Tuesday, 12 January 2016

Huỳnh Hữu Ủy



















Huỳnh Hữu Ủy

(1946 - .......)

Nhà nghiên cứu và phê bình mỹ thuật.









Huỳnh Hữu Ủy sinh năm 1946 ở Huế, quê quán Hiền Lương, Phong Điền, Thừa Thiên. 

Trước 1975, đi lính, tòng sự tại Khối Quân Sử/PS/Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn, từng tham gia biên soạn một số sách Chiến sử và Lịch sử quân lực Việt Nam Cộng hoà. 

Ông là hội viên Hội Nghiên cứu Đông Dương (tên tiếng Pháp: Société des études indochinoises). Bài tiểu luận đầu tay của ông là Đường bay của nghệ thuật in trên Tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng và Trần Phong Giao, số 93, Đặc biệt về hội hoạ, 1967, Sài Gòn, đã gây được nhiều chú ý và từ đó ông bắt đầu viết nhiều về mỹ thuật.

Trong công trình văn hóa Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh do giáo sư Trần Văn Giàu chủ biên, ông viết hai chương về nghệ thuật tạo hình: "Một mảng tranh dân gian ở thành phố" và "Mỹ thuật Sài Gòn từ đầu thế kỷ đến năm 1975".

Trước 1975, ông viết trên các tạp chí chuyên đề văn hóa nghệ thuật: Văn, Tân Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Văn Học, v.v.

Sau 1975, ông viết trên một số báo, tạp chí trong cũng như ngoài nước: Sông Hương, Tuổi Trẻ Chủ Nhật, Mỹ Thuật, Văn Nghệ, Kiến Thức Ngày Nay ở trong nước, và Đất Mới (Canada), Văn Lang, Thế Kỷ 21, Hợp Lưu, Văn Học ở hải ngoại.

Hiện định cư tại Hoa Kỳ.














Sách đã xuất bản





Nghệ Thuật Tạo Hình Dân Gian Việt Nam 
(1993), Hồng Lĩnh.







Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam 
(1995), Thanh Văn.







Mấy Nẻo Đường Của Nghệ Thuật Và Chữ Nghĩa
(1999), Văn Nghệ.








Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại

(1999), Văn Nghệ.








Mỹ Thuật Việt Nam Ngày Xưa
Văn Mới 2013
















“Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại” Của Huỳnh Hữu Ủy..

Phan Xuân Sinh








ghi nhận

Đây là một quyển sách đồ sộ về hình thức cũng như nội dung, nhận đinh về hội họa và điêu khắc từ khi Việt Nam bắt đầu mở trường Mỹ Thuật Đông Dương tại Hà Nội năm 1924 cho tới nay. Tác giả là Huỳnh Hữu Ủy nhà nghiên cứu hội họa, tên tuổi của ông từ lâu đã gắn liền với hội họa tại Miền Nam trong thời gian đất nước chia cắt. Sau 1975 mặc dù ông không tham gia viết lách nhận định hội họa trên báo chí, nhưng ông đã âm thầm làm việc nầy. Sau khi ra hải ngoại ông tiếp tục con đường của ông đã chọn và ông thanh thản từng bước đi vững chắc, chín chắn nhìn nền hội họa nước nhà một cách sắc bén và theo tôi chỉ có ông mới có thẩm quyền nhận xét về nến Hội Họa Viết Nam vì ròng rã mấy chục năm ông đã nghiên cứu, truy cập, một cách tỉ mỉ. Tôi là một người không biết về hội họa, nhưng khi đọc quyễn sách này tôi bắt đầu thấy say mê, hướng dẫn cho tôi cách nhìn về những tác giả mà tài năng của họ lẫy lừng bấy lâu nay,. cũng như những tên tuổi mà tôi chưa từng nghe thấy.

Để mô tả về sinh hoạt hội họa của Sài Gòn sống trong tự do. Huỳnh Hữu Ủy nhận định như sau: “…Những năm giữa thập niên 1950 kéo dài đến đầu 1960, không khí văn học nghệ thuật ở Sài Gòn như hừng hực những ánh lửa kêu đòi đổi mới, khao khát sáng tạo. Làm mới, làm mới, phải bước qua những trang đời đã quá nhạt nhòa cũ kỹ không còn thể nào chịu nổi nữa. Trước vận hội đầy hứa hẹn của đất nước trẻ trung vừa vươn mình đứng dậy, sức sống sáng tạo thực sự bùng nổ. Sài Gòn đã có những tiếng nói rất mới, đầy âm vang mạnh mẽ và vô cùng thiết tha, ví dụ là những Duy Thanh, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng , Thái Tuấn, Quách Thoại.”(1)

Trong sự khao khát đó, một số nghệ sĩ từ miền Bắc di cư vào họ mang trong lòng một chút phiêu lưu lại gặp một Miền Nam tự do, phóng khoáng, họ hội nhập một cách thoải mái. Tài năng của họ được nở rộ. Họ là những người tiên phong cho nền nghệ thuật nước nhà mang sắc màu đổi mới. Đến giữa thập niên 60 đến 70, theo sau họ là những nghệ sĩ xuất thân từ hai trường Mỹ Thuật Huế và Sài Gòn còn rất trẻ, nô nức và hăm hở hội nhập nhanh chóng vào nền hội họa Việt Nam bắng những bức phá và cải cánh, sắc màu trở nên táo bạo, theo Huỳnh Hữu Ủy: “…phải kể đến những khuôn mặt quy tụ chung quanh nhóm nghệ thuật tiền phong của Sài Gòn là HỘI HỌA SĨ TRẺ VIỆT NAM.”(2)

Từ trong NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI, ta mới biết được lịch sử hội họa Việt Nam, những nghệ sĩ tiếng tăm, những bức tranh làm say mê giới thưởng ngoạn một thời. Những họa sĩ như Duy Thanh, Ngọc Dũng, Tạ Tỵ, Duy Liêm, Thái Tuấn, Ngô Viết Thụ là những cây cổ thụ của hội họa Miền Nam, là những người tiên phong trong ngành hôi họa của Miền Nam còn son trẻ. Chúng ta cũng được biết tên tuổi của Nguyễn Gia Trí, Lê Văn Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Nguyễn Anh, Nguyễn Siêu, Trần Văn Thọ, Tú Duyên, Trần Đắc, Lê Văn Bình, Trọng Nội v.v…những họa sĩ tài danh của hội họa Việt Nam của thời kỳ tiền chiến. Đọc “Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại” ta tường lãm thêm được những khuynh hướng, trào lưu của những họa sĩ đeo đuổi trong sinh hoạt hội họa của họ.

Trước đây chúng ta đã nghe nói về HỘI HỌA SĨ TRỂ VIỆT NAM. Vì chúng ta không sinh hoạt trong hội họa, vì chúng ta ít quan tâm đến hội họa, vì chúng ta đến với hội họa chỉ cởi ngựa xem hoa, nên không biết rỏ về “Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam”. Thì đây, Huỳnh Hữu Ủy cho chúng ta biết về lý do, về sự cần thiết, trong một giai đoạn mà những thao thức, những đòi hỏi, mà hội nầy quy tụ một số họa sĩ tài năng để đưa nền hội họa đến tầm cỡ mà mọi người phải quan tâm:“ Đề cập đến nghệ thuật tạo hình Sài Gòn của những năm 60 và 70 trên bối cảnh chung là tất cả nền nghệ thuật có từ trước cùng với lớp họa sĩ đứng tuổi, kỳ cựu, phải nhắc đến những nghệ sĩ, điêu khắc gia quy tụ chung quanh Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, có thể nhìn nhận họ là những đại biểu đặc sắc nhất của giai đoạn lịch sử mỹ thuật của Sài Gòn và miền Nam trước đây. Góp phần xây dựng nền hội họa hiện đại, chúng ta đã đề cập đến Tạ Tỵ, Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng, và phải kể tiếp theo các tên tuổi như : Cù Nguyễn, Rừng, Nghiêu Đề, Đỗ Quang Em, Nguyễn Trung, Mai Chững, Dương văn Hùng, Trịnh Cung, Nguyễn Phước, Hồ Thành Đức, Nguyễn Lâm, Lê Tài Điển, Nguyên Khai, Hồ Hữu Thủ, Nghy Cao Uyên, Nguyễn Đồng. Đây là những nghệ sĩ trẻ say mê với nghệ thuật có tài hoa bẩm sinh, cộng thêm vào đó là nhiều suy nghĩ, tìm kiếm, những nghiên cứu thấu đáo ngôn ngữ tạo hình của thời đại. Sau vài cộng tác với nhau, đã phát biểu có chất lượng trong nghệ thuật tạo hình, họ cũng tự thấy là cần phải làm việc nhiều hơn, đào sâu kỹ thuật và tư tưởng, tiến về phía quảng đại quần chúng, và nhất là phải biết đặt mình trong tình cảnh của đất nước khổ đau và hùng tráng, để tìm một ngôn ngữ riêng của hội họa Việt Nam. Thái độ đó tỏ rõ rằng họ có một lập trường dân tộc tiến bộ nhưng không hẹp hòi mà cùng lúc cũng đặt mình trong tiếng nói tạo hình chung của nhân loại…”(3)

Hoặc một nhận định hoàn toàn xác thực về “Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam”:

“Hai mươi năm hội họa Miền Nam 1964 – 1975, đó là một chuyển động liền mạch nhưng mang nhiều tính bức phá và bùng nổ, cho nên từ nhóm Sáng Tạo, nền nghệ thuật ấy đã chuyển động mạnh với sự xuất hiện của các khuôn mặt trong nhóm Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam. Chúng ta có thể khẳng định rằng nền nghệ thuật ấy, tuy chỉ ngắn ngủi trong vòng 20 năm, cũng đã thành hình và trở thành một giai đoạn mỹ thuật khá đặc biệt, rất quan trọng trong lịch sử mỹ thuật chung của toàn bộ đất nước”.(4)

Việc làm của Huỳnh Hữu Ủy trong hội họa cũng tương tự như Võ Phiến trong văn chương, ngồi lượm lặt từng tác phẩm, từng tác giả để tạo dựng lại một sinh hoạt văn hóa của Miền Nam từ 1954 đến 1975. Vì tất cả những gì trong 20 năm đó tại Miền Nam, những người thắng trận phương bắc đã xóa sạch không còn gốc tích. Họ chỉ đưa ra những tác phẩm tuyên truyền trong chiến tranh không có một chút nghệ thuật hay văn hóa, vì tất cả thứ nầy dưới sự chỉ đạo của guồng máy cai trị, phụng sự cho chính trị. Khi đặt văn hóa nghệ thuật của Việt Nam trong 20 năm chiến tranh, thì chỉ có Miền Nam sống trong tự do nên văn hóa nghệ thuật mới đúng nghĩa nhất. Thế nhưng tại Việt Nam hiện nay không thể tìm lại những gì đã mất vì đã bị hủy diệt một cách thô bạo sau khi Sài Gòn thất thủ. Công lao của Huỳnh Hữu Ủy và Võ Phiến hiện nay rất to lớn đối với những người sau nầy đi tìm những chứng tích văn hóa nghệ thuật của Miền Nam trong thời chiến tranh. Hai ông đã tìm được tài liệu gần như đầy đủ và tái xây dựng lại một cách hệ thống để người sau dễ dàng trong việc nghiên cứu.

Hội VAALA nơi bảo trợ in tập sách”Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại” của Huỳnh Hữu Ủy có một tham vọng lớn hơn là sẽ in tập sách nầy bằng Anh ngữ, do Trần Thiện Huy (một thành viên của Ban Biên Tập tạp chí Da Màu) lãnh nhiệm vụ dịch thuật. Để giới thiệu nghệ thuật tạo hình Việt Nam với những người ngoại quốc muốn tìm tòi về hội họa. Vì hiện nay trong các thư viện tại Mỹ người ta chỉ thấy sách về hội họa của Hà Nội, giới thiệu về hội họa của họ rất nghèo nàn, thiếu tính nghệ thuật. Tập sách của Huỳnh Hữu Ủy đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu về hội họa đa dạng của Việt Nam. Và cũng để giới thiệu cho giới trẻ Việt Nam biết về hội họa của nước mình một cách tường tận, biết lịch sử hôi họa từ phôi thai cho đến hiện tại.

Lời phát biểu của Ann Phong trong ngày khai mạc phòng tranh tại Houston 21tháng 8 năm 2010 thì đây là quyển sách cần thiết cho những người muốn tìm hiểu về hội họa Miền Nam từ 1954 đến 1975. Trong các thư viện của Mỹ và trên thế giới khi tìm hiểu hội họa Việt Nam, người ta chỉ đọc những sách xuất bản từ Hà Nội và những bức tranh đượm chất tuyên truyền của miền Bắc. Chúng ta không tìm thấy một quyển sách nào đề cập đến nền hội họa của Miền Nam trước đây. Thực chất hội họa miền Nam mới phô bày được tính nghệ thuật, chất lượng, phóng khoáng, tài hoa của người nghệ sĩ và mới đích thực tiêu biểu cho nền hội họa chung của dân tộc. Công lao của Huỳnh Hữu Ủy tìm tòi nghiên cứu gần một đời người về hội họa, thì hội họa miền Nam chiếm một phần rất lớn trong đó.

Việc làm của Huỳnh Hữu Ủy có một sự hy sinh to lớn cho hội họa, mang lại một giá trị vô biên cho hội họa Việt Nam. Công lao của Huỳnh Hữu Ủy đối với các thế hệ sau thật quý giá và đó cũng là công ơn của ông đối với các họa sĩ quá vãng cũng như đương thời mà sự nghiệp của họ sẽ bị mai một, quên lãng nếu không kịp thời được Huỳnh Hữu Ủy ghi lại trong sách. Vì cho đến bây giờ vẫn chưa thấy ai làm chuyện đó. Mà nếu có ai đó làm việc nầy thì cũng không đủ tài liệu, không đủ bằng chứng như Huỳnh Hữu Ủy đã tích lũy mấy chục năm nay. Cho nên chúng ta phải nhìn nhận tập “Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại” có một giá trị to lớn, đã ghi lại các khuynh hướng, các trào lưu hội họa Việt Nam đầy đủ nhất từ khi phôi thai cho đến nay. Giúp cho sự nghiên cứu hội họa Việt Nam sau nầy dễ dàng và chính xác./.












































TƯỞNG NHỚ

HỌA SĨ NGỌC DŨNG


Huỳnh Hữu Ủy


Chân dung Ngọc Dũng
dinhcuong




Trong đời tôi, tôi thấy có một điều may lớn là người nào mà tôi có lòng yêu mến và quý trọng thì trước sau gì cũng được gặp. Có người thì được gặp gỡ và trở thành quen biết lâu dài, có người chỉ được gặp thoáng qua nhưng cũng để lại nhiều ấn tượng đẹp. Họa sĩ Ngọc Dũng là trường hợp thứ nhì ấy. Từ thời niên thiếu, xem tranh của ông, tôi rất thích; rồi đọc một bài viết của Nguyễn Trung trên tạp chí Văn Nghệ khoảng giữa thập niên 60, ghi nhận khuôn mặt, đời sống và thế giới hội họa của Ngọc Dũng, tôi càng hết sức thích thú, và cho mãi tới vài năm gần đây mới tình cờ được gặp. Gặp nhau lần đầu, nhưng đã như rất thân thiết, và cũng đã nói được với nhau nhiều điều. Có lẽ vì bầu khí nghệ thuật của ông đã quá quen thuộc với tôi chăng? Hay phần nào cũng vì dáng vẻ thanh nhã, nhẹ nhàng và điềm đạm của ông càng làm cho tôi thêm nhiều phần yêu mến.
Trước năm 1975, Ngọc Dũng là một khuôn mặt nổi bật của hội họa Sài Gòn, đặc biệt trước thời điểm của sự xuất hiện của nhóm Hội Họa Sĩ Trẻ. Từ năm 1953, ở Hà Nội, ông đã bày tranh chung với Duy Thanh, nhưng sau khi di cư vào Nam, ông mới thực sự nổi bật. Đề cập tới nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại thì nhất định phải đề cập đến các nhà điêu khắc và họa sĩ của Sài Gòn của 20 năm 1954-1975. Mà đề cập đến nghệ thuật hiện đại của Sài Gòn thì không thể nào không nhắc đến ba khuôn mặt Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, những người nghệ sĩ di cư ấy, quy tụ chung quanh nhóm Sáng Tạo, đã góp nhiều phần làm mới nền nghệ thuật hiện đại của đất nước. Cái mới của họ vốn đã tiềm tàng từ đất Bắc, nhưng trong đợt sóng di cư vào Nam, trong một tình hình hết sức mới mẻ, có lẽ cái dục dã, thúc đẩy của lịch sử đã đưa họ đến những cách phát biểu mới, phù hợp với đòi hỏi của tình thế và thời đại mới. Dĩ nhiên, nói rằng nghệ thuật của họ mới mẻ, có nghĩa là phải nhìn họ trong tình hình của gần nửa thế kỷ trước để xem xét những vận động đổi mới của họ như thế nào đối với nền nghệ thuật của đất nước, chứ không thể đứng trong thời điểm hiện nay mà nói thế này, thế khác được. Cũng tựa như ngày nay, đọc thơ Thanh Tâm Tuyền chẳng thấy gì lạ, nhưng lúc bấy giờ thì quả là quá lạ lùng, có người thích thú, phấn khích, hạnh phúc trong những cảm hứng thi ca đã hoàn toàn vượt ra thế giới cũ kỹ, quen thuộc trước đây; ngược lại có nhiều người trợn trừng mắt, giận dữ, la ó, phản đối, kết án, miệt thị dữ dội. Ngày nay, xem lại tranh của Ngọc Dũng, Duy Thanh, Thái Tuấn, bút pháp của họ cũng chỉ là dừng ngang mức hậu ấn tượng, hoặc là dã thú, tượng trưng, siêu thực. Nhưng vào thời điểm đó, người xem tranh chỉ mới loanh quanh với cái đẹp từ các tác phẩm được sinh sản từ trường Mỹ Thuật Đông Dương, ổn cố và chải chuốt với nghệ thuật ấn tượng là chủ yếu, thì những người nghệ sĩ ấy đúng là đã mang lại nhiều cái đẹp mới; đáp ứng với yêu cầu đổi mới trong tâm hồn và cảm quan người thưởng ngoạn.
Ngọc Dũng sinh hoạt với nhóm Sáng Tạo và Văn Nghệ rất tích cực, sáng tác mạnh, triễn lãm nhiều lần ở Sài Gòn và vài thành phố lớn khác của miền Nam. Ngọc Dũng là người rất mê vẽ phố, gần như Bùi Xuân Phái với với những băng màu về phố Hà Nội ở miền Bắc. Trong một phòng triễn lãm tranh của ông, ngoài chân dung những thiếu nữ, bóng dáng phụ nữ khỏa thân, khuôn mặt những người bạn, những tĩnh vật thì hầu hết đều là tranh về phố. Không chỉ là những khu phố lớn ở đô thị, mà cả những ngóc ngách của các xóm lao động, những mái nhà ủ dột, bên những trụ điện đường, dưới những hàng giây điện chăng mắc là một đề tài khá đầy cảm hứng của ông. Đó là cảm giác tôi còn giữ mãi đến ngày nay khi bước vào một phòng tranh của Ngọc Dũng hơn 40 năm trước, bày ở Nha Thông Tin Huế, ngay nơi chân cầu Trường Tiền ánh bạc bắc qua dòng sông thơm tĩnh lặng và êm đềm.
Nói đến tranh phố của Ngọc Dũng là nói đến một thế giới rất phố của riêng Ngọc Dũng, cũng như nói đến tranh phố Hà Nội của Bùi Xuân Phái thì phải nói đến "phố Phái" như chữ dùng của Nguyễn Tuân. Hà Nội phố vốn đã là một biểu hiện văn hóa, nhưng Hà Nội phố qua mắt nhìn Bùi Xuân Phái thì đã trở nên một biểu hiện văn hóa khác của một nghệ sĩ lớn của đất nước thời hiện đại. Trở lại với những khu phố, những xóm nhà của Ngọc Dũng cũng vậy. Nơi những hẽm phố của Ngọc Dũng, chúng ta thường gặp những tảng màu hơi tối, mà ngay cả những màu tươi sáng cũng dường như đã trầm xuống khá kín đáo,, và những đường nét biểu hiện, đôi lúc hoang dại một chút, tự nó đã phô ra một thế giới đầy sinh động và thường ít khi có con người xuất hiện ở đây. Bút pháp hoàn toàn khác hẳng Bernard Buffet, nhưng ở điểm vắng bóng con người thì rất giống nhà danh họa này. Nhà cửa, ngõ hẽm, trụ điện đường, một vài bóng cây tự nó đã có tiếng nói linh hoạt riêng, không cần viện đến sự có mặt của con người. Ở tranh tĩnh vật của Ngọc Dũng cũng vậy; tĩnh vật của Ngọc Dũng là thế giới riêng hoàn toàn của ông. Bình hoa trên cái bàn vuông trải chiếc khăn ca-rô, mấy bông hoa cắm vượt thoát cao một chút, ấm nước và lò lửa để trên nền nhà gần chân bàn, đấy là đề tài một bức tĩnh vật của Ngọc Dũng. Cái thế giới ấy gọi là "tĩnh vật" nhưng chẳng tĩnh chút nào, trong cái im lặng có run rẩy, xao động, như hòa hợp cả hai mặt đối lập ấy để tạo nên một không khí thơ mộng biết chừng nào. Những đường cong chấm phá và vài nét thẳng thoải mái, giản dị, màu sắc êm dịu, nồng ấm, ngã sáng xám, gợn lên màu đỏ ẩn chìm. Ánh sáng bên ngoài không tác động chút nào lên tấm tranh là điều kiện cơ bản để dựng nên một bầu khí riêng. Và những thiếu nữ của Ngọc Dũng cũng vậy, dáng dấp mảnh mai, cổ hơi cao nhưng rất quân bình, hòa hợp. Những thiếu nữ Việt trang nhã ấm cúng và kín đáo ấy đã một thời chinh phục biết bao nhiêu tâm hồn yêu cái đẹp, đến với hội họa Ngọc Dũng.
Năm 1954, theo các làn sóng di cư, Ngọc Dũng đi về phương Nam, lập nghiệp ở Sài Gòn, đóng một vai trò đặc biệt trong nền nghệ thuật mới của đất nước, góp nhiều công trình tim óc, những tác phẩm đẹp mà hẳn nhiên là trong ký ức của những người yêu thích nghệ thuật vẫn còn lưu giữ những hình ảnh độc đáo và sáng tạo ấy. Năm 1975 Ngọc Dũng lại phải di cư một lần nữa,lần này xa hơn nhiều, xa đến nửa vòng trái đất, và định cư ở Mỹ. Người ta tưởng rằng Ngọc Dũng sẽ làm được việc nhiều trong tình thế mới,bởi vì rất rõ ràng trên vùng đất đai rộng lớn mênh mông này, từ nghệ thựat cổ điển đến các hình thức hiện đại nhất của nhânlọai đều có cơ hội phát triễn và nói tiếng nói của riêng mình. Hơn thế nữa, những trung tâm nghệ thuật lớn của „u châu dường như cũng đã chuyển về đây, để tạo nên một vẻ mặt mới cho nền nghệ thuật hiện đại. Có lợi thế rất đặc biệt ấy, mặt khác, những người nghệ sĩ di dân cũng phải đối đầu với nhiều cam go ác liệt của đời sống công nghiệp nơi đây, và hẳn nhiên là không dễ gì vượt qua nổi. Nhiều người họa sĩ đã phải bỏ nghề mà mưu sinh tồn tại, làm những công việc chẳng dính líu chút gì đến nghiệp dĩ và giấc mộng tinh thần của mình. Đó chính là trường hợp của Ngọc Dũng. Trong 25 năm sống đời di dân dường như ông chẳng còn làm việc gì được nữa.. Chỉ thỉnh thoảng mới có vài phác thảo, ký họa vẽ chơi cho đỡ nhớ. Vài năm gần đây, chúng ta mới được xem vài nét phóng bút của ông, vẽ nhanh bằng mực tàu, in trên vài tạp chí văn nghệ quen thuộc như Văn, Văn Học, Tạp chí Thơ, Thế Kỷ 21 rất tài hoa, thanh nhã, đôi lúc cho ta thấy được sự chín muồi của một cây cọ qua sự chín chắn của tư tưởng, cuộc đời và sự nhuần nhuyễn của bàn tay chủ động. Gần đây, nghe nói ông đang chuẩn bị vẽ lại, ông có vẻ hào hứng vì các bạn thân của ông là Thái Tuấn và Duy Thanh đã vẽ lại và thực hiện được những cuộc triển lãm đáng chú ý. Vừa được tin tức như vậy về Ngọc Dũng, thì bất thần tin buồn lại đến quá đột ngột, ông đã từ biệt chúng ta vào thượng tuần tháng Bảy vừa qua.
Họa sĩ Ngọc Dũng qua đời trong sự thương tiếc, yêu mến của bạn hữu và tất cả những ai yêu thích nghệ thuật, nặng lòng với đời sống văn hóa của dân tộc. Nhật báo Người Việt, cơ quan ngôn luận hàng đầu của người Việt trên khắp thế giới, loan tin ông qua đời ngay nơi trang nhất, lại ngay chính nơi mục bình luận của hàng ngày của tờ nhật báo này. Đó là một thái độ trân trọng đúng mức đối với một nghệ sĩ, một nhà hoạt động nghệ thuật đã có nhiều cống hiến đặc biệt. Họa sĩ Ngọc Dũng qua đời cũng là một mất mát lớn không bù đấp được đối với tất cả những ai yêu thích mỹ thuật, bởi vì rất rõ ràng ông đã có những hứa hẹn đẹp đẽ trong nhiều ngày tới thì lại bất thần ra đi. Chúng ta nhớ tiếc người nghệ sĩ ấy với lòng biết ơn vì đã được thừa hưởng nhiều di sản tinh thần của ông để lại.


HUỲNH HỮU ỦY
Tháng Tám, 2000
Nguồn: http://vanmagazine.saigonline.com











Huỳnh Hữu Ủy & họa sĩ Lương Văn Tỷ



















Trở về










Danh Sách Tác Giả

Chân Dung Văn Nghệ Sĩ
Emprunt Empreinte








MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.