản năng của một thú rừng, vì thế sự hoang dã có bài học của riêng nó.

Những ngày hành nghề trong rừng với lao động đồng hương Trung Quốc, Mã Kiều Nhi không cảm thấy bị tổn thương như Nguyễn đã thương cảm một cây quế cao quí để cho mán mường trèo leo. Ngược lại, nàng hoàn toàn sống an vui với truyền thống “thập nữ viết vô” trong sự tồn tại của mình. Một cách nghịch lý, nó giải thoát nàng bằng thân phận một con đĩ. Đậm đà bản sắc Nho giáo.

Chính Nguyễn cũng đã không nhìn thấy tính phản động của tinh thần Nho giáo trong cuộc đời mình. Vì thế đã có lúc, Nguyễn muốn chạy vào Gia Định theo phò Nguyễn Ánh chống giặc Tây Sơn. Nhưng Nguyễn không bao giờ cảm thấy được hóa giải nghiệp chướng như con đĩ toàn phần Mã Kiều Nhi. Nguyễn lúc nào cũng là một hàng thần lơ láo thân phận trí thức.

Cuộc đời Mã Kiều Nhi không có biến cố, kể cả việc nàng phải bán mình chuộc cha và trở thành Vương Thúy Kiều như Thanh Tâm Tài Nhân hay Nguyễn Du đã mô tả. Từ trước khi nàng có mặt trên cõi đời, Mã Kiều Nhi đã là đĩ. Và cho đến muôn đời sau, Mã Kiều Nhi vẫn là đĩ.

Bản thân Khổng Tử hay Nguyễn Du cũng chỉ là những kẻ chạy theo quyền lực và phò quyền lực. Khổng giáo là tập đại thành của sự sa đọa trí thức.

Năm 1862, Hòa ước Nhâm Tuất được ký, tỉnh Gia Định được nhượng quyền cho Pháp cùng với Biên Hòa và Định Tường. Lúc ấy Mã Kiều Nhi đang sống trong Chợ Lớn. Trải nghiệm với lính Tây là một cảm giác rất kỳ quặc. Khi lính Tây xông vào nhà, Mã Kiều Nhi đang ngồi đan áo, nàng vội vàng đứng lên định cởi quần dâng hiến ngay, nhưng dường như bọn Tây không biết thế nào là phụ nữ Á Đông toàn tòng, xông vào với tất cả khí thế của kẻ đi chinh phục thuộc địa. Kết quả là Tây không tìm được sự thỏa mãn khai hóa, mà Ta cũng mất cơ hội thống khoái của thứ đức hạnh nhẫn nhục. Tây nằm bất tỉnh nhân sự thượng mã phong trên cái ngổn ngang giao lưu văn hóa. Tay vẫn còn cầm cây đan, Kiều Nhi đâm vào khúc xương cùng anh Tây, giải cứu chàng thoát khỏi nỗi ô nhục văn minh súng đạn.

Tỉnh dậy, Tây nhìn ra Tây và cũng nhìn thấy Ta. Từ đó, có kỹ nghệ lấy Tây và Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng.

Năm 1975. Mã Kiều Nhi bất chợt cảm thấy mình trở thành nhân vật trung tâm của toàn bộ cuộc cách mạng do Karl Marx khởi xướng. Bản thân nàng là một tuyên ngôn “vô sản thế giới hãy đoàn kết lại” trong mọi góc độ, chủ thể và đối tượng. Khám phá này nâng tầm Mã Kiều Nhi thành một thương hiệu toàn cầu và mang tính phổ quát. Chưa bao giờ Mã Kiều Nhi lại nhận được một thứ tình cảm tương lân như thế với tất cả nhân dân khi trên giường cũng như ngoài đường phố.

Không có quần áo đại cán hay công nhân lao động. Cũng không có linh hồn hay bản sắc. Mọi thứ trở nên đơn giản lạ kỳ.

Và đến khi bước vào thế kỷ 21, Mã Kiều Nhi đã trở thành đĩ quốc tế.

Có lúc nàng phải đến tận Hà Khẩu của Trung Quốc hay các khu đèn đỏ ở Campuchia, Singapore và Malaysia kiếm ăn. Hộ chiếu Việt vẫn có sự hấp dẫn riêng của nó.



2.

Chuyện ở Hà Khẩu.

Có anh nông dân muốn mua nàng mang về quê. Kiều Nhi bảo anh: “Em là đĩ, không làm vợ được.”

Anh nông dân khẩn khoản: “Anh cần có con nối dõi, em đẻ cho anh một thằng con trai, sau đó tùy em.”

Tuy nhiên, Kiều Nhi bảo anh nông dân đồng hương: “Nếu em chỉ có thể đẻ cho anh toàn con gái thì sao?”

Anh nông dân điềm nhiên: “Thì em sẽ phải tự biết cách xử lý. Anh cần một thằng con trai.”

Kiều Nhi hỏi: “Em sẽ được đền bù ra sao?”

Anh nông dân vẫn bình thản: “Đủ để cho em có một kỹ viện ở Bắc Kinh hoặc Hà Nội.”

Kiều Nhi bảo: “Cho em vài ngày suy nghĩ và thu xếp công việc.”

Anh nông dân nói: “Không, đi ngay bây giờ. Mọi thứ anh đã chuẩn bị rồi. Em có thể ra khỏi đây mà không sợ phiền hà gì.”

Kiều Nhi hiểu ngay mình đã gặp một tay anh chị thứ thiệt. Có thể là Sở Khanh, cũng có thể là Từ Hải. Hoặc hai trong một, vì thế có thể gọi anh nông dân này là Sở Từ.

Sở Từ đưa Kiều Nhi ra xe hơi. Đi nửa ngày đường, họ đến một thị trấn trên núi và đi qua cái cổng cầu kỳ vào một biệt thự thuộc vào loại đẹp nhất khu vực. Sở Từ nói với Kiều Nhi: “Hoặc em là bà chủ của ngôi biệt thự này, hoặc em sẽ là một con nha đầu mãn kiếp ở đây.”

Ở trong nhà thì tuyệt đối sung sướng, muốn gì cũng được, nhưng bước ra khỏi cổng đều có người đi theo. Kiều Nhi buộc phải trở thành cái máy đẻ. Rồi nàng cũng mang thai. Sinh con gái, Kiều Nhi không kịp thấy mặt con. Nó bị bóp cổ chết và ngâm rượu. Đó là loại rượu chỉ dành cho các đại gia muốn tẩm bổ quả thận và cầu mong ân sủng của vận hạn. Lần đẻ con thứ hai, may sao là con trai. Sở Từ giữ đúng lời hứa, Mã Kiều Nhi được giải phóng. Nàng ôm một đống tiền về Hà Nội mở quán bia ôm.

Mã Kiều Nhi nhờ Đạm Tiên tuyển tiếp viên và giao Đạm Tiên làm má mì quản lý các em. Không ai xuất sắc hơn Đạm Tiên trong việc này. Các anh giai muốn chân quê hay hiện đại đều được đáp ứng. Các kiểu cung đình phương Đông hay quái dị bạo lực phương Tây cũng đều được phục vụ chu đáo. “Tất cả thế giới trong tầm tay”, đó là slogan của nhà hàng đặc sản Kiều Tiên.

Sự thành công của Kiều Tiên khiến các bà Hoạn Thư trong Hội Liên hiệp Phụ nữ ganh tị và phản ứng quyết liệt. Kiều Nhi và Đạm Tiên phải vào trường phục hồi nhân phẩm với quyết định cấm hành nghề mại dâm vĩnh viễn.

Kinh tế thị trường với qui luật cung cầu tự nhiên, mặc dù được định hướng xã hội chủ nghĩa cũng không thể ngăn cản Kiều Nhi và Đạm Tiên tiếp tục hành nghề. Bởi xét cho cùng, xã hội phong kiến Khổng Nho cũng như xã hội xã hội chủ nghĩa đương đại, trong bản chất luôn tiềm ẩn những ức chế nội tại một cách nóng bỏng nhất. Vì thế nhu cầu về sự phóng thể trở thành tất yếu đối với toàn xã hội. Thực hiện hành vi tình dục là một giải pháp thuận tiện và đơn giản để giải phóng năng lượng và an ủi bản thân mang tính cá nhân. Đồng thời nó cũng là một hòa giải với căn tính đĩ mang màu sắc xã hội.

Kiều Nhi không bao giờ chết. Nàng tồn tại vừa như một bản thể vừa như một hiện tượng. Ngay chính Vương Thúy Kiều cũng không thể vượt thoát được cái mệnh bạc mà tráng lệ ấy khi tìm đến với cái chết trên sông Tiền Đường.

Để trốn tránh chế độ quản thúc tại địa phương, Kiều Nhi và Đạm Tiên lên rừng đầu nguồn phục vụ các anh giai đồng hương Trung Quốc. Nhưng tình trạng mang bầu khống liên miên do tinh trùng bột của niềm kiêu hãnh Hán hóa rơi vãi vô tội vạ khiến Kiều Nhi và Đạm Tiên phải bỏ chạy. Các em lại về trong vòng tay âu yếm của anh trai Việt. Kể từ khi gặp Nguyễn, Mã Kiều Nhi đã là người tình muôn thuở của tâm hồn Việt. Nàng vẫn dzin trên từng cây số. Vẫn mẫu mực trâm anh văn hóa thuần Việt.



3.

Mã Kiều Nhi có phải là tín đồ của Linga không? Nàng chẳng bao giờ thắc mắc về điều ấy. Nàng có cái vốn tự có và để cho Linga có thể là Linga như nó phải thế, cái Yoni của nàng tung tóe từ ngõ hẻm đến đại lộ như nó vốn là thế. Nhân phẩm của nàng. Dâng hiến và bị hãm hiếp.

Từ sâu thẳm, tất cả đều tôn thờ nàng. Nhưng tất cả đều miệt thị nàng. Vì thế, để xác lập quyền tồn tại và mưu cầu hạnh phúc, thậm chí mang hạnh phúc đến cho người khác, nàng luôn bành hai chân dạng háng uy nghi trước mọi nền văn minh nhân loại.

Mã Kiều Nhi kéo đầu từng người áp dí vào hĩm nàng. Nàng bảo đấy là niềm ân sủng vĩ đại nhất mà con người từng biết đến. Chẳng có lãnh tụ nào muôn năm như nàng. Thế nhưng Nguyễn vẫn bảo nàng mệnh bạc. Cái hạnh phúc thật của con người không phải vì đám đông, cho đám đông. Lẽ ra Vương Thúy Kiều phải thuộc về Nguyễn, hay Mã Kiều Nhi phải thuộc về tôi chẳng hạn. Nhưng cả Vương Thúy Kiều và Mã Kiều Nhi đều là người của bá tánh, vì bá tánh và cho bá tánh. Hồng nhan đa truân.

Cả Vương Thúy Kiều và Mã Kiều Nhi đều không có quyền chọn lựa.

Vì thế, Vương Thúy Kiều lại từ phong tình cổ lục lặng lẽ bước ra phong trần. Thúy Kiều đi theo Kiều Nhi và Đạm Tiên mở quán cà phê ôm, hớt tóc massage trên mọi nẻo đường quê hương của Nguyễn.

Cả ba vừa trực tiếp hành nghề, vừa tuyển thêm đào nương khi họ làm ăn phát đạt. Đạm Tiên vốn là ma nên nàng biết đi đâu để tìm các cô gái có nhu cầu muốn làm gái báo hiếu song thân. Sau khi được Vương Thúy Kiều phỏng vấn, nhiệm vụ dạy nghề cho các cô là của Mã Kiều Nhi.

Thúy Kiều hoàn toàn thất vọng vì tấm gương báo hiếu bán mình chuộc cha của nàng đã trở thành một lý do chính đáng biện minh cho sự xả thân của các cô. Không một cô gái nào bày tỏ ý muốn làm gái vì vinh quang của nghề hay bản chất đĩ tính của mình. Tất cả vì hoàn cảnh.

Mã Kiều Nhi nói: “Không một ai nhận trách nhiệm do mình và vì mình.” Vì thế việc dạy nghề của nàng cũng trở nên khó khăn hơn. Các cô gái không nhận biết được cái phẩm chất và lương tâm nghể nghiệp là phục vụ một cách bình đẳng tất cả mọi khách chơi, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ.

Đạm Tiên cũng bảo: “Không một cô gái nào nhìn ra làm gái là con đường duy nhất của mình.”

Nghề làm gái mất đi chất hồng nhan bạc mệnh và cái tài tình công phu của nghề, mà chỉ còn là một thứ lao động giản đơn thuần túy kinh tế thị trường. Vì thế, gái bán dâm cũng không còn là một cảm hứng thi ca như các nàng kỹ nữ xưa kia.

Nhưng nó vẫn là một quá trình văn hóa hình thành bởi các cuộc cách mạng công nghệ và ý thức hệ.

Vương Thúy Kiều, Mã Kiều Nhi và Đạm Tiên không những hành nghề bán dâm mà còn luôn đi cùng và đi trước thời đại, các em có mặt trong mọi thứ văn hóa phẩm từ phim XXX dị tính, đồng tính và lưỡng tính đến quảng cáo sex toy đủ loại để quảng bá và tạo nên một thị hiếu nghệ thuật sống mang tính xã hội hài hòa theo tinh thần triết lý chính trị của Hồ Cẩm Đào tiên sinh.

Tứ hải giai huynh đệ của Khổng Tử là chuyện vặt.



4.

Trong lúc đó, Kim Trọng vẫn yên bề gia thất và trung quân ái quốc, bất kể vật đã đổi sao đã dời. Tuy thỉnh thoảng chàng cũng tìm cách mua vui với Vương Thúy Kiều một vài trống canh. Lỡ khi Thúy Kiều kẹt trong mùa kinh nguyệt thì chàng tìm Mã Kiều Nhi. Và để cho có ý vị nhân sinh cao cả, chàng cũng thường thoát tục với Đạm Tiên trong cõi thiền. Tóm lại, còn vua còn mình, chàng đề huề sinh thái.

Thật ra, chỉ có Mã Kiều Nhi mới biết Kim Trọng thực hư thế nào. Vương Thúy Kiều không phải không biết, nhưng nàng vẫn cố giữ thể diện cho chàng. Vì thế, Kim Trọng cho đến muôn đời sau vẫn là một anh trí thức mà Mao Trạch Đông coi không bằng cục phân. Những cục phân ấy luôn tự an ủi mình trong cõi ta bà rằng “ăn cây nào rào cây ấy” theo đúng đạo nghĩa Nho gia.

Những gì Mã Kiều Nhi biết về Kim Trọng chỉ là vấn đề chất lượng đàn ông. Cái mà Đạm Tiên biết về Kim Trọng mới thực là con người và niềm tin của chàng.

Bí thư Tỉnh ủy là một trong các chức vụ không phải cao nhất của Kim Trọng nhưng lại mang đến cho chàng sự viên mãn nhất. Với chức vụ này, chàng đủ điều kiện để hủ hóa mang tính chất mặt trận tổ quốc, đồng thời thu vén được cả một gia tài cho con cháu hưởng lộc đến muôn đời sau. Sử sách ghi chép về giai đoạn này không kể xiết, thế hệ độc giả thời Google.com có thể truy cứu tài liệu với các từ khóa như “dự án”, “đất đai”, “mua quan bán chức”, “tham nhũng”, “lợi ích nhóm” hoặc “đảng”…

Nhưng để đạt được vinh quang, Kim Trọng đã phải nhờ đến Đạm Tiên.

Cứ mỗi cuối tháng âm lịch, Kim Trọng cùng Thúy Vân đều đến trước mộ Đạm Tiên cúng vái và cầu cơ. Nể tình Vương Thúy Kiều, Đạm Tiên giúp Kim Trọng tất cả những gì chàng muốn với một điều kiện duy nhất, Kim Trọng phải tự làm hình nộm khỏa thân của mình và hóa vàng xuống âm phủ cho nàng. Không ai biết ở thế giới bên kia Kim Trọng và Đạm Tiên có làm gì với nhau không, nhưng con người còn lại của Kim Trọng trên dương thế hoàn toàn bị bất lực trong vòng nửa tuần trăng mỗi lần như thế. Vương Thúy Vân không ghen, bởi vì nàng cần những thứ khác cũng không kém tình yêu của Kim Trọng.

Giải thích về điều này, Đạm Tiên chỉ bảo: “Nếu không vong thân tuyệt đối, anh ta sẽ không thể thành công trên cõi đời.” Riêng Vương Thúy Kiều lại nhìn nhận vấn đề cách khác: “Thật ra, Kim Trọng cũng chẳng vong thân tha hóa gì cả, con người chàng nó vậy.” Mã Kiều Nhi thì đơn giản hơn, nàng nói: “Anh Kim Trọng lúc nào cũng bo rất đẹp.”

Trong lúc Kim Trọng vẫn là một kẻ sĩ mẫu mực phục vụ chế độ hết mình hết trí khôn, vợ đẹp con ngoan, lợi dụng chức quyền vun vén tài sản; thì Từ Hải đã trở thành nạn nhân trong các vụ cướp cạn giữa ban ngày của đám vua quan như Kim Trọng.

Không sống được ở Trung Quốc, Từ Hải trốn qua Việt Nam cũng chung thân bất mãn. Trải qua nhiều triều đại, từ vô sản bần cố nông chàng đã đổi đời thành trí thức tiểu tư sản. Karl Marx, Lenin, Mao Trạch Đông và công an nhân dân không biết xếp chàng vào loại giai cấp nào để xử lý cho đúng. Về bản chất, Từ Hải vẫn là kẻ vô sản về mặt kinh tế xã hội, nhưng thái độ chính trị của chàng lại có những biểu hiện của kẻ ngang ngược và bất định của tên trí thức tiểu tư sản thành thị.

Từ năm 1956, cùng với phong trào Nhân văn – Giai phẩm, Từ Hải đã làm những bài thơ mang tính phản kháng và giễu cợt, nhưng thơ của chàng chỉ được đọc trong những lúc rượu vào lời ra, vì thế Đảng không chấp. Cũng nhờ thế, thơ của chàng trở thành một thứ tài sản chung được truyền tụng từ bàn nhậu này tới bàn nhậu khác. Đó là những năm tháng cùng quẫn nhất của đời chàng. Bất cứ một ý tưởng hay hành vi nào mang tính khác thường đều bị qui kết là chống chế độ. Mà chàng vốn là con người mang mầm mống chống đối từ trong máu. Giữ cho dòng máu ấy không vọt ra là một cực hình. Sự phẫn uất của chàng biến thành thơ và nỗi cay đắng của chàng biến thành sự u mặc. Cơm áo gạo tiền biến chàng thành ma cô của Thúy Kiều. Chưa bao giờ chàng lại cảm thấy số phận mình và Thúy Kiều hòa trộn vào nhau đến thế.

Càng nghĩ đến tình cảnh của mình, Từ Hải càng u uất. Chàng chìm đắm trong rượu. Nhưng để có rượu uống không phải lúc nào cũng hào hùng.

Năm 1970. Sau khi từ chiến trường miềnNamtrở về, Từ Hải lấy một cô bạn cùng khóa ở Đại học Sư phạm làm vợ. Nhờ gia thế nhà vợ và cũng nhờ cái lý lịch cựu chiến binh, Từ Hải xin được một chân biên tập của Thông tấn Xã. Cũng từ đây, chàng bắt đầu viết văn theo đúng tinh thần cán bộ chiến sĩ thi đua người tốt việc tốt và sinh hoạt chi bộ Đảng. Chàng quên hết những bài thơ châm biếm xưa kia, phục vụ Đảng tận tụy. Chàng dễ dàng có một chỗ đứng trong hàng ngũ Hội Nhà văn Việt Nam. Mọi chuyện thật tốt đẹp và tiếp tục tốt đẹp cho đến cả sau khi thống nhất đất nước.

Năm 1976 chàng chuyển vào Sài Gòn công tác. Được tận mắt và tiếp xúc với hàng đống sản phẩm văn hóa đồi trụy của miền Nam bày bán ở khu chợ trời đường Đặng Thị Nhu, Từ Hải hoa mắt vì các tựa sách mà trước đó ở miền Bắc có mơ cũng không thấy. Càng đọc càng choáng váng. Từ Hải nhìn thấy ánh sáng của tự do. Chàng mơ hồ nhận ra con người thật của mình đã ngủ quên bao năm. Nhưng chàng biết không thể đánh thức nó bởi cái con người thật ấy có thể sẽ làm chàng mất tất cả.

Bà cô bên vợ chàng vốn di cư từ 1954 đón tiếp chàng nồng hậu. Biết chàng thiếu thốn vì mới chân ướt chân ráo vào miền Nam, bà cho vợ chồng chàng tất cả những thứ cần thiết, từ quần áo, giày dép đến giường tủ, thậm chí cả một chiếc xe đạp, quạt máy và cái TV. Đó là một gia tài vĩ đại.

Khi nhà nước cho phép cán bộ, công chức được quyền tham gia hoạt động kinh tế, Từ Hải liền cải biến căn nhà của mình thành khách sạn cho thuê giờ. Cả Mã Kiều Nhi, Vương Thúy Kiều và Đạm Tiên đều dẫn khách đến khách sạn của Từ Hải. Vừa là chỗ thân tình, vừa cũng là để giữ mối, giá thuê phòng của ba nàng được Từ Hải bớt 20%. Tuy nhiên, mỗi lần dẫn mối cho họ, Từ Hải đòi ăn chia 40% tiền cò.

Vốn trải nghiệm của Từ Hải về cuộc sống đặc biệt phong phú, nhất là với giới hồng nhan. Vì thế, Từ Hải vẫn ôm giấc mộng viết một tác phẩm lớn về cái gọi là Vina-đĩ như một biểu tượng văn hóa người Việt. Nhưng mỗi lần cầm bút, Từ Hải lại nhớ đến Hồ Tôn Hiến, nhớ đến cái nhục chết đứng của mình, chàng mượn rượu chém gió.

Năm 1972. Không biết từ nỗi ghen ăn tức ở nào, Từ Hải bị vu cáo đã hợp tác với địch khi cùng đồng đội chiếm đóng Huế năm 1968.

Tất cả bạn bè đều sợ hãi xa lánh chàng. Chi bộ Đảng họp kiểm điểm. Công đoàn họp kiểm điểm. Chi Hội Nhà báo họp kiểm điểm. Chi Hội Nhà văn họp kiểm điểm. Ai cũng cố tìm một điều gì đó để kết án chàng. Ai không phát biểu thì được yêu cầu phát biểu, nếu không có ý kiến sẽ bị qui kết thành đồng lõa.

Từ Hải không nhớ mình đã phải viết bao nhiêu bản tự kiểm. Từ Hải không biết phải chống đỡ kiểu gì. Chàng suy sụp. Nguy cơ bị đuổi ra khỏi cơ quan đã ở trước mắt, không kể chàng có thể bị bắt.

Từ Hải ngủ không được, nuốt không vô. Những ảo ảnh bay lượn. Hệ thống phản xạ của cơ thể bị tê liệt. Đàm rãi nhổ không ra, mỗi lần như thế chàng phải há miệng cho sự kinh tởm tự động rớt xuống đất. Chàng cũng không thể đứng đái. Nước tiểu chỉ có thể thoát được khi chàng ngồi xuống như đàn bà.

Tuyệt vọng và liều mạng, Từ Hải không đến cơ quan nữa. Chàng đến nhà Thúc Sinh tìm sự cứu giúp. Bấy giờ Thúc Sinh đã là một ông lớn trong Ban An ninh Nội chính. Bà Hoạn Thư tiếp đãi chàng ân cần như người nhà. Thuở ấy, gia đình bà có tiêu chuẩn vào cửa hàng mậu dịch quốc tế. Từ Hải biết bọn ở cơ quan chỉ là một lũ thượng đội hạ đạp, nên chàng bảo Hoạn Thư cần gì chàng đi mua giùm, rồi chàng mang đống đồ của Họan Thư mua theo chế độ đặc biệt đến vất trên bàn mình ở cơ quan. Bọn chúng nhìn thấy đống đồ xa xỉ và cao cấp ấy đều chóa mắt và xanh mặt, dù đó chỉ là mấy thước vải ni-lông, chai mật ong và dăm ổ bánh mì. Chúng hiểu thông điệp của chàng. Và rồi chúng biết chàng là chỗ quen biết với Thúc Sinh. Thế là án oan quan hệ với CIA của chàng tự nhiên chìm vào quên lãng.

Mọi mối quan hệ của chàng trở nên tốt đẹp hơn bao giờ hết.

Năm 1968, Từ Hải có mặt ở Huế. Không như những nhà văn, nhà báo ngồi ở Hà Nội thêu dệt về những người dân Huế mặc áo mới hân hoan đón đoàn quân giải phóng, dân Huế đã sợ hãi bỏ chạy như tất cả những nơi có chiến sự. Cho dù chỉ chạy loanh quanh. Nhưng quan trọng hơn, Từ Hải thấy dân chúng sợ Việt cộng, sợ mình. Hiện thân của súng đạn và tử thần. Rồi Từ Hải ngỡ ngàng. Chàng đâm ra trắc ẩn. Và chàng đã chia sẻ. Từ Hải nhường phần ăn của mình cho một gia đình đang đói. Chẳng may gia đình ấy là một gia đình “ngụy quyền”. Một đồng đội báo cáo cho cấp trên. Sự nhân đạo được suy diễn và nâng thành quan điểm. Nó trở thành một vết đen trong lý lịch của chàng. Và trở thành cái cớ cho những kẻ thù trong Đảng đánh chàng.

Không những thế, Từ Hải còn bị rắc rối vì một chuyện khác. Cũng năm 1968 ở Huế, chàng báo công đã cứu một anh cán bộ rất nổi tiếng trong phong trào đấu tranh của sinh viên Huế bằng việc dùng dao lam cạo râu mổ an toàn lấy viên đạn ra khỏi chân anh ta. Sau này, anh cán bộ nằm vùng cũng ra Bắc. Anh ta lại báo cáo một người khác đã cứu mình trong chiến dịch Mậu Thân ở Huế. Đó chính là thủ trưởng của anh ta. Từ Hải nghe, chỉ còn biết chửi thề.

Từ Hải vẫn nhớ mãi tâm trạng hụt hẫng của mình khi rút khỏi Huế. Một số đồng đội của chàng rời hàng ngũ “hồi chánh” theo địch. Chính chàng cũng đã nhìn thấy một phần của một sự thật khác về cái miền Nam trong “kìm kẹp Mỹ ngụy” không như mình vẫn tưởng. Lá cờ Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam trên kỳ đài Ngọ Môn bị máy bay trực thăng của quân “ngụy” bắn tơi tả.

Từ đó, khi Thúc Sinh nhờ chàng đưa các em Mã Kiều Nhi, Vương Thúy Kiều, Đạm Tiên đến phục vụ các loại thủ trưởng, chàng đã rất thản nhiên.

5.

Mã Kiều Nhi nói với tôi: “Em tuổi gà và cũng như gà, em đi tìm giun, không thấy giun mà chỉ thấy dây thun. Biết là dây thun nhưng vẫn nuốt.”

Tôi nói: “Anh cũng chỉ là một thứ dây thun thôi. Nuốt vào thắt ruột chết đấy.”

Kiều Nhi bảo cũng chả sao. Nàng khoe vú: “Hàng chuẩn.”

Tôi nhìn-cười-bảo: “Tuyệt.”

Kiều Nhi nói: “Cho hôn đấy.”

Thúy Kiều bất ngờ xuất hiện: “Hàng của nó chỉ là thứ phẩm thôi. Đây mới là hàng xịn.” Rồi nàng cũng vạch vú ra.

Tôi bảo: “Siêu phẩm.”

Nhưng khi Đạm Tiên khoe hàng, ngôn ngữ bỗng trở nên ú ớ. Đạm Tiên dịu dàng: “Nếu anh không đủ đức tin thì cứ bóp thử.”

Tôi không phải Tô-Ma của Chúa Giêsu, nên tôi tin. Đây là thứ ảo tượng ma quái, nó chỉ tùy thuộc vào cái cảm thức tiên thiên về bản chất của hiện tượng. Vì thế, bóp hay không bóp cũng không khác gì nhau. Tôi nói: “Anh chỉ bóp khi biết chính xác nó là thật. Và vì anh biết nó là thật nên không cần bóp thử.”

Đạm Tiên hỏi: “Vậy thì anh muốn gì?”

Tôi nói như một người đàn ông chân chính: “Anh muốn nó là của riêng anh.”

Đạm Tiên cười: “Không bao giờ. Nó là của riêng em và em muốn phân phát nó một cách rộng rãi nhất. Nếu anh muốn, anh cũng có phần.”

Tôi lắc đầu: “Anh ăn bánh trả tiền.”

Đạm Tiên lại cười: “Anh là đồ dây thun. Nhưng em không xài tiền âm phủ.”

Bất ngờ, Thúy Kiều xen vào: “Em biết anh hợp với tuổi gà. Em cũng tuổi gà đấy.”

Đạm Tiên nói: “Em cũng là gà thích nuốt dây thun.”

Cái dây thun của tôi bị kéo căng ra. Ba con gà mái dầu mổ tôi gãy xương sườn.

Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm dưới đất trong một căn nhà trống trơn. Nhưng tôi lại nghe thấy những âm thanh kỳ lạ phát ra từ bốn bức tường, trên trần và dưới nền nhà. Đó là tạp âm không thể phân biệt giữa những tiếng rên sung sướng và đau khổ. Tôi cũng ngửi thấy mùi hiu hắt của đất thó, mùi tanh tưởi của tinh trùng, mùi nếp chín nồng nồng của âm hộ. Tôi có cảm giác như trong âm ty, nhưng ánh sáng bình minh đang rực rỡ chiếu qua khung cửa. Tôi đã qua một đêm hay nhiều đêm cũng không thể kiểm chứng. Tôi thử cử động chân tay. Rồi tôi xoay người ngồi dậy. Đây là thực tại. Những bức tường trắng vẫn rầm rì những âm thanh của thống khoái và đọa đày. Và tôi nhìn thấy những bức tường oằn oại. Không phải ảo giác.

Mã Kiều Nhi hỏi: “Anh nuôi em được không?”

Tôi nói: “Nếu em độ cho anh trúng số.”

Kiều Nhi nói: “Em chỉ có thể độ cho anh giải thoát thôi.”

Tôi bảo: “Nhưng anh còn muốn tục lụy.”

Kiều Nhi nói: “Vậy thì anh nên sống với Thúy Kiều.”

Tôi bảo: “Anh không thích tính cách của Thúy Kiều. Mặc dù Thúy Kiều là một mẫu đàn bà nhân hậu.”

Thúy Kiều bước ra khỏi bức tường. Tôi không còn nghe thấy những âm thanh rầm rì nữa. Thúy Kiều nói: “Em vẫn luôn là một người yếu đuối.”

Tôi nhìn Kiều. Giống như lúc Kiều ngồi ở lầu Ngưng Bích. Mặt nàng nhợt nhạt. Sương khói. Tôi cảm thấy ái ngại. Nhưng tôi có thể làm gì? Tôi không phải Thúc Sinh, Sở Khanh hay Từ Hải. Tôi không thể đeo mang số phận người khác. Tôi là kẻ nhìn ngắm. Kẻ chơi chạy. Kẻ phá hủy.

Đạm Tiên ở dưới đất chui lên. Nàng như lửa. Tôi nói: “Em biến anh thành kẻ tham lam.”

Nhưng Đạm Tiên cười: “Anh không biết lượng sức mình.” Ừ, có lẽ tôi chỉ nói cho sướng miệng. Tuy thế, Đạm Tiên vẫn đốt tôi bừng bừng cháy. Đạm Tiên là ân huệ, nàng đẩy tôi tới một cảnh giới trừu tượng mê hoặc. Không còn biết mơ hay thực. Và tôi không phân biệt được ai là Mã Kiều Nhi, ai là Vương Thúy Kiều, ai là Đạm Tiên. Tôi bơi trong một không gian lỏng. Mất trọng lực.

Thúc Sinh bảo sân khấu chính trị bây giờ chỉ toàn bọn sâu bọ và ngu dốt, thằng nào có tư cách một chút thì lại mê gái. Mã Kiều Nhi bảo: “Đàn ông mê gái mới là người có tư cách.”

Thúc Sinh nói thêm: “Thế nhưng, những người đàn ông đích thực ấy lại bị bọn âm binh biến thành nhơ bẩn.”

Đạm Tiên hỏi: “Anh không phải là phù thủy của bọn âm binh sao?”

Thúc Sinh nói: “Anh về hưu rồi.”

Đạm Tiên bảo: “Các bác về hưu đều rách chuyện.”

Thúc Sinh cười trừ: “Đấy là vấn đề thuộc về cơ chế em ạ.”

Đạm Tiên nói: “Em là ma nên em đi guốc trong bụng tất cả các anh. Các anh chỉ khác nhau ở chỗ thật hay giả.”

Thúy Kiều xen vào: “Em không quan tâm chuyện thật hay giả. Em tin tất cả những ai đến với em, cho dù họ cứng hay mềm.”

Tôi thường xuyên mất trọng lực.

Thúc Sinh quàng tay ôm vai Thúy Kiều, nói: “Nếu như có thể bắt đầu lại, chắc chắn tôi sẽ làm khác, sống khác.”

Từ Hải hỏi: “Anh biết sai từ bao giờ?”

Thúc Sinh đáp: “Ngay sau khi vào Đảng.”

Từ Hải lại hỏi: “Đảng sai từ bao giờ?”

Thúc Sinh đáp: “Ngay sau khi thành lập.”

Từ Hải hỏi tiếp: “Người thành lập Đảng sai từ bao giờ?”

Thúc Sinh im lặng một lúc rồi nói: “Từ Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp tại Tours tháng 12.1920, gia nhập Cộng sản Quốc tế thứ ba và trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp.”

Từ Hải nói: “Đáng lẽ chúng ta chỉ nên vui chơi.”

Thúc Sinh nói: “Cách mạng cũng là một cuộc chơi.”

Từ Hải bảo: “Chúng ta mất quá nhiều.”

Vương Thúy Kiều nói: “Cả hai anh đều không còn giống như hồi mới gặp em.”

Đạm Tiên nói: “Nếu không có Mao Trạch Đông thì các anh vẫn phong kiến.” Thúc Sinh cười: “Thời đại Mao Trạch Đông chỉ là bình mới rượu cũ. Vẫn là một thứ trung quân ái quốc vô điều kiện. Chuyên chính hơn vì thế cũng ít nhân tính hơn.”

Mã Kiều Nhi nói với tôi: “Từ Hải đã biến thái. Thúc Sinh cũng biến thái.”

Tôi bảo: “Anh cũng biến dạng.”

Mã Kiều Nhi cười: “Anh từ xấu giai đến xấu lão.”

Tôi cũng cười: “Lẽ ra, đàn ông khi về già thường đẹp hơn nhờ từng trải và tự tại.”

Mã Kiều Nhi nói: “Anh xấu vì lúc nào cũng thảng thốt.”

Tôi bảo: “Anh tưởng mình nham nhở.”

Mã Kiều Nhi xoa đầu tôi: “Thực ra, anh rất dở hơi.”

Tôi ngả đầu vào lòng Mã Kiều Nhi: “Đó là những vết thương. Những cơn đau bất chợt. Và ám ảnh bởi cái chết.”

Mã Kiều Nhi hỏi: “Tại sao lại có những vết thương. Chiến tranh ư?”

Tôi nói: “Không. Nạn nhân của hòa bình.”

Mã Kiều Nhi nói: “Em không hiểu.”

Tôi bảo: “Giết người hay phủ nhận người khác trong hòa bình bao giờ cũng tàn nhẫn hơn thời chiến, bởi nó vô lý và vô nhân tính. Chúng ta bị giết mỗi ngày. Điều này không phải ai cũng nhận ra.”

Mã Kiều Nhi lắc đầu: “Em không quan tâm. Nhưng em lo nghĩ về anh.” Nàng nói thêm: “Anh cần được thoải mái.”

Tôi không nói nữa. Và tôi nằm xuống.

Bốn bức tường xung quanh tôi lại rầm rì.

Tôi nghe những tiếng đàn ông huyên thuyên. Đè lên nhau. Đan xéo nhau. Mỗi lúc một dày hơn. Và rồi không còn những bức tường xi măng nữa, chỉ là những tiếng nói dựng lên, bao kín. Những bức tường tiếng nói che khuất tôi, hay che khuất chung quanh. Và rồi nó trở nên quá mức chịu đựng. Tôi muốn hét lên. Nhưng tôi hét không ra tiếng. Đúng lúc ấy, tôi thấy Mã Kiều Nhi đè lên tôi.

Rồi tôi nghe những tiếng chạy thình thịch trên mặt đất. Người tôi nẩy lên. Tôi cần thoát ra khỏi chỗ này. Tôi nghĩ thế, nhưng tôi bất lực. Mã Kiều Nhi vẫn đè trên tôi. Mùi của nàng thiên cổ.

Tôi mở mắt. Đạm Tiên đứng trên đầu tôi. Ở tư thế nằm, tôi thấy Đạm Tiên sừng sững và đang trút xuống, như thác.

Tôi muốn nói: “Em đừng biến đi”, nhưng tôi nói không thành lời. Rồi người tôi bỗng nhẹ hẫng.

Mã Kiều Nhi nói: “Anh cứ nằm nghỉ đi.”

Thế giới quanh tôi như không có, chưa có. Khởi thủy chỉ có lời. Nhưng lời không hiện diện. Tôi há miệng cho lời tuôn ra. Nhưng chỉ có gió. Gió thông suốt từ trong ra ngoài và từ ngoài vào trong. Tôi xoay người nằm nghiêng. Vẫn chỉ thấy gió.

Từ Hải hỏi Thúc Sinh: “Làm thế nào để sửa sai?”

Thúc Sinh nói: “Có hai cách. Một là ra khỏi Đảng. Hai là xóa bỏ Đảng.”

Từ Hải lắc đầu. Ý nghĩ ấy chưa bao giờ có trong đầu chàng. Từ Hải hỏi: “Không có cách thứ ba sao?”

Thúc Sinh nói: “Tất cả các cách còn lại đều vô ích.”

Từ Hải hỏi tiếp: “Anh chọn cách nào?”

Thúc Sinh nói: “Không chọn cách nào cả.”

Từ Hải hỏi mà dường như không nhắm vào ai: “Vậy thì chúng ta đang vui chơi, hay làm cách mạng?”

Thúc Sinh cười, nói: “Chúng ta đang kiếm ăn.”

Từ Hải bỗng tràn ngập một mối hoài cảm về cái ngày chàng đầu hàng Hồ Tôn Hiến. Niềm tin chỉ dành cho bọn ngây thơ. Cùng lúc, Thúc Sinh có một niềm hưng phấn khác, bảo: “Bất kể thời đại nào, buôn thần bán thánh, hoặc mua quan bán chức đều rất ngon ăn. Cậu nên theo tôi.”

Từ Hải nhớ lại việc Vương Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha, chàng quyết định theo Thúc Sinh. Họ môi giới buôn bán từ một chỗ làm nhỏ mọn đến những địa vị cao sang nhất. Họ ăn tiền cò cả bên bán và bên mua. Và họ còn được cả ơn nghĩa.

(Còn 4 kì)

© 2013 Nguyễn Viện & pro&contra


























Tác phẩm đã xuất bản:















1
Trinh nữ
(tập truyện). NXB Thời Văn, 1995. Việt Nam.












2
Bố mẹ và con và…
(tạp bút). NXB Trẻ 1997. Việt Nam.












3
Hạt cát mang bóng đêm
(tiểu thuyết). NXB Trẻ 1998. Việt Nam.












4
Rồng và Rắn
(tiểu thuyết). Tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2002. Hoa Kỳ.

http://tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&artworkId=9009










5
Thời của những tiên tri giả
(tiểu thuyết). NXB Công An Nhân Dân, 2003. Việt Nam.




6
Chữ dưới chân tường
(tiểu thuyết). NXB Văn Mới, 2004. Hoa Kỳ.












7
26 LầnTờ Bờ Lờ
(tiểu thuyết). NXB CỬA, 2008. Việt Nam.

http://tienve.org/home/books/viewBooks.do?action=viewArtwork&artworkId=9020










8
Cơn bấn loạn bằng phẳng
(tiểu thuyết). NXB CỬA, 2008. Việt Nam.
















10
Nín thở & chạy & một hơi
(thơ). NXB CỬA, 2008. Việt Nam.












11
Đi & Đến
(tập truyện). NXB CỬA, 2009. Việt Nam.












12
Ngồi bên lề rất trái
(truyện & kịch). NXB CỬA, 2011. Việt Nam.












13
Nhảy múa để chết
(tiểu thuyết). NXB Tiếng Quê Hương, 2013. Hoa Kỳ.












14
Đĩ thúi
(tiểu thuyết). NXB CỬA, 2013. Việt Nam.












15
Đĩ thúi & phần còn lại ở cõi chết
(tiểu thuyết). NXB Chương Văn, 2015. Hoa Kỳ.












Cơn Đau Thắt Giữa Hai Đùi





Đứng trong phòng tắm, trên tay cầm lưỡi dao lam vừa được bóc ra khỏi tờ giấy bọc, chờ cho đôi mắt có ánh xanh của quỉ liếm xuống lưỡi dao xong, nó đặt lưỡi dao lên chiếc bồn rửa mặt, tụt quần xà lỏn xuống. Tay trái nó cầm con cu kéo dài ra, tay phải cầm lại con dao lam. Đôi mắt có ánh xanh của quỉ khép chặt. Miệng nó mím lại. Máu xối ra, không có một âm thanh nào khi con cu bị lưỡi dao sắc lẻm cắt ngọt, ngoài tiếng hét trong đáy lòng nó. Tiếng hét kéo dài trong lúc cái đầu mẩu của con cu vẫn nằm trong hai ngón tay của bàn tay trái. Nó ngất đi trong phòng tắm. Tiếng hét đau đớn vẫn vang vọng. “Em phải lên đường thôi. Bỏ lại cơn chán chường. Bỏ lại những thói quen cũ. Bỏ lại những gương mặt lờ nhờ không khí sắc”. Anh tự pha cho mình một ly café và ngồi xuống. Ngày chủ nhật không có Chúa. Anh không biết phải sống thế nào trong những ngày này. Ông anh cao quí phát hiện ra nó nằm giúm dó trong buồng tắm, máu lênh láng. Mang đi cấp cứu, con cu nó được gắn lại. Ông anh bảo mày là đàn ông, cần phải chứng thực mày trong cái lỗ của đàn bà. Nó nói không phải, tôi là đàn bà. Hãy cho tôi là đàn bà. Ông anh tát cho một cái nói mày làm nhục gia đình. “Em sẽ đi Cali. Lang thang ở đó một tháng. Em cần bình tĩnh lại”. Ly café đã nguội rồi. Anh vẫn ngồi ở chỗ quen thuộc và người bốc khói. Ở giữa hai đùi, bởi một sức trì kéo sâu thẳm, cái mu trơn láng từ từ lõm xuống rồi rách ra thành một cái khe. Ở giữa cái khe có một nỗi khao khát. Người nó toát mồ hôi. Bác sĩ ơi, làm ơn giải phẫu cho tôi. Hãy cho tôi là đàn bà. Bác sĩ bảo đâu cần thiết phải thế, cậu cứ đến rạp hát Vườn Trầu, ở đó sẽ có những người giải quyết cho vấn đề của cậu. “Em rất nhớ những ngày lang thang ở Sài Gòn. Những lần nhậu suốt đêm với lũ thiên tài loi choi. Giờ đây chỉ có một mình em vật lộn với những thứ thủ tục vớ vẩn”. Anh sợ đến lúc sẽ phải gục xuống vì mệt mỏi. Em có muốn anh tả cảnh cho nghe không? Nắng nhạt và lòng hoang mang. Khí hậu Sài Gòn dường như đang thay đổi. Anh nghĩ nếu có em, thì em lại bảo có điều gì không thay đổi đâu. Trong rạp không nhìn thấy người nhưng vẫn nghe thấy những tiếng rúc rích. Nó ngồi đại xuống một chiếc ghế. Trên màn ảnh những chiếc xe đuổi nhau. Tiếng bánh xe rít trên mặt đường ken két như tiếng người ta bú nhau. Một người giống đàn ông ngồi xuống bên cạnh, hắn nói nhỏ máy lạnh lạnh quá, rồi sờ vào đùi nó vuốt ve nhè nhẹ. Một cảm giác rờn rợn chạy khắp người. Bất thình lình bàn tay ấy bóp mạnh cu nó. Nó hất bàn tay đó ra. Người giống đàn ông ấy nói: “Em thương anh mà, sướng đi anh”. Nó đứng lên rời khỏi rạp. Những con chim mang mầm bệnh bay từ phương bắc xuống trốn rét đậu kín trên mặt đường. “Em nhận ra tự do chỉ là ảo tưởng”. Nhưng con người cần có ảo tưởng để sống. “Tình yêu cũng là một ảo tưởng”. Và điều ấy đẹp đẽ biết bao, phải không? “Em không nghĩ thế”. Bác sĩ ơi, tôi cần một người đàn ông thật sự yêu tôi như tôi là một người đàn bà. Thì cứ đến rạp Vườn Trầu thử xem. Nó lại đến rạp Vườn Trầu. Có một người đàn ông tụt quần nó ra và ấn con cu của hắn vào lỗ đít nó. Không phải chỗ ấy, nó kéo quần lên bỏ chạy. “Em đã gặp nhà văn Moris. Cám ơn anh đã giới thiệu. Em phải thú nhận rằng, bà ấy cũng chẳng có gì ghê gớm”. Không, anh chỉ muốn nói là bà ấy “dễ thương”. “Đấy là một từ đểu. Em không có ý định yêu bà ấy”. Vậy thì em có ý định yêu anh không? “Vì anh dễ thương?”. Từ nhà nó đến bệnh viện gần mười cây số. Đã gần mười năm, ngày nào nó cũng đáp xe buýt đến gặp ban giám đốc bệnh viện với một thỉnh cầu duy nhất xin giải phẫu chuyển đổi giới tính. Ban giám đốc bệnh viện bảo không có thẩm quyền giải quyết. Cậu nên đi Thái Lan, giá cũng không đắt lắm. Ba má ơi, cho con tiền đi Thái Lan. Mày điên à? Anh chị ơi, cho em tiền đi giải phẫu. Kiếm đâu ra tiền mà cho mày. Bác sĩ ơi, y tá ơi xin giúp tôi. Chúng tôi có muốn cũng không thể giúp cậu, bởi chúng tôi không được phép. Vậy thì tôi phải xin phép ở đâu? Cậu thử lên sở y tế xem. Ông sở y tế ơi, cho phép tôi thành đàn bà. Cậu đừng giỡn chơi như thế, cho phép cậu là đàn bà hay đàn ông thuộc thẩm quyền của ông hộ tịch bên sở tư pháp. Ông hộ tịch sở tư pháp ơi, cho phép tôi thành đàn bà. Cái này chưa có chủ trương, để chúng tôi xin ý kiến bộ. Bạn anh bảo: “Một mặt, chúng ta phải chu tất cho bản năng mình được thỏa mãn. Mặt khác, chúng ta cũng có nghĩa vụ dâng hiến mình cho sự thỏa mãn của nhân loại”. Anh nghĩ, làm tình với em, trong cùng một lúc anh hoàn tất được cả hai đòi hỏi ấy. “Anh ạ, đấy là sự gian lận”. Tại sao lúc nào em cũng nói năng nghiêm trang? “Vì em là con gái”. Không phải thế, là con gái thì em phải đưa đẩy giăng câu lừa đảo. Người đàn ông từ nguyên thủy đã là kẻ mắc bẫy. Ông bác sĩ không đeo kính, không trắng trẻo, không bảnh bao. Trông ông ta như một gã thợ đục. Nhưng ông ta có một giọng nói trầm ấm. Bác sĩ ơi có thương em không? Bác sĩ mổ cho em nhé. Em sẽ trở thành người đàn bà của bác sĩ. (Cu nó dựng lên). Bác sĩ cắt bỏ nó đi nhé. (Máu chạy rần rật hai bên thái dương). Bác sĩ khoét cho em một cái lỗ để em được ôm ấp bác sĩ trong ấy. (Hai bàn tay nó để kẹp giữa hai đùi). Bác sĩ bóp cho hai vú em to lên. Em sẽ mặc những cái xú chiêng đẹp nhất, những cái quần lót xịn nhất. Bác sĩ thích gì em cũng chiều. “Hãy kể cho em nghe anh đang làm gì”. Anh chỉ muốn nói anh đang sống thế nào. Phía trước anh là một khoảng trống, phía sau anh cũng là một khoảng trống. Trên đầu anh là em. Dưới chân anh là sâu bọ. Bên phải anh có một người đeo kính đen. Bên trái anh có một người đội mũ. Anh có thừa không khí để thở, mặc dù không khí ấy có mùi của những con bọ xít. Thực chất em là đàn bà. Bởi thế em yêu anh, em cần anh. Em muốn được anh ôm ấp. Em muốn được nghe giọng nói ngọt ngào của anh. Em sẽ tặng anh tấm hình em để tóc dài nhé. Gã chụp hình bảo em giống con gái lắm. Thì em chẳng là con gái là gì. Anh có thích không? Em muốn được hiên ngang đi với anh giữa phố. Em muốn cho tất cả mọi người biết em là đàn bà, mà là người đàn bà được anh yêu cơ đấy. “Em sẽ đến với anh khi nào em thấy cần thiết”. Người đội mũ đã chuyển sang bên phải. Và tất nhiên người đeo kính đen sẽ phải đổi chỗ sang bên trái. Trên đầu anh vẫn là em. Em không cảm thấy cần thiết ngồi như thế ư? “Tất nhiên là không. Ngồi như thế em có thể nhìn thấy rất xa, nhưng thật sự em cũng chỉ muốn nhìn gần”. Em đã nhìn thấy anh uống rượu. Những lỗ chân lông trên khuôn mặt anh nở ra rất to giống như một cục đá ong, nóng bỏng. Khuôn mặt ấy áp xuống bụng em. Và bụng em to dần lên mang thai anh. Em muốn mang thai anh suốt đời em. “Cây chùm gửi đã chết. Mặt đất nứt nẻ thoát ra những ánh chớp. Em nhớ bữa đi ăn cơm trưa với anh và anh đã rủ em về khách sạn ngủ”. Ngủ cũng là một từ đểu. Khép đôi mắt lại, bao giờ anh cũng thấy lửa bừng lên như rừng cháy. Bẽ bàng thay, anh vẫn ngủ với em trong dự cảm của sự khước từ. Theo cách ấy thì việc em có mặt hay không cũng là hiện hữu như nhau. Nhưng dẫu sao, anh vẫn mong ước em thật sự ngủ với anh. “Làm tình hay an nghỉ?”. Không có gì khác nhau giữa hai điều ấy. Người bảo vệ bệnh viện chặn lối không cho nó vào. Ông ta nói: Cậu không được đến đây quấy rầy. Tại sao lại nói tôi quấy rầy? Chúng tôi không giải thích nữa, cậu về đi. Nó rút con dao Thái Lan ra bảo nếu không cho tôi vào, tôi sẽ tự cắt ngay tại đây. Đấy là quyền của cậu. Nó cởi cúc quần. Người bảo vệ quay mặt đi. “Ở đây có rất nhiều người hát rong và người điên. Sáng nay em đã cảm thấy vui lên khi mường tượng ngồi uống café với anh”.


(9.2.2004)
































Kịch






Đất Thánh





Diễn Từ Của Cái Chết






*




Đối thoại

Hoàng Sa & Trường Sa 2007-2008 : Lời ai điếu cho một dân tộc























Và nhiều tác phẩm khác chưa công bố






*





Tham khảo thêm về tác giả Nguyễn Viện



























Nguyễn Viện với Rồng và rắn







Tổ hợp xuất bản miền Ðông Hoa Kỳ cuối năm 2002 đã trình làng một tác phẩm lạ, một tên tuổi mới: Nguyễn Viện, vừa xuất hiện trên văn đàn hải ngoại vài năm gần đây. Tác phẩm Rồng và rắn của Nguyễn Viện hồm 4 tiểu thuyết: Thời của những tiên tri giả, Ðâm sừng vào bóng tối, Người dẫn đường đã tới và Rồng và rắn, cũng có thể gọi là bốn truyện vừa. Ðặc biệt bốn truyện này cùng có cấu trúc song song, tức là mỗi truyện kể ít nhất với hai giọng, "quay" bằng hai ống kính khác nhau.


Thời của những tiên tri giả thể hiện dưới ánh mắt và qua giọng nói của một người đàn bà có chồng đi tập kết, đồng thời còn một lăng kính, một giọng nói khác, có lẽ là của một tiên tri -không biết giả hay thật- nhái giọng Thánh kinh hay Sấm trạng, vừa bình, vừa phê, lúc triết lý, lúc bảo ban dạy dỗ, khi an ủi, kêu nài, lúc mỉa mai, châm biếm, nguyền rủa ... tuồng như bên ngoài, bên trên cõi đời còn có con mắt của một thứ tiên tri, thứ Sấm trạng, đội lốt Thượng Ðế, vừa phán xét, vừa đe dọa. Những "sấm-kinh" ấy nói gì, đây là một đoạn:

"Trái đất lăn trên sợi dây treo của lòng tham vọng. Hãy bắn đi, bắn đi. Ðừng lo thiếu đạn vì đạn giải quyết việc làm cho hàng triệu công nhân, vì đạn mang lại sức mạnh cho một dân tộc vĩ đại và niềm tự hào cho nền văn minh nhân loại." (trang 19)

Lời sấm này có thể gẫm ngay vào trận chiến Iracq bây giờ, hoặc cuộc chiến Việt Nam ngày trước, nó mô tả những sắc thái của một "dân tộc vĩ đại" mà lòng tham vọng trở thành căn cứ phát xuất các cuộc oanh tạc con người.
Vẫn giọng kinh ngôn ấy, có lúc kêu gào: "Hãy đứng sau lưng tôi, hỡi đồng bào, tôi cam kết không bỏ chạy. Tôi sẽ bắn tới viên đạn cuối cùng" (trang 17). Ở đây, lời "sấm" đã trở thành lời hứa cuội của kẻ giả hình thượng đế, và ngay sau đó, một siêu thượng đế khác phán xét: "Ðừng tin những gì thằng khùng nói, hãy nhìn những gì thằng khùng làm." (trang 17)

Những tiếng "sấm" trên đây, rơi vãi trên dọc đại lộ kinh hoàng Pleiku - Phú Bổn, cuối tháng tư, Cao nguyên, triệt thoái. Một cuộc chạy đua với tử thần, mà đủ loại ma, quỷ, xen lẫn với loài người, trà trộn giọng thánh kinh vang lên, như vừa muốn mô tả cảnh tượng hỗn loạn, lại muốn hăm dọa chúng sinh trước ngày tận thế:"Cơn thịnh nộ của một đấng toàn hảo đang giáng xuống. Trong bóng tối, cả người tỉnh thức và ngủ mê đều bị co giật. Mọi cơn mơ sẽ trở nên trống rỗng vì linh hồn bị tách lìa khỏi thân xác đã không tìm được lối quay về." (trang 25)
Nhìn sang phía chiến thắng, tiên tri cảnh báo một tương lai "sáng ngời", đầy phúc lợi và văn minh, hoang tưởng: "Chân trời của chúng ta đang đi tới có kính thiên văn lớn nhất thế giới. Chúng ta sẽ bắt được tín hiệu của mọi hành tinh trong vũ trụ và sẽ làm chủ cả vũ trụ bởi chúng ta là những người bách chiến bách thắng." (trang 72)

*

Với lối viết này, Nguyễn Viện đã trình bày bối cảnh Ba mươi tháng tư trên hai bình diện: Mặt thực tế kinh hoàng đang thật sự diễn ra và cái gương chiếu hậu trong con mắt của những "tiên tri". Chiếc gương phân tích và phê bình hiện thực, phanh phui thực chất của mỗi nhân vật thắng cũng như bại, đã tạo dựng nên cái hí trường bi đát, đầy máu và nước mắt này. Ðó là thứ hiện thực được nhìn từ ngoài hiện thực, từ trên hiện thực, bằng con mắt của những người, hay những hồn người đã bước qua sự sống, không còn dính đến hiện thực nữa; họ ở vào giai đoạn "quá độ" của sự sống, cho nên họ ít mu muội hơn những người đang sống. Vì họ đã "thoát" ra ngoài, đã có một khoảng cách đủ xa, đủ cao, để nhìn thấy toàn diện bối cảnh. Trong khi những kẻ đang sống, đang chạy vất vưởng trên đại lộ kinh hoàng, đang bắn người hoặc đang tẩu thoát, những "nhân sinh" ấy chỉ có cái nhìn "cục bộ", giới hạn bởi nhãn quan hẹp hòi của người trong cuộc. Những lập ngôn, dù là hàm hồ, của những vị "tiên tri giả" có tác dụng làm "sáng mắt" những kẻ đang u mê trầm thảm trong biển khổ chiến tranh: thực tế là gia đình một người đàn bà có chồng đi tập kết.

Người đàn bà đó có bốn đứa con. Ngày chia tay, người chồng ra Bắc; người đàn bà đó không nỡ để chồng đi một mình, đã "chia" cho chồng một đứa: thằng lớn nhất, 12 tuổi. Sau khi từ giã chồng và con trai, người đàn bà ấy đã "gom ba đứa còn lại, ngủ chung một giường, ủ trong mình và khóc lặng lẽ." (trang 20). Và như thế người mẹ ấy đã ngậm tăm để sống, để nuôi con và nuôi sự bí mật của đời mình trong suốt hai mươi năm trời. Cho đến ngày 30 tháng tư.

Ba mươi tháng tư, đối với bà là ngày thiêng liêng đoàn tụ, ngày bà chờ đợi như mục đích cuối của đời mình. Và để đến được ngày lịch sử này, người mẹ ấy đã trải qua nhiều bất hạnh. "Mậu thân 1968, giữa những tiếng pháo của đêm xuân đã lẫn những tiếng súng của cuộc nổi dậy tổng tiến công. Khi những đứa con tôi còn ngơ ngác và sợ hãi thì trong lòng tôi âm thầm hoan hỉ. Tôi vẫn chờ đợi với một nỗi niềm giấu kín, sự chiến thắng từ bên kia núi sẽ mang chồng con tôi về. [...] Nhưng những ngày hi vọng ấy tắt sớm và tệ hại hơn, tai vạ chiến tranh đã đổ xuống ngay căn nhà tôi ở, một cây xà đập ngang lưng và tôi nhận lấy thêm một bất hạnh. Tôi trở thành kẻ bại liệt vĩnh viễn." (trang 16-17)

Ngồi trên xe lăn, người mẹ già, liệt này theo con, xuyên qua thân cây, xác lá, xác người, di tản từ Pleiku, Phú Bổn trên đại lộ kinh hoàng của súng đạn, máu mê và nước mắt. Trên con lộ đầy tử thi ấy, trong trạng thái nửa mơ, nửa tỉnh, người đàn bà bất hạnh đã mục kích: "Tôi thấy những người bị bỏ lại đã chết và cả những người còn sống thoi thóp. Tôi thấy những giọt nước mắt và nghe những lời kêu gào xé ruột. Một người mẹ vất con lại bên đường với lời cấu xin tha thứ. Ðàn kiến bò lên thân xác đứa bé rúc rỉa. [...] Tôi lại co giật. Tôi thấy ở không xa lắm, một người lính đang lả xuống vì kiệt sức. Anh ta chạy một mình. Bỗng nhiên bên cạnh anh ta xuất hiện hai cái bóng mờ. Có lẽ đó là mẹ và em gái anh ta. Hai cái bóng mờ ấy cố nâng đỡ và dìu anh đi tới. Nhưng anh ta vẫn đổ xuống vì anh ta đã kiệt quệ. Cho đến khi hai bóng mờ tan đi cùng với hư ảo của tình yêu thì thân xác anh ta cũng thối rữa và thấm dần vào lòng đất." (trang 30-31)

Những hình ảnh vừa thực, vừa ảo, chồng chất lên nhau, trong ký ức của người phụ nữ có chồng đi tập kết trong suốt hai mươi năm, đã tạo nên khí quyển sống của bà: Một cuộc sống vừa đợi chờ, vừa phóng tới trước mặt tìm ngày đoàn tụ, y hệt như lúc này, bà đang di chuyển trên vai hai đứa con gái thay phiên nhau cõng mẹ. Bà đi mà không có chân, bà được bỏ lên xe jeep, xe tăng, lăn đi, trườn tới, để tìm đến ngày hạnh phúc chờ đợi. Bao nhiêu vất vả, nhọc nhằn, máu và nước mắt ấy, chỉ để đổi lấy một ngày trong mộng: ba mươi tháng tư.

Ba mươi tháng tư có đến, nhưng hạnh phúc thì không. Người chồng đã có vợ con ngoài Bắc, không vào. Chỉ có Lân, đứa con mà bà đã "chia" cho chồng ngày trước, trở về trong đám bộ đội từ Bắc vào Nam. Ngày Lân trở về thì cũng là ngày Châu, đứa em lớn lên trong Nam, bị bắt.
Miền Nam chấp nhận thân phận mới. Châu, sau khi đi cải tạo về, trở nên một người khác, lạnh nhạt với cuộc sống. Cuộc "đổi đời" xẩy ra trên toàn diện, từ ngoại cảnh đến tâm giới của con người. Dường như Nguyễn Viện có tham vọng muốn vẽ lại cả một giai đoạn sống: từ sự ra đi khốn cùng, tất tưởi vượt biên, đến sự trở về, Việt kiều, xúng xính áo mão ngựa xe, quan "Trạng", đến những toan tính làm ăn, chụp giật, bẩn thỉu... Mỗi cá nhân có một lối hành xử, một tâm sự, một quằn quại, ủ rũ, khát vọng, tuyệt vọng... riêng tư. Ít nhiều, Nguyễn Viện đã viết nên được những hài hước đớn đau ấy.

Tất nhiên Thời của những tiên tri giả chưa phải là một tác phẩm thành công, còn có những nhược điểm kỹ thuật như giọng kể của bà mẹ, nhiều lúc không phải là giọng của một người đàn bà đã trải qua những thăng trầm khốn khổ mà lại là giọng của chính tác giả. Những chân dung nhân vật nhiều khi mờ nhạt, tác giả quá chú tâm đến triết lý, nên đôi khi đưa ra những nhận xét triết lý không đúng chỗ, hoặc từ miệng nhân vật hay trong lời trần thuật, làm loãng đối thoại, làm trơ mạch kể. Nếu để triết lý gián tiếp tiềm ẩn trong bối cảnh, trong không khí câu truyện, trong bản chất đối thoại, trong trạng thái lặng chìm, có lẽ thành công hơn là để nhân vật nói những lời triết lý một cách trực tiếp, sôi nổi.

Mặc dầu với những nhược điểm trên đây, Thời của những tiên tri giả vẫn là một tiểu thuyết đáng đọc, nó xác định một cái nhìn mới, một cái nhìn không giới tuyến về chiến tranh Việt Nam, một cái nhìn trung thực và ân tình giữa những người hai bên giới tuyến.


Trong Ðâm sừng vào bóng tối, tác giả viết về tình yêu, đam mê và nhục dục. Cả ba gắn bó với nhau, tạo nên một toàn bộ khốc liệt và mù quáng, như con tê giác lao đi, đâm sừng vào bóng tối. Trong ba yếu tố tình yêu, đam mê và nhục dục, dường như đam mê và nhục dục là hai cánh sừng, còn bản thân tê giác mang nặng thể xác của tình yêu.

"Con tê giác lầm lũi phóng đi trong bóng tối. Những chiếc lá cọ quẹt vào người như một bàn tay mơn trớn. Cảm giác cần được âu yếm, là một cơn khát trong sa mạc, bởi thế con tê giác vẫn phóng như điên cuồng trong bóng tối để cho mọi thứ cây lá cào vào lớp da dày..."(trang 138)

Ðâm sừng vào bóng tối là bản giao hưởng tình yêu giữa một người đàn ông đứng tuổi và một người con gái đáng tuổi con mình, bản nhạc có thể gây sốc cho người nghe bởi tính chất sống sượng của nó, nhưng tác phẩm đã nói lên được khía cạnh mâu thuẫn của đam mê: đạo đức lẫn vô luân, thiên đường lẫn địa ngục, u mê lẫn sáng suốt, tuyệt vời lẫn tuyệt vọng trong tình yêu và thân xác. Chủ trương tự do tuyệt đối trong cuộc tình dẫn đến chủ trương tự do tuyệt đối của con người. Nhưng người ta có thể đặt vấn đề với tác giả: con người có thể tự do tuyệt đối hay không? Hay là tất cả tự do đều chỉ có nghĩa khi nó đi đôi với trách nhiệm, bởi tự do và trách nhiệm là hai giá trị song hành, có cái này thì phải có cái kia. Tự do mà không trách nhiệm thì trở thành vô luân, vô luật. Trách nhiệm mà không có tự do thì không còn là trách nhiệm mà trở thành nô lệ. Trách nhiệm ở đây không đòi hỏi chuyện cấm đoán vì cấm đoán đối với đam mê là vô ích. Trách nhiệm ở đây có lẽ chỉ cần một chút hoài nghi, một chút ngần ngại. Nabokov trong Lolita, có cái ngần ngại đó, và chính cái ngần ngại ấy đã tạo cho Lolita một trường hợp "giảm khinh", một tác phẩm tuyệt vời. Hình như nhân vật chính, Nam, trong Ðâm sừng vào bóng tối, không bị đong đưa, dù chỉ trong giây phút, giữa hoài nghi và ngần ngại. Nam quá bình tâm, quá chắc trong vị trí của mình. Và đó là câu hỏi đặt ra cho tác giả.


Rồng và rắn là tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Viện. Ở đây tác giả đã thu gọn được bối cảnh chiến tranh, sự tàn phá con người trong chiến tranh và xã hội tàn nhẫn, vô ơn, sau chiến tranh, trong một truyện vừa.

Vai chính trong truyện là X, một người bộ đội và có lẽ cũng là một công an; anh đã sống và bây giờ hồn anh vẫn sống. Anh đã xả thân, không phải cho lý tưởng, mà chỉ là sự làm hết mình của một người có trách nhiệm trước công tác được giao phó. Công tác của anh, trước kia là đánh nhau, bây giờ là theo dõi và ghi chép. Qua X, Nguyễn Viện đã tạo được một nhân vật bốn chiều: công an, bộ đội, sống và chết. Ở bốn chiều này, X có đủ phương tiện để nhận xét con người. Những nhận xét của anh thường vắn tắt, ngắn gọn như những lời tốc ký của một thám tử, nó cực ngắn, nó rút gọn đến tối thiểu những nhàm chán hàng ngày của cuộc sống để chỉ giữ phần cốt tủy. Trong khi "theo dõi" và ghi lại những diễn biến của người sống, X cũng không quên điểm lại quá khứ của đời mình. Hai diễn biến quá khứ và hiện tại cùng trôi trong dòng truyện, với lối cấu trúc song song, nhưng ở đây, người đọc, vì do song hành, nên so sánh được hai lớp tàn bạo của cuộc sống: người chết một lần hôm qua trong thời chiến, và chết lại một lần hôm nay, trong thời bình, như X. 

Gục trên mộ, X kể lể: "Tôi muốn ngủ. Hãy để tôi ngủ. Tôi cần ngủ. Ðừng đánh thức tôi bằng tiếng súng. Cũng đừng đánh thức tôi bằng tiếng kẻng. Hãy để tôi nằm một mình. Giữa mùa hè, những xác chết trương phình lên nhanh chóng. Bọn địch lấy xe ủi đất gom các xác chết vào chung một cái hố lớn, đổ vôi xuống rồi lấp đất lại. Cái hố chật chội đầy những mầu máu và mồ hôi. Thành phố thì chật những cánh quạ. Ðám xác chết bắt đầu cãi nhau. Xác nào cũng muốn chen lên cho đỡ ngạt. Một thằng quát lớn: Hãy trật tự. Theo thứ tự quân hàm mà nằm, tính từ dưới lên." (trang 310)

X và đồng đội đang muốn được ngủ yên, bỗng nhiên bị dựng dậy bởi "tiếng kèn tập họp vang lên khắp nơi. Các xác chết hỏi nhau: Lại động binh nữa à?" (trang 312)

Họ bị dựng dậy để đón một ông tướng ma mới, vừa nằm xuống. Ông ra lệnh chiến đấu. Hỏi: Chúng ta chiến đấu với ai? Trả lời: "Ðồ ngu, chiến đấu để bảo vệ chỗ nằm. Tin tình báo cho hay, bọn cò đất đã nhăm nhe dọ ý chào những miếng đất nghĩa trang. Chúng bán tất cả những gì có thể bán được, không bán được thì chúng cho thuê. Những miếng đất như đất của các anh hùng, danh nhân, thuộc loại béo bở nhất, bởi thế nguy cơ mất chỗ nằm của chúng ta đã đến gần. Tôi tuyên bố tình trạng chiến tranh." (trang 314)

Và đó là lý do khiến ông tướng về hưu đã uất lên mà chết. Tính chất trào lộng pha lẫn tử khí, trầm uất, xông lên trong Rồng và rắn, một kết hợp thành công của Nguyễn Viện, khi ông nhìn cuộc đời từ bốn chiều kích: sống, chết, xưa và nay.



Paris, 2/2003


























Trần Nhuệ Tâm : Nhà thơ nói về thơ tình : Nguyễn Viện






Phan Nhiên Hạo : Đọc 26 lần tờ bờ lờ của Nguyễn Viện






Nguyễn Viện






Nguyễn Viện: Những suy nghĩ về ngày 30/4








                                                 



















Nguyễn Viện trên Tiền vệ



































Ảnh: Phan Nguyên
















Phan Nguyên, Cung Tích Biền, Nguyễn Viện. 2010














Phan Nguyên, Huy Tưởng, Nguyễn Viện
Cafe Mojo, Sài gòn 2016







...., Phan Nguyên, Huy Tưởng, Nguyễn Viện
Saigon 2016






(trái) Phan Nguyên, Huy Tưởng, Phạm Tường vân, Nguyễn Viện
Saigon 2016






























Hiện sống và làm việc tại Sài Gòn (Việt Nam)





















Trở về 
















MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.