Thursday, 28 September 2017

Tạ Duy Anh






















Tạ Duy Anh


Tên khai sinh: Tạ Việt Dũng
Tạ Viết Đãng ?
(1959 - ......)
bút danh khác: Lão Tạ, Chu Quý, Quý Anh, Bình Tâm.

Nhà văn













Tôi biết và luôn nhớ mình có hai bàn tay
Hà Nội 19/02/2019












Tiểu sử

Nguyên tên khai sinh của ông là Tạ Việt Dũng, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1959. Quê ông ở thôn Cổ Hiền, xã Hoàng Việt, huyện Chương Mỹ, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

Ông từng làm cán bộ giám sát chất lượng bê tông ở Nhà máy thủy điện Hòa Bình, trung sĩ bộ binh ở Lào Cai. Sau đó Tạ Duy Anh tham gia học ở Trường viết văn Nguyễn Du. Trải qua 4 năm học, ông đỗ đầu và được giữ lại làm giảng viên. Hiện ông là biên tập viên tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Tạ Duy Anh trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1993.





















Tác phẩm mới nhất








Đình chỉ phát hành sách mới của Tạ Duy Anh




Mối Chúa
(với bút danh Đãng Khấu)



Đình chỉ phát hành sách mới của Tạ Duy Anh vì đen tối, u ám
Cục Xuất bản, In và Phát hành đánh giá tiểu thuyết "Mối chúa" của Tạ Duy Anh (bút danh Đãng Khấu) có nội dung tiêu cực.

Cục Xuất bản, In và Phát hành vừa yêu cầu Nhà xuất bản Hội Nhà văn đình chỉ phát hành cuốn sách để thẩm định nội dung, có ý kiến của cơ quan chủ quản. Văn bản báo cáo kết quả thẩm định gửi về Cục trước ngày 29/9.

Trước đó, trong công văn do Cục Xuất bản, In và Phát hành ban hành ngày 13/9, Cục nhận xét cuốn Mối chúa đã vạch trần những tiêu cực và bất công trong xã hội. Tuy nhiên, phần lớn nhân vật trong tác phẩm từ thấp đến cao đều đen tối, vô vọng, đau đớn. Qua lời kể của các nhân vật, sách miêu tả một xã hội hầu như chỉ được chỉ huy bởi những kẻ ngu dốt, tham lam, thủ đoạn....

Ngoài ra, Cục cũng cho rằng một số chi tiết trong sách được viết với giọng điệu giễu nhại sâu cay, miêu tả tiêu cực, có phần tô đậm khiến cho hiện thực trở nên u ám.

Mối chúa do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Công ty cổ phần Văn hóa Truyền thông Nhã Nam thực hiện. Theo Công ty cổ phần Văn hóa Truyền thông Nhã Nam, sách tái hiện những vấn đề nóng bỏng của xã hội đương thời: công nghiệp hóa và sự tan vỡ của nông thôn, hình ảnh những bố già quyền lực, thế lực bóng tối, lòng tham và sự bất chấp pháp luật, đạo lý, thân phận của những người nông dân thấp cổ bé họng…




Tạ Duy Anh tên thật là Tạ Viết Đãng, sinh năm 1959 ở Chương Mỹ, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Ông từng xuất bản nhiều tác phẩm như Lão Khổ, Bước qua lời nguyền, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối... Hiện ông là biên tập viên Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

















Tác phẩm đã in












1
Bến Thời Gian
Truyện ngắn
Gã và Nàng








3
Bố Cục Hoàn Hảo









4
Ngày Hội Cuối Cùng






5
Quả Trứng Vàng








6
Ba Đào Ký










7
Truyện Ngắn Chọn Lọc Tạ Duy Anh









8
Đi tìm nhân vật
(tiểu thuyết)

Từng được cấp giấy phép xuất bản năm 2002 của Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, nhưng sau đó vừa ra đã bị cấm phát hành vì bị nhiều ý kiến phê phán thái độ tiếp cận, mô tả đời sống xã hội của tác giả. Bây giờ, trong không khí đổi mới của 15 năm sau, cuốn sách lại được tái bản trở lại.[1]

http://lmvn.com/truyen/index.php?func=viewpost&id=Zcz26iN2Yk2j17Lpa9DLc5GX02dv5phU









9

10
Những Truyện Không Phải Trong Mơ
(truyện vừa)









11
Bức tranh của em gái tôi
(truyện ngắn thiếu nhi)






12
Dưới Bàn Tay Vô Hình
(tự truyện)





13
Vó Ngựa Trở Về





14
Con Dế Ma








15
Bước Qua Lời Nguyền
(tiểu thuyết)











16
Những Giấc Mơ Của Tôi












17
Lão Khổ
Tiểu Thuyết








18
Xưa kia chị đẹp nhất làng
19
Đối thủ còi cọc










20
Làng Quê Đang Biến Mất
Bình luận xã hội









21
Trò Đùa Của Số Phận
Kịch và tiểu thuyết







22
Giã Biệt Bóng Tối








23
Lãng Du








24
Chưa in

Sinh Ra Để Chết





















Giải thưởng



Giải truyện ngắn nông thôn báo Văn nghệ, báo Nông nghiệp và Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức

Giải C cuộc thi truyện ngắn năm 1989-1990 của tạp chí Văn nghệ Quân đội với tác phẩm Xưa kia chị đẹp nhất làng

Giải nhì trong cuộc thi viết "Tương lai vẫy gọi" của báo Thiếu niên Tiền phong cho câu truyện ngắn "Bức tranh của em gái tôi"

Hai giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng cho hai tập truyện: Quả trứng vàng và Vó ngựa trở về

Giải thưởng văn học Thủ đô 2012 cho tập truyện ngắn Lãng du.














Tham khảo thêm về nhà văn Tạ Duy Anh










Thụy Khuê

Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật

Tạ Duy Anh tên thật là Tạ Việt Dũng, sinh ngày 9/9/1959 tại xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Ðông, đã trải qua những thời kỳ nhập ngũ, giải ngũ, làm việc tại công trường thủy điện Hòa Bình và từ đó bắt đầu viết văn. Theo học trường viết văn Nguyễn Du, tốt nghiệp khóa IV, làm cán bộ giảng dạy tại trường. Tạ Duy Anh là hội viên Hội Nhà Văn từ 1993.

    Mười năm, kể từ truyện ngắn Bước qua lời nguyền viết tại Sông Ðà tháng 4 năm 1989, đến truyện dài Lão Khổ (1992) rồi tiểu thuyết Ði tìm nhân vật (hoàn tất năm 1999). Mười năm, Tạ Duy Anh đã phát triển hai luận đề chính trong tiểu thuyết của mình: lời nguyền và tội ác, qua những hướng khác nhau trong bút pháp cũng như trong cách biến thiên nhân vật. Từ lối viết hiện thực phê phán xã hội trong hai tác phẩm đầu, nhà văn đã đạt được lối viết đa âm trong tiểu thuyết mới nhất: Ði tìm nhân vật (Nxb. Văn Hóa Dân Tộc, 2002, Tiếng Quê Hương tái bản ại Hoa Kỳ, 2003), tác phẩm bị khai trừ khỏi dư luận báo chí và văn học ở Việt Nam, cùng với hồi ký Nhớ lại của Ðào Xuân Quý, khi vừa ra đời.

    Bước qua lời nguyền làm nổi danh tác giả ngay khi được đăng trên báo Văn Nghệ, tháng 11 năm 1989. Tác phẩm xác định một ngòi bút hiện thực sắc sảo, can đảm nhìn lại quá khứ đớn đau của mình, của một thế hệ lớn lên trong hai lớp hận thù: hận thù dòng họ và hận thù giai cấp.
    Một thằng bé muốn bước qua lời nguyền để bênh vực một con bé, lớn lên chúng muốn vượt qua thù hận để bảo vệ tình yêu. Bước qua lời nguyền đánh dấu giai đoạn cuối của thời kỳ đổi mới, nó nằm trong một toàn bộ rộng lớn hơn: khuynh hướng văn học đấu tranh phê phán xã hội, duyệt lại những sai lầm quá khứ, như Những thiên đường mù của Dương Thu Hương, Mảnh đất lắm người nhiều macủa Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng...

    Sau Bước qua lời nguyền, Tạ Duy Anh mở rộng chủ đề "thù hận" hơn nữa trong tiểu thuyết Lão Khổ. Lão Khổ tên thực là Tạ Khổ, bần cố nông chính hiệu, lão cũng sinh ở làng Ðồng như những nhân vật chính của Bước qua lời nguyền và Ði tìm nhân vật. Lão đã đắc lực xây dựng nên cái khổ của mình. Tên lão, là bản chất lão, là con đẻ cái guồng máy mà lão là nguyên nhân tạo dựng, để sau này nó nghiền nát lão.
    Chủ đề thứ hai trong tiểu thuyết Lão Khổ, cũng như trong Ði tìm nhân vật, là sự điều tra tội ác để tìm ra gốc gác những khổ đau của con người. Ðiều tra về những cái chết, những cách chết. Ðiều tra về những lời nguyền, nguyên do nào đã đưa đến những hận thù dòng họ, tiếp sức cho hận thù đấu tranh giai cấp? Căm thù đến từ đâu? Bắt rễ như thế nào? Dinh dưỡng ra sao? Tại sao nó bành trướng và tươi tốt trong khi con người, hết thế hệ này đến thế hệ khác đều tàn tạ gục ngã dưới những cái chết khác nhau, hệ quả của tội ác và trừng phạt.
*

    Ảnh hưởng Dostoievski, Tạ Duy Anh ngày càng đào sâu những vực thẳm của tội lỗi, tìm hiểu những biến thể của tội ác, thăm dò từng nguồn phát sinh để thử trả lời câu hỏi: tại sao nó thế này mà không thế kia?
    Lão Khổ vẫn giữ bút pháp hiện thực cổ điển, Ði tìm nhân vật đã biến chuyển nhiều để tạo ra một hiện thực mới, mà ký ức, hồi ức không còn thụ động, không còn bất động trong mỗi trở về. Trong Ði tìm nhân vật, mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết đều đưa đến những nghi vấn: Ký ức ư? Có phải thế không? Hay chỉ là "lầm lẫn", hay chỉ là tin tức một chiều? Ký ức có trung thành không? Tại sao tôi nhớ cái này mà không nhớ cái kia? Ký ức có thể phản bội vì sự lựa lọc rất đáng ngờ trong "bộ nhớ" của nó.
    Sự nghi ngờ trở thành bạn đồng hành của tác giả, vì vậy độc giả luôn luôn bị đánh động: phải coi chừng, những điều tay ấy kể, có thể rất láo lếu. Tính chất đa âm đến từ đó: ai cũng nói và ai cũng có thể gian, cuộc điều tra sự thật không bao giờ chấm dứt. Tác giả muốn đưa ra một câu hỏi độc đáo, đảo ngược mọi vấn đề, mọi xác định: Tôi là ai? Ai là tôi?
    Bất cứ một sự kiện nào dù đã xẩy ra một cách nhỡn tiền, chỉ mấy phút sau nó sẽ bị trùm lên một đống hỏa mù của dư luận. Dư luận cộng đồng là thứ ám khí lợi hại nhất để xóa bỏ vết tích sự thật, nó là mẹ đẻ của thất thiệt, là máy chế tạo huyền thoại. Một vụ án mạng ư? Có một kẻ đi điều tra ư? Chỉ một vài khắc sau, trên miệng dư luận hàng phố: kẻ điều tra có thể biến thành kẻ gây án mạng. Tính chất lật lọng của đám đông, của cộng đồng đã được Tạ Duy Anh mổ xẻ triệt để. Những guồng máy dựa trên cộng đồng để triệt hạ cá nhân, đã gián tiếp được tác giả điểm chỉ tuy không nêu đích danh.
    Con người, với bản chất ích kỷ, thờ ơ, thường ngoảnh mặt quay đi, "không dính" vào những vụ việc lôi thôi, có thể gây phiền hà cho mình, nhưng vẫn hắn, con người còn vụ lợi, lèm bèm, ưa nói xấu, nên cũng sẵn sàng bôi nhọ, phết hồ vào những điều hắn biết hoặc không biết, vì sợ sệt, vì quyền lợi, vì vô tình, vì ác ý, ... vì tất cả những lý do có thể mường tượng được. Cho nên, anh có thể là anh, mà cũng có thể là người khác. Không ai nhận diện được ai, không ai tự nhận diện được mình, trong cái "cộng đồng" bát nháo mà dối trá, thành thực, đạo đức, tội lỗi... quay cuồng và tiêu diệt lẫn nhau. Tạ Duy Anh muốn kín đáo vạch mặt cái bản chất "cộng đồng" vô trách nhiệm, đầy ám hiệu và phản trắc ấy.
*

    Ði tìm nhân vật mở đầu như một tiểu thuyết trinh thám: Một kẻ tình cờ vớ được mẩu báo, vỏn vẹn mấy hàng: "Nạn nhân là thằng bé đánh giầy, quãng 10-12 tuổi bị một gã đàn ông đâm chết ngay tại chỗ. Hung thủ được tạm mô tả như kẻ mắc chứng thần kinh, ăn mặc sang trọng. Việc truy bắt đang được tiến hành ráo riết."(trang 6)
    Kẻ đang đọc những dòng chữ ấy là tôi, nhân vật chính  trong truyện. Sau này, được biết tôi tên là Chu Quý. Cái tên Chu Quý chỉ được nhắc đến vài lần trong suốt hơn ba trăm trang truyện. Chu Quý tình cờ đọc được mẩu báo, bèn quyết định đi ? Nhập đề rơi ngay vào trường hợp: nhị trùng, tam trùng, tứ trùng... nhân cách mà kẻ đi tìm chính là kẻ bị tìm. Một sự tìm mình, tìm kiếm bản thân. Tôi lùng tôi: Tôi là ai? Tôi là hắn? Hắn "giết" tôi? Tôi đi tìm hắn?
    Những nghi vấn đầu tiên này đã là một bước ngoặt đặt ra cho tiểu thuyết: đi từ xác định đến hoài nghi, đẩy người đọc vào tình trạng: không thể có một sự đọc mà có nhiều sự đọc. Và đó là cái bẫy của tác giả: Tất cả những vấn đề mà "tôi" đặt ra ở đây, đều bất trắc, đều nhiều nghĩa, đều không có gì xác định cả, đến cả nhân vật "chính" cũng không chắc gì đã là một. Nếu bạn chấp nhận một sự "lập lờ" như vậy, thì hãy tiếp tục đi vào tác phẩm, tìm nhân vật. Con đường tìm kiếm này đầy dẫy những câu hỏi như: Hắn là ai? Tại sao hắn lại hành động như vậy? Chiến tranh là gì? Nguyên nhân nào đã dẫn đến những hậu quả như vậy? Cái ác ở đâu mà ra? Tại sao người ta chết? Tại sao người ta giết người? Cái mà Chu Quý gọi là hắn, được trình diện như sau: "Hồi đó hắn xuất hiện trước mắt tôi như một khối đen khổng lồ. Từ cái buổi tối định mệnh ấy, tuổi thơ của tôi vĩnh viễn bị chôn sống. Tôi thấy cha tôi bị cùm giải đi." (trang 41)
    "Tôi chưa bao giờ nhìn vào tận mắt hắn. Sau khi lập mưu đẩy cha tôi vào tù, sau khi biến cha tôi thành thân tàn ma dại, đêm nào hắn cũng lảng vảng quanh nhà tôi khiến cha tôi suy sụp rất nhanh và chết âm thầm trong bóng tối." (trang 161)
    "Có thể là hắn, dưới bộ mặt khác, đã hạ sát thằng bé đánh giầy." (trang 38)
*

    Chân dung vô hình của hắn, như những mảnh puzzle trải dài trong tác phẩm, chỗ chìm, chỗ nổi, chúng mang những mặt nạ khác nhau. Ở trường hợp gã thợ săn, bắn chết người, bị bắt, bị kết án tử hình; khi nghe tuyên án, gã gào lên thê thảm, gã vạch mặt, chỉ tên hắn: "Tôi không có một chút ý muốn giết người. Hắn đã chọn tôi để trốn tội. Trong vụ này hắn đã thắng tất cả chúng ta" (trang 33). Gã nhận mình là thủ phạm, nhưng cố cãi:
    "Tôi không là thủ phạm duy nhất. Tôi hoàn toàn không có ý định giết người... Hắn, một kẻ vô hình, nhưng có mặt ở khắp nơi, ở bất cứ chỗ nào con người có sự ganh ghét  thù hận, đã biến tôi thành công cụ của hắn." (trang 34-35)
    Nhưng khi người ta cho phép gã "được dùng bằng chứng để gỡ tội thì gã chỉ còn biết câm lặng" (trang 34). Gã thợ săn không có bằng chứng. Gã biết gã được hiệp săn chỉ định việc giết người nhưng không biết ngón tay chỉ là ai. Của ai? Nó vô hình, nó là đêm tối.

    Người anh của Chu Quý, tiến sĩ N, cũng đã gặp ngón tay chỉ  đạo ấy trong chiến tranh. Trong một hoàn cảnh cực kỳ tuyệt vọng, tiến sĩ N, nộp đơn tình nguyện vào Nam chiến đấu. "Không một ai hồi đó hiểu được động cơ nhập ngũ của tôi. Tôi quyết định tìm kiếm một cái chết." (trang 127). Trớ trêu của hoàn cảnh, N không chết. Nhưng qua những cái chết mà anh mục kích hoặc anh là tác giả, N khám phá được bản chất và thủ phạm chiến tranh: "Chiến tranh là cơ hội giết người tốt nhất. Khi đạn đã lên nòng rồi thì nó phải tìm ai đó để găm vào thì mới hợp logic. Mình phải tưởng tượng ra những kẻ mình sắp giết là bọn quỷ. Ngón tay trỏ của mình đã bắt đầu tê cứng và nó sẽ cho mình ảo giác là mình không điều khiển được nó. Mọi sự do nó quyết định [...] Ai đó từng bảo rằng, không có đàn ông sẽ không có chiến tranh. Mình sẽ cải chính chỉ cần bọn đàn ông đừng có ngón tay trỏ. Tại sao lại gọi là ngón tay trỏ. Nó dùng để trỏ đường cho ai đó. Nó là vật cụ thể hóa ý nghĩ, ý tưởng đầu tiên. Nhưng ở chiến trường phải gọi nó là ngón tay giết người mới đúng." (trang 134)

    Ngón tay trỏ ở đây, có hình mà không hồn; nó cũng là một loài đêm tối, nó cũng thay hình đổi dạng, nó luôn luôn thay đổi hành tung: Nay là hiệp săn, mai là tổ chức, mốt là guồng máy, có lúc nó là chính nghĩa, có nó nơi là tổ quốc, ... nó như con bạch tuộc nhiều đầu, nó là ... hắn: "Không phải vô cớ mà tôi chuyên đi điều tra về những cái chết. Thực ra vẫn là cuộc truy tìm hắn mà tôi lao vào một cách tuyệt vọng. Có lúc tưởng như tôi đã vẽ được chân dung hắn. Có lúc hắn đã ở trong tầm tay của tôi. Có lúc hắn bị tôi phù phép cho thất điên bát đảo để lộ nguyên hình. Nhưng có lúc hắn biến hóa khôn lường, trở lại ghế phán xét hoặc bảnh bao dưới một chân dung khả ái." (trang 33)

    Muốn theo dõi cuộc truy lùng này, phải lộn ngược về tuổi thơ của Chu Quý. "Tôi không thể nào quên ngày cha tôi bị dẫn đi. Cha tôi mảnh khảnh như một nho sinh, vì thế tôi có cảm giác cơ thể ông bị bẻ nát vụn dưới sức mạnh của mấy gã dân quân [...] sau khi cha quay đi, tôi gào lên hỏi mẹ vì sao cha chịu để người ta trói một cách dễ dàng rồi dắt đi như dắt trâu, liền bị mẹ tôi bịt miệng lại: "Thôi nào, mẹ xin con!" [...]
    Ðiệp khúc mẹ xin con! ăn sâu vào ký ức tôi đến nỗi nó thường vang lên như là "khúc dạo đầu bi tráng" mỗi khi tôi thử tìm cách giải mã những số bí mật của quá khứ."
 (trang 41)
*

    Từ bi kịch này, Chu Quý bước vào đời. Ðó là một cuộc đời hai mặt, mặt hiện thực, va chạm với đời sống hàng ngày của kẻ mang nhiều căn cước: công an, nhà báo, thám tử, điều tra về những cái chết. Ở mặt này, Chu Quý luôn luôn bị lùa vào bẫy: chẳng ai cho hắn một tin tức gì khả dĩ có thể giúp hắn truy lùng được thủ phạm. Không những thế, "cộng đồng" còn trùm lấp lên sự thật -nếu có một cái được gọi là sự thật- bằng nhiều thứ hỏa mù cạm bẫy: của xác thịt, của tiền bạc, của mánh mung, của ham muốn, của đút lót, của đe dọa, của vô tình ..., những tội ác không để lại chứng từ, có thể giết người nhưng không thấy xác, những loại hung thủ vô hình và vô định, chúng cũng là những ... hắn.
    Ngoài cuộc sống nổi, Chu Quý còn cuộc sống chìm: nội tâm. Nội tâm khắt khe, khốc liệt với hắn. Bắt hắn triệt thoái về quá khứ để truy lùng tội ác của chính mình. Tại sao hắn lại hãm hiếp người con gái ấy? Tại sao hắn lại bị liệt dương? Tại sao hắn lại tàn phế, bệnh tật như ngày nay?
    Giữa hai cuộc bố ráp này lộ ra những bộ mặt, những con người đã xây dựng nên màng lưới xã hội: Từ trí thức, nhà văn, bộ đội đến gái điếm, ma cô ... mỗi nhân vật đều có những ẩn mật của đời mình.
    Tiến sĩ N, người anh sinh đôi của Chu Quý, đưa ra một thoại khác về người cha: Vì linh cảm trước thời thế và số mệnh của mình, cho nên ông đã tách rời hai đứa con, N và Chu Quý, từ lúc lọt lòng. Chu Quý được một gia đình khác nuôi nấng. Quả nhiên sau đó người cha bị mắc nạn, bị xử treo cổ hai lần, một lần còn sống và một lần đã chết: "Treo cổ lần thứ hai, sợi dây lút qua lớp thịt đã thối vào tận xương, để cha tôi biết rõ tội trạng mình, do một chị mắt toét vừa bịt mũi vừa đánh vần bản tuyên án." (trang 122)

    Chưa nói về hai anh em "sinh đôi" đã là một trường hợp nhị trùng nhân cách, ngay về người cha, cũng đã "nhân đôi": bố của N chết khác bố của Chu Quý. Vậy họ có một bố hay hai bố? Chu Quý có một bố nuôi và một bố ruột chăng? Cả hai đề bị xử tử? Hay chỉ là chuyện một người mà hai "bộ nhớ" của hai anh em khác nhau? Tiến sĩ N, có thể là bộ mặt thứ nhì của Chu Quý, vì cả hai "anh em" đều tiềm ẩn một chất "hắn", chất bóng tối, chất ma túy, đong đưa giữa giả và thật, giữa tội ác và trừng phạt. Chung quanh họ là những nhân vật đầy nghi vấn, vật vờ trên đường tìm mặt thật của chính mình, một hành trình không bao giờ tới đích: Ông Bân, nhà văn đi tìm nhân vật, là người duy nhất hình như đã tìm thấy: nhân vật của ông chính là Chu Quý, phản diện của bản thân ông.
    Ði tìm nhân vật gồm nhiều tiểu thuyết trong một tiểu thuyết, nhiều "tác giả" trong một tác giả, nhiều nhân vật trong một nhân vật. Trong những "nhân vậy" ấy, Thảo Miên bước ra từ giấc ngủ, một thứ Lolita ngơ ngác, thất lạc trong cuộc đời. Thảo Miên "thành người" từ khi được mục kích những thác loạn dục tình của mẹ. Nàng lao vào vùng cấm địa của "tội lỗi", với bề ngoài băng trinh; Thảo Miên như một tiên nữ sa lầy mà Chu Quý tìm cách giải thoát để xây dựng một tình yêu tuyệt vời, thánh thiện, để có thể tin rằng: ngoài tất cả những xấu xa tàn mạt, con người vẫn còn có tình yêu.
    Nhưng rồi đến cả Thảo Miên cũng chưa chắc là có thật, hay chỉ là giấc ngủ dài, giấc mộng triền miên của Chu Quý, kẻ lạc đường, kẻ vướng sa lầy chưa bao giờ tỉnh mộng?
*

    Những nhân vật của Tạ Duy Anh qua ba tác phẩm, từ hơn mười năm nay, vẫn gắn bó mật thiết với nhau trong một tương quan chặt chẽ: họ hàng, làng nước. Họ xuất thân cùng ở làng Ðồng, họ cùng tiềm ẩn hận thù dòng họ, hận thù giai cấp. Nhưng mỗi tác phẩm có một thực tại khác, một lối viết khác. Những tác phẩm đến sau, dường như chỉ là để "viết lại" các "chuyện" trước một cách mới hơn, mở hơn, kỹ hơn, rốt ráo hơn, nghệ thuật hơn. Ở Tạ Duy Anh, tội ác và trừng phạt nhen nhúm từ căn nguyên: Các hình thức "tội ác" nếu không bắt nguồn từ văn hóa, chính trị, thì ít ra nó cũng được nuôi dưỡng bằng văn hóa chính trị. Chính những truyện cổ tích đã có mầm mống vinh thăng tội ác, ca tụng việc ác giả ác báo, mà Tấm Cám là một ví dụ. Trong những truyện Rùa chạy thi với thỏ hoặc Trí khôn của ta đây, sự lừa bịp được xưng tụng như một thứ "trí khôn" của người Việt. Ở Mỵ Châu Trọng Thủy, tình yêu bị chính nghĩa xử tử. Ðó là những yếu tố thuộc vào "kho tàng" được gọi là "bản sắc dân tộc" mà chúng ta giữ gìn, bảo vệ: chúng đã tố cáo bản sắc thật của người Việt, qua văn hóa.
    Về mặt chính trị, người ta không ngừng tích cực "hiện đại hóa" bộ mặt văn hóa cổ tích đáng sợ ấy trong các chính sách cai trị: Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm, Sửa sai, chiến tranh ... như con đường hành xử chính đáng duy nhất. Chuyên chính (vô sản) và Tấm Cám là một cặp bài trùng: báo thù và quả báo.

    Tạ Duy Anh muốn đề nghị một lối thoát: Con đường bước qua những lời nguyền, bước qua sự trừng phạt, bước qua tội ác để tạo một viễn cảnh sống mà tình yêu không bị đánh đập, chôn vùi, tình yêu được ương mầm, vun vén để sinh sản, để cha truyền con nối.
    Ở Bước qua lời nguyền, tình yêu biểu hiện dưới nét Quý Anh, người con gái địa chủ bị dập vùi trong tai biến gia đình.
    Lão Khổ là một nhân vật đối diện với tòa án lương tâm: xuất thân bần cố, lão đã bị địa chủ hành hạ vì tư thù dòng họ. Rồi khi cờ đến tay, lão phất, lão trả thù, lão giết người, lão lên đến đỉnh cao của quyền lực. Cuối cùng lão cũng bị đào thải. Luật tuần hoàn. Lão đã đi hết "kiếp" của mình, một hành trình tội ác và trừng phạt  mà tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Lão Khổ là nhân vật không ý thức đươc trách nhiệm của mình, bởi lão không đủ khả năng để "ý thức". Lão Khổ là cái bi đát hiện thực được nhà văn nhìn từ bên ngoài.
    Ðến Ði tìm nhân vật, Tạ Duy Anh bước thêm bước nữa. Chu Quý là sự nhập đồng của nhiều nhân vật, hắn là con người, là cái bi đát được nhìn từ bên trong con người. Chu Quý phức tạp hơn lão Khổ, đa âm hơn lão Khổ. Chu Quý xuất thân từ một gia đình trí thức mà người cha đã bị xử tử. Thảm kịch gia đình đã tạo nên một Chu Quý què quặt, bệnh hoạn trong tâm hồn. Hắn muốn thoát ra khỏi bi kịch để thở, để sống, nhưng hắn bất lực. Hắn ý thức được bệnh hoạn của mình, cố tìm mình trong gương chiếu hậu, muốn chữa bệnh nan y cho mình, muốn tìm hiểu sự thực về mình, nhưng cuối cùng, gần tới đích, hắn sợ. Gần chạm tay đến sự thật hắn bỏ cuộc: Chu Quý bị dầy vò giữa hai lực cản: can đảm và hèn nhát. Trải qua những kinh nghiệm kinh hồn, hắn muốn bám víu vào tình yêu; nhưng rút cục tình yêu, hay Thảo Miên, cũng chưa chắc đã là một cái gì thật sự có, hay nàng chỉ là giấc mộng, là ảo tưởng mà Chu Quý tạo ra để tìm một an ủi cuối cùng?


Thụy Khuê
Paris, tháng 3/2003

© Copyright Thuy Khue 2003









lão Khổ, đa âm hơn lão Khổ. Chu Quý xuất thân từ một gia đình trí thức mà người cha đã bị xử tử. Thảm kịch gia đình đã tạo nên một Chu Quý què quặt, bệnh hoạn trong tâm hồn. Hắn muốn thoát ra khỏi bi kịch để thở, để sống, nhưng hắn bất lực. Hắn ý thức được bệnh hoạn của mình, cố tìm mình trong gương chiếu hậu, muốn chữa bệnh nan y cho mình, muốn tìm hiểu sự thực về mình, nhưng cuối cùng, gần tới đích, hắn sợ. Gần chạm tay đến sự thật hắn bỏ cuộc: Chu Quý bị dầy vò giữa hai lực cản: can đảm và hèn nhát. Trải qua những kinh nghiệm kinh hồn, hắn muốn bám víu vào tình yêu; nhưng rút cục tình yêu, hay Thảo Miên, cũng chưa chắc đã là một cái gì thật sự có, hay nàng chỉ là giấc mộng, là ảo tưởng mà Chu Quý tạo ra để tìm một an ủi cuối cùng? 





Thụy Khuê
Paris, tháng 3/2003













Tạ Duy Anh - kẻ bước chưa qua lời nguyền


TP - Từ lâu gã không còn quan tâm đến thời sự văn chương. Mặc ai khen, ai chê, gã cứ sống và viết theo cách của gã. Gã không ghét người chê gã. “Chê người khác là quyền tối cao của công dân và phải để cho họ thực thi cái quyền ấy” - Gã thường bảo vậy. Và cười khẩy với mọi đố kỵ.




Tạ Duy Anh
Ảnh: Nguyễn Đình Toán




Nói chuyện về trẻ con hàng giờ không chán

Bước qua mảnh sân hẹp những xe máy quay ngang xoay dọc, tiến vào cầu thang om om tối của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, tôi đã giật mình bởi tiếng cười ha ha dội từ trên gác xuống.

Tiếng cười quen quen xả hết mọi xì-trét, kèm theo những cú vỗ đùi phành phạch. Phòng Biên tập Văn học trong nước chỉ có mình Tạ Duy Anh đang ngồi.

Hình như gã vừa tiễn ai ra khỏi phòng, mà cũng có thể vừa đọc được điều gì thú vị. Cả nhà xuất bản khả kính chỉ có gã và nhà văn Nguyễn Khắc Trường là có cái cười đặc sắc.

Nguyễn Khắc Trường cười thì người ta vẫn cảm thấy sự oai vệ của cây đa cây đề. Tạ Duy Anh cười thì thấy thoải mái của sự buông thả trắng phơ, tự do và không có gì phải giữ gìn.

Gã mặc áo chim cò hơi khác với ngày thường, ngồi sau chiếc bàn công vụ bình thường, máy vi tính bình thường, ghế xoay tròn, tủ tài liệu bình thường và chồng bản thảo đang làm… chắc cũng bình thường nốt.

Sạch sẽ và tự tin, gã giống như mọi công dân trong vai vị viên chức nhiều trách nhiệm và lương tâm. Gương mặt sáng sủa, mọi đường nét dường như xung đột thái quá. Sắc nét. Nhưng điềm tĩnh có được do sự rèn luyện chật vật nào đấy. Nhưng toát lên sự yên lòng và tin tưởng ở nơi gã. Dù có thể ai vô tình không đẹp, thì hẳn gã cũng không xấu chơi.

Vầng trán thông minh nhưng rộng quá. Tóc hơi ít quá. Mũi hơi thẳng quá, mày rậm, ánh mắt nhanh, sắc và trực diện quá. Ánh mắt như muốn cởi toang lớp lang che đậy của người ta ra rồi lại làm vẻ như chưa biết gì. Nhiều khi tôi cũng ngài ngại bị ánh mắt ấy chiếu trực diện.

- Ô, ông đấy à, ngồi đi.

Một câu đáp đượm tinh thần trung dung, bảo nồng nhiệt cũng được, nói nhạt nhẽo cũng có phần đúng. Gã ngáp dài, vươn vai, văng một bâng quơ vô nghĩa (nếu như ta là chỗ quen biết lâu lâu).

Gã loay hoay một vòng, xốc xốc quần, thao tác pha chè và trong khi vẫn tìm gói chè vứt ở chỗ nào đã vống lên:

- Mẹ khỉ, số ông may thế, vừa kiếm được mấy ấm chè ngon hôm qua.

Đẩy chén nước về phía tôi, ánh mắt gã sắc lẻm quan sát suốt lượt không thèm che đậy.

- Ông xuống đây có gì việc gì dạy dỗ anh em không ? Làm ăn ra sao? Viết lách thế nào ? Bọn trẻ con ngoan và học tốt chứ ?

Ý cuối của câu hỏi, được gã nhấn mạnh với chất giọng đặc biệt. Hình như gã hỏi thăm đến con người khác cũng như là đang nói về con mình. Lạ lùng Tạ Duy Anh, trong các câu chuyện, dù là chuyện phiếm mà có liên quan đến trẻ con thì bao giờ cũng khiến gã say sưa, thiên chân, mắt ngời veo veo trong.

Gã yêu trẻ con, yêu con gã khó mà tưởng tượng. Khi gã nói về các con gã, tôi luôn có cảm giác áy náy là mình không yêu các con mình được như là gã yêu các con gã. Tôi luôn luôn ghen tị với gã về thứ tình yêu này. Dường như là tôi yêu các con mình chưa đủ…

Nếu được lắng nghe, được kích thích, gã có thể nói hàng giờ về các con với tinh thần như đang được nhận thứ ánh sáng từ thiên đường chiếu rọi và tắm gội tự tâm hồn. Gã như rên lên, khi bắt đầu bằng những câu mở đầu: “Hôm qua, thằng Tôm nhà này, con Nhím nhà tôi…” hoặc bất kỳ một hình dung nào khác để chỉ đứa con: ông oắt, thằng lỏi, thằng nhóc, con trời. Và toàn bộ gương mặt gã bừng lên nụ cười rạng rỡ.



Tạ Duy Anh (thứ hai từ trái sang) và các kỹ sư dầu mỏ trên giàn khai thác Đại Hùng,cách đất liền 250 km




Khi kết câu chuyện con trẻ, gã gằn giọng:

- Tôi không hiểu tại sao có những người lớn lại ghét trẻ con ông ạ. Không hiểu những con người đó họ cấu tạo bằng thứ vật chất gì mà lại quái đản như vậy. Người không quí yêu trẻ con chắc chỉ là quái vật…

Tôi biết một lão già thích viết hồi ký, nhà ở cuối ngõ nên có khoảng sân chung tương đối rộng, đủ chỗ cho trẻ con chơi bóng nhựa gôn tôm và đá cầu mỗi khi tan học. Có lẽ cần yên tĩnh, lão ta đã đổ nước đái ngâm bốn góc sân chưa đủ lại còn đập cả vỏ chai rượu Lúa Mới rải mảnh thủy tinh khắp sân.

Gã bỗng tái mặt, nghiến răng, tay nắm xiết, lập bập như muốn xông tới sống mái một phen.

- Thằng cha khốn nạn đó ở đâu?

- Ở đâu thì ông làm gì được lão ta nào? Chẳng lẽ ông định đánh lão ta. Lão vừa có tiền vừa có quyền. Lão chỉ ghét trẻ con chứ chẳng có lỗi nào hết…

- Thì cũng phải chơi lại chứ… ai lại để nó ác thế được. Lộn phải tay tôi mà bắt khi nó đang làm việc đó, thì sống chết tôi phải nhổ vào một bãi vào mặt hoặc tống cho một quả. Rồi muốn đi đâu thì đi…Chẳng qua là cái tiểu cộng đồng quanh đó nhu nhược…và cũng vô cảm nốt…Thế ông ở đâu? Làm gì ? Mà lại chỉ kêu ca suông…

Viết như là sợ không còn cơ hội

Tôi nghĩ thầm: Dào ôi, thì ông viết bao nhiêu trang sách lên án thói tật người đời đấy, liệu có giá trị thực tiễn nào không hay chỉ có giá trị với chính ông và một nhúm bạn nghề, bạn đọc. Thôi thì chẳng qua viết văn cũng là một cái nghề, mà chúng ta buộc phải chọn lựa khi số phận không cho chúng ta cách lao động khác. Đánh nhau tay chân với thiên hạ cũng thua. Đánh bằng chữ thì cũng thua nốt. Loại ấy có bổ đầu nó ra cũng không nhét được chữ vào.

Không, điều đó chắc chỉ đúng với tôi. Là người nổi tiếng, gã có cái quyền hành xử của người nổi tiếng, tôi bì sao được.

Hình như tôi nhớ không lầm, đã nghe gã thổ lộ, bút hiệu Tạ Duy Anh như rơi từ trên trời xuống. Gã viết xong cái truyện đầu tay năm 20 tuổi, trong một căn nhà gạch thủng tứ tung, lại tối om và cứ tự nhiên đề Tạ Duy Anh ở bên dưới. Gã tin vào thiên chức và sứ mệnh nhà văn của mình.

Tôi phục văn chương gã chứ không yêu. Đọc gã tôi bị căng thẳng. Bị hành hạ vì những điều quái đản của con người. Chỉ những con người hành hạ con người. Cảm xúc bị áp đặt và kéo căng ra. Y như tiếp xúc với các tác phẩm của Dostoevsky vậy. Bởi chưởng lực gã mạnh. Hầu hết các tác phẩm ấn tượng của gã đều thấy rõ ràng dấu vết nghiệm sinh từ đời sống thực của cả dòng họ đến sự trải nghiệm đau đớn của chính bản thân. Sự ác của con người.

Gã ngạc nhiên trước cái ác, trước người ác và đi cắt nghĩa lý do. Quyết liệt với cái ác. Văn của gã hừng hực, xoắn vặn ào ạt cuốn băng đi các sự kiện bởi cảm xúc sôi trào trong cơn lên đồng từ lúc mở đến kết cuốn sách. Một độc thoại khó nhọc vận hết khí lực mỗi câu chữ cứ triền miên cắn cấu. Viết như là sợ không còn cơ hội viết văn nữa.

Tôi biết gã lần đầu là do theo người bạn. Cũng đã hơn mười lăm năm. Dạo đó hình như gã bị xuất huyết dạ dày. Người bạn cùng học Viết văn Nguyễn Du đã đại diện một số bạn bè cùng lớp mang đồ vào thăm gã. Bạn gã và cũng là bạn tôi giới thiệu sơ sơ :

- Một tay chơi được mặc dù khó chơi, làm ở Sông Đà, cũng đi lính về, lắm lời đến mức kiêu ngạo, uống rượu giỏi, học giỏi cỡ thủ khoa, và cười thoải mái nhất trên đời. Chắc đang chán đời, xuất huyết dạ dày lần này là thứ tư…

Tôi ngày đó cũng chẳng hơn cọng đu đủ xanh, nhưng cái gã nằm dưỡng bệnh trên chiếc giường khung sắt lốm đốm chấm gỉ đen và drap ngả màu vàng vàng cũng lấm chấm lỗ thủng và những vệt cặn bẩn ố vàng nồng mùi thuốc tẩy thì đúng là cọng đu đủ già héo quắt, võ vàng. Gã nằm bẹp, thở dốc, thiêm thiếp, mong manh giữa những dây truyền dịch.

Không có câu chuyện nào cả. Người bạn ấy đã nắm bàn tay xương xẩu như đọt tre khô của gã như muốn truyền sự chia sẻ gánh đỡ chút ít của những người viết văn thuần tuý về mặt tinh thần nhiều hơn là chiếc phong bì mỏng xẹp.

Tôi đứng bên ái ngại và yên lặng chuẩn bị quay lui.

Thì chính lúc ấy gã cố gắng mở mắt, cái đầu nhúc nhích hướng về bạn tôi, tay chắp trước ngực run run, ánh mắt sáng rực, bạo liệt, ngoan cường đến nóng rẫy. Tôi thầm nghĩ cái tai nạn gã đang gánh chẳng là muỗi gì với những điều gã đã trải. Gã sẽ bình phục bởi tinh thần và nghị lực quyết sống chứ không phải thể chất ọp ẹp kia được bồi bổ dưỡng chất.

Và cái ánh mắt gã hôm ấy, còn ám ảnh tôi mỗi khi đi thăm một ai đó ốm đau. Ánh mắt của con bệnh hình như sẽ quyết định sự sống chết, sự lâu, mau trong điều trị. Chắc bây giờ khi tôi có cơ hội viết ra điều này thì gã mới biết, tôi đã từng theo bạn học của gã đến cái bệnh viện gã đã nằm cấp cứu…

Bẵng đi mấy năm, do những lí do trời ơi đất hỡi mà văn chương làm duyên cớ, tôi xui tôi đến Nhà xuất bản Hội Nhà văn thì đụng gã ngồi lù lù ở chiếc bàn biên tập vô cùng quan trọng. Mà hình ảnh gã thì quý vị đã diện kiến phần đầu câu chuyện.

Nhưng tôi với gã không có duyên làm việc bản thảo với nhau. Một quan hệ song phương lúc đậm lúc nhạt. Tuỳ theo đề tài ngẫu nhiên nào đó. Thường là gã đưa ra những lời bàn sáng suốt và khôn ngoan. Nhưng là của riêng gã. Và không thiếu sự chân thành.

Tôi ngưỡng mộ và trọng thị tài năng, sự nổi tiếng của gã là đương nhiên rồi. Bởi gã đã có những cuốn sách gây tranh cãi trong hậu trường lẫn ngoài thị trường. Hầu như cuốn nào cũng bị cái gọi là “có vấn đề” nhưng rồi phần lớn vẫn ra được. Gã thuộc số ít nhà văn sống được bằng nhuận bút.

Thi thoảng tôi có dịp ghé Hà Nội ngồi với gã, trong không gian bữa trưa kiểu công chức mỗi suất năm mươi nghìn cùng với mọi người. Gọi một chai rượu. Uống đưa đà. Gã cầm trò nói những câu chuyện vui. Và văng tục lem lẻm, ráo như hành bóc. Nhưng lạ, sắc vẻ mặt gã cho thấy rõ ràng sự tục ấy chỉ diễn ra ở bên ngoài miệng gã chứ chẳng liên quan đến con người thực. Tục để cho vui, cho bớt xì-trét cái sự nhàm mòn đời công chức. Nói tục nhưng ngẫm nghĩ sâu xa thì lại thấy thanh, gã hoàn toàn tự chủ về ngôn ngữ.

Ngay cả trong những lúc tràn trề hoà đồng thì gã vẫn có khoảng cách tự tách mình khỏi đám đông ở phía bên trong, ngay cả lúc gã xả cái cười ha ha khơ khơ. Gã sợ đám đông. Dư luận của đám đông có thứ vị kỷ a dua tốt xấu lẫn lộn, gã thấm hơn bao giờ.


Nghề gì cũng đòi hỏi cái đạo của nghề ấy

Hơn một lần tôi thắc mắc, khi thấy gã vẩn vơ gác chân lên bàn. Lổn nhổn những tập sách bìa cứng, chữ nhũ sang trọng phía sau. Cuốn mỏng gió thổi bay, cuốn có thể rơi gãy chân. Và một chồng thư mời họp còn nguyên.

- Này ông, cái cuộc họp quan trọng thế sao không có ông nhỉ?

- Quan trọng với người ta nhưng không quan trọng với tôi.

- Nhưng hôm đó bàn về nghề hay lắm…

- Kính các bác. Nhà cháu không có chuyện gì ở đấy cả.

- Cái gì quan trọng với ông?

- Con. Và những việc mình thích…

- Ngay cả đại hội nhà văn ông được mời mà cũng không đi…

- Thì tôi thấy chẳng có lý do gì để tôi đi dự thêm nữa sau hai lần. Đi dự tôi viết văn hay hơn, sống có ích hơn thì hẳn là tôi sẽ đấu tranh để đi bằng được. Tôi đi chật chỗ người khác.

- Có cực đoan không…

- Ai muốn nghĩ gì thì mặc họ, tôi không quen thanh minh về bất cứ điều gì…

- Cà phê nhé.

- Không.

- Trưa, ngồi với nhau một tí chứ.

- Tôi bận đi đón con. Khỉ thế. Chiều tối ông còn ở lại thì qua nhà tôi lai rai…

- Thôi vậy, tôi ngược vậy.

Bận khác, gặp nhau chốc lát tôi lại phải về. Nhưng chưa kịp quay ra cửa thì gã đã níu lại ấn cho một lô những đống sách bìa cứng chữ nhũ.

- Này biếu ông …

Không chuẩn bị nhận quà, ôm rơi lụp bụp xuống sàn tôi nhặt lên đọc lướt bìa thì rặt là sách đặt hàng. Chẳng hiểu thế nào nữa, gã cho rằng tôi xứng đọc những cuốn sách dầy đặc thành tích sản xuất chiến đấu xây dựng hay là gã muốn dọn cho chỗ làm việc quang đãng hơn…

Không nhận thì phụ mà nhận thì thực tôi cũng không biết để làm gì với những cuốn sách nặng như đá kia. Nên một bên cố ấn, một bên cố từ. Cuối cùng thỏa hiệp là gửi lại tại chỗ, khi nào có điều kiện tôi sẽ rước đi.

Rồi bỗng nhiên gã sung sướng vỗ lên cái trán siêu thực của mình.

- A ha thật may, tôi có cuốn vừa ra ở nhà Kim Đồng, ông mang về cho bọn trẻ nhé.

Đề tặng nắn nót, chữ ký bác Tạ to đùng phóng khoáng. Hắn bảo chỉ có trẻ con là đáng để cho hắn kính trọng. Dĩ nhiên là tôi thích.Vì Tạ Duy Anh là một trong những nhà văn mà các con tôi đọc cùng với Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Thiều...Chúng cũng chẳng phải là những đứa trẻ đặc biệt nhưng say mê đọc các vị này từ năm bảy tám tuổi, một cách hồn nhiên…

Và đặc biệt gã khiến cho tôi tự hào phổng mũi trước vợ con, khi giới thiệu đây là nhà văn Tạ Duy Anh đã có văn tuyển trong giáo khoa thư. Những cuốn sách viết về trẻ con của gã thì ai cũng có thể đọc. Con tôi đọc vì câu chuyện và trực giác tin cậy vào gã, còn tôi đọc vì thấy trái tim nhạy cảm của gã phập phồng loạn nhịp.

Bỗng gã hứng lên rủ tôi đi đâu đó ngồi tào lao. Hết chuyện con cái, văn chương, thế sự rồi đàn bà. Dường như chuyện yêu đương gã chỉ thích thầy dùi người khác thực hiện để gã quan sát chơi chứ cũng chẳng cần để lấy tài liệu viết lách. Bởi gã không mặn mà với thứ văn chương cần đi thực tế. Gần 30 năm nay gã không tham gia bất cứ trại viết nào. Và tình ái thì cũng vậy. Chay tịnh. Gã thề sống chết thề chết, theo thói quen ngoa ngôn. Tôi tin vì đã nghe trực tiếp. Người khác thề tôi ngờ, nhưng không hiểu sao với gã tôi tin như là một lẽ tự nhiên.



Từ trái qua: Các nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế, Tạ Duy Anh, Sao Mai, Nguyễn Khắc Trường


Hồi mới tập lái xe, gã mê ô tô như rồ. Hễ có cơ hội là nhót sang bên kia Hãng phim Hội Nhà văn bàn về ô tô với Hà Phạm Phú. Gã không sợ ô tô. Kể cả loại đại xa, nếu có dịp, gã cũng nhảy lên lái thử. Tôi chỉ còn nhu cầu lái thử xe tăng nữa thôi-có lần gã bảo. Gặp tôi cũng vậy những là tiến, là lùi, là vào cua vòng tránh, vượt lên. Chưa biết “trình” tay lái của gã thế nào, nhưng thi thoảng gã vẫn lấy le:

- Nếu ông về Hà Nội mà có khó khăn trong việc lái xe vào phố thì cứ a lô. Tôi sẽ giúp.

Tôi không hy vọng gã cũng như bất kỳ ông bà nhà văn nào lái xe giúp vào thành phố giờ cao điểm. Đầu giờ sáng điện thoại lôi được các vị ra khỏi giường thì thà thuê luôn taxi. Nhưng chính yếu là chúng tôi đều “ hờn căm” giá xe ô tô trên trời ở Việt Nam. Thi thoảng gã lại giãy lên:-“Ôi trời, mẹ khỉ hôm kia tôi thấy con X6 đẹp long lanh. Nhìn đã thấy sướng, chắc ôm vô lăng phải sướng lắm”. Có lần gã tâm sự rất thích lái xe trên đèo, một bên là núi bên kia là vực thẳm. Không thể tả được cái cảm giác sướng rợn người lúc ấy.

Ngỡ tưởng gã là người chỉ quan tâm những thứ cao siêu, thì ra cũng có lúc trần tục đam mê thói thường như tôi. Tôi cho rằng lùi là việc khó nhất. Bất kể việc gì, tiến xong rồi lùi đều khó. Còn gã, thi tay bo với máy vi tính ngay lần đầu đã vút kim điểm chuẩn, thì lại bàn hay hơn.

- Vấn đề không phải lùi hay tiến, mà ở cái đạo của người lái xe. Nghề gì cũng đòi hỏi cái đạo chuẩn mực của nghề ấy. Vì nghề nào thì cũng phải ngoặt trái, ngoặt phải, tiến, lùi, dừng từ từ, tăng tốc, đủng đỉnh… phanh gấp. Biết cái nhịp của mình…

Đúng là gã tự tin trong văn chương và cũng tự tin đến liều mạng trong sự lái xe. Người dạy gã kể, buổi sáng gã còn chưa biết vị trí các số, vậy mà chiều tan tầm gã đã lái vào một con ngõ cực đông của đường Thanh Xuân. Ngay cả “thầy dậy” ngồi bên cạnh cũng lắc đầu không còn biết nói gì.

Nhận bằng lái hôm trước thì hôm sau gã đã ôm vô lăng con Kia 1.3 đưa nhà văn Nguyễn Khắc Trường từ Hà Nội, qua Việt Trì vòng lên huyện núi Thanh Sơn, thăm nhà văn Sao Mai và tiện thể chuyển tuyển tập cho ông.

Ba trăm cây số đường đô thị, trung du và miền núi mà gã phóng veo veo như tay đua công thức I. Ngồi bên cạnh thấy gã bặm môi méo miệng, nhíu mày, trán lổn nhổn mồ hôi hạt, tôi chết cứng lo sợ. Trong khi Nguyễn Khắc Trường vẫn vô tư khà khà thưởng thức những câu chuyện vui dọc đường.

Nhưng giờ thì ô tô không còn là mối quan tâm của gã. Nhắc đến lái xe bây giờ gã sẽ uể oải như người ta vừa trải qua bữa trưa lỡ nhồi nhét quá nhiều chất đạm. Gã bảo, lái xe ở Hà Nội khiến người ta thiền nhanh hơn là ngồi kiết già! Muốn thấy gã sinh động thì tốt nhất là nói về trẻ con, đàn bà, những tật xấu của người Việt, thói vụ lợi, giả dối của một bộ phận trí thức Việt...

Với tư cách nhà văn trong người biên tập, gã đã hành xử một cách công bằng tinh tế, trong những hoàn cảnh khác nhau. Bài khen mình thì đặt ra ngoài, bài chê thì đàng hoàng để in, dù gã có quyền chủ động. Điều tưởng giản đơn này không phải ai cũng có gan đi tới cùng.

Tạ Duy Anh là ai nhỉ ? Thỉnh thoảng vẫn cợn lên trong tôi câu hỏi như vậy mỗi khi có cớ nghĩ về gã. Một nhà văn tài năng quyết liệt (gã quyết liệt với chính gã) một gã tử tế chơi được nhưng là người lãng mạn vừa phải. Bởi gã quá yêu con trẻ, và sự bình yên của một gia đình. Gã có những lời nguyền bước qua được trong văn chương đã lên án, cắt nghĩa, truy đuổi cái ác tận cùng mỗi trang sách. Nhưng hơn ai hết trong chúng ta, gã biết từ văn chương đến đời sống thực còn cần bao nhiêu là cây cầu bắc qua các dòng sông tăm tối. Mà gã cũng chỉ là một cây cầu...

Tôi gõ cửa bước vào phòng biên tập Văn học trong nước, thì đúng lúc Tạ Duy Anh đi ra. Tôi chưa kịp gì, gã đã xem đồng hồ:

- Bỏ mẹ, đến giờ đi đón bọn trẻ rồi. Hẹn chiều nhé… - Gã nắm tay giật giật - Ôi sao hôm nay bố cháu đẹp giai nhỉ. Ngon lắm! Ông không tin à, tôi thề đấy…

Tạ Duy Anh lại thề. Trong trường hợp này, dù gã không thề thì tôi cũng vẫn muốn tin.


Hồi gia đình Tạ Duy Anh còn ở Tân Mai, có tên trộm trèo tường vào tháo chiếc công-tơ-mét chiếc Cúp 81. Phát hiện tên trộm, gã hắng giọng. Kẻ cắp cuống cuồng nhảy qua tường hòng thoát thân, nhưng tường quá cao không thoát ra nổi, thì gã bỗng hài hước mách nước: “Ngốc ạ, phía sau có bậc đấy, cứ từ từ mà bước qua!”. Vợ gã chạy ra, trách sẵn đá đấy (đống đá to do bọn trẻ thu nhặt về chơi) sao không cho nó một phát. Ôm vai vợ gã cười ha ha:” Người ta đến có rượu thì mời, không thì thôi, sao lại đưa đá ra. Mà nhà mình rượu còn không ấy nhỉ?”.


NGUYỄN THAM THIỆN KẾ













Quyết liệt với chính mình 


Nổi danh ngay từ truyện ngắn đầu tiên Bước qua lời nguyền, nhà văn Tạ Duy Anh thường mang lại cho đời sống văn chương không ít xôn xao mỗi khi tung ra tác phẩm mới. Đầu tháng 3-2008, Tạ Duy Anh trình làng tiểu thuyết Giã biệt bóng tối do NXB Hội Nhà văn ấn hành. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với tác giả về những gì phía sau Giã biệt bóng tối

. Phóng viên: Trước hết, xin chúc mừng anh trở lại văn đàn bằng Giã biệt bóng tối. Với tên tuổi của Tạ Duy Anh, chắc chắn tiểu thuyết này sẽ được đón nhận một cách hào hứng. Với cá nhân anh, Giã biệt bóng tối có ý nghĩa đánh dấu một chặng đường mới không?

- Nhà văn Tạ Duy Anh: Cảm ơn anh đã đọc và có ấn tượng tốt đẹp về tôi và sự nghiệp văn chương của tôi. Chẳng phải ai cũng yêu quý tôi như vậy đâu. Thế nên tôi đâm lo chả biết có được như anh kỳ vọng không? Khi đặt bút viết bất cứ một tác phẩm nào, tôi phải có đủ niềm tin rằng nó chưa hề được thể hiện như vậy ở đâu đó, kể cả của chính mình, thì tôi mới có thể duy trì được cảm hứng và sức lực để “kéo cày” nhiều ngày nhiều tháng liền. Vì vậy, sau Giã biệt bóng tối, nếu tôi còn viết tiếp thì các thủ pháp, cách thể hiện sẽ phải hoàn toàn khác. Tóm lại, với tôi, mỗi cuốn sách chưa viết đều là một chặng đường mới và khi viết xong rồi thì chặng đường đó đã ở phía sau.

. Khi anh vừa theo nghề cầm bút, đã có ngay một truyện ngắn Bước qua lời nguyền vang dội, đến mức giáo sư Hoàng Ngọc Hiến dùng tên gọi ấy để đặt cho cả một dòng văn chương sau đổi mới. Tuy ở hai thể loại khác nhau, nhưng tôi thấy rằng yếu tố quyết liệt trong Giã biệt bóng tối cao hơn Bước qua lời nguyền rất nhiều. Liệu anh đã đủ tự tin để “bước qua lời nguyền” của chính mình?

- Một câu hỏi thật thú vị và dồn tôi vào chỗ khó, nơi chân tường. Trong trường hợp đó, nếu là anh thì anh sẽ làm gì? Còn tôi thì đành liều mình thôi. Tường thì có bức cao, bức thấp. Bức thấp có thể nhún mình bước qua. Còn gặp bức cao, lại có hàng rào gai bao bọc, bên dưới lại nhan nhản cạm bẫy thì phải lấy đà xa để nhảy qua, mà phải nhảy sao cho không bị rơi trở lại. Tức là phải thật quyết liệt với chính mình. Tôi nghĩ là đã trả lời vào câu hỏi của anh cho trường hợp Giã biệt bóng tối.

. Nếu theo lời tự giới thiệu của “người dẫn chuyện” thì Giã biệt bóng tối có phẩm chất “có vẻ như nó là một câu chuyện hoang đường và không phải dành cho người yếu bóng vía”. Thế nhưng, khép lại cuốn sách chưa hẳn là một tiểu thuyết “kinh dị”. Anh có thấy vậy không?

- Vâng, tạng của tôi không hợp cho truyện kinh dị, theo như cách định nghĩa có trong từ điển văn học. Nhưng gây cho người khác sợ không cứ phải là truyện kinh dị. Tôi muốn nói đến khả năng chịu đựng. Anh đọc Bước qua lời nguyền rồi đấy, nó thật hiền lành, giàu tình cảm... vậy mà khi ra đời vẫn khiến có người... sợ? Sẽ lại có những người sợ Giã biệt bóng tối, đúng hơn là không chịu đựng được nó và đương nhiên với tôi, họ là những người yếu bóng vía. Tôi không muốn những người đó trách tôi là đã không ghi cảnh báo trên sản phẩm.

. Khi đặt cạnh hai tiểu thuyết trước đây của anh là Đi tìm nhân vật và Thiên thần sám hối thì Giã biệt bóng tối có bước chuyển biến về bút pháp khá rõ nét. Bên cạnh ưu điểm ấy, liệu anh có chút băn khoăn về tính khái quát và tính “nóng bỏng” giảm sút của Giã biệt bóng tối so với hai tác phẩm trước đó?

- Nghe anh hỏi nhẹ nhàng thế mà tôi cảm thấy bị đè nặng cả ngàn cân về trách nhiệm không phải chỉ với anh, mà còn với độc giả, với chính mình. Vậy là nặng, nhẹ, nóng bỏng hay điềm đạm, đâu chỉ ở mức độ quyết liệt trong ngôn từ mà là khả năng xoáy sâu vào tâm can người khác lời cật vấn về điều mà chúng ta muốn họ quan tâm. Nhưng mà được anh hiểu cho thế thật mừng. Tôi đang lo có người bảo tôi càng già càng cay nghiệt hơn đấy.

. Anh có dòng “tự quảng cáo” rằng: “Nhà văn Tạ Duy Anh, tác giả của tiểu thuyết Sinh ra để chết (chưa công bố)! Thoạt nghe rất ấn tượng. Xin hỏi lại cho rõ, chưa công bố hay chưa chấp bút?

- Tôi sẽ không bao giờ khoe về một tác phẩm nào đó khi vẫn còn một vài dòng phải sửa chữa. Sinh ra để chết hoàn thành từ năm 2005, trước khi tôi bắt tay viết Giã biệt bóng tối một năm. Đó là cuốn tiểu thuyết mà tôi dành cho nhiều sự quan tâm nhất và tôi cũng muốn được nhiều người đọc nhất-so với những tác phẩm của tôi, trước hết vì nó sẽ cho họ sự sảng khoái. Tôi đã sửa đi sửa lại suốt mấy năm qua đến mức phải thề là không sửa nữa kẻo nát cả bản thảo.

. Nghe nói, ngày nào anh cũng viết. Vậy trung bình mỗi ngày anh “cày” được bao nhiêu trang?

- Không phải thế đâu. Ngày nào tôi cũng suy nghĩ về việc viết thì đúng hơn. Tôi nghĩ về tác phẩm nào đó thì lâu, nhưng thể hiện nó rất nhanh. Khi tôi bị cuốn vào bàn viết thì không có ngày, đêm, giờ giấc gì nữa. Có thời kỳ cả tuần tôi không ra khỏi ngõ. Nhiều phen, nửa đêm vợ tôi lên phòng làm việc của tôi nghiêm nghị yêu cầu tôi nghỉ. Nhưng chỉ một lát, thấy tôi cựa quậy trên giường thì lại bảo: Thôi, thà anh làm việc tiếp đi còn đỡ khổ hơn.

. Và thông thường, anh có phải chỉnh sửa lại bản thảo nhiều hay ít?

- Thời gian tôi sửa chữa một tác phẩm thường gấp 5-7 lần thời gian viết nó ra.

. Với thể loại tiểu thuyết mà anh đang theo đuổi, anh cho rằng tiểu thuyết Việt Nam có đáng đồng tiền bát gạo so với thực tế đời sống Việt Nam không?

- Tôi không biết khi độc giả bỏ ra vài chục ngàn đồng để mua một cuốn tiểu thuyết Việt Nam, trong đó có tiểu thuyết của tôi, thì họ có xót như khi bỏ ra ngần ấy tiền mua mấy cốc bia không? Tôi chỉ biết rằng sách ở Việt Nam rất rẻ căn cứ trên giá bìa. Đương nhiên, nếu họ mua xong để lại phải đem ném đi, thì một hào cũng là quá đắt. Vì vậy, phải căn cứ trên từng cuốn sách cụ thể anh ạ. Mà điều này thì tôi không thể biết được.

. Nếu so với tiểu thuyết các nước khác thì tiểu thuyết Việt Nam có đáng để tự hào chưa?

- Là một nhà văn nghiêm túc, cũng như một kinh tế gia nghiêm túc, hay một người bình thường nghiêm túc thì cũng nên thường xuyên nhìn ra bên ngoài để biết mình đang ở đâu. Và theo tôi, thái độ tự trọng sẽ giúp mỗi người cần phải làm gì. Tôi vẫn cho rằng đa phần người Việt đang quá lạm dụng lòng tự hào và tôi cố để không bị gộp chung vào số đó.


LÊ THIẾU NHƠN thực hiện 











Trở về














MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.











Friday, 22 September 2017

Thanh Tùng (1935 - 2017)


















Thanh Tùng

tên thật: Doãn Tùng 
(7/11/1935 Nam Định -12/9/2017 Tp/HCM) 
Hưỡng thọ 83 tuổi
Nhà thơ





Thanh Tùng Sinh tại Mỹ Lộc, Nam Định, nhưng trưởng thành tại thành phố Hải Phòng. Các bài thơ nổi tiếng của ông đều viết về Hải Phòng.

Ông là tác giả của bài thơ Thời hoa đỏ đã được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc thành bài hát nổi tiếng cùng tên.













Tiểu sử

Thanh Tùng làm nghề khuân vác trên bến cảng Hải Phòng, sau đó chuyển sang làm công nhân đóng tàu. Có thời gian dài ông làm nghề áp tải. Thời kỳ bài thơ "Thời hoa đỏ" được phổ nhạc, ông hành nghề bán sách trên vỉa hè sau khi thôi làm công nhân đóng tàu.

Trong nhiều năm sáng tác thơ, Thanh Tùng chưa tạo ra các "sự kiện to lớn" để báo chí viết về ông nhiều như là "người của công chúng". Tuy nhiên, ông có những bài thơ được phổ nhạc trở nên rất nổi tiếng là Thời hoa đỏ (nhạc Nguyễn Đình Bảng), Hà Nội ngày trở về (nhạc Phú Quang)... Sở dĩ Doãn Tùng lấy bút danh Thanh Tùng vì ông thương người em ruột tên là Thanh mắc bệnh tâm thần nên đem tên em vào trước tên mình.

Năm 1997, ông được cử làm đại diện của Việt Nam sang Hy Lạp đọc thơ với đại biểu các nước.
Năm 2001, Thanh Tùng mới xuất bản tập thơ đầu tiên cho riêng mình mang tên Thời hoa đỏ (Nhà xuất bản Văn học) được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng năm 2002. Ngoài bài thơ Hà Nội ngày trở về, Phú Quang còn chọn 2 bài thơ khác của ông là Người vềMùa thu giấu em để phổ nhạc.

Ông mất ngày 12 tháng 9 năm 2017 tại Thành phố Hồ Chí Minh vì căn bệnh ung thư dạ dày.





Đời tư

Thanh Tùng từng trải qua hai cuộc hôn nhân. Cuộc hôn nhân lần đầu của ông đã tan vỡ. Cuộc tình này được mô tả là hai người "đến với nhau bắt đầu và kết thúc cũng vì thơ". Người vợ đầu của Thanh Tùng (tên Thanh Nhàn) ở Hải Phòng nổi tiếng có nhan sắc, sau đó đã chia tay ông đi lấy người khác ở Quảng Ninh. 
Năm 1973, nghe tin người vợ cũ qua đời vì bệnh tim, ông tức tốc xuống Quảng Ninh nơi bà đã sống trong những tháng ngày xa ông để tiễn đưa nhau lần cuối. Và bài thơ Thời hoa đỏ đã ra đời trong hoàn cảnh này. Nhân vật nữ trong bài thơ chính là người vợ đầu trong mối tình tan vỡ của ông

Năm 1995, theo sự mai mối của vợ chồng nhà thơ Hoàng Hưng, Thanh Tùng vào Nam lập gia đình mới khi đã 60 tuổi. Người vợ thứ hai của ông là thanh niên xung phong thời chống Mỹ, cũng là một độc giả yêu mến thơ của ông.
Sau khi vào nam, ông đã sáng tác trường ca Phương Nam.


















Tác phẩm





Thời hoa đỏ
Nxb Thanh Niên






Con sông chảy từ lòng phố



Cửa sóng



Trường ca Phương Nam



"Gió và chân trời"
nxb Hải Phòng, 1985



"Khúc hát quê xa"
nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2004



"Cái ngày xưa ấy"
nxb Đà Nẵng, 2004



"Thuyền đời"
nxb Đà Nẵng, 2006






Nhạc sĩ Phú Quang có nhận xét về thơ của Thanh Tùng:"Tôi đã phổ của Thanh Tùng ba bài thơ "Người về", "Hà Nội ngày trở về" và "Mùa thu giấu em". Riêng bài Hà Nội ngày trở về thì câu hát "vội vã trở về, vội vã ra đi" đã trở thành câu cửa miệng của nhiều người. Phải thừa nhận, Thanh Tùng có những câu thơ thật thi sĩ, đọc một lần thì ám ảnh khôn nguôi. Ngoài cái tứ, thơ Thanh Tùng cũng giàu nhạc điệu. Tôi đang phổ một bài thơ khác của Thanh Tùng viết về mẹ với hình ảnh đắt giá "tiếng mẹ run như sóng, tiếng mẹ mềm như tơ, mẹ cười hay mẹ khóc, chỉ thấy mắt ta mờ".[2]












Thơ Thanh Tùng







Bức Tranh Tình


Anh đang gom nắng đầu hè
Gọi hương sắc dậy, rừng ve chín đều.

Gió vàng xô bức tranh thêu
Phượng hồng tô điểm, tình yêu trở mùa.

Hoàng hôn lãng đãng mõ khua
Bến sông vọng tiếng chuông chùa bâng quơ...

Dòng thời gian có đợi chờ!
Tình em lộng lẫy đến ngơ ngẩn sầu.

Nào ta đã nói gì đâu
Có chăng vẽ tặng đôi câu bông đùa.

Dòng trong, đục nối bốn mùa
Câu thơ vá vội, mây lùa trăng sao.

Duyên em bén tự thuở nào
Tơ hồng trĩu nặng, ồn ào trào dâng.

Mái chèo khoả nước bâng khuâng
Gieo đầy men sóng mấy tầng trời cao.

Vườn mây cuộn áng ba đào
Tròng trành mấy độ cồn cào đáy tim.

Mầu thời gian mải mê tìm
Từ lâu kim, chỉ đắm chìm trong nhau... 









Chờ

Mắt huyền liếc nhẹ qua đời
Dập dìu lay động khoảng trời trong tim.

Đêm sao dày đặc im lìm
Ngôi nào nhấp nháy nổi chìm hồn ta?

Thềm trăng lấp lóa tiếng gà
Bóng khuya vắng lạnh chén trà dầm sương.

Dạ lan thao thức canh trường
Gió lùa vỡ vụn màu hương quế nhoè.

Ngoài song tối xẫm tiếng ve
Lẻ loi đom đóm lập loè vườn xưa.

Ngoài song loáng thoáng giọt mưa
Ước gì ta được đón đưa em về.

Lời thơ bỏ ngỏ bến mê
Nào ai đã nối lời thề trăng sao.

Lòng em giờ có cồn cào?
Trong anh đêm trắng mãi lao xao hoài!

Thôi đành nhờ gió ban mai
Mang tình anh đến tương lai thì thầm...!










Chờ


Em ơi sao nỡ lặng im 
Để anh nín thở đi tìm...giấc mơ 
Đêm nay trăng lặn, sao mờ 
Trái tim nghèn nghẹn...Hững hờ, nhói đau ! 
Anh xin vay trước kiếp sau 
Thay quả tim lỡ nhuốm màu xót thương 
Ngập ngừng trên khắp đoạn trường 
Lắng từng hơi thở nẻo đường em qua. 
Đành ngồi lại giữa ngã ba 
Qủa tim mới cũng sắp già đến nơi...











Hội Ngộ

Tình cờ bạn đến dạ mừng thêm,
Sương sớm long lanh điểm trước thềm.
Giọt nắng xoay nghiêng cành liễu yếu,
Thang mây uốn dẻo sợi tơ mềm.
Hoa cùng đón khách hương ngào ngạt,
Trời cũng chiều người sắc dịu êm.
Nâng cốc tứ tràn tay phóng bút,
Cung thương trầm bổng gió lay rèm.











Khơi

Em khép lại bóng hình năm tháng
Ngang dọc dòng đời - Vời vợi mây say
Tắt lửa lòng - Gấp nhẹ đắng cay
Xua hơi ấm cho lòng tan tác lạnh.

Ai vội vã gọi mùa trên quang gánh
Lúa vàng về lấp lánh ước mơ
Gieo rắc nỗi lo - Khắc khoải đợi chờ
Mà được mất đâu chỉ mình định đoạt.

Ngọt bùi, dẻo thơm, tủi hờn, chua chát
Pha trộn đầy vơi - Khơi mấy buồn vui
Ta chẳng muốn em ôm hận, ngậm ngùi
Dẫu phía trước đang nảy mầm quá khứ!

Thì em ơi hãy rộng lòng tha thứ
Khai quật tuổi xuân - Chôn vùi đau sót
Dâng hiến nguồn vui, hương thơm, mật ngọt. 
Nâng chén quỳnh lên trao tay ta rót.

Vi vút bướm ong - Nâng niu chim hót
Lấp lánh sao trời, đượm giọt sương rơi.

Tấm lòng em vẫn tươi ngời
Đung đưa ánh nắng mặt trời mùa xuân...












Kỷ Niệm Hồng

Em hiến dâng anh ánh ngọc ngà 
Ấm nồng giấc ngủ ước mơ xa 
Bình minh khoe sắc màu hoang dã 
Bỏ ngỏ lòng ươm bóng nhạt nhòa. 

Dẫu có hòa mình trong biển khơi 
Cánh hồng ngự trị mãi chơi vơi 
Êm đềm khơi dậy bâng khuâng đó 
Vò võ đào mai cánh tả tơi. 

Du lãm nửa vời thung lũng say 
Trời xanh, núi biếc, trắng mây bay 
Chập chờn thác đổ, bâng khuâng dậy 
Thấp thoáng bóng hồng se mắt cay... 

Cành liễu lắt lay quyện gió đông 
Nghẹn ngào năm trước ngắm dòng sông 
Cánh hoa trôi ngược về phương ấy 
Khoảng lặng bên song nhớ chất chồng. 

Em mãi mênh mông chốn nhớ thương 
Nửa đời chưa dứt gánh sầu vương 
Hoàng hôn khoác áo hồng hy vọng 
Day dứt hồn anh một chút hương. 











Lặng Tìm


Vấn vương từ giữa mùa thu
Tóc em lỡ quyện lời ru gió chiều
Mây vàng mấy vạt phiêu diêu
Tình anh nâng tiếng sáo diều véo von.
Tìm em từ lúc trăng non
Giấc Nam Kha dễ héo hon âm thầm
Hạt xuân mở lối cõi tâm
Duyên trời lặng lẽ ngấm ngầm toả hương.
Sương giăng mỏi mắt dặm trường
Cánh thơ xoa dịu vết thương bên lòng
Im lìm đêm nhớ ngày mong
Con tim treo ngược ngoài song thức hoài.
Chim reo gõ cửa ban mai
Phòng văn mơ, tỉnh dáng ai ra vào
Em mang mang những xôn xao
Trao tay anh giữa cồn cào tháng năm.
Tình ta soi tỏ trăng rằm...!












Lặp Lại


Thu sắp lại về theo gió đông 
Sắc vàng kỷ niệm dậy tầng không 
Bến sông ngầu đỏ làn sương lạnh 
Chỉ một mình ta ngồi ngóng trông. 

Lặng lẽ song thưa bóng nhạn bơi 
Liễu mành xua nhẹ đám mây tơi 
Cỗi cằn thức dậy mờ năm tháng 
Cô quạnh mảnh trăng trôi góc trời. 

Mái tóc chao nghiêng phơi má hồng 
Mắt huyền từ đó giễu mênh mông 
Giọt hờn dỗi gợi thêm xuân sắc 
Khát cháy tự tim, nhớ chất chồng. 

Em đã khơi thông dòng tiếc thuơng 
Cho ta lặn ngụp giữa canh trường 
Tiếng ve nức nở chờ thu tới 
Chắc chẳng riêng ai hoài vấn vương... 











Lên Chùa

Gío mây thoả sức vui đùa
Thăm quan, thắng cảnh, lễ chùa cầu may.
Khánh vàng dẫn lối sương bay
Buồn lo tan nhẹ, đắng cay vơi dần.
Bên nhau níu giữ sắc xuân
Aó em thắm lại - Tần ngần đào mai.
Bông tai lấp lánh nắng cài
Ngỡ nàng tiên dạo gót ngoài trần gian.
Chuông vang thỉnh giấc mộng ngàn
Mõ reo xoa dịu vô vàn nỗi đau...
Trái ngang lẩn khuất nhiệm màu
Nguyện cầu dài đến mai sau chưa tàn !
Thế nhân dâu bể, hợp tan
Gần cao xanh thấm chứa chan tình đời !










Một Nửa


Sao nguời chẳng nói trọn lời?
Ðể cho tôi phải nửa đời vẩn vơ
Tôi là một kẻ dại khờ
Ði tìm nguời của giấc mơ bao ngày.

Vầng trăng xưa đã hao gầy
Lời nguời dã hóa gió mây về trời
Tôi như đất đợi mưa rơi
Như cây khô đợi búp chồi tái sinh

Bỗng nghe gà gáy sang canh
Giật mình chạm giọt bình minh cuối trời
Chạm vào tiếng gió lả lơi
Lá xào xạc rụng rối bời vuờn hoang...

Bấy lâu ôm giấc mộng vàng
Kể từ cái buổi dở dang lời nguời
Nửa đời tìm kiếm nửa lời
Nguời khôn lấp lửng, còn tôi dại khờ.

...............

Bây giờ đã hết mộng mơ
Ngậm ngùi tiếc thuở vẩn vơ đi tìm...











Nén!

Gió cuốn mùa thu mây bay ngang
Tiếc nuối, xót xa đến võ vàng
Đời vắng, hương tàn, hoa trái rụng
Nắng quẫy lòng ta nóng chói chang!
Sao mờ, Trăng lặn, giấc bàng hoàng
Tâm hồn khô héo cõi hoang mang
Xộc xệch dấu giày lay ngõ lạnh
Tròng trành, cô quạnh bóng lang thang!
Phòng lặng, con tim réo ngỡ ngàng
Lá gan câm nén đợi xuân sang
Cõi lòng giằng xé buồn giăng mắc
Lồng ngực tràn căng muốn vỡ toang...!!











Sinh Nhật

Bốn mươi chín mùa xuân
Chưa một lần sinh nhật
Thấp thoáng sau em những điều được mất
Vết xước còn chia máu con tim!

Năm tháng vẫn lặng im
Nhấn chìm bao mơ ước
Mạch nước ngầm, âm thầm trôi ngược
Đón nhận giờ khai sinh.

Ngày mai bình minh đến sớm
Chập chờn lay động giấc thu
Chắc rằng đêm nay không ngủ
Thao thức nhớ người nghĩ về em!

Sáng nay trăng treo lưỡi liềm
Bỏ quên sau mùa thu hái
Lòng em vơi đi trống trải
Sống dậy bao điều mộng mơ.

Nhiều năm nấp sau hững hờ
Vết bầm tím đang chờ liền lại
Anh đã trồng sẵn vườn hoa trái
Bướm ong về thắp lửa thu say.

Hai Lăm Tháng Chín năm nay
Cất cánh bay vào dĩ vãng
Nghe tiếng mình khóc trong chạng vạng
Chào nhân loại - Đón bình minh lên!

Thì thầm gió gọi tên ban sớm
Dệt thảm đời – Khao khát cánh chim
Giấc mơ chiều nay – Anh đã tìm
Một dòng máu đang hồng trở lại…!











Thời Hoa Đỏ

Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
chẳng cho lòng ta yên
Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
về cái vẻ thần kì của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê của thời thiếu nữ
mỗi mùa hoa đỏ về
hoa như mưa rơi rơi
cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ
hoa như mưa rơi rơi
như tháng ngày xưa ta dại khờ
ta nhìn vào tận sâu mắt nhau
mà thấy lòng đau xót
trong câu thơ của em 
anh không có mặt
câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết
anh đâu buồn mà chỉ tiếc
em không đi hết những ngày đắm say
hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ
không cho ai có thể lạnh tanh
hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ
như vết xước của trái tim

sau bài hát rồi em lặng im
cái lặng im rực màu hoa đỏ
anh biết mình vô nghĩa đi bên em
sau bài hát rồi em như thể
em của thời hoa đỏ ngày xưa
sau bài hát rồi anh cũng thế
anh của thời trai trẻ ngày xưa.











Tìm

Gió xua nỗi nhớ giăng ngang
Con tầu cắt sóng bẽ bàng mặt sông.

Bên này bến vắng đò không
Bờ kia hoang lạnh, trắng đồng mây bay.

Đâu rồi cánh áo hoa lay
Chẳng bồi, chẳng lở mà cay mắt chiều.

Bèo tây mấy vạt phiêu diêu
Bóng câu xa tít liêu xiêu đường đời.

Dòng nào cũng chảy về khơi
Lòng ta trôi ngược, chơi vơi đêm ngày.

Lệ rơi đụng chén đắm say
Lá gan khô lại, cánh tay ướt đầm.

Sương bay mòn mỏi mắt tâm
Hoàng hôn dẫn lối hương thầm qua sông.

Cánh mây đo nước sâu nông
Nỗi nhớ lặn ngụp chờ trông cây cầu.

Chắc rằng xa cách còn lâu
Liều mình khoả lấp váng sầu mà sang...









Tình Anh

Dòng sông mê mải uốn cong 
Cho con nước xối vào lòng quê hương. 
Vai thời gian mỏi dặm trường 
Lở, bồi sóng vẫn yêu thương vỗ về. 
Ngại ngùng cho những bờ đê 
Vui buồn để vết gồ ghề tháng năm. 
Tỏ thêm lên ánh trăng rằm 
Quanh co nét thảo – Xa xăm bút trời. 
Nối núi rừng với biển khơi 
Phù sa bồi đắp tươi ngời mùa xanh. 
Em say mê dệt mộng lành 
Soi vào nơi ấy bức tranh cuộc đời. 
Sông đừng thẳng nhé sông ơi! 
Dẫu sao cũng chẳng xa rời nhau đâu. 
Thủy chung giữ vẹn sắc mầu 
Bờ đê giới hạn hai đầu vòng vo… 












Tình Thu

Thu vẫn ẩn trong con mắt xuân
Tình em ấp ủ ánh trăng ngần
Đường mây vạn dặm nuôi tầm mắt
Sông núi cách ngăn mùa vẫn gần.
Ngày ấy tần ngần dạo gót qua
Em mang thu tới trước hiên nhà
Áo say cánh gió ươm hoa nắng
Gửi lại bên lòng chút nhớ xa.
Lỗi hẹn chiều sương hương thoảng qua
Dáng em lay động ánh trăng ngà
Sao say sóng tiếc người trong mộng
Lồng lộng hồ thu hồn ngân nga.
Thu chạnh lòng ta - Nhớ chói chang!
Xuân sang tái hiện giấc mơ vàng
Giọt buồn khoe sắc hoàng hôn đó
Lãng đãng bên song mây ngổn ngang...










Vội


Duyên thơ chắp cánh ngẩn ngơ
Nỗi niềm đan trải hững hờ nước mây
Bến sông trôi cánh hoa gầy
Tình trong xa cách sao ngây ngấy lòng.

Xôn xao ngày nhớ, đêm mong
Nổi chìm lận đận tới long đong rồi
Tiếng chim khắc khoải, đơn côi
Cành sương trăng đậu càng bồi hồi thương.

Lời em tím biếc vấn vương
Trong mơ ủ mãi chút hương tình nồng
Hôm qua vừa chớm ra sông
Đã nghe như sóng biển đông dậy rồi!




















Những bài thơ được phổ nhạc




Thời Hoa Đỏ
Thơ Thanh Tùng
Nhạc Nguyễn Đình Bảng


Thời hoa đỏ

Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng chịu cho lòng ta yên
Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê của một thời thiếu nữ
Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ
Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Ta nhìn sâu vào mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót
Trong câu thơ của em
Anh không có mặt
Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say
Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ
Không cho ai có thể lạnh tanh
Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ
Như vết xước của trái tim
Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em
Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời trai trẻ ngày xưa.








Hà Nội Ngày Trở Về

Thơ Thanh Tùng
Nhạc Phú Quang

Hà Nội ơi mỗi khi lòng xác xơ 
Tôi vội vã trở về 
lấy cho mình 
dù chỉ là chút bóng đêm trên đường phố quen 
dù chỉ là một chiều sương giăng lối cũ 
Tôi bồi hồi khi chạm bóng cửa Ô 
như ngày xưa mỗi lần chạm vai gầy áo mẹ 
Ôi nỗi nhớ muôn đời vẫn thế 
như dòng sông Hồng cuộn đỏ mãi trong tôi 

Vội vã trở về vội vã ra đi 
chẳng thể nào qua hết từng con phố 
nhưng còn đó mùa thu mùa thu đầy gió 
và rêu xanh bên những gốc cây già 
Vội vã trở về cùng tháng năm xưa 
sau những con đường dầu dãi nắng mưa 
bên quán nhỏ em buồn nghe lá trút 
chiều mưa sa giăng kín phố dài 

Hà Nội ơi mỗi khi lòng xác xơ 
Tôi vội vã trở về 
để nghe tim mình 
rưng rưng trong nước hồ thu




Bài thơ gốc của Thanh Tùng

Hà Nội ơi, tôi đã cất giữ người cẩn thận 
Như dưới làn da kia dẫu đã héo nhàu, máu vẫn âm thầm chảy 
Hà Nội ơi, nguồn mộng mơ dày như cỏ mùa xuân 
Mỗi khi tôi thấy mình xơ xác 
Tôi lại về đánh cắp 
Dẫu một chút bóng đêm trên đường phố Khâm Thiên 
Dẫu một mảnh lá vàng còn ướt nước Hồ Gươm 
Tôi rung lên mỗi khi chạm bóng cửa ô 
Như được chạm vào vai gầy áo mẹ 
Tôi bé nhỏ và tôi vẫn thế 
Trái tim luôn xao động 
Như bên trong vẫn đầy ắp sóng Hồ Tây 

Vội vã trở về, vội vã ra đi 
Chẳng kịp nhận ra từng con phố 
Nhưng trong tôi vững bền đến thế 
Những chiếc lá nhìn tôi vẫn mắt tuổi học trò 
Những vòm cổ nghiêng xuống tôi hơi ấm 
Thầm thì lời của rêu phong 
Sâu đến nỗi bàng hoàng lạc tới ngàn năm 

Những chiều thu hăm hở tôi đi 
Hồn đánh võng với hơi giăng thấp thoáng 
Từ gốc cây già đến mặt hồ sương 
Từ ngàn xưa đến tận hôm nay 
Quán ngập lá và mắt em đen thế 
Rượu không say, chỉ đủ để buồn thôi! 

Tôi vẫn về Hà Nội của tôi 
Sau những ngày dài khô khốc 
Để thẫn thờ uống từng vết nắng mưa 
Chạy mệt nhoài trên những quảng trường sạm gió 
Mỗi lần ra đi 
Nặng nề như có chửa 
Và vội vàng của một kẻ tham lam 
Vì bất cứ vòm cây nào trên những đại lộ 
Cũng có thể đòi tôi trả lại màu xanh!












Mùa Thu Giấu Em

Thơ Thanh Tùng
Nhạc Phú Quang


Có phải mùa thu giấu em lâu đến thế? 
Để cuối con đường anh kịp nhận ra em 
Em ào tới chợt xôn xao lá đổ 
Xoá nỗi cô đơn lạnh giá bên thềm. 

Rồi tình yêu lại rưng rưng bên khung cửa nhỏ 
Và con đường lại xao xác gió heo may 
Em hôn anh đắm say như gió 
Và ngã vào anh dịu dàng như mùa thu. 

Có phải mùa thu giấu em lâu đến thế? 
Để cuối con đường anh kịp nhận ra em 
Em ào tới chợt xôn xao lá đổ 
Xoá nỗi cô đơn lạnh giá bên thềm. 

Rồi tình yêu lại rưng rưng bên khung cửa nhỏ 
Và con đường lại xao xác gió heo may 
Em hôn anh đắm say như gió 
Và ngã vào anh dịu dàng như mùa thu. 

Có phải mùa thu giấu em lâu đến thế? 
Để cuối con đường anh kịp nhận ra em 
Em ào tới chợt xôn xao lá đổ 
Xoá nỗi cô đơn lạnh giá bên thềm. 

Rồi tình yêu lại rưng rưng bên khung cửa nhỏ 
Và con đường lại xao xác gió heo may 
Em hôn anh đắm say như gió 
Và ngã vào anh dịu dàng như mùa thu. 

Có phải mùa thu giấu em lâu đến thế? 
Để cuối con đường anh kịp nhận ra em.































Trở về 









MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.