Sunday, 10 April 2011

Thận Nhiên






















Thận Nhiên
Bút danh khác: Nam Đan
(1962 -.......) Đồng Nai
Tên thật: Tôn Thất Thiện Nhân

Nhà thơ, Nhà văn, Dịch giả

























                                                                                                                        
Chút mặt trời qua kẽ tay... SG 2010





Sang Mỹ năm 1990. Từ năm 2003, phần lớn thời gian sống ở Mỹ và Sài Gòn, dịch sách, viết báo, cộng tác với các tạp chí : Hợp Lưu, Việt, Văn, Văn Học, Chủ Đề, Tạp Chí Thơ, Talawas, Tiền Vệ, Da Màu, Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, Radio CACR, Saigon City Life, Thể Thao và Văn Hóa...




















Tác phẩm đã in
  









Đa Giác 
(tập thơ)







Vực Và Gió
(tập thơ in chung)







26 Nhà Thơ Việt Nam Đương Đại
(tập thơ in chung)

















Những Con Mắt Cư Xá
(tạp bút)









Cười Cho Hết Hàm Răng
(tạp bút)


















Tôi nhìn thế giới

Thận Nhiên



Tôi ở hành tinh Heurtinoladi. Hành tinh này cách địa cầu rất xa, khoảng cách không chỉ tính bằng nhiều ngàn năm ánh sáng, mà thật ra, nó nằm ngoài biên giới trí tưởng tượng của mọi sinh vật. Vì vậy, mọi nỗ lực nối kết giữa hành tinh này và một thực tại nào đó trên địa cầu đều là những nỗ lực đáng tội nghiệp.

Ở Heurtinoladi chúng tôi không có khái niệm về khoảng thời gian tính từ sau thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành, khoảng thời gian mà có nơi gọi là tuổi thơ, tuổi ngọc, tuổi ô mai… nhăng nhít gì gì đó. Chúng tôi chỉ có một thời làm nhi đồng, kể từ khi ra đời đến năm bảy tuổi thì chấm dứt, có khi chấm dứt sớm hơn. Sau bảy tuổi là khoảng thời gian không đáng kể, chúng tôi tiến thẳng lên thành sinh viên, công nhân, chiến sĩ, hay lãnh tụ, vân vân… Các loại tình cảm rối rắm như tình mẫu tử hay tình phụ tử hay tình huynh đệ hay tình bằng hữu hay tình đồng chí hay tình yêu trai gái hay tình yêu tổ quốc là những điều chưa hề được đặt ra một cách chính thức trên các văn bản hoặc được áp dụng một cách công khai vào đời sống thật. Nhưng không phải vì thế mà chúng tôi không có các loại tình cảm ấy, chỉ có điều chúng được tính toán kỹ lưỡng khi sử dụng và hoàn toàn không nhòe nhoẹt sướt mướt như ở các nơi có sự sống khác trong vũ trụ. 

Tôi là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, kịch sĩ, đạo diễn… bí danh của tôi là K1HF6Q2T6589I. 


Mẹ tôi chỉ có một con mắt. Tôi ghét bà thậm tệ. 

Gia đình tôi là một thảm họa của sự đổ vỡ, nếu có thể gọi hai con người sống dưới cái mái tôn mục nát ấy, mẹ và tôi, là một gia đình. Tôi không có cha. Tôi không biết cha tôi là ai. Mẹ không bao giờ nhắc gì đến người đàn ông đó, và cũng không hề đoái hoài gì đến bất cứ người đàn ông nào khác. Mà cũng đúng, sau này khi lớn lên có lần tôi nghĩ, một người đàn bà gần bốn mươi tuổi, nghèo kiết xác, không có nhan sắc đã đành lại chột một mắt, và có cả một thằng con gầy gò, èo uột làm của hồi môn, thì có tay đàn ông nào muốn tìm đến để chia sớt hạnh phúc cơ chứ. 

Tôi không biết vì sao mẹ lại mất đi con mắt trái ấy. Nó là một lỗ trống, nhăn nhíu da với con mắt giả là một hòn bi vô hồn. Thỉnh thoảng tôi tình cờ thấy bà len lén lấy nó ra chùi rửa bằng khăn sạch trong một bát nước nhỏ vào ban đêm. Có lẽ bà thấy việc đó là một hành vi kỳ quặc, và bà luôn giấu tôi những việc kỳ quặc đại loại như thế, tôi biết vậy. 

Có lần tình cờ tôi bắt gặp bà ngồi trước máy truyền hình sụt sịt khóc. Bà rên lên khe khẽ “Ôi, sao lại thế! Đừng, đừng nào. Ôi, chết chửa. Khốn nạn thân mày chưa…”, tay thì vừa vuốt ve vừa che chắn một cách tuyệt vọng cho một con nai đang bị đàn sư tử xé xác trên màn hình. Từ khi bắt đầu có trí khôn, tôi chấp nhận những việc ngớ ngẩn ấy như một sự hiển nhiên và kết luận rằng mẹ tôi là một người đàn bà không bình thường. Và hẳn là tôi đúng, vì những kẻ có hai mắt như tôi thì hơn kẻ có một mắt một con mắt minh triết, phải không nào? 

Tôi hỏi vì sao mẹ mất con mắt, có khi bà trả lời là do tai nạn khi đi xe đạp, có khi bà trả lời là do chiến tranh- bao nhiêu năm nay chúng tôi không còn chiến tranh (?, !) - rồi nhất quyết không tiết lộ gì thêm. 

Hai mẹ con tôi đổi chỗ ở không biết bao nhiêu lần, tôi không thể nhớ hết. Khu xóm nghèo ở vùng tỉnh lẻ này có lẽ là lần sau cùng. Tôi mong vậy. Tôi học trường tiểu học ở đây đã hai năm. 

Mẹ có cái sạp nhỏ bán đủ thứ đồ lăng nhăng ở khu chợ trời. Khi thì quần áo cũ, khi thì các thứ đồ gia dụng hư cũ, những thứ sứt tay gãy gọng, từ cái phích nước tróc sơn cho đến cái ghi-đông xe đạp. Thậm chí có khi bà mua đi bán lại cả những thứ đồ đồng nát hay đồ của bọn ăn cắp vặt. Không ít lần bà bị rắc rối với cảnh sát hoặc chủ của các món bị mất cắp. Thời bấy giờ hành tinh còn nghèo nên đó là tình cảnh chung. Ai mà biết được mấy mươi năm sau có ngàyHeurtinoladi trở nên một hành tinh phát triển bề thế như thế này. Mà thôi, tôi sẽ vắn tắt cho đỡ mất thì giờ của bạn đọc. 


Tôi lên bảy, theo học lớp hai ở ngôi trường tiểu học gần nhà. Ngay ngày đầu tiên đi học tôi đã từ chối mẹ dắt đi, tôi tự đi bộ đến trường mỗi sáng, chiều tan trường cũng tự đi bộ về nhà. Trong thâm tâm trẻ dại, tôi mơ hồ thấy mẹ mình quá xấu xí so với những bà mẹ khác. Tôi phát ngượng mỗi khi có ai hỏi về bà, hay bắt gặp tôi đi với bà, một nỗi mặc cảm thật tệ hại. Tôi giấu tất cả bạn bè và thấy điều đó là tự nhiên. Con đi học, mẹ đi mua bán, chuyện ai nấy lo. Mà bà không học hành gì mấy, khả năng chữ nghĩa của bà chỉ đủ để đọc và viết giấy ghi nợ, nên cho dù bà có muốn cũng không thể giúp đỡ gì tôi trong việc học. Bà chỉ nhắc chừng tôi gắng học để lớn lên đỡ khổ, không phải thừa kế nghiệp chạy chợ trời của bà. Việc chạy tiền đóng học phí cho tôi làm bà mệt đuối. 


Buổi sáng hôm đó tôi không mang theo tiền đóng học phí. Không phải do tôi quên, mà là do mẹ không có tiền, bà bảo chưa xoay ra đủ. Tôi đã khất với văn phòng thu phí nhiều lần rồi. Thật ra tôi không biết nói năng gì với viên thư ký thu tiền khi bị kêu lên văn phòng vào mỗi sáng cùng những đứa khác cùng hoàn cảnh. Tôi chỉ đứng ngớ mặt ra, miệng lí nhí không thành tiếng, rồi cả bọn được ông thư ký xua tay đuổi về lớp. Những lần sau cũng diễn ra y như vậy, chỉ có điều càng ngày những đứa chưa đóng tiền càng thưa dần đi, cho đến sáng hôm qua thì chỉ còn lại có ba đứa, tôi và hai thằng khốn khổ khác. Tôi tự nhủ, nếu chiều nay mà mẹ không xoay ra tiền để đóng thì từ ngày mai tôi sẽ bỏ học. 


Mẹ đến. 

Bà đứng ở cửa lớp với người coi cổng trường. Tôi thấy bà ngay. Tôi còn nhận ra bà đang mặc bộ đồ tươm tất nhất, bộ đồ mà tôi chưa từng thấy bà mặc bao giờ. Cái quần tây màu xanh đen và chiếc sơ-mi vải phin trắng ấy còn quá mới, có lẽ bà mới mua của một người kẹt tiền nào đó bán lại, nhưng rủi thay nó không ăn với vóc dáng và các cử chỉ rụt rè quê kệch của bà chút nào. 

Thầy giáo bước ra nói gì đó với bà rồi kêu tôi ra cửa gặp mẹ. Cả lớp cùng rộ lên tiếng cười nói. Tôi không nghe được gì cả. Chỉ duy nhất một ý nghĩ vang vang trong đầu. “Mày có một bà mẹ chột mắt! Cả thế giới đang nhìn mẹ con mày. Thảm hại quá!” 

Mẹ trao tôi một nắm tiền. Tôi vùng vằng không lấy. “Con ơi, mãi đến giờ mẹ mới chạy hàng được. Đủ tiền cho con đóng học kỳ này. Chắc dư được bát miến đấy. Tối mẹ về trễ đừng chờ nhé. Nào, vào học đi. Mẹ về…” Bà nhét nắm tiền vào túi quần sọt của tôi rồi tất tả quay đi. Bà bước thật nhanh. Bọn nhóc trong lớp rú lên, “Bà chột, bà chột…!”, “Mẹ mìn chột mắt!” 

Tôi tê dại điếng người, hết quay nhìn mẹ đang đi khuất dần rồi lại nhìn bọn bạn học trong lớp. Những chiếc khăn đỏ của chúng như lửa táp vào mặt tôi. Không, chúng không phải là bạn. Tôi muốn giết hết bọn chúng. Giết luôn thầy giáo. Giết luôn mẹ. Giết luôn tôi! Tôi căm ghét cái hành tinh ác độc này. Tôi muốn nó nổ tung ra thành vạn mảnh vụn, muốn nó sụp ầm xuống địa ngục, nếu có một địa ngục tệ hại hơn nơi này. Muốn tất cả mọi người đui mù đi. Chúng không chỉ mất một mắt như bà mẹ khốn khổ của tôi, mà mất cả hai mắt. Cả một nhân loại mù lòa dắt díu nhau đi thì tôi mới thỏa lòng căm giận. 

Tôi muốn khóc. Vậy mà tôi không khóc. 

Tôi đi lên văn phòng đặt cả nắm tiền lên bàn ông thư ký. 


Sau hôm ấy, tôi trở thành một trò vui cho bọn học trò mỗi khi chúng không có trò gì để phá phách. Một thằng giả vờ ân cần hỏi, “Mày có hỏi mẹ mày thấy mày đẹp trai không? Tao cam đoan là bà chỉ thấy một nửa của gương mặt mày.” Rồi cả bọn cười ồ lên. 

Đại loại là những trò đểu như vậy. Tôi đánh một thằng, đánh hai thằng. Thậm chí tôi còn mang cả dao vào trường đòi đâm chúng lòi ruột. Nhưng tôi không thể chơi lại cả bọn, và ngày nào cũng đều có trò đểu như thế. Tôi thua. Rốt cục, mỗi khi bị chơi đểu tôi chỉ lẳng lặng bỏ đi hoặc tìm cách chơi lại chúng bằng cách chọc vào những khuyết điểm của chúng. Ai mà không có những điểm nhược chết người? Tôi cũng nanh nọc thua kém gì chúng. 

Nhưng tôi căm ghét mẹ tôi. Vì sao bà lại làm như thế với tôi? Vì sao bà chột mắt? Vì sao lại bày con mắt chột và hình dáng thảm hại đó ra? Tôi ước gì bà biến mất khỏi thế giới này, và ngay chiều đi học về tôi nói ra điều đó. “Tại sao mẹ làm mất con mắt đi? Mẹ làm cho bọn chúng cười con. Chẳng thà không có mẹ còn hơn là có…” Bà không trả lời tôi. Tôi vừa cảm thấy mình thật tệ khi nói ra những lời cay đắng như vậy, nhưng đồng thời cũng tự biện rằng tôi đã nói ra được điều mình nghĩ, điều mình muốn nói. Tôi nói ra sự thật. Không phải là cả thế giới này đòi được nói ra sự thật hay sao? 

Vậy mà bà không la mắng hay trừng phạt tôi. Bà chỉ cau mày nhìn tôi rồi xua tay bảo tôi đi ra. 

Tôi nghĩ rằng mình đúng. Khi người khác không phản ứng lại điều mình buộc tội họ tức là họ có tội, họ chấp nhận điều đó. Mà mình đúng thì họ không tổn thương, hay không có quyền cảm thấy bị tổn thương. Tôi an tâm với kiểu suy luận đơn giản đó. 

Đêm đó, tôi thức giấc đi xuống bếp định lấy ly nước uống. Mẹ tôi đang ngồi khóc ở đó. Khóc thật lặng lẽ. Như thể bà sợ làm tôi thức giấc. Tôi đứng yên nhìn đôi vai bà run run. Tôi không lấy nước. Tôi rón rén quay lại phòng nằm thao thức đến sáng. 

Một điều gì đó làm tôi đau nhói trong tim. Tuy vậy, tôi vẫn ghét bà ghê gớm. Tôi hình dung nước mắt của bà chỉ chảy ra ở một con mắt còn lại. Tôi tự hỏi không biết con mắt kia có chảy ra nước mắt không. Tôi hứa với lòng rằng mình sẽ lớn dậy, sẽ trở nên giỏi giang, sẽ trở nên giàu có, sẽ bỏ đi thật xa. Đúng vậy, bỏ đi thật xa. Vì tôi căm ghét bà mẹ chột mắt và tình cảnh nghèo khó tuyệt vọng của mình. Thật là quái gỡ khi người ta cứ mang vẻ nhọc nhằn thảm hại của bà mẹ để gán cho, để làm thành biểu tượng, của nơi chốn mà mình ra đời và lớn dậy. 

Bà mẹ hành tinh ư? Thật là thảm hại, điên rồ và mê muội! 


Tôi dồn hết sức vào việc học, học để chứng minh sự tồn tại của mình, học để đè đầu tất cả chúng nó, để chứng minh sự đần độn, dốt nát của chúng nó, và để thỏa mãn lòng căm hận đối với đời sống. Tôi học như một con vẹt tham lam và chuyên cần học nói. Tôi học rất giỏi. Hết lớp này đến lớp khác. Hết tiểu học, lên trung học, rồi đại học. Tôi cũng làm đủ thứ việc để kiếm thêm tiền: bán vé số, đánh giày, bưng bê, chỉ trừ ăn cắp vặt và dắt gái là những thứ tôi chưa kịp làm. 

Tình cảnh đời sống của hai mẹ con tôi vẫn không khá hơn, tình cảm giữa hai mẹ con cũng vậy. Lớn lên, tôi nghĩ có lẽ câu chuyện hồi bé ở tiểu học là mình sai, nhưng một nguyên do tối tăm nào đó ngăn tôi nói lời xin lỗi bà hay bày tỏ tình cảm của mình. Tôi lạt lẽo nguội lạnh. Bà chạm vào tôi là chạm vào một bức vách đất, không chút hồi âm. Suốt thời thơ ấu và tuổi trẻ của tôi là một cơn mê dài vô tận. Nhưng, như đã nói, chúng tôi không có khái niệm về tuổi thơ hay thời thơ ấu, đó là khoảng thời gian không đáng kể, không đáng để ghi nhận lại trong đời sống con người, sẽ lặng lẽ biến đi, biến mất tăm, ai cũng tin như vậy. Tôi còn biết những điều tệ hại như thế không chỉ xảy ra với riêng mình mà thôi, và nó chẳng phải là bi kịch bi kiếc gì đối với ai cả. 

Tôi bỏ tỉnh lẻ và mẹ để lên Heurtino học. Tôi được nhận vào trường đại học Heurtino, vừa học vừa làm đủ thứ việc để kiếm sống, với tất cả nghị lực và tâm sức mà tôi có. Tôi không quay về hay liên lạc gì với mẹ. Tôi quyết định, đó là phần đời xa lạ mà tôi không muốn mình có mặt. Chấm hết. Chấm dứt. Đoạn tuyệt. Cắt đứt. Một năm. Hai năm. Ba năm. Năm năm. 

Vĩnh viễn. 

Thỉnh thoảng tôi có nghe loáng thoáng đâu đó tin tức về mẹ. Lòng tôi nhói đau khi nghĩ đến bà. Tôi biết bà vẫn sống, có lẽ là bình an, tôi thật lòng mong như vậy. Sau khi tôi đi, bà có nhận một đứa cháu gái con của một người bà con xa về làm con nuôi. Đời sống dường như bớt phần cơ cực. 


Tôi học xong, có được việc làm tốt. Cuộc đời có vẻ như đang đền bù cho tôi. Tôi lấy vợ, mua nhà, có con, và hạnh phúc. Tôi thích đời sống văn minh và tiện nghi ở Heurtino. 

Ngoài những điều đó ra, chẳng những Heurtino không nhắc nhở gì đến, mà nó còn giúp tôi phần nào quên lãng đi nơi chốn tôi có bà mẹ và đoạn đời khốn khổ nghèo khó kia. Thật ra, tôi không muốn chỉ quên lãng thôi, mà tôi muốn quên hẳn. Thậm chí, tôi nói với vợ mình rằng tôi mồ côi, không còn họ hàng thân thích nào trên cõi đời này, đi không ai biết chết không ai hay, và cô tin như thế. 

Nhưng như thế vẫn chưa đủ, mục tiêu của tôi là sẽ đến một nơi cư ngụ khác, một trong những hành tinh khác. Chỉ tồn tại ở một nơi hoàn toàn cách biệt và xa lạ mới có khả năng giúp tôi xóa hết dấu vết của nhân thân mình, và may ra xóa được cả những nếp hằn mặc cảm nằm sâu kín đâu đó trong tôi. Tôi biết không chỉ riêng mình tôi nghĩ vậy, mà dường như đó là mục tiêu của mọi sinh vật có khả năng suy nghĩ trên hành tinh này. Nếu điều này thành hiện thực thì nó sẽ là một cuộc di dân khổng lồ, một cuộc di dân không phải vì lý do chính trị hay kinh tế, mà là cuộc di dân vì một khát khao nghe ra có vẻ kỳ quặc: chối bỏ lịch sử, gốc tích, nhân thân của cá nhân mình, của cộng đồng mình. Cho dù là bất định nhưng tương lai con người phải ở ngoài kia, ngoài vũ trụ, xán lạn và mịt mờ. Chúng tôi xác tín điều đó. 

Đời sống ngày càng suôn sẻ và cứ thế trôi chảy mãi. Tôi thành công rồi. Tôi có đủ tiền tài và có ngày sẽ có danh vọng. Tôi gần như quên mất gương mặt mẹ mình, thậm chí không nhớ mình từng có một bà mẹ. Cái tôi không xóa được trong một góc nào đó của trí nhớ là một hốc mắt nhíu da và trống không, từ đó không thể nhỏ ra giọt nước mắt nào. 


Một hôm, mẹ đến tìm tôi. Bà đi với cô con nuôi, cô dắt tay bà. Không hiểu làm sao mà cả hai đi được vào đến tận trong phòng khách. 

Tôi nhận ra bà ngay. Tôi còn thấy con mắt còn lại của bà cũng đã lòa. Đứa con gái tôi khóc thét vì sợ khi thấy bà già chột mắt đứng ở ngưỡng cửa, nó bỏ chạy vào phòng trốn. Vợ tôi ở sau bếp. Tôi choáng lạnh rợn người. 

Tôi ném tờ báo xuống bàn. “Bà là ai? Bà cần gì? Sao bà dám đến đây dọa con gái tôi. Đi ngay!” Tôi nói như thể tôi không biết bà là ai, như thể đó là một sự thật. 

Mẹ tôi khựng lại, lắp bắp, “Tôi xin lỗi. Tôi nhầm… Tôi nhầm địa chỉ… cậu ạ.” Bà chấp nhận ngay cái sự thật mà tôi vừa nói ra. 

Mẹ tôi lặng người đứng đó. Nước mắt bà ứa ra thành dòng. Lần này thì tôi thấy rồi. Tôi thấy thật rõ. Tôi thấy nước mắt bà chảy ra từ cả hai con mắt, nếu có thể gọi cái hốc bên trái đó là một con mắt. Đúng vậy, nước mắt trào ra cả bên cái hốc có con mắt giả bên trái. Bên mà tôi nghĩ rằng nó không còn tuyến lệ, hay tuyến lệ đã bị hỏng. 

Đột nhiên, tôi chỉ muốn nói, Không, mẹ không nhầm địa chỉ, mẹ chỉ sanh nhầm ra con thôi. Nhưng tôi kịp nhớ ra rằng mình là một người bình thường. Cổ tôi nghẹn, tôi hành xử trong tình huống này như một người bình thường, tôi ghìm, không nói lời nào. Cô em nuôi kéo mẹ lùi ra. Tôi bước theo. 

Khi cả ba ra đến cổng, mẹ tôi đứng lại, bà lấy tay áo lau nước mắt rồi điềm tĩnh nói, “Con ơi, mẹ sống thế cũng đã đủ rồi. Mẹ biết con không nhầm, con chưa quên mẹ. Mẹ sẽ không lên đây nữa đâu. Con yên tâm. Mẹ cũng không mong rằng có ngày con về thăm mẹ. Dù chỉ một lần. Mẹ nhớ con lắm. Năm nào mẹ cũng lên nhưng không dám vào thăm con, chỉ đứng xa xa mà ngó. Lần này mẹ đánh bạo, lần cuối mà. Mẹ mừng vì thấy con thành đạt và hạnh phúc như thế này. Mẹ biết cháu gái của mẹ kháu lắm tuy rằng mẹ không nhìn nó rõ. Mẹ ân hận cái ngày mẹ đến tìm con ở trường, cái ngày mà con buồn giận vì mẹ chỉ có một con mắt. Vậy mà đã bao nhiêu năm rồi. Mẹ mù lòa may mà có con nhìn thay mẹ cái trần gian này. Con ở lại thương vợ thương con con nhé. Con nhìn thế giới thay cho mẹ. Mẹ về…” 


Tôi ở địa cầu. 

Tôi đang sống trong một đất nước độc lập, tự do và hạnh phúc. Chính xác là căn biệt thự mặt tiền ở số 163 phố Hàng Voi. Tôi là nhà văn. 

Câu chuyện trên là do một bà cụ ăn xin lòa mắt tôi gặp ở quán cà phê mà tôi hay ngồi kể lại. Theo lời kể, bà lưu lạc từ hành tinh Heurtinoladi đến đây, bị cuốn theo một cuộc di dân ngoài ý nguyện của mình. 

Bà là người ăn xin duy nhất còn sót lại ở thủ đô đã mở rộng ra từ mười năm nay. Ăn xin là một nghề đang bị xã hội chúng tôi xóa đi rất nhanh, chẳng bao lâu nữa nó sẽ mất chỗ trong các cuốn tự điển. Đơn giản là chúng tôi dứt khoát không móc túi lấy bạc lẻ ra thì nghề ăn xin biến mất. Có lẽ những người hành nghề này đã chuyển sang hành tinh nào khác để sống. Chúng tôi rất tỉnh táo. Chúng tôi đã mất thói quen mua trả góp cho linh hồn mình một chỗ ngụ ở bất cứ hành tinh xa xôi nào khác, kể cả những nơi có lúc được gọi là Nước Trời hay Miền Cực Lạc hay Thế Giới Đại Đồng… huống hồ gì là một hành tinh có tênHeurtinoladi xa lạ vớ vẩn nào đó. 

Ban đầu, tôi định cho bà cụ làm nhân vật chính kể lại câu chuyện. Nhưng rồi tôi đổi ý, quyết định cho nhân vật tôi là người con trai của bà, mà không do một duyên cớ nào cả. Giờ này chắc hắn vẫn miệt mài thực hiện khát vọng di dân của mình trong một thứ tâm thức vừa mặc cảm vừa hãnh tiến. Chúc lành cho hắn, và cả nhân loại của hắn. 

Câu chuyện quá nhạt nhẽo, tôi không biết phải viết tiếp đoạn kết như thế nào. Bịa ra cho nó có hậu thì cũng hỏng mà không có hậu cũng chẳng ra làm sao. Chỉ mừng rằng mình không sống ở Heurtinoladi, mà đang sống ở địa cầu, trong một đất nước độc lập, tự do và hạnh phúc. 

Chính xác là ở căn biệt thự mặt tiền ở số 163 phố Hàng Voi. 

Tôi là nhà văn, nhà báo, nhà thơ, đạo diễn, kịch sĩ và nhiều thứ chức danh khác. Bí danh của tôi là… mà thôi, bạn không cần biết điều ấy đâu. 

© 2008 talawas 



Thận Nhiên tên thật là Tôn Thất Thiện Nhân, sinh năm 1962, tại Long Khánh, Đồng Nai. Nguyên quán Huế. Sang Mỹ năm 1990, ở nhiều nơi, làm nhiều nghề. Từ năm 2003 phần lớn thời gian ở Sài Gòn, kiếm sống bằng việc dịch sách, viết báo. Thường ký bút hiệu: Thận Nhiên, Nam Đan. Cộng tác với các tạp chí và diễn đàn: Hợp Lưu, Việt, Văn, Văn Học, Chủ Đề, Tạp Chí Thơ, talawas, Tiền Vệ, Da Màu, Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, Radio VACR, Saigon Citylife, Thể Thao & Văn Hóa…

Tác phẩm: Đã xuất bản: Đa giác (tập thơ), Vực & Gió (tập thơ in chung), 26 Nhà thơ Việt Nam đương đại (tập thơ in chung), Những con mắt cư xá (tạp bút), Cười cho hết hàm răng (tạp bút). Tác phẩm dịch: David Bergen, Ở lưng chừng thời gian (The time in between); Michel Foucault, Triết học nhập môn; John Kotter và Holger Rathgeber, Tảng băng tan (Our Iceberg Is Melting); Bradley S. O’Leary và Edward Lee, Jade (Jade).




























THÁO ĐẦU ĐẶT LÊN TỦ*



* trích từ tập truyện ngắn “Tháo Đầu Đặt Lên Tủ”
 nxb Con Rùa, 2011. 






(minh hoạ của HN-T)


Tôi tháo đầu của mình ra khỏi cổ rồi đặt nó lên cái tủ nhỏ ở đầu giường.

Những kẻ vĩ đại thường làm như vậy khi trong đầu của họ chẳng còn gì để tiếp tục suy nghĩ. Tôi để nó đó, cho nó suy nghĩ hoặc không suy nghĩ tuỳ thích, rồi nằm xuống giường.

Khi đầu không còn nữa thì những cái gối trở nên vô dụng. Tuy nhiên, hình như là do tiện tay, tôi vớ một cái gối ôm rồi ôm vào lòng.

Khi đầu rời khỏi cổ thì nó thường nghĩ đến những điều bất tử. Một bài thơ bất tử hay một thế giới bất tử hay một tình yêu bất tử, nhưng nó không còn điều khiển được thân thể. Ví dụ, dù muốn lắm nhưng nó không bảo được cái tay nhấc lên gãi vào bên mông trái vừa bị muỗi chích. Ở sự bất khiển dụng đó, tôi tấy lên một vết đỏ, ngứa ngáy.

Bây giờ, đầu tôi ngự trên mặt tủ ngó xuống thân thể tôi nằm trên giường.

Thân thể trần truồng không có đầu, của một gã đàn ông 47 tuổi, hai tay ôm một cái gối ôm, thì nhìn thật buồn cười. Mọi thứ đều có vẻ không cân đối, và kỳ cục; bất xứng với hình hài mà Thượng Đế tạo ra từ hình ảnh của ngài.

Nó có vẻ cô độc. Và buồn.

Thứ nỗi buồn tiết ra từ những lỗ chân lông, trong suốt, sền sệt, như một loại chất dẻo không mùi, và dính dáp.

Khi đầu rời khỏi cổ thì nhu cầu về dưỡng khí và sự tuần hoàn của máu không còn thúc bách. Những thứ nhu cầu khác, tính từ cổ trở xuống, cũng vậy.

Căn hộ tôi ở bị nghiêng, nhưng không phải chỉ riêng một mình nó, mà tổng thể cả cái chung cư nghiêng, nên nó phải nghiêng theo. Khu chung cư này xây cách đây 22 năm, nghiêng đến nỗi nếu để cái quạt lên mặt bàn, chăm chú quan sát một lát, thì sẽ thấy nó chầm chậm trượt đi. Căn hộ nghiêng làm phòng ngủ nghiêng, làm cái giường nghiêng, tất nhiên ảnh hưởng tới thế nằm của thân thể.

Khi thân thể nghiêng thì nó trượt dần, dù thật chậm, rồi một lúc nào đó nó sẽ rơi khỏi giường, khi chạm đất, nó sẽ tạo ra một chấn động nhỏ, làm cái tủ khẽ rung lên một chút, một chút thôi.

Cái tủ nghiêng, khiến tất cả những ý nghĩ trong cái đầu đặt trên tủ cũng nghiêng, dốc về một phía, theo một mức độ nào đó.

Cái đầu tôi trượt dần về phía những ý nghĩ nghiêng, về phía mép tủ, những ý nghĩ trong nó bắt đầu tê dại vì bất lực.

...

Nó rơi.


Sg, 15/9/2009























Dịch Phẩm








Ở Lưng Chừng Thời Gian 
(The Time In Between. David Bergen)






Triết Học Nhập Môn 
(Michel Foucault)






Tảng Băng Tan 
(Our Iceberg Is Melting. J,Kotter & Rathgeber)





























Thận Nhiên: Trả lời phỏng vấn

Hội luận Văn học Việt Nam












11- Anh/chị muốn hay không muốn nêu danh tính?

+ Tôi là Thận Nhiên.

12- Anh/chị tiếp cận ít hay nhiều với văn chương ở trong nước (đọc các tạp chí văn học, đọc trên mạng, quen biết giao lưu với những người cầm bút, v.v…)?

+ Khá nhiều.

13- Anh/chị có tác phẩm in ấn hoặc đóng góp với các tạp chí, báo mạng ở trong nước không?

+ Có.

14- Anh/chị có tiếp cận với những tác phẩm của những nhà văn trong nước in hoặc phát hành ở hải ngoại không? Trong trường hợp có, anh chị đánh giá những đóng góp đó thế nào?

+ Có. Tôi cho rằng đây là những nỗ lực đáng trân trọng. Nhiều phần những người viết này là các tác giả không nằm trong dòng văn học chính thống được sự ủng hộ của các diễn đàn báo chí và hội đoàn trong nước. Ngoài ra còn hai yếu tố dễ nhận thấy là nhiều phần họ thuộc lớp trẻ và sống ở miền Nam, cụ thể nhiều phần là ở Sài Gòn, và một số cây bút ở miền Bắc có ra sống hay du học ở nước ngoài trở về. Hiện nay nhiều người cho rằng đây là dòng văn học ngoài luồng, hay còn gọi là dòng văn học vỉa hè. Họ có những điểm khác biệt so với số người cầm bút còn lại trong nước như sau:

a/ Ý thức cấp tiến; dung nạp và sử dụng những kỹ thuật, ý niệm, trào lưu mới của thế giới.

b/ Nhiều phần tác phẩm của họ xuất hiện trên mạng.

c/ Ý thức về tự do. Không chấp nhận sự chỉ đạo, định hướng của bất cứ một tổ chức nào. Không có mưu cầu kiếm sống, kiếm danh qua sự thỏa hiệp với các cơ quan, diễn đàn nào.

d/ Ý thức và tham gia vào các sự kiện xã hội, chính trị. Không theo đuôi, không thờ ơ với thực trạng đời sống đang diễn ra chung quanh mình. Ví dụ rõ nhất là phản ứng của những cây bút này trong vụ hai quần đảo Trường Sa-Hoàng Sa mới đây bị Trung Quốc chiếm. Có thể theo dõi sự tham gia của họ ở các diễn đàn như Tiền Vệ, Da Màu, Talawas và trên các blog cá nhân. Thái độ này trái ngược với thái độ câm lặng, tê liệt, chờ gió của cả ngàn cây bút trong các Hội Nhà Văn, Hội Nhà Báo, Hội Văn Nghệ từ trung ương đến địa phương đã chọn.

15- Văn chương ở hải ngoại đã đóng góp gì, hoặc có thể đóng góp gì, vào văn hóa Việt Nam nói chung?

+ Đương nhiên là có, nhiều nữa là khác. Vấn đề này xin để những người có nghiên cứu nghiêm túc trình bày thì xác đáng hơn là tôi - một người chuyên về sáng tác. Nhưng sự đóng góp chỉ có ý nghĩa tích cực khi nó được đón nhận và đối xử công bằng, và điều này chưa được thực hiện một cách đúng nghĩa ở mặt bằng văn hóa-văn nghệ ở Việt Nam hiện nay.

16- Vì dễ tiếp cận với trào lưu thế giới, những người cầm bút ở hải ngoại có thể đóng góp thế nào (viết, dịch…) về mặt lý thuyết và lý luận văn học với trong nước?

+ Như câu trả lời trên.

17- Những cơ quan chính thức trong nước như Hội Nhà Văn ở trung ương, các thành phố và địa phương có vai trò gì trong vấn đề hội nhập trong-ngoài không? Và nếu có, họ phải làm gì để thúc đẩy?

+ Có chứ. Vai trò đúng đắn và tích cực nhất của các hội này, ví dụ Hội Nhà Văn chẳng hạn, là hãy giải thể/giải tán nó đi, và thay vào đó là một hình thức hội đoàn mang ý nghĩa hòa hợp-hội nhập như: Liên hội nhà văn Việt Nam trong nước và hải ngoại chẳng hạn. (Hội này nên được chủ trì bởi các vị nhà văn nhà thơ giàu tâm huyết như quý vị khởi xướng cuộc Hội Luận này.) Hoặc ít ra là họ - các hội đoàn - nên thay ý thức cơ hội và nô bộc cho chính trị, bằng ý thức xiển dương sự tự do trong văn nghệ.

18- Những nhà xuất bản trong nước có vai trò gì trong vấn đề hội nhập trong-ngoài không? Và nếu có, họ phải làm gì để thúc đẩy những việc in ấn, phát hành, v.v…?

+ Có chứ. Vai trò của nhà xuất bản là xuất bản các sách có giá trị. Vai trò của họ trong vấn đề hội nhập trong-ngoài là in ấn và phát hành các tác phẩm có giá trị của những người viết ở hải ngoại. Những tác phẩm này phải được xem xét qua góc độ văn học, học thuật chứ không phải qua góc độ chính kiến. Hiện nay các nhà xuất bản trong nước vẫn in lai rai sách của các tác giả hải ngoại, nhưng chỉ là những cuốn có nội dung an toàn, vô thưởng vô phạt, kiểu xa quê hương nhớ mẹ hiền, hoặc với bối cảnh của tác phẩm nằm ở những thời đại xa xưa chứ không là bối cảnh của xã hội Việt Nam hiện nay…

Hiện nay nhiều phần các nhà xuất bản chỉ chạy theo lợi nhuận, phục vụ cho các mục đích thương mại, chính trị, và giải trí. Tiêu chí đầu tiên là phải mang lại lợi nhuận và an toàn. Vì sự an toàn họ không dám mạo hiểm với các tác phẩm gai góc hay khác biệt về chính kiến, nhất là tác phẩm của các người viết hải ngoại – những người có nhân thân và chính kiến nằm ngoài tầm kiểm soát của họ. Độ mở rộng nhất của các nhà xuất bản hiện nay là dục tính trong văn chương, và chỉ đến đó là hết mức.

Họ - các nhà xuất bản - nên có phương thức nào đó để vượt qua sự sợ hãi và thành kiến để chấp nhận các tác phẩm đến từ bên ngoài, và nhất là sự khéo léo để thoát khỏi sự kiểm duyệt của các cơ quan văn hóa.

19- Những nhà văn ở hải ngoại ứng xử thế nào để thích ứng với khâu kiểm duyệt và in ấn trong nước?

+ Vấn đề ứng xử thế nào cho thích ứng này tùy thuộc vào suy nghĩ riêng của mỗi người. Hẳn nhiên khi muốn in ấn, xuất bản tác phẩm của mình theo đường chính thống trong nước thì người viết hải ngoại phải chấp nhận một mức độ thỏa hiệp nào đó đối với việc tác phẩm của mình bị/được kiểm duyệt, trước hết bởi chính mình, và sau đó bởi các cơ quan quản lý về văn hóa. Tuy nhiên, ngày nay không chỉ có một hình thức xuất bản duy nhất là qua các nhà xuất bản chính thống và phải chịu sự kiểm duyệt. Người viết còn có thể chọn cách phổ biến tác phẩm của mình trên mạng. Ngoài ra còn có các nhà xuất bản do chính người viết tự lập và in ấn qua hình thức photocopy trong nước. Với kỹ thuật làm sách hiện nay, các bản photocopy này cũng có hình thức rất đẹp, lại khá rẻ, nhanh chóng…

Vấn đề còn lại là họ cần xác định đối tượng người đọc của mình là ai để chọn phương cách tối ưu cần có để thực hiện và phổ biến. Việc có sách của mình nằm trên kệ của nhà sách không còn là nhu cầu hay là phương cách duy nhất để xác định sự có mặt và vị thế của nhà văn.

20- Anh/chị chắc chắn có những suy tư về vấn đề hội nhập nói trên: xin anh/chị trình bày những suy tư đó, và những biện pháp để trong-ngoài có điều kiện gầy dựng một nền văn hóa Việt Nam, không phân biệt văn chương ở hải ngoại hay văn chương trong nước.

+ Tôi hiện sống ở Sài Gòn, đã hơn năm năm nay. Vì thế, với riêng mình, gọi là nhà văn hải ngoại cũng đúng mà là nhà văn trong nước cũng không phải là sai, có lẽ tôi thuộc loài lưỡng cư chăng ☺.

Tôi thấy vấn đề hội nhập trong ngoài không phải là vấn đề cấp thiết, và chừng như là một vấn đề không có vấn đề, một chuyện cũ và dài và dai, mãi từ thời tạp chí Hợp Lưu đã khởi xướng và giải quyết phần nào trong thế kỷ trước. Sự cần thiết của nó chỉ nằm trong giai đoạn đó, khi mà các suy nghĩ, các thành kiến, các chính sách… còn ngăn sông cấm chợ, và nhất là khi người ta chưa có phương tiện kỹ thuật để tìm đến với nhau một cách nhanh chóng và hiệu quả; việc đi về, gặp gỡ còn trắc trở khó khăn.

Hôm nay, tôi nghĩ, hội nhập hay không hội nhập thì chẳng ảnh hưởng gì mấy đến việc viết lách của mình, đến giá trị tác phẩm của mình, thậm chí đến những cái ngỡ là lớn lao hơn nhưnền văn hóa Việt Nam, trong thời đại mà internet có thể lấp đầy và xóa nhòa những khoảng cách không gian.

Thật ra, vấn đề hội nhập của Việt Nam với thế giới thì quan trọng và thực tế hơn là vấn đề hội nhập hay giao lưu giữa giới cầm bút trong nước và ngoài nước.

Còn về ý thức chính trị thì thế hệ của tôi, và thế hệ trẻ hơn, hầu như không muốn mang vác những gánh nặng, ân oán mà các thế hệ đi trước để lại. Nhưng, tôi ý thức rất rõ về thực trạng xã hội và thực trạng văn hóa hiện thời của người Việt hôm nay, trong cũng như ngoài nước, và muốn tác động tích cực lên nó bằng chính khả năng của mình. Thật là buồn cười khi người trong nước cũng hô hào hòa giải, hòa hợp, hội nhập; người ngoài nước cũng hô hào những nội dung y chang như thế, mà sao hai bên đều thấy việc này có vẻ như chưa từng xảy ra?

Thật ra, khoảng cách nếu có thì nó là khoảng cách về chính kiến chứ không phải khoảng cách về không gian trong nước và hải ngoại. Muốn giải quyết nó thì phải làm việc với cáinguồn tạo ra khoảng cách về chính kiến đó. Cái khoảng cách ấy, nằm trong đầu mỗi con người, thì tự chính bản thân hắn phải đối mặt để giải quyết, và chiến đấu nếu thấy cần thiết. Vũ khí ư? Nó chính là con chuột và bàn phím máy vi tính.

Tôi đọc được một đoạn ý kiến ngắn thú vị của tác giả Trần Trọng Hoàng Bách trên Talawas như sau:

“Giữa người văn nghệ với người văn nghệ, ai phục tài ai, ai cảm mến đức độ nhân cách ai, ai khoái tính khí ai, ai chia sẻ số phận ai, ai cùng "kênh" với ai, hoặc ai không có việc gì hay ho hơn là la cà đàn đúm với bất kì ai cũng không có việc gì hay ho hơn để làm như mình… thì chẳng cần chính sách, chủ trương, chẳng cần kêu gọi hô hào bỏ qua vượt qua cái gì cả, vẫn tự có các mối giao lưu. Còn ai chỉ sẵn sàng “giao lưu” khi đã được chính sách, chủ trương bật đèn xanh từ "Trên" thì đó chẳng qua là một sự vui vẻ cho có lệ, cho có phong trào mà thôi. Giao lưu kiểu ấy, tiếng ta gọi là tiếng chào đầu lưỡi. Giá trị như thế nào thì ai cũng hiểu.”

Tôi hiện sống ở Sài gòn và cảm thấy rất thoải mái với các bạn văn nghệ ở Việt Nam lẫn hải ngoại, gần như không có rào cản về không gian nào giữa tôi với họ. Thích ai thì nhậu nhẹt vui chơi với nhau, không thích thì thôi, không cần phải gặp nữa nếu thấy chán, phiền. Chơi (giao lưu), hoặc không chơi, với người nào là hoàn toàn vì thiện cảm riêng đối với người ấy, chứ không vì họ là người trong nước hay ngoài nước, miền Bắc hay miền Nam. Nếu việc hòa hợp có vấn đề thì nó là vấn đề giữa những cá nhân với nhau hơn là giữa cộng đồng này với cộng đồng khác. Ngoài ra, nếu có vấn đề, thì đó là vấn đề có từ chính sách về văn hóa-văn nghệ của nhà nước hơn là từ giữa các cá nhân hay giữa các nhóm văn nghệ với nhau.

Tôi nghĩ ngày nay sự cách biệt về giao lưu là một vấn đề/vấn nạn ảo, không có thật, hoặc bị cường điệu hóa. Nếu có thì nằm ở cách nghĩ của từng cá nhân và chỉ từng cá nhân ý thức và giải quyết nó theo phương cách của mình. Biện pháp tốt nhất cho mọi vấn đề của một nghệ sĩ là hãy sống đàng hoàng trung thực và làm việc có hiệu quả trong lãnh vực của mình.

Hiện nay các website văn chương nghệ thuật như Tiền Vệ, Da Màu, Talawas… đã góp phần rất lớn trong việc tạo sân chơi và cơ hội cho mọi người viết trong nước-hải ngoại tham gia và tìm đọc lẫn nhau, nhận diện nhau rõ hơn. Đây là một việc làm tích cực và hiệu quả nhất. Trong nước cũng có một số website văn nghệ nhưng không được người viết hải ngoại thú vị tìm đọc và tham gia, nguyên nhân có lẽ là do chúng chưa đủ thoáng, chưa đủ tinh thần tự do cần thiết chăng?



Thận Nhiên





























Tham khảo thêm về tác giả Thận Nhiên:






















Thận Nhiên & Hoàng Khởi Phong












Hoàng Hưng & Thận Nhiên











Thận Nhiên & Dương Nghiễm Mậu 
Ảnh: Phan Nguyên














Dương Nghiễm Mậu, Quế Sơn, Phan Nguyên, Thận Nhiên













Thận Nhiên & Phan Nguyên 

















Hiện sống và làm việc tại Mỹ và Việt Nam



















Trở về 












MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.