Tuesday, 12 April 2011

Nguyễn Xuân Khánh




























Nguyễn Xuân Khánh
(1932 - ........) Hà Nội
Nhà văn. Dịch giả



















                                                                                        
"Sexothérapie là một liệu pháp diệu kỳ"







Đỗ Tú Tài toán. Ngày còn trẻ Nguyễn Xuân Khánh mê âm nhạc, là cây văn nghệ đàn hát tưng bừng, từng là sinh viên Đại học Y khoa Hà Nội. Ông tham gia bộ đội năm 52. Sau về làm việc tại Tạp Chí Văn Nghệ Quân Đội. 
Từ 1966, làm phóng viên báo Thiếu Niên Tiền Phong. 
Một "tai nạn nghề nghiệp" đã khiến ông phải nghỉ hưu sớm, chuyển sang nghề may áo bông chần bán ở chợ trời, nuôi lợn và dịch sách "chui"với những bút danh khác.
 70 tuổi, Nguyễn Xuân Khánh mới trở thành hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam sau những giải thưởng với tiểu thuyết lịch sử "Hồ Quý Ly"






*





"Năm 1962, tôi in tập truyện ngắn đầu tay có tên là Rừng sâu. 
Tập truyện này phản ánh hiện thực xã hội chủ nghĩa và tôi bị kỷ luật. Từ đó tôi quyết định không đi theo chủ nghĩa hiện thực XHCN nữa mà theo cách của mình. 
Năm 1971, tôi viết Miền hoang tưởng, đến tận năm 1990 mới in mà vẫn phải đổi tên. 
Cuốn Trư cuồng, tôi viết theo kiểu cắt dán những truyện ngắn thành tiểu thuyết. 
Đến Hồ Quý Ly, tôi dùng những điểm nhìn khác nhau để chiếu vào Hồ Quý Ly, tránh có những đánh giá chủ quan. 
Còn Mẫu thượng ngàn thì nói về Mẫu, cũng có nghĩa là nói đến đàn bà, nói đến nhục cảm. Mỗi cuốn là một cách viết, một cách nhìn không giống nhau."

(Nguyễn Xuân Khánh trả lời phỏng vấn báo Người Lao Động)















Tác Phẩm:






Rừng Sâu 
(tập truyện ngắn) 1962






Hoang Tưởng Trắng 
(tiểu thuyết) 1990























Hồ Quý Ly



(tiểu thuyết lịch sử) 2000,2001,2002
Tái bản 15 lần.
Giải thưởng Hội Nhà Văn 2003














Bài học canh tân trong tiểu thuyết “Hồ Qúy Ly” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh



Thái Sơn







Trong số các nhà văn dã sử của nền văn học hiện đại Việt Nam không thể không nhắc tới nhà văn Nguyễn Xuân Khánh với tiểu thuyết lừng danh “Hồ Qúy Ly”. Có thể nói Nguyễn Xuân Khánh là một cây đại thụ! Người ta chỉ nhận ra một cây đại thụ khi nó đã đủ lớn. Người đọc cũng chỉ biết đến ông từ sau khi “Hồ Qúy Ly” được xuất bản. Giữa lúc tình trạng văn học nước nhà vào những năm 90 đang rơi vào cảnh èo uột, không có tác phẩm nào đáng kể thì “Hồ Qúy Ly” như một cơn địa chấn lớn khiến độc giả bừng tỉnh.


“Hồ Qúy Ly” không đơn thuần kể lại câu chuyện của thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15 mà nhà văn đang “ôn cố tri tân”. Cuốn sách không viết về nhân vật lịch sử Hồ Qúy Ly mà viết về thời đại của Hồ Qúy Ly-thời đại của những cách tân qua góc nhìn của chính những con người sống trong thời đại ấy…


***

Canh tân qua góc nhìn của những nhân vật cùng thời đại

“Hồ Qúy Ly” không đơn thuần kể lại câu chuyện của thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15 mà nhà văn đang “ôn cố tri tân”. Cuốn sách không viết về nhân vật lịch sử Hồ Qúy Ly mà viết về thời đại của Hồ Qúy Ly. Chúng ta ai cũng biết Hồ Qúy Ly là một nhà cách tân thời kỳ phong kiến. Khi nắm quyền lớn trong tay, dưới một người mà trên muôn người, Hồ Qúy Ly đã đưa ra các cách tân quan trọng trong xã hội đương thời. Ông đề xuất giảm bớt những chính sách ưu đãi về phân chia điền địa với quý tộc nhà Trần. Trong hai thời đại Lý- Trần, Phật giáo được tôn vinh, nhiều thanh niên quy y cửa Phật, Hồ Qúy Ly bắt họ hoàn tục, cắt giảm quyền lợi của nhà chùa, và bắt đầu có những biểu hiện đầu tiên của “độc tôn Nho giáo” mà sau này nhà Lê đã thực thi một cách thành công. Ông thực hiện rất nhiều cách tân, nhưng cách tân quan trọng nhất chính là sử dụng tiền giấy. Với một loạt những cách tân đầy tiến bộ nhưng lại dồn dập trong thời gian ngắn ngủi và thời điểm không thích hợp có lẽ đã trở thành nguyên nhân thất bại của triều đại nhà Hồ. Tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh không những khắc họa chân thực không khí thời đại mà còn đưa ra rất nhiều điểm nhìn đối với cuộc cách tân.

“Hồ Qúy Ly” có một cấu trúc đặc biệt. Mỗi chương viết về một nhân vật lịch sử trong thời đại ấy: Trần Nghệ Tông, Hồ Nguyên Trừng, Trần Khát Chân, công chúa Huy Ninh… và đương nhiên là có Hồ Qúy Ly. Cùng một cuộc cách tân ấy, mỗi người có một cách nhìn nhận, một thái độ và một phản ứng.

Câu chuyện được kể bằng ngôi thứ nhất – “tôi”, chính là Hồ Nguyên Trừng. Đây thật sự là một phương pháp đặc sắc trong dòng văn học dã sử. Trong các tiểu thuyết dã sử của cả phương Tây (“Ai-van-hô”, “Robinhood”, “Chiến tranh và hòa bình”…) hay phương Đông (“Thủy Hử”, “Tam Quốc diễn nghĩa”, “Nho lâm ngoại sử”…), các nhân vật thường ở ngôi thứ ba nhằm mục đích thể hiện tính khách quan trong các sự kiện. Nhưng ở tác phẩm này, mọi sự kiện, xung đột đều được nhìn nhận và đánh giá qua con mắt của Hồ Nguyên Trừng, tác giả “Nam ông mộng lục”. Bằng phương pháp này, tác phẩm tạo được một hiệu ứng khác so với những tác phẩm văn học dã sử trước đó. Người đọc cảm nhận thấy mình như người trong cuộc, cũng được chứng kiến tận mắt cuộc cách tân thời ấy. Cũng qua nhân vật Hồ Nguyên Trừng, nhà văn gửi gắm được suy tư, nỗi đau thân phận của người trí thức trước bao biến thiên của lịch sử.

Hồ Nguyên Trừng là một nhân vật tài hoa ở thời kỳ ấy. Theo sử sách ghi chép lại, ông là người toàn đức toàn tài, văn võ song toàn. Bản thiết kế thành Tây Đô (Thanh Hóa) chính là của ông. Ông còn sáng chế ra “Thần Cơ hỏa sang”, một loại súng trường đầu tiên ở đất Việt. Khi quân Minh xâm chiếm Đại Việt, cha con Hồ Qúy Ly bị áp giải về Trung Quốc chịu phạt, Hồ Nguyên Trừng nhờ tài năng xuất chúng mà vẫn được cất nhắc làm quan, đến chức Công bộ thượng thư. Những năm tháng ở đất Bắc, ông đã viết tác phẩm “Nam ông mộng lục” nổi tiếng. Trong lời tựa của “Nam ông mộng lục”, tác giả có viết: “Những nhân vật trong sách, một thời phồn hoa, rồi thời cuộc biến đổi không còn để lại vết tích, chỉ còn một mình tôi biết được và kể ra, như vậy chẳng phải mộng là gì”. Hồ Nguyên Trừng trong “Hồ Qúy Ly” không những có đầy đủ tài năng ấy mà còn chấp chứa biết bao tâm sự ưu thời mẫn thế, thân phận của tài năng bị chèn ép giữa các thế lực chính trị.


"Thế đấy! Thời nay sao đẻ ra lắm kẻ cuồng. Nguyễn Cẩn là một kẻ cuồng tín. Đến cả Khát Trân cũng chẳng ra ngoài một chữ cuồng. Họ đinh ninh với một ý tưởng rồ dại vì suy nghĩ của mình, không từ một thủ đoạn nào, không dung tha cho một ai trái ý họ... Có đúng không? Ai cũng rồ dại vì những câu nói khoa trương. Họ có biết đâu được hồn nước mới là điều chính yếu. Chẳng ai thông minh hơn được hồn của núi sông mình. Ai đúng, ai sai? Khát Chân hay Quý Ly? Vả lại đường đi của hồn núi sông thật là ngoắt ngoéo. Đánh giá thành ư? Bại ư? Có khi bại mà mấy trăm năm sau lại là thành. Có khi người đời chỉ vì mê muội mà kéo ánh sáng trở về bóng tối. Sự mơ màng lòe loẹt làm chậm bước chân của hồn núi hồn sông?"

Ấn tượng sâu đậm nhất mà người đọc cảm nhận được ở Hồ Nguyên Trừng đó chính là một sự chán nản triền miên trước thời cuộc. Trong khi Hồ Qúy Ly, Hồ Hán Thương, Nguyễn Cẩn… thậm chí là cha con Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi lao theo cuộc cách tân viển vông; phía bên kia là Trần Khát Chân và quý tộc nhà Trần ráng hết sức chống đối, thủ cựu và tìm mọi cách để kéo dài triều đại… thì Hồ Nguyên Trừng đắm mình trong nghệ thuật, trong những mối tình say đắm. Cả hai mối tình, thứ nhất với quận chúa Quỳnh Hoa, thứ hai với cô kỹ nữ Thanh Mai, đều bị bao vây bởi những âm mưu, thủ đoạn chính trị. Thế lực thủ cựu của quý tộc nhà Trần những mong có thể dùng “mỹ nhân kế” để gây ảnh hưởng và ràng buộc ông. Nhưng bằng trái tim đa cảm của nghệ sĩ và tấm chân tình tha thiết, ông đã lôi kéo hai người đẹp về phía mình, để họ thoát khỏi những âm mưu thâm độc và cũng đáp lại ông bằng một tình yêu cao cả, thiêng liêng. Hồ Nguyên Trừng đã phải đau đớn mà thốt lên rằng: “triều đình cũng bị chia rẽ thành hai phe: phe Tôn thất nhà Trần và phe của cha tôi. Và hậu quả tất nhiên là những sự lôi kéo. Trong đám cưới của tôi, tôi hiểu rằng tôi là một con mồi mà cha tôi quăng ra giữa dòng nước, họ nhà Trần như một con cá lớn đớp lấy tôi, và cha tôi cầm chiếc cần câu. Tôi là kẻ đứng giữa, và hai bên cùng co kéo.” Suy cho cùng, thân phận chung bậc trí giả cũng chỉ là như vậy. Kẻ đọc sách thời nào cũng mong được mang tài kinh luân của mình ra để giúp thiên hạ, nhưng thực ra họ trở thành những con cờ cho các thế lực chính trị lớn nắm quyền bính trong tay điều khiển. Khi cần chúng trọng dụng, khi phật ý chúng bạc đãi. Trong lịch sử có biết bao ví dụ như thế: Hán Cao Tổ giết Hàn Tín, Chu Nguyên Chương diệt Minh giáo, Nguyễn Trãi bị oan ở Lệ Chi Viên… chẳng phải là những chứng nhân quá rõ ràng sao? Là kẻ đọc sách, thiết nghĩ nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng thấu hiểu điều ấy. Ở thời của ông, không ít nghệ sĩ, trí thức tài năng những mong dùng tài năng của mình dành độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng một đất nước dân chủ, văn mình… Để rồi, khi thành công, họ nhận được những gì? Chẳng gì cả ngoài hai bàn tay trắng. Thế lực chính trị đã từng giương cao lá cờ chính nghĩa lúc này mới bộc lộ sự vị kỷ và bảo thủ mà vụ án Cải cách ruộng đấtvà Nhân văn – Giai phẩmchẳng phải là minh chứng rõ ràng đó sao. Vừa là người trong cuộc, lại vừa là người đứng ngoài mọi tranh chấp xấu xa, Hồ Nguyên Trừng chỉ còn biết giữ một tâm trạng là “buồn” – cái buồn của lũ người “lạc loài”, bị “quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh”. Không chỉ có Hồ Nguyên Trừng mà biết bao tài năng trong thời ấy cũng có chung tâm trạng như Trần Khát Chân, Phạm Sinh, hay thậm chí là ông vua già Trần Nghệ Tông, ông vua trẻ Trần Thuận Tông… Tâm trạng của Hồ Nguyên Trừng cũng chính là tâm trạng của ông Nguyễn Xuân Khánh và nhiều trí thức, văn nghệ sĩ thời đại đứng trước những xung đột của các thế lực chính trị và một xã hội bất công, nghèo nàn, lạc hậu mà chỉ biết buông tiếng thở dài bất lực.

Bài học cải cách từ cuộc Canh tân của Hồ Quý Ly

Giá trị lớn nhất của tác phẩm “Hồ Qúy Ly” nằm ở bài học lịch sử : “Canh tân”. Có thể xem cuộc “Canh tân” của Hồ Qúy Ly là cuộc canh tân táo bạo nhất cho đến thời điểm đó. Những cải cách của ông được ghi lại trong cuốn “Minh đạo” (dịch Nôm là “Con đường sáng”).

Đối với “Minh đạo” cũng như cả cuộc canh tân, trí giả thời đó, kẻ chê, người khen, cũng có kẻ bằng mặt mà chẳng bằng lòng… Nhưng rõ ràng, tại thời điểm đó, một cuộc cải cách là cần thiết. Trong câu chuyện, tác giả để Hồ Qúy Ly nhấn mạnh về một “phương thuốc lớn”. Việc làm chính trị chẳng khác gì y đạo, cũng có bắt bệnh, cũng có kê đơn. Nhưng người làm nghề y mỗi lần chỉ có thể bắt bệnh kê đơn cho một người, còn kẻ làm chính trị thì phải bắt bệnh, kê đơn cho cả một dân tộc. Để bắt được bệnh đã khó, không khéo không có bệnh lại chẩn đoán thành có bệnh, có bệnh lại cứ tưởng rằng vô sự; nhưng bắt được đúng bệnh rồi thì kê đơn ra sao đây, âu cũng là việc khó. Cái căn bệnh ấy, chính ông vua già Trần Nghệ Tông là người nhận thức được hơn ai hết. “Chính ông là bà đỡ cho những cải cách của Quý Ly, đã giúp Quý Ly tiêu diệt những đối thủ, ngay cả khi đối thủ ấy là con cháu ông. Lại cũng vẫn chính ông là người muốn kéo dài đến vô hạn cơ nghiệp của nhà Trần, tổ tiên ông, mặc dầu ông biết điều đó không thực tế, mặc dầu ông biết các tôn thất, các cựu thần nhà Trần ở mọi nơi hiện đang thối ruỗng. Vậy ông đang tự chống lại bản thân. Ông có miếng thịt thối, muốn cắt đi, nhưng vì nó là cơ thể ông nên không đành lòng.” Đó chẳng phải cũng chính là căn bệnh thời đại của chúng ta hay sao? Miếng thịt thối ấy ai là người dám cắt bỏ để giữ cho cơ thể được khỏe mạnh? Hay cứ để nó đấy vì tiếc xương thương thịt rồi hoại tử mà chết? Đứng trước vận mệnh của dân tộc: hoặc là đổi mới hoặc là bại vong, việc từ bỏ những quyền lợi của một tổ chức cầm quyền để thực hiện một cuộc Cách mạng toàn diện là điều cần thiết. Nhà Trần đã không dám dũng cảm thực hiện sứ mạng ấy và chuốc lấy bại vong, là điều đương nhiên.

Bài học Canh tân trong “Hồ Qúy Ly” còn là bài học về lòng dân. Đối lập với phe Canh tân là phe thủ cựu, đáng tiếc rằng phe thủ cựu lại nắm phần đông. Nhưng tại sao những biện pháp của Hồ Qúy Ly là cần thiết mà triều nhà Hồ vẫn thất bại thảm hại? Trước hết phải nói rằng vì Hồ Qúy Ly quá nôn nóng. “Minh đạo” là hướng đi tiến bộ, nhưng không thể một sớm một chiều có thể thực thi. Điển hình nhất là việc sử dụng tiền giấy. Người dân ta thời ấy chưa ý thức được giá trị của tiền tệ và chưa có một nền tài chính hoàn thiện, việc sử dụng tiền giấy thực là chuyện viển vông. Nhưng sai lầm nghiêm trọng hơn là việc xây thành Tây Đô. Giữa lúc ngân sách quốc gia thiếu hụt trầm trọng, người dân còn sống lầm than, chiến tranh với Chế Bồng Nga vừa mới kết thúc và sắp sửa đương đầu với quân Trung Hoa, thành Tây Đô chẳng khác nào được xây lên bằng xương bằng máu của dân khiến người dân oán than. Quan trọng hơn cả, chính tầng lớp trí giả thời ấy cũng không đồng tình với các biến pháp của Hồ Qúy Ly. Thái độ của Trần Khát Chân, Phạm Sinh, Sử Văn Hoa và thậm chí cả Hồ Nguyên Trừng thể hiện rõ điều ấy. Tại sao vậy khi nhà Hồ luôn thực hiện các chính sách chiêu hiền đãi sĩ? Ấy là bởi Hồ Qúy Ly quá cố chấp, không muốn nghe lời can gián, luôn đàn áp phe bất đồng quan điểm mà không hề tiếp thu hay thuyết phục họ. Bởi vậy mà người đời quay lưng với biến pháp hay nói đúng hơn là quay lưng với nhà Hồ, khởi nghĩa của nông dân nổi lên khắp nơi, bên ngoài thì giặc phương Bắc dòm ngó, cha con Hồ Qúy Ly cuối cùng vẫn chung một kết quả với nhà Trần.

Qủa thực, phương thuốc lớn cho một dân tộc không dễ kê đơn. Hồ Qúy Ly bắt mạch được căn bệnh của thời đại mình, kê được đơn thuốc rồi nhưng vì không biết dùng đúng thời điểm và liều lượng mà dẫn đến thất bại. Không chỉ thế, việc dùng thuốc sai cách ấy ảnh hưởng tới sự tồn vong của dân tộc. Nếu như thời ấy hai gia tộc Trần – Hồ cùng bắt tay nhau để thực hiện Duy tân thì triều đình nhà Minh đã chẳng giương lá cờ “Phù Trần diệt Hồ” ngụy tạo, đưa hàng vạn quân lính vào xâm lược nước ta được. Đó là bài học xương máu cho chúng ta trong công cuộc cải cách và thực hiện tiến trình dân chủ ở hiện tại và tương lai.



(*)Ông Nguyễn Xuân Khánh bắt đầu sự nghiệp viết lách từ năm 1955, cùng thời với Nguyên Ngọc, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng… Khi tên tuổi Nguyễn Xuân Khánh mới chớm xuất hiện nhờ vài truyện ngắn thì sự kiện “Nhân văn giai phẩm” khiến ông “chìm xuồng” cùng biết bao cây bút khác. Sau khi bị treo bút, ông phải bươn chải đủ mọi nghề để kiếm sống, nào thì làm thợ may 7 năm, bán máu 3-4 năm, thợ khoá, dịch sách, hợp tác xã mua bán và lao động cải tạo cùng với lưu manh đĩ điếm 1 năm. Khi bắt đầu xuất bản “Hồ Qúy Ly”, ông Xuân Khánh vẫn chỉ là ông thợ cạo ở vỉa hè Hà Nội. Cho đến bây giờ, ông có tất cả 3 tác phẩm là “Hồ Qúy Ly”, “Trư cuồng” và “Mẫu Thượng Ngàn”. Riêng “Trư cuồng” được viết bằng một hình thức đặc biệt của văn học Nam Mỹ – văn học hiện thực huyền ảo. 

“Trư cuồng” bị cấm xuất bản ở Việt Nam vì tác phẩm phản ánh xã hội Việt Nam trong thời kỳ bao cấp. Mặc dù sau này ông viết “Mẫu Thượng Ngàn” cũng thu hút được nhiều độc giả, nhưng tác phẩm tâm huyết của cả cuộc đời ông chính là “Hồ Qúy Ly”, thực sự ám ảnh người đọc.






























Hai Đứa Trẻ Và Con Chó Mèo Xóm Núi 
(nxb Kim Đồng) 2002










Mưa Quê 
(nxb Kim Đồng) 2003





























Trư Cuồng 


(tiểu thuyết) 2006





Nhật ký này là của ông Nguyễn Hoàng; ông Nguyễn Hoàng làm nghề viết báo, kiêm nghề nuôi lợn. Có lẽ, khi làm nghề cầm bút, ông đã phạm một cái “húy” gì đó nên bị thất sủng, phải về nghỉ hưu, tuy chưa đến tuổi. Ông là người tỉ mỉ, lại vì mắc bệnh nghề nghiệp nên thích ghi chép. Ông đã ghi lại khá tường tận, thú vị công việc chăn nuôi của mình. Xét thấy nhật ký này có điều hay hay, nên cố sưu góp lại để các bạn cùng đoc



(trích)




























Mẫu Thượng Ngàn



(tiểu thuyết, nxb phụ nữ ) 2009
(Đọc tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn)









Mẫu Thượng Ngàn



tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh


TT - Văn hóa Việt, bản sắc văn hóa Việt là vấn đề, là câu hỏi đã được nêu ra và được hàng trăm, nếu không nói hàng nghìn nhà nghiên cứu tìm cách lý giải từ rất lâu.

Nguyễn Xuân Khánh là nhà tiểu thuyết, anh cũng có câu trả lời của mình không phải bằng lý lẽ uyên bác mà bằng một cuốn tiểu thuyết sinh động, Mẫu Thượng Ngàn,còn dày dặn, bề thế, phong phú hơn cả cuốn Hồ Quý Ly từng gây xôn xao của anh mấy năm trước. Và có vẻ đây có thể là câu trả lời hấp dẫn hơn cả, nếu không nói là thuyết phục hơn cả.

Quả vậy, nếu đi tìm một nhân vật chính cho cuốn tiểu thuyết này, thì hẳn có thể nói nhân vật chính đó là nền văn hóa Việt, cái thực tại vừa vô cùng hiện thực, vừa rất hư ảo, bền chặt, xuyên suốt mà cũng lại biến hóa khôn lường, rất riêng và rất chung, rất bản địa mà cũng lại rất nhân loại. 
Để nắm bắt được “nhân vật” vô cùng gần gũi mà vô cùng kỳ ảo đó, 
Nguyễn Xuân Khánh cũng như tất cả các nhà tiểu thuyết thật sự đẩy nó vào những hoàn cảnh cực đoan nhất: nông thôn Bắc bộ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi dân tộc phải đối mặt mất còn với thực dân phương Tây, cái phương Tây mang đến vừa vũ khí xâm lược hiện đại, vừa nền văn minh tân tiến mà xa lạ với Thiên Chúa giáo đi cùng; khi cả đạo Phật từng bám rễ suốt nghìn năm nay đã suy tàn, khi Nho giáo chỉ còn thoi thóp... 
Bỗng bừng sống dậy một tôn giáo nảy sinh và thấm sâu âm thầm có lẽ từ thuở mới hình thành của dân tộc, đạo Mẫu rất Việt, rất phương Nam, rất dồi dào, bất tận, bất tử, như Đất, như Mẹ, như người Đàn bà.

Không phải ngẫu nhiên mà trong cuốn tiểu thuyết này đông đúc nhất, và cũng đẹp nhất, hay nhất, đậm nhất, mê nhất là những nhân vật nữ, có cảm giác như vô số vậy, từ bà Tổ Cô bí ẩn, bà Ba Váy đa tình... cho đến cô đồng Mùi, cô mõ Hoa khốn khổ, cô trinh nữ Nhụ tinh khiết. Hàng chục, hàng chục nhân vật nữ hết sức gần gũi, hiện thực, mơn mởn, sần sùi, dào dạt, trễ tràng, trữ tình, thừa mứa, khát khao cho và nhận, nhận và cho... và đến cả bà Đà của ông Đùng huyền thoại nữa..., tất cả tràn trề sinh lực, đầm đìa phồn thực...

Và ta bỗng hiểu ra: một nhân dân tiềm chứa trong mình sức sống ẩn sâu trong một thứ tín ngưỡng tuyệt diệu như vậy thì không bao giờ có thể chết, có thể cạn. Vĩnh cữu như Đất, như Rừng, như Mẹ, như người Đàn bà.

Bằng cuốn tiểu thuyết này, bằng khám phá này - tôi muốn nói vậy - Nguyễn Xuân Khánh một lần nữa khiến ta kinh ngạc vì bút lực còn dồi dào đến tràn trề và say đắm của anh. Tác giả đã ngót 75 tuổi. Gừng già thật cay!


































Tác phẩm mới nhất:









Đội Gạo Lên Chùa 


(Tiểu thuyết, nxb Phụ Nữ) 2011




































Biên Khảo:




George Sand- Nhà Văn Của Tình Yêu. 1994






*





Dịch Phẩm:





Những Quả Vàng 
(tiểu thuyết . Nathalie Sarraute) 1996




Chuông Nguyện Cầu Cho Kẻ Đã Khuất 
(tiểu thuyết . Tahar Ben Jalloun) 1998




Bảy Ngày Trên Khinh Khí Cầu 
(Jules Verne) 1998




Hoàng Hậu Sicile 
(Pamela Schoenewaldt) 1999




Tâm Lý Học Đám Đông 
(tiểu luận. Gustave Le Bon) 2006






















Tham khảo thêm về nhà văn Nguyễn Xuân Khánh:








"Mẫu Thượng Ngàn" đoạt giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội






Nguyễn Xuân Khánh gác bút sau 'Mẫu Thượng Ngàn'






Nguyễn Xuân Khánh tuổi 74 và cuốn tiểu thuyết mới

























Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: 
 Phải lao động bằng chết thì thôi



Tháng 5 này, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, tác giả của những tiểu thuyết ấn tượng vào loại hàng đầu trên văn đàn Việt Nam những năm qua như “Hồ Quý Ly” và “Mẫu Thượng Ngàn” lại chuẩn bị cho ra một tác phẩm mới, cuốn “Đội gạo lên chùa”, dày gần 800 trang.



Cuộc đời của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh không đơn giản, đã có lúc ông tạm phải gác nghiệp văn chương và đi làm nhiều nghề khác để mưu sinh trong những năm tuổi đời sung sức. Nhưng khi đã ngoại thất thập, ông lại “tái xuất giang hồ” và ngay lập tức tạo nên những dấu ấn sâu đậm trong cả giới chuyên môn lẫn độc giả. Với những ai đã từng say đắm với các tiểu thuyết trước của ông, hy vọng rằng “Đội gạo lên chùa” sẽ lại đem đến những câu văn mê đắm cùng với những tình tiết lý thú và giàu sức truyền cảm…



Phóng viên (PV): Văn chương với “những người được chọn” đúng là như duyên nợ trọn kiếp. Ông cũng là một “người được chọn”. Bây giờ, nhìn lại những chặng đường văn đã qua, ông có cảm nhận thế nào?



Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Từ thủa bé tôi đã là cậu học trò rất mê thích văn chương. Năm tôi lên 10 tuổi, tôi đã đọc "Tố Tâm" của Hoàng Ngọc Phách, mọi người trong gia đình bảo: "Mới bé tí nứt mắt thế mà đọc quyển này thì lớn lên nhất định sẽ lãng mạn lắm đây"... Nhà tôi có một hòm sách, ngày ngày tôi lấy sách ở trong hòm ra rồi mỗi lần đọc xong quyển nào lại cho vào hòm khóa lại, nâng niu và trân trọng sách như là báu vật của đời. Đến khi đọc hết sách trong hòm thì sang nhà bạn chơi, thấy nhà bạn có một thùng sách thì lại nì nèo mượn bạn để đọc. Ngày đó, tôi thích thú vô cùng "Đông Chu liệt quốc", nghiền ngẫm "Thuyết Đường", say mê "Thủy Hử", "Tây Du Ký", ám ảnh bởi "Anh hùng Náo"… Toàn truyện Trung Hoa… Tôi cũng kịp "nghiến" hết thùng sách của nhà bạn…


Sau này lớn lên tôi vào Đại học Y, học được 1, 2 năm thì tôi đi bộ đội, năm 1957 khi trong quân ngũ tôi viết một truyện ngắn đầu tay gửi về và được giải của tạp chí Văn nghệ quân đội.

PV: Tôi cũng được biết sau này ông làm phóng viên, biên tập ở Tạp chí Văn nghệ quân đội.

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Đúng rồi. Nhưng vào nghề văn mà hồi trẻ mình vẫn tính tự do, nói năng văng mạng, nghĩ gì nói nấy, thì dễ xảy ra tai nạn văn chương. Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào tôi vẫn không bỏ bút, vẫn âm thầm viết dù hoàn cảnh lúc bấy giờ thật khó khăn. Hàng ngày tôi phải bươn bả kiếm sống, làm đủ các thứ nghề để nuôi gia đình 7 miệng ăn. Nhưng tối đến thì thắp đèn dầu ngồi hì hụi viết trên những trang giấy đi xin và góp nhặt được. Đó là những trang giấy đen một mặt. Nhưng, được viết là một sự giải thoát, là một đam mê lớn. Bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu tâm sự đều trút lên trang giấy. Ham mê tạo ra sự hứng thú.

PV: Sau này, ông đã viết những câu chuyện khác nhau, từ truyện dã sử thời “Hồ Quý Ly” đến thời kỳ chống thực dân Pháp “Mẫu Thượng Ngàn”. Những tác phẩm của ông cho dù viết về thời kỳ nào cũng có sức hấp dẫn và lôi cuốn độc giả. Ông đi từ lịch sử đến hiện thực, hẳn ông phải có sự trải nghiệm nào chứ?

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Viết văn, anh phải quan tâm đến bình diện của cuộc sống. Tôi nghĩ việc đọc quan trọng lắm, đọc để mình tích trữ, từ triết học cho đến các môn khoa học khác, nhiều cuốn sách lịch sử và cố gắng cảm nhận. Càng hiểu biết thì càng tốt. Đọc và tích lũy là nguồn rất lớn và mình trải nghiệm bất cứ việc gì. "Mẫu Thượng Ngàn" là câu chuyện của làng quê tôi. Tuy rằng, tôi ở quê có 6 tháng nhưng năm nào cứ đến 3 tháng hè thì tôi lại về quê. Mỗi một nhà văn đều có vùng quê gắn bó nào đấy.

Mỗi con người có thể có một vài vùng gắn bó với mình, điều đó rất quan trọng. Có những cuốn tiểu thuyết mà muốn viết thì mình phải trải nghiệm. Và đó hoàn toàn là mảng sống thật. Nhưng cũng có những cuốn tiểu thuyết hoàn toàn hư cấu, nhưng cũng lại rất thật, y như đời sống. Như "Mẫu Thượng Ngàn" chẳng hạn, tôi viết theo trí tưởng tượng của tôi, nhưng bạn đọc vẫn cảm thấy không khí và con người rất gắn bó với họ. Thật ra, những nhân vật trong trang sách là những hình mẫu thấp thoáng có thật ở ngoài đời. Có những nhân vật hình thành nhờ những kiến thức do mình đọc trong sách. Thủa bé, tôi đọc rất nhiều sách Pháp…

PV: Văn hóa làng xã và tập tục cổ truyền của con người Việt Nam được bộc lộ rõ trong tác phẩm của ông. Tôi xin hỏi điều này, ông có đau đáu không khi ngày nay, trong xã hội hiện thời có vẻ như các yếu tố truyền thống đấy đang dần mất đi, mai một đi?

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Giữa truyền thống và hiện đại, ta phải giữ những truyền thống nào phù hợp với đời sống hiện đại chứ. Chứ truyền thống nào mà không phù hợp thì phải bỏ thôi. Ta phải xây dựng cả cái mới nữa chứ..

PV: Tiếp biến văn hóa…

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Đúng vậy, tiếp biến văn hóa. Văn hóa không có nghĩa là đứng dậm chân tại chỗ. Văn hóa có tiếp thu và phát triển. Văn hóa động, rất động. Mình bảo tồn văn hóa dân tộc, có những cái muốn hay không thì cũng phải mất đi thôi. Cái sự mất đi khi không phù hợp nữa thì nó phải mất đi chứ không phải là cái gì nó cũng là bất biến cả.

PV: Văn hào Nga Maxim Gorky đã từng nói: "Văn học là nhân học", văn là khoa học về con người. Và nhiều nhà văn khác cũng đã nói rồi, nghề văn là nghề khổ.

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Phải làm bằng chết thì thôi! Phải công phu lớn chứ không phải dễ dàng. Có những nhà văn gặp hoàn cảnh thực tiễn vốn đã hay quá rồi chỉ viết lại trung thực với hoàn cảnh thì đã thành tác phẩm ấn tượng rồi, nhưng sau đó không viết được nữa. Có nhà văn chỉ viết một hoặc hai truyện ngắn dựa trên những câu chuyện có thật và họ không có ý thức mê say cao độ, công phu để tự đào luyện mình. Và rồi không thể viết lâu dài được. Chỉ viết một, hai truyện là hết vốn sống, nhà văn phải rất có ý thức về nghề của mình.

Làm một nghề để cho tinh đã khó rồi, nữa là nghề tạo ra văn hóa - nghề viết văn. Viết văn có nghĩa là tổng hợp, nhìn từ đời sống mà rút những cái tinh túy từ đời sống ra thì mình phải có đào luyện và cẩn thận.

PV: Trong các tác phẩm tiểu thuyết của ông thấy nổi rõ tinh thần Phật pháp. Và hình bóng người phụ nữ hiện lên trong tác phẩm của ông hết sức gợi cảm, ấn tượng và có đời sống đặc biệt. Theo ông, người phụ nữ có ảnh hưởng lớn như thế nào trong gia đình và ngoài xã hội?

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Người phụ nữ Việt Nam so với các nước láng giềng ở trong khu vực Đông Nam Á, châu Á đã khác rồi, và so với phương Tây thì càng khác nữa.

Người Việt mình trồng lúa nước nên vai trò của người phụ nữ trong gia đình rất quan trọng. Một đất nước nông nghiệp thì người phụ nữ lao động đóng góp tạo ra của cải trong gia đình. Và xuất phát từ mẫu hệ điều đấy thể hiện ở tôn giáo. Nước ta, khi chưa hình thành đạo Mẫu là đã có tục thờ những người phụ nữ có công với dân với nước như Ngọc Hoa công chúa, bà chúa Mía, Bà chúa Dâu (trồng dâu nuôi tằm), Bà Trưng, Bà Triệu... Hoặc thờ những người phụ nữ làm sinh sôi nảy nở ra, đạo Mẫu có lẽ là tàn dư của chế độ mẫu hệå. Sau một nghìn năm Bắc thuộc thì mới thành chế độ phụ hệ.

Tiếp đến, khi đạo Phật vào Việt Nam, dân ta thấm nhuần tinh thần đạo Phật cũng tương đối sâu sắc. Người dân đa phần đều là Phật tử nhưng chất của Phật giáo vẫn nằm trong con người mình. Khi đạo Khổng du nhập vào Việt Nam thì đạo Khổng ở đình. Ngôi đình trong làng quê Việt có thể được coi như "tiểu triều đình", là nơi những người đàn ông vai vế ngồi với nhau. Còn những người đàn bà thì lại đi chùa. Đạo Khổng nằm ở ngoài đình, thì đạo Phật mất ngôi thống trị về mặt hệ tư tưởng.

Trước kia nhà chùa là nơi dạy học, mọi sinh hoạt ở ngoài chùa cả, đàn ông cũng có mặt ở chùa. Khi đạo Khổng phát triển mạnh mẽ thì ngôi đình trở nên quan trọng, đàn ông sinh hoạt văn hóa ở đấy. Chùa chỉ còn là nơi đa phần dành cho người phụ nữ sinh hoạt văn hóa. Như hai phần âm, dương. Các tập tục đi chùa ngày lễ hội, hội bà vãi, đầu xuân đi lễ chùa thấm nhuần vào người mẹ; đứa trẻ bé tí đã lẽo đẽo theo mẹ và thích đi chùa rồi. Giáo lý của đạo Phật của người mẹ thấm nhuần và bất cứ người nào cũng có người mẹ của mình. Người mẹ dần dà truyền văn hóa đạo Phật cho con, mặc dù người con lớn lên có thể theo lý thuyết nào nữa chăng nữa, những yếu tố văn hóa Phật giáo đã vào mình từ thủa ấu thơ và cứ còn mãi mãi.

PV: Kể cả khi chúng ta đã sống trong thời đa văn hóa thì văn hóa Phật giáo vẫn chi phối rất nhiều…

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Dân tộc Việt Nam là dân tộc Phật giáo, nghĩa là yếu tố Phật giáo vẫn tồn tại trong mình. Mặc dầu đạo Phật đã không còn là quốc đạo nữa, nhưng vai trò của người mẹ, người đàn bà ở xã hội Việt Nam giữ phần tâm linh, phần âm, phần kiên trì nhẫn nhục, dồn nén để đến một lúc nào đó bùng phát ra.

PV: Cuộc sống hiện nay của ông ra sao?

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Tôi vẫn thường xuyên đọc, mỗi ngày tôi dành ra mấy tiếng để đọc sách. Mấy hôm nay tôi đọc tiểu thuyết của Quỳnh Dao. Thế mà cũng đã ngốn hết 4 cuốn, toàn truyện về tình yêu cả, cũng lý thú.

Bây giờ già rồi cũng ngại đi, thỉnh thoảng mua sách thì ra phố thôi, chứ hạn chế đi lắm. Dăm ba tháng một lần mấy ông bạn già, toàn là bạn văn cả, lại rủ nhau đi chơi các tỉnh vài hôm…

PV: Đến giờ ông có mong muốn gì không?

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Sống đến giờ thì tôi cũng chả còn ham hố gì, chỉ có ao ước tâm niệm một điều rằng, nếu mà ông trời thương cho mình còn sức khỏe, còn minh mẫn thì cố mà viết một, hai cuốn. Không thì viết một cuốn nữa cũng được, đấy là sự cố gắng nhất của tôi.

PV: Con người ta hiếm khi bằng lòng với chính mình. Nhưng vượt được cái bóng của mình cũng là điều cực khó. Nhất là “văn chương viết được là do nhờ giời” - câu của nhà văn Nguyễn Khải.

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Vâng, ai chả biết là thế. Nhưng cũng phải cố thôi chứ biết làm thế nào. Cuộc đời này là sự vận động không ngừng nghỉ cơ mà. Nhà văn cũng vận động mà độc giả cũng vận động. Độc giả cũng mong muốn mình viết hơn lên nữa, tác phẩm sau hơn tác phẩm trước, nhưng sự thực là thay đổi mình cũng khó. Những sự bứt phá, vượt mình lên cũng cực khó. Mỗi một cuốn tiểu thuyết thường thường tôi viết trong khoảng 4, 5 năm. Tôi viết tay. Nghĩ là phần quan trọng nhất. Khi đã nghĩ xong thì viết nhanh thôi.

Chia tay ông ra về, ông tiễn tôi ra ngoài cửa, mưa vẫn rơi lộp độp xuống con ngõ nhỏ heo hút và lầy lội. Ông bảo, ông sống ở làng Thanh Nhàn này đã 70 năm. Năm ông lên 6 tuổi thì cha ông mất, ông theo mẹ về quê ngoại ở phố Huế, Tây làm cháy phố Huế, cả nhà ông kéo lên làng này khoang đất dựng nhà.

Ông nhớ lại ngày đấy, đây còn là mảnh đất hoang vu, hồ ao, cỏ mọc lút, ếch nhái râm ran. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, người dân chạy Tây ở các nơi khác đã đến trú ngụ tại làng này. Người ta gọi là xóm lao động. Xóm này sống chủ yếu bằng nghề trồng ổi, thả sen, nuôi cá.

Ngày đó, chỉ có một vài nhà gạch còn thì toàn nhà tre, nứa lá, mỗi khi có gia đình nào đến thì hàng xóm lại giúp cho ít lá gồi, để lợp mái, giúp ít tre để dựng nhà. Nhưng bây giờ đất đây cũng đã thành đất vàng. Thời thế thay đổi, người thì cứ sinh sôi thêm mà đất thì không nở ra được. Và, chỉ vì một mét đất người trong cùng một gia đình cũng có thể mang nhau lên tòa để kiện cáo…




















Hiện sống và làm việc tại Hà Nội (Việt Nam)























Trở về 













MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.