Saturday, 1 April 2017

Bút Ký Nam Dao: Những Con Người



















Nam Dao

Những Con Người
Bút ký





Tựa


Những bài bút ký này viết ra là để trả nợ. Tôi nợ những người đã nằm xuống. Những Nguyễn Tuân, Văn Cao, Trần Dần, Phùng Cung. Những Hoàng Cầm, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng. Rồi Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn… Từ tình cờ nhân duyên trên những nẻo đường luân lạc, tôi được gặp họ, những nhà thơ nhà văn, và từ họ tôi cảm được chẳng chỉ sự truân chuyên của nghiệp viết mà còn nhận ra cái trách nhiệm của những con chữ có nghĩa, và nhất là những con chữ mang khả năng chuyên chở tương lai. 

Tôi, và Chúng Ta, đều mắc nợ tương lai. Tức là, mắc nợ những thế hệ đến sau, những kẻ kế thừa hiện tại, những kẻ phải thay đổi hiện tại để xây dựng một tương lai khác đi trong dòng tiến hóa sinh động của những xã hội có sức sống. Tôi nợ tuổi trẻ, và để trả nợ, tôi không có cách gì khác là gọi lên con người từ những bóng ma, mong sao quá khứ thành những hòn đá tảng ta dẫm chân vào để tiến đến một tương lai tốt hơn, đẹp hơn. 

Tập bút ký này tái bản, và một số bài thành lời kính viếng những kẻ đã thành những người muôn năm cũ. Hồn họ ở đâu bây giờ? Xin trả lời: ở trong nếp văn hoá mà họ đã sắn tay động não xây dựng, với chân, thiện, mỹ, và bằng mồ hôi nước mắt của những cuộc đời sóng to gió cả.





Cùng một tác giả


Ghềnh V, NXB Hội Nhà Văn và Phương Nam Book, 2013.
Vu Quy, NXB Hội Nhà Văn và Phương Nam Book, 2013.
Cõi Tình & Vu Quy, tiểu thuyết, Văn Mới, California 2009.
Trăng Nguyên Sơ, tiểu thuyết, 240 tr, NXB Lao Động và Trung Tâm Văn Hóa Đông Tây, 2008.
Bể Dâu (tiểu thuyết lịch sử ), 2 tập, 991 tr, NXB Văn Mới, California, 2007. Tái bản NguoiViet Book, California, 2015
Những con người, những bóng ma, bút ký, 250 tr,NXB Văn Mới, California , 2006.
L’écho du gong, edition Aube, France, 2006.
Trăng thuê ảo ảnh, (tập truyện), 190 tr, Nhà XB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2004.
Đất Trời (tiểu thuyết lịch sử), 420 tr, Văn Mới, California, 2002. Tái bản, 404 tr, NXB Đà Nẵng, Việt Nam, 2007. Tái bản NguoiViet Book, California, 2015
Khoảng chơi vơi ( Truyện và Ký ), 242 tr, ThiVan, 2001.
Trong buốt pha lê (Tập Truyện), 219 tr, ThiVan, 2001.
Ba vở kịch, 232 tr, ThiVan, 2000.
Tiếng Cồng ( tiểu thuyết), 182 tr, ThiVan, 2000.
Gió Lửa (tiểu thuyết lịch sử), 493 tr, ThiVan, 1999. Tái bản NguoiViet Book, California, 2015



















Mục Lục

Những Con Người 




Bác Nguyễn (Nguyễn Tuân) 11

Những con voi không đẻ được (Văn Cao) 33

Xổ bụi (Trần Dần) 41

Nhớ Phái (Bùi Xuân Phái) 79

Đỉnh ảo, một đời thơ (Bùi Giáng) 89

Phùng Cung, thơ và người 105

Trịnh Công Sơn như cánh vạc bay 121

Ngỡ ngàng nước đục bụi trong (Trịnh Công Sơn) 129

Một vị thuốc đắng, một vị thơ (Hoàng Cầm) 139

Gấu chợ (Lê Đạt) 165

Trăn trở và nỗi niềm (Cao Xuân Hạo) 187

Hình như có điều gì (Nguyễn Mộng Giác) 199

Về quê (Nguyễn Xuân Hoàng) 209

Thương tiếc người chăn kiến (Bùi Ngọc Tấn) 215

Chớm xuân, nhớ về Bến Lạ (Đặng Đình Hưng) 221

Tưởng nhớ Võ Phiến ngày vượt ngưỡng hư vô 227

49 ngày Dương Nghiễm Mậu 235

Nhớ Nguyễn Quang Thân, Kẻ thẳng người mà đi 245

Hà Nội trong mắt một người mù (Trần Văn Thủy) 257









Bác Nguyễn


1

Chợp mắt, đã đâu đó đúng 18 năm, thưa bác. Đấy là kể từ cái ngày bác nhắm mắt, và thôi chẳng mở ra một lần để tiếp tục nhìn gió. Và cát. Và những hạt bụi một thời. Những hạt bụi bay vào làm cộm mắt, nước chảy, cứ như khóc, tay đưa lên quệt cho nó chảy vào trong theo kiểu nói của Văn Cao. Nuốt nước mắt, a cái ngôn ngữ tuyệt vời ông cha để lại. Nhưng Giời ơi, ai lại khéo dư nước mắt, thưa bác! Ấy thế mà khi nghe cái tin bác lẳng lặng ra đi, kẻ tiểu tử này, theo cung cách xưa, cũng đã ngậm ngùi rơi lệ. Vào một cái quán rượu trên Avenue du Parc ở Montreal, hắn ngồi một mình, uống liên miên, rồi động lòng khóc hu hu trong một cái góc khuất. Cho đến nay, hắn vẫn còn tự hỏi, hắn khóc cho một người tài hoa  vừa vượt cái biên hữu hạn, di tản khỏi cuộc thế chẳng mấy vui, hay hắn khóc vì thương thân mình? Hắn nghĩ đến Một trăm cách cười rất Nguyễn Tuân, kê giấy viết thành một trăm cách khóc. Thưa bác, tiểu tử này đã tìm ra đủ số trăm để phúng viếng. Khóc rưng  rức,  tỉ tê, tức tưởi, khóc trong lòng, khóc ủ ê, ti tỉ, rấm rứt, i ỉ, ấm ức, khóc gào, khóc toáng, khóc thét...Nhưng thảm nhất, là khóc như cười. Thanh âm ằng ặc, như bị chẹn họng khiến khóc thành cười, không mấy ai phân biệt được trừ người khóc. 
  

2

Thuở thiếu thời, tôi đã biết bác Nguyễn không chỉ qua Vang Bóng Một Thời, Mái Tóc Chị Hoài, hay Chùa Đàn, mà còn những dịp cha hoặc mẹ nuôi tôi chuyện trò nhắc lại dăm ba kỷ niệm có cái tên nghe rất xa xôi là kỷ niệm ngoài Bắc của đám Bắc Kỳ di cư 54. Cha nuôi tôi, vốn là bạn thân bác Nguyễn, kể  ‘’... bác ấy dẫn mẹ mày đi bắt tao ở chỗ hút thuốc phiện, nhưng đứng trốn đằng xa. Khi tao biết, tao chỉ tay bảo, lần sau thì ông giết mày, bác ấy chỉ cười hề hề!’’. Còn mẹ nuôi tôi, là chị dâu của bà giáo Thảo, tức Bồ phu nhân, và chính là chị Hoài có mái tóc đi vào văn học sử qua cái ngòi bút chao ôi đến là tài tình của bác Nguyễn. Phu nhân khiến tôi không hiểu sao cứ mường tượng ra Dương Quí Phi, cao lớn nhưng thướt tha, răng đen chứ không chịu cạo trắng mặc dầu rất tân thời, và có cái cười má lúm đồng tiền nghiêng thành đổ nước. Dĩ nhiên, ai mà biết được mặt giai nhân trong huyền thoại, rồi thành có đổ nước có nghiêng thì cũng vì các vị tu mi chẳng qua là loại anh hùng bất quá mỹ nhân quan. Ôi, tôi dễ thông cảm, và vô cùng thông cảm các vị. Tôi không anh hùng mà cũng thế!
  Về Sài Gòn sau 14 năm xa cách, tôi sao vẫn thấy có điều gì hình như là thê lương mặc dầu nắng vẫn thế, nóng rừng rực, ập xuống từ trời cao và xanh. Ngay cả với những người ruột thịt, một khoảng cách vô hình nào đó ngăn không cho vượt qua. Đứa con đi hoang trở về như đứa  a tòng với những kẻ chiến thắng, buộc một thành phố vào cái cảnh bị chiếm đóng,  tà áo dài đủ mầu đủ sắc thướt tha vờn gió mới ngày nào đâm phạm tội Mỹ-Ngụy và nay được thay bằng đồ bộ, áo ngắn trắng quần bà ba đen, đồng phục một thời hộ khẩu thành nếp mới với sổ gạo, sổ đường... và những buổi họp lúc tối trời với ủy ban nhân dân phường để nghe phổ biến chính sách xây dựng xã hội XHCN. Bây giờ, làm thế nào đây để lấp cái khoảng cách kia? Nghe và hùa theo những than vãn? Vô ích, đã không thay  đổi được gì mà e chừng có ngày còn vạ miệng! Vả lại, đó là những ngày đầu một cuộc đổi đời, chiến tranh đã chấm dứt, chính mình đây cũng đang mơ một bình minh tươi đẹp, đặt bước trở lại quê hương là mong góp tay vào xây dựng lại, không thể nâng tầm những sự ma xát giao thời lên mức sống còn. Nhưng phải chinh phục lại tình ruột thịt máu mủ thôi. Hãy bắt đầu bằng biến mọi sự thể giao thời thành chuyện tiếu lâm. Và tôi đã chọc cười, mua vui, làm cho ai nấy thấy nhẹ đi. Và mong là hiểu dẫu tôi không  nói nên lời, tôi đâu có được  là tên VC đeo trên cành đu đủ nhe răng ra cắn cấu cuộc đời. 
  Những người thân bị cái cười chặn lại, không nói được cái chuyện độc nhất ám ảnh là ra đi. Ông anh con chú con bác với tôi có lẽ được nhắn nhủ, yêu cầu cho nói chuyện riêng, chuyện đứng đắn. Anh rủ tôi lên sân thượng. Nhìn qua phía bên kia là nhà ga xe lửa trước khi bị phá đi để xây công viên hiện nay, anh thình lình ôm lấy tôi khóc rú lên, nghẹn ngào ‘’ ...chú ơi, chú làm sao thì làm, mang gia đình đi đi, báo hiếu ông bà...’’. À, chuyện đứng đắn là thế. Tôi đẩy nhẹ anh ra, nhìn vào cái mặt mếu máo nhưng trên không có giọt nước mắt nào. Muốn cười, nhưng tôi không cười được, chỉ ngại ngùng nói nhỏ, nhưng nói thật,  ‘’...thưa anh, em có quyền hành gì đâu!’’. Nhưng thật kỳ lạ, một người duy nhất hiểu được tấm lòng tôi là một người đàn bà. Bà ít, hay  có thể chưa bao giờ, cắp sách đến trường. Nhưng bà có một trí nhớ tuyệt vời, thơ văn thuộc làu làu, chẳng phải thơ cổ thời cụ Chu Mạnh Trinh vốn là hàng ông phía bên ngoại của bà, mà cả thơ tiền chiến, nào Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Đoàn Phú Tứ...Bà là mẹ nuôi tôi, tính khí rất ‘’ đàn ông’’, góp chuyện ngang hàng với đám tao nhân mặc khách của cha nuôi tôi,  nên học kiểu truyền khẩu rất nhiều, và vanh vách kể những thứ giai thoại làng văn chỉ  người trong ‘’cuộc’’ mới biết. Trong khi cha nuôi tôi cứ nắm tay tôi cấu, cái cấu vừa có niềm bực dọc nhưng lại đầy xót thương, và dặn tôi phải cẩn thận thì bà lẳng lặng quan sát, và một hôm, thình lình bà nói lớn, ‘’ tao hiểu mày rồi!’’. Hiểu thế nào, tôi đang ngơ ngẩn, thì bà phá lên cười, cái cười có chất đồng bóng, tiếp ‘’... con ạ! Mày là cái thằng Kiều Phong  ấy mà’’ . Ơ, Kiều Phong, hắn là ai? Tôi hỏi, bà đáp, thì cái thằng rợ trong Lục Mạch Thần Kiếm ấy mà! Phải nói khi ấy kiến thức ‘’chưởng’’ tôi chẳng có gì, và vài năm sau tôi mới biết Kiều Phong họ Tiêu, con Tiêu Viễn Sơn, người cao lớn, râu rậm, võ giỏi nhưng nhân hậu, chết vì đứng làm con đệm hòa giải giữa võ lâm Trung Thổ và các hiệp khách gốc Khất Đan. Tôi nhỏ con, vốn là nhát, không có (hay nói cho sang, ít) râu, chưa muốn chết nên chỉ xin hai chữ nhân hậu, nhưng thế mới khó, nhận chỉ sợ  mình lại hợm mình.
  Ở Sài Gòn được vài ngày, Kiều Phong đi Hà Nội dự Hội Nghị Toán Học Toàn Quốc năm 1977, và trước khi lên đường thì cha mẹ nuôi đã sửa soạn một gói quà nhỏ, dặn con đến thăm hai bác hộ chúng tao. Cha nuôi tôi viết vài chữ cho Nguyễn Tuân, thì cũng lại những nhung nhớ, những kỷ niệm...Phần tôi, có cái gì như một vinh hạnh. Chưởng tôi chưa đọc, nhưng văn bác Nguyễn vừa ngông nghênh, vừa tài tử, lại vừa nhuốm mùi khinh bạc thì Kiều Phong đã thưởng ngoạn  rồi.
3

      Hà Nội vào độ nồm, oi ả khó mà tưởng tượng được. Trời hầm hập chĩu hơi, nặng như xà xuống, đe dọa. Mùa bão, nhác nhìn những con chim, con người không có cái tinh nhậy của loài lông vũ ngước mắt lo lắng đợi giông gió. Rồi bão ập về. Cây đổ. Ngói bay. Tất cả tớn tác. Đấy, lầu đầu tôi về Hà Nội là vậy. Và cũng là lần đầu tôi tiếp xúc với một xã hội phe XHCN, với nhiều háo hức, và cũng không ít âu lo. 
      Một buổi tối, sau công việc, tôi nhờ một người anh họ đèo xe đưa tôi đến nhà Nguyễn Tuân  trên phố Trần Hưng Đạo. Chỉ vài ngày, tôi đã không còn lạ chuyện phải cúp điện, cái nghèo, và sự tất bật với miếng ăn ở Hà Nội tem phiếu. Hà Nội ta xơ xác, vì Hà Nội ta  đánh Mỹ giỏi, tựa một bài phiếm ký của bác Nguyễn trong những ngày chiến tranh ác liệt. Thế cho nên tôi lần mò trong bóng tối leo hai nhịp cầu thang lên nhà bác như một sự rất bình thường. Và hồi hộp gõ cửa. Tiếng dép nhựa quét sèn xẹt trên đá lát, rồi tiếng hỏi ai đấy, thanh âm đèo thời gian mà thanh xuân ở phía đằng sau. Tôi xưng lai lịch, nói rằng có quà miền Nam,  nhìn qua cánh cửa vừa hé ra. Nguyễn Tuân đầu bạc, tóc dài chấm đến gần vai, râu lún phún, mắt hấp háy sau cặp kiếng lão, tay dang ra mời vào rồi thủng thỉnh bước. 
  Tay gạt gói quà sang một bên, bác Nguyễn  mở bức thư cha nuôi tôi,   đọc chăm chú như  không có khách. Rồi bác im lặng châm trà. Lát sau, bác hỏi, giọng trầm như đặc lại, ông Nguyên bà Thống khoẻ mạnh cả chứ. Tôi gật, dạ thưa bác, bố mẹ cháu vẫn thường. Đẩy hai chén nước trà về phía chúng tôi, bác nhìn ông anh họ tôi, trầm ngâm rồi thốt lên, nhà Nước nên để cho hai ông bà ấy đi ngoại quốc đoàn tụ với con cái chứ giữ ở Sài Gòn làm gì. Câu nói bất ngờ khiến tôi ngạc nhiên, chưa biết ứng xử thế nào, lúng búng :
  - Thưa bác, cháu có nghe...
Chưa dứt lời, bác Nguyễn dơ tay lên chặn, buông thõng :
  - Tôi với anh chẳng họ hàng hang hốc, có gì mà bác với cháu!
Tôi điếng người. Kiều Phong bị lão quái đánh một chưởng đỡ không đặng, ngực tức, hơi thở ngưng ở đan điền, máu nóng dồn lên mà không thổ ra được, huyệt Bách Hội như có kiến bò vào đốt lấy đốt để. Vận khí, tay bắt quyết Bình Tĩnh, tôi mặc ông anh họ cũng choáng người vì  sức ép của chưởng phong đang... thưa với bác, em nó là người dưới, xưng hô thế là...vân vân. Được, tiểu tử đây tuổi mới ngoại tam tuần, xưa nay đi không đổi họ, đến chẳng  giấu tên, mặt mũi dẫu có khó coi nhưng đâu có mang cái tạng yêu cho roi cho vọt  mà lão quái xuất chưởng Đoạn Tình như vậy. Một lời nói ra, tứ mã nan truy, bốn con ngựa cũng chịu, theo không kịp nữa là. Tay thò ra phía sau, tôi kín đáo bấm vào huyệt Ngọc Chẫm, hít hơi theo thủ pháp Cửu Âm Chân Kinh (sau này luyện sách Kim Dung tôi mới tìm thấy tên), từng bước điều hoà kinh mạch, sửa soạn thế phản công. Nhỏ nhẹ, tôi hỏi :
  - Thưa...cụ, cụ vẫn viết lách đều chứ ạ!
 
Lão quái gật gù, ờ thì vẫn viết! Mượn đà, tôi vuốt gió phẩy chỉ phong, giả như vô tình, hỏi,  nghe đâu như nhà văn ở đây đều được  nhà Nước trả lương cho viết, phải không ạ? Lão quái gật gù, ờ có thế! Tôi xuỵt xoạt bỏ nhỏ, cái lịch sử nước ta nó kinh hoàng và thương đau loại hạng nhất thế giới, chất liệu văn chương đầy rẫy...Lão quái gật gù, giọng trưởng thượng, đúng đấy! A, thế này thì vào thế rồi. Không ngần ngừ, tôi thình lình vận 10 thành công lực, phát :
  - Được nhân dân nuôi cho ăn cho viết, thế bao giờ cụ đoạt giải Nobel cho đất nước này có chút mặt mũi trên văn đàn thế giới? Không viết mà chỉ lách thì hy vọng gì?
Chuyện viết và lách, tôi học được từ cái giai thoại sau. Trong một buổi họp của Hội Nhà Văn, thủ tướng Phạm Văn Đồng hỏi bác Nguyễn, dạo này có viết lách gì không? Bác đáp, viết khó vì phải lách, mà lách thì lại khó, khó lắm.  Bác ngước mắt nhìn tôi, vẻ như bảo, đúng là trẻ con. Thế thì tôi  phải bồi thêm Loạn Đả chưởng thôi, vận chỉ lực điểm:
  - Giá mà cái Chùa Đàn của cụ không phải kèm vào mấy chục trang bắt anh chàng nghệ sĩ giác ngộ cách mạng thì chẳng biết chừng là có giải cũng nên...
Nghe câu tôi nói, bác Nguyễn hình như tái mặt, ngả người ra dựa vào lưng ghế.  Lát sau, bác chậm rãi :
-  Nói dễ, nhưng muốn làm được...khó lắm!
  Đáp đòn Đoạn Tình của bác, tôi, con ngựa non háu đá thỏa mãn, hít hơi rồi lịch sự kiếu về nhưng bác Nguyễn giữ lại. Lôi trong tủ chè một chai Johnny Walker đã vơi ra, bác bảo, uống một tí đã. Thế rồi bác thò tay mò cái gầm bàn khách, lấy hai cái ly chạm bạc ra, để một trước mặt tôi, một trước mặt bác, coi ông anh họ tôi như không có đấy. Bác lẳng lặng rót rượu, thầm thì :
  - Nhuận bút cho Phở đấy. Ở Liên Xô họ dịch tùy bút Phở, khi  mình qua  thì họ định trả bằng rúp, nhưng mình bảo, rúp không lấy mà rượu thì lấy, hà hà..
Nhìn bác, quả là chướng. Tội nghiệp cho ông anh họ, lúng túng chẳng  biết cư xử thế nào, ngượng ngập nói mình kiêng không uống được rượu. Lão quái lại thản nhiên gật gù. Khinh bạc đến thế thì ... tôi phải đối phó. Đẩy chén rượu đến trước mặt ông anh, tôi bảo, anh thử đi, rượu Tây đấy. Thế rồi chúng tôi im lặng. Và xin kiếu.
  
Xuống đến dưới nhà, chúng tôi dắt xe men ngõ ra đường. Ngõ khá sâu, có lẽ đến 2 trăm thước, đèn đóm tối om. Tôi ngước lên nhìn. Tầng ba, trên lan can, bác Nguyễn ra đứng nhìn theo cho đến khi chúng tôi đi khuất. Chính cái hình ảnh ấy làm tôi mủi lòng, và thú thật, có chút ân hận trong cách hành xử của mình. Về Sài Gòn, tôi kể lại cho cha mẹ nuôi tôi  nghe, cố biến chuyện gặp bác Nguyễn  thành một chuyện vui, nhưng khá gượng gạo. Cha nuôi tôi bảo, từ ngày xửa ngày xưa, lúc nào bác ấy cũng làm dáng lập dị. Nhưng còn con, mày ăn nói thế thì ác miệng quá, con ạ!

4

  Cũng phải đến 4 năm sau tôi mới lại gặp lại bác Nguyễn. Trước đấy, tôi có về Hà Nội, nhưng ngại gặp bác. Một phần, tôi hơi xấu hổ vì cư xử có gì như quá mức, một phần tôi cứ sợ như trong Hương Cuội, bác là kẹo mạch nha cuộn quanh hòn cuội trắng, ngọt ngào tài hoa đấy nhưng vô ý cắn vào là có thể gẫy răng như chơi. Đầu đông năm 81, tôi ở khách sạn Hoàn Kiếm. Sáng  sớm một ngày Chủ Nhật, cô tiếp viên gọi lên phòng báo có người đến tìm. Ai dấy cô? A, tiếng cười khúc khích, tìm anh thì chỉ các cô, có cái cô nào ấy, tóc búi cao... Ấy ư, thật à, và tôi vuốt tóc chỉnh trang nhan sắc, vội vã đi xuống. Phòng khách chỉ có một ông cụ ngồi quay lưng về phía chút nắng hanh len qua song cửa, mái tóc búi củ hành chóa sắc bạch kim.  Cô tiếp viên lại khúc khích, tay chỉ, người  đẹp đấy! Ô, hóa ra bác Nguyễn. Bác đứng dậy, tươi cười, về đây sao  không  đến thăm mình, hả? Lúng túng, tôi đáp, thưa...Không nhẽ lại xưng cháu? Thế là tôi  bỏ lửng, thành ba cái chấm... trống không. Tôi hỏi thăm, dạo này ...Gọi bác bằng gì đây. Bác? Cụ? Thôi, cứ để bác Nguyễn  cũng thành ba cái chấm, như tôi, nghĩa là ...trống không, chứ lỡ miệng lại có thể bị thêm một chưởng, lần này Kiều Phong đã nhụt chí đấu tranh, chắc chỉ còn ngậm bồ hòn làm ngọt!  
  Bác rủ, đi ăn bánh cuốn với mình. Thế là một già một trẻ khệnh khạng bước như hai kẻ nhàn du, một lát sau thì đến phố Yết Kiêu, ngay dưới nhà Văn Cao. Bác Nguyễn chào bà hàng, nheo mắt, khủng khỉnh, bà cho hai suất, như lệ thường. Không hỏi, bà hàng cười, đẩy đến trước mặt chúng tôi hai cái ly nhỏ, rút gầm bàn một cút rượu trắng, vừa rót vừa nói, thưa cụ cứ xem rượu sủi tăm thì biết, rượu chào khách đấy. Bác Nguyễn cười, râu mép bần bật thứ thanh âm khô mà ấm một lời cám ơn. Bà hàng đổ bánh, hỏi, cậu đây người ở đâu? Tôi chưa kịp đáp thì bác Nguyễn bảo, bên Tây đấy, tận Canada. Bà hàng hấp háy nhìn tôi từ đầu chí chân, ngỡ ngàng, thôi cụ đừng lỡm nhà cháu, Tây gì mà đi dép Bình Trị Thiên, lại mặc cái áo zết bộ đội thế này? Bác Nguyễn phá lên cười sằng sặc, đáp với giọng giễu cợt, thì về đây phải nhập gia tùy tục, ăn vận như thế mới Hà Nội mình chứ. Mà này, bác tiếp, thế nhưng cũng biết nước mắm ăn bánh cuốn mà không có cà cuống là không đậm đà bản sắc dân tộc, vậy xin bà mỗi chén một giọt cho nó thơm. Ở đây, tả cái ngon của bánh cuốn nhân thịt nóng hôi hổi chấm với nước mắm có bột ngọt chấm đầu cây tăm và giọt cà cuống thứ thật chứ không là cà cuống hóa học Thái Lan, tôi xin để hai ông Thạch Lam và Vũ Bằng làm hộ. Tôi chỉ nhắc, hình như lời của cụ Tản Đà,  ăn muốn ngon thì người cùng ngồi ăn cũng phải thế nào mới ngon. Như thế, chắc là tôi không bao giờ quên bữa điểm tâm sáng này. Ăn xong, bác Nguyễn lại chỉ cút rượu, cười khà khà, uống cho nó sạch miệng. Khi đứng dậy, tôi xin phép bác rồi thò tay móc túi. Bác trừng mắt, cái này để tôi,  tôi mời...Rồi bác thủng thỉnh, xách cái can lên, ngoái bảo bà hàng, bà ghi sổ cho, như lệ thường. 
  Chúng tôi lên nhà Văn Cao. Lại uống. Bác Nguyễn nói, chính Văn cao báo bác tôi về đây tuần trước. Thật kẹt. Với người nghệ sĩ đủ ngón cầm kỳ thi họa này tôi cứ anh anh em em. Bác Nguyễn ở đấy, xưng hô thế nào cho tiện. Thế là chúng tôi tiếp tục là ... trống không lơ lửng. Khi về, tôi ngại ngùng nói về chuyện xưng hô và hai chén rượu với ba người 4 năm về trước. Bác cười hóm hỉnh, gọi tôi là ông và xưng tôi, bảo, tôi là bạn với bố ông còn được nữa là làm bạn với ông!
  Còn chuyện không mời ông anh họ tôi uống rượu thì bác cười ngặt nghẽo :
  - Cái anh chàng đó mình gập ở Mạc Tư Khoa thời Liên Xô họ mời, làm cố vấn thứ nhất cho Sứ Quán, cứ xoa chân bóp tay nhưng lại bắt ne bắt nét mình cho đúng... thể thức ngoại giao. Ngay cái chuyện nhận rượu thay rúp như tiền bản quyền dịch Phở mà cũng khó dễ, đòi gọi đến ông Phạm Văn Đồng để xin phép...
  Bác lại cười. Cái cười tinh quái, nhưng hồn nhiên, chỉ nghịch ngợm! Sau này tôi mới biết uống rượu Tây của bác không dễ. Nghe đâu cũng chỉ vì kéo một đệ tam nhân đến đòi rượu mà không được nên Nguyễn Sáng, một họa sĩ tài danh, không chơi với bác nữa.
5
  Trở thành một thứ tiểu đồng hầu rượu bác Nguyễn có cái thú là nghe bác kể chuyện. Bác dí dỏm, biết ngưng câu chuyện ở đúng chỗ, chờ người nghe vừa đủ nóng ruột là tiếp, nhưng lưng chừng, khiêu dụ, úp mở khiến cả người kể lẫn kẻ nghe nhập cuộc - cái cuộc lên đồng ngôn ngữ bắt buộc ít nhất là có hai tác nhân để phát và thu - và nhất là sau thì cười, cười hể hả, cười đủ một trăm cách Nguyễn Tuân.
  Hà Nội  ta đánh Mỹ giỏi, chắc không?  Tôi đùa cái tít bài bút ký của bác. Nguyễn Tuân khề khà : Chắc quá đi chứ lị. Cái trận gọi là Điện Biên Phủ trên không ấy, loa gọi dân sơ tán. Đi,  đi đi, nó bom  thế này ở lại thì chết. Mình bảo mình, sống thế này đủ quá rồi, đi là phải bỏ những thói hư tật xấu ở lại, như một rượu, như một chè ...và còn cái món thứ  ba (giọng hóm) thì thôi, quen nhịn mất rồi (cười), cho nên mình ở lại. Cứ báo động là mình leo lên nóc nhà trên cao, ôm chai rượu, ngất ngưởng ngắm thành phố đang tối om bỗng sáng lòa, đạn phòng không như pháo bông xanh lè, đỏ rực, thi nhau chớp lên nhoang nhoáng,  chạy đuổi nhau như chửng giỡn thành những vệt quanh co ngoằn ngoèo định mệnh. Trời Hà Nội lúc ấy đẹp, đẹp vô cùng. Tôi nghe đến đấy chặn bác lại, hỏi, thế bác không sợ gì cho thân bác, không nghĩ đến cái chết đang tràn ngập 36 phố phường, B52 chứ có phải chơi đâu, lại nghe có cả bom bi khi nổ bắn ra hàng chục ngàn mảnh. Ôi dào, mặc nó, chuyện nó nổ cứ nổ, chuyện mình ngồi ngắm nó cứ ngắm, duyên phận mà đến thì gặp nhau. Ấy thế mà khi nghe cái đài mình kè kè ở bên cạnh báo bom rơi vào Khâm Thiên thì mình nhói lòng buốt ruột, nhắm mắt lại, và mình nghe tiếng hát của cô Diệp, bà Kim hát những bài hát ả đào một thời  xa xưa. Lạ thật, mình tự hỏi, sao lại đau những cái đã không còn mà dửng dưng trước bao nhiêu điều đang bị hủy hoại đi. Mất và còn. Những điều đáng mất, những điều đáng còn? Ôi chao, sao mà phức tạp đến vậy. Lúc đó, thèm một quả bom rơi ngay vào đầu để khỏi bắt nó nghĩ thêm những điều rối như tơ vò...
  Còn rượu, thưa bác, văn nhân nói chuyện rượu có ông kêu đất say cũng lăn quay ra cười. Bác Nguyễn bắt vào, nhấp môi, ề à :Ờ, tài hoa sinh ra đủ chuyện như ông trời, khi say mặt cũng đỏ gay, ấy là uống rượu ta,  chứ rượu Tây uống đến say thì mặt lại tái nhợt... Để tôi kể cho mà nghe. Thế này, này. Hàng năm, cứ ngày cát-tó-zuy-ê  - có người đùa gọi là ngày cắt tóc phi-dê, tức ngày kỷ niệm Cách Mạng Pháp - là mình được Toà Đại Sứ Pháp trên phố Trần Hưng Đạo gửi cho một cái giấy mời, có lẽ vì rằng mình cũng bi bô dăm ba  câu, kiểu c’est la faute de Voltaire! Cho nó ‘’văn hóa’. Và năm nào cũng vậy, mấy anh công an chặn ngài cổng, đưa giấy mời ra thì các anh ấy làm phận sự lắc đầu, cứ phải vẫy đến khi ông Tùy Viên văn hóa ra bắt tay thì công an Ta mới để Tây dắt mình vào...Merci, c’est bien gentil ! Trong sân tòa Đại Sứ, họ bày ê hề, nào là  thịt nguội, xúc xích, ba tê, phó-mát đủ loại.  Nhưng tuổi mình, ăn không được mấy nên mình cứ sà vào mấy chai vang đỏ, nhấm nháp hết loại này đến loại kia. Cụng ly và nói Vive la révolution - cách mạng muôn năm - thế là mình được lòng cả công chức Tây lẫn công an Ta, cả hai đều vơ hai chữ cách mạng vào cho mình. Năm ngoái,  sợ quá chén, đến khi ngà ngà thì mình ngưng, tự nhủ phải giữ thể thống quốc gia nên thôi cụng ly, thôi hô khẩu hiệu, và khi đi về nhà vẫn còn nói được au revoir, Monsieur l’embassadeur, à l’an prochain. Ấy thế mà  đi được dăm chục thước trên hè phố, vừa đến ngay trước cửa Sở Công An Thành Phố thì mình xây xẩm mặt mày, bèn ngồi thụp xuống bên hè đường. Thế là một anh công an ra hỏi, mình khai chóng mặt có lẽ vừa mới uống rượu Tây và vừa hô cách mạng muôn năm. Anh ta tưởng mình xỏ xiên, gọi thủ trưởng ra giải quyết, nhưng anh này lại biết mình, liền đưa mình về nhà, cũng gần đấy.  Vừa mở cửa, bà nhà mình nói giỗi, say gì mà mặt lại xanh lè tái nhợt thế kia. Mình đáp, rượu đỏ của Tây ngày Cách Mạng Pháp cắt tóc phi-dê, nó thế. Còn rượu Ta trắng tệch trắng toạc, ngày Cách Mạng Ta, uống dẫu đỏ mặt nhưng lại không say được, bà ạ!
Đấy, văn chương truyền khẩu theo thủ pháp đa nghĩa, ám chỉ, và ẩn dụ đâu cứ đợi thời Đổi Mới ‘’cởi trói’’ mới lộ diện trong chốn võ lâm.
6

  Cha mẹ nuôi tôi thế là đi. Qua Pháp, rồi Cali, một cuộc đoàn tụ với những người ở xa. Và chia ly với những người ở lại. Ở cuối đời, thế là hết. Căn hộ xưa phố Tô Hiến Thành ở Hà Nội nay công an quản lý. Di cư, cái nhà hai tầng trong hẻm số 54 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Rồi nay, vượt biên đoàn tụ thì căn nhà trên Phan Kế Bính, ai muốn ở thì ở, có tiếc chăng là bao nhiêu kỷ niệm những độ đổi đời. Gặp đứa con đi hoang, cha mẹ tôi tới tấp hỏi ai còn ai mất, và tất nhiên là có ra thăm bác Nguyễn không. Dạ có, tôi đáp. Bác vẫn khoẻ mạnh. Đưa những bức ảnh ngày tôi ‘’lên xe hoa’’ ra cho cha mẹ nuôi tôi xem, tôi chỉ đây bác Tuân đây này. Cha nuôi tôi nghiêm mặt hỏi ‘’cưới hỏi thế có phép tắc gì không?’’. Tôi thưa, dạ không, cứ làm đại! Ông lắc đầu, bật miệng, hỏng rồi. Đến khi tôi đưa ông đọc bản đề trình của tôi lên Hội Đồng Bộ Trưởng về Ổn Định và Phát Triển Kinh Tế  Việt Nam thì ông bực tức kêu, thế thì hỏng thật, hỏng hết rồi. Sau đó, ông mắng tôi ‘’cái Cộng Sản trong đầu con là thứ do mấy thằng trí thức Tây Âu có truyền thống nhân văn tưởng tượng ra, không có thật, và khác một trời một vực với cái Cộng Sản phương Đông kiểu Mao. Con viết thế này, đề nghị toàn những chuyện động chạm đến cơ sở nền chuyên chính của họ thì làm sao có đứa nào nó ngửi cho được! Hỏng hết rồi con ạ! ’’
  Vâng, hỏng thật. Và không hỏng cũng chẳng được. Có những sự việc tôi chưa bao giờ kể lại cho cha tôi nghe. Chẳng hạn như khi tôi đi ăn mỳ ở Chợ Cũ ở Sài Gòn. Ăn chưa hết, một bầy con nít xô vào tranh mỳ thừa  nước cạn, và tôi về khách sạn, nước mắt ròng ròng, thề rằng sẽ bao giờ cũng đứng về phía những kẻ đói ăn. Chẳng hạn như khi tôi ở Hà Nội, có một người con một vị tai to mặt lớn trong Học Viện Quân Sự đến tỉ tê, cái kho vũ khí Long Bình cướp được của Mỹ để lâu ngày nó hỏng, mà mình không dùng, nhưng biết đâu những nước Trung Đông lại chẳng cần. Anh lại thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, và có cái hộ chiếu Canada muốn đi đâu thì đi... Lắc đầu, tôi làm như không hiểu, lơ đi, ngu ngơ nói chuyện xây đựng một nền kinh tế đa thành phần và những thứ... vân vân ... trên đầu lưỡi bọn ‘’tư sản mại bản’’. Chẳng hạn như khi tôi lên lớp về Kinh Tế cho cán bộ giảng viên của Đại Học trong Thành Phố Hồ Chí Minh thì ngay bàn đầu có một cô học viên xinh xắn, mặt mũi son phấn điểm trang, và áo quần thì mầu sắc chứ chẳng phải đồng phục áo trắng quần bà ba đen như mọi người. Lên máy bay ra Hà Nội vào thời ấy cực khó, nhưng cô ta lại ngồi ngay ghế bên cạnh tôi. Đến sân bay Gia Lâm, cơ quan tiếp tôi không ra đón. Cô học viên thì lên xe Volga, cho thầy đi ghé, và thỏ thẻ mời thầy ngày chủ nhật nghỉ thì đến nhà em chơi! Tôi đến, biết cha cô là một vị Trung Uỷ, và được cô ta dẫn đi tham quan khi thì chùa Trấn Quốc, khi thì đền Ngọc Sơn...Chỉ có thế mà vị quản lý tôi,  cấp Thứ Trưởng, vỗ tay reo ‘’ nhất cậu, cơ quan bọn mình là ‘’nhà trai’’ đấy nhé, nào lên kế hoạch đi!’’ Bỏ mẹ, tôi kêu thầm, thế này là thế nào. Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên. Vả lại, đến tay cô ấy mình cũng chẳng dám cầm, nữa là...Thế là tôi đánh trống lảng. Ông  Thứ Trưởng cáu, nói gần như quát, ‘’ cậu đi chơi với con gái nhà người ta nay cả Hà Nội biết, không lấy là họ mang tiếng. Cậu có biết nhà người ta là nhà nào không, cũng gốc Nam Định mình...’’ Ấy chết, tôi lúng búng, ‘’thưa anh đi chơi đúng hai lần, chỉ chùa Trấn Quốc với đền Ngọc Sơn thôi, để còn ‘’tìm hiểu’’ đã chứ !’’.  Tìm hiểu chứ chớ ‘’ quất ngựa truy phong nhé ‘’. Ông cấp Thứ Trưởng này là công an, chớ đùa. Nhưng tẩu vi vẫn là thượng sách. Làm thế nào đây? Anh bạn mới quen là nhạc sĩ Hồng Đăng tài hoa nhưng phận có hơi mất mầu vì nắng gió bàn, cứ lăng quăng túc tắc với tớ thì... ắt ‘’nhà gái’’  sẽ giẫy ra, khỏi phải chạy. Thế là tôi theo bạn vào Xưởng Phim thăm những diễn viên, nào Thanh Quí, Phuơng Thanh, Kim Thanh...Rồi đi uống cà phê, gặp anh em Nhân Văn Giai Phẩm, chẳng còn có vẻ sợ chuyện ‘’quan trên trông xuống người ta trông vào’’, nhưng cũng xin nói ngay là chẳng có làm cái gì mất mỹ tục để có thể mang tội hủ hóa trụy lạc... 
  Nhưng anh hùng bất quá mỹ nhân quan, bắt đầu là đùa nhưng sau đâm hóa thật. Cái nhìn của nàng có bóng tối, và chính niềm u uẩn đó khiến tôi sau này lao vào một chuỗi những đêm mầu đen có lúc tưởng mình không còn ngày thấy ánh sáng. A, cái ải mỹ nhân! Ôi chao, vực sâu chưa rơi thì vẫn gọi mời, và gió thốc từ đáy vực tăng tốc độ hụt hẫng đến chóng mặt hôn mê. Bạn tôi, Nguyễn Duy, từ Sài Gòn ra. Nào, tôi lấy vợ! Nhất định chẳng hỏi phép tắc ai, chuyện cá nhân mà lị! Thiệp cưới, không có giấy cạc-tông ở giữa một thủ đô xơ xác, Đăng chạy mua (xin?) những cái tấm làm phiếu sách của thư viện. Báo hỉ, phải mầu chứ không lẽ lại đen thùi lùi. Mực in mầu đỏ thì báo Nhân Dân độc quyền. Duy đi cầu cứu Nguyễn Văn Bổng ở Hội Nhà Văn; Bổng viết, giới thiệu đồng chí...Tổng Biên Tập báo...về nước cưới vợ (!), xin các cơ quan hữu trách tích cực giúp đỡ. Nhà in báo Nhân Dân in xong, người đầu tiên Duy mang bó thiệp cưới buộc bằng lạt đến mời là bác Nguyễn. Bác nheo mắt, nói với Duy, tao nghĩ thế là nó lấy phải công an đấy, bảo nó thế!  Ừ thì thế, thế thì phải thế. Lê Đạt vỗ đùi, cười bỗ bã, chú mày thế là mang về cho anh em chút dưỡng khí để thở. Trịnh Công Sơn không ra được Hà Nội, hẹn về Sài Gòn làm thêm ‘’ đám’’ nữa cho anh em trong này. Trần Dần viết tặng 5,6 trang thơ, chữ như kiến bò, kêu nợ tình nợ bạn nợ thơ,  n~  nợ cosmic bao jờ cho xong trong cái hỉ khúc xíc thằng. Đặng Đình Hưng thì chép  thanh xuân = hạnh phúc và chép một đoạn có câu ghé bến cắn một  quả vả mầu xanh chưa chín... mãi hàng chục năm sau mới xuất hiện trong Bến Lạ. Còn Hoàng Cầm, lại chạnh nhớ những mối tình với Chị, lãng đãng nhắc thuở ấy mây Em tìm núi Chị, ngửa mặt hường hoa khép gió xanh ...
  Chỉ ảnh bác Nguyễn đi ăn cưới, cha nuôi tôi lẩm nhẩm một mình, trông hắn thế là vẫn khoẻ. Như sực tỉnh, ông nhìn tôi, nhắc lại, ‘’... thế là hỏng, hỏng thật rồi! Con chưa sự nghiệp gì, bất quá có cái nghề kiếm ăn, vừa bỏ qua một cái dịp để thi thố...’’ Tôi thật không hiểu, hỏi, thì ông đáp, sự nghiệp là làm được cái gì cho người khác, đồng loại, đồng bào. Rồi ông thở dài  ’’...con có tí kiến thức kinh tế, nhưng chỉ chữ với nghĩa, việc thật là đi kinh bang tế thế thì bây giờ chẳng làm được nữa, hỏng rồi! ’’  Mấy ngày sau, trước khi tôi lên đường bay về Canada, cha nuôi tôi vỗ vai, bảo, hóa ra con cũng là giống nòi tình. Vậy thì sau này nhớ câu chuyện về bác Nguyễn. Ông thủng thỉnh : ‘’ Xưa bác ấy đưa tao xem cái truyện bác viết về một anh đánh giậm, ngày nào như ngày nấy, đều đặn sáng trưa nơi đồng không mông quạnh, đều đặn  đến nỗi chỉ nhìn bóng anh trên mặt nước là biết mấy giờ, như một cái kim đồng hồ mà không cần răng cưa, trục quay, giây cót. Tao đọc, chê là bất cập nhân tình, viết thế là không được! Tao bảo, con người là người, ác có thiện có, nhưng ở cực nào thì cũng không thể kéo xuống để thành ra và là bất cứ một thứ dụng cụ vô tri vô cảm nào, dẫu nó tinh vi cách mấy cũng vậy. Sau, chẳng biết bác làm gì với cái truyện ấy, bác vốn ngang như cua, tính thì kênh kiệu. Nhưng con có hiểu tao nói gì không? Điều này mới quan trọng... ‘’
7

Mắc chứng ung thư ác tính, những ngày cuối cùng của cha nuôi tôi có thể ước chừng. Tôi lại bay sang Cali. Những ngày đầu hạ ở quận Cam có thoáng ngậm ngùi, mặc dầu trời rất cao, rất xanh, và nắng trải lên mạ vàng cây cỏ. Cha tôi cho tôi cuốn Kim Cang Kinh. Ông bảo, cụ Nguyễn Du khi xưa đọc nó hơn ba nghìn lần. Cười móm mém, ông tiếp, chữ không của nhà Phật tao hiểu là tự do, và cái làm mất tự do là nỗi sợ. Nhưng tại sao lại sợ nếu như ý thức được không có gì là có, cũng không có gì là không, vì đến cái ngã cũng không thì có cái gì gọi là có... Rồi ông chậm rãi, mắt hấp háy nhìn lên đỉnh cây chao trong gió sớm, đọc Sống không tham, tham gì? Chết chẳng sợ, sợ gì? Sống chết cùng một thể! Vậy tham gì sợ gì. 
Hai tháng sau, cha nuôi tôi ra đi, khi tôi đã xa cách ông đúng 6 giờ chim bay với vận tốc Boeing trong những chuyến bay xuyên lục địa. Đúng năm giờ sáng, tôi được báo tin qua  điện thoại, thức dậy ngẩn ngơ ngồi dựa vào vách, một lát thì mơ màng. Ông đến đứng sau gọi. Tôi quay lại, ông cười, lại cái cười móm mém, nhưng mắt hóm hỉnh, hỏi ‘’ mày tưởng tao chết hả con...’’ Tai tôi vang lên câu kệ tử sinh đồng nhất thể, hà úy hựu hà khinh...
Năm sau, tháng 7 năm 1987, tôi được tin bác Nguyễn cũng theo bạn mình sang cõi khác. Chợ Hà Nội sạch hoa. Bao nhiêu hoa những kẻ biết ơn chữ đã mua hết để mang viếng bác, người  tài tử đã thổi vào ngôn ngữ mảnh đất này những nét hào hoa kênh kiệu Vang Bóng Một Thời trước Tổng Khởi Nghĩa chống Pháp. Đó là một  thời Ta. Cha nuôi tôi có kể, bác ấy cứ ấp ủ viết thêm Vang Bóng Một Thời Tây. Còn thời Mỹ, bác Nguyễn thở ra, thôi để cho thế hệ sau chứ mình thì già mất rồi. Ôi chao, thật tiếc, thời Tây cho đến nay vẫn chưa kịp vang bóng, nói chi đến thời Mỹ, dư âm nếu còn vang vọng thì cũng chỉ độc là tiếng nổ của đủ loại súng bom mang thử nghiệm trên những xác người. Khi bác ra người thiên cổ, Nguyễn Minh Châu kể, một hôm râu tóc run rẩy, nước mắt tràn ra trên má trên môi, bác vừa khóc vừa nói‘’ ...mình tồn tại được cho tới nay là  bởi biết sợ! ‘’ Thương làm sao, cái nghiệp nhà văn An Nam, sống đã khổ như chó, mà lại là những con chó lấm lét cụp đuôi biết sợ trong một góc nhà!
  Nhưng chết thì sao? Những vòng hoa của bao nhiêu kẻ ngưỡng vọng không phải là một niền an ủi lớn à? Tôi hỏi Bửu Chỉ, người  có mặt ở Hà Nội khi bác Nguyễn mất, khi anh sang Pháp làm triển lãm hè năm 88. Không đáp, Bửu Chỉ kể, ông ấy nằm ở nhà xác chờ các thứ cơ quan như Hội Nhà Văn, Hội Liên Hiệp Nghệ Thuật...họp để bàn giao xem nơi nào làm chủ lễ tang, kinh phí đào ở đâu ra, tri trả thế nào...Ba ngày liền phải chờ, trời thì nóng, Hà Nội mất  điện liên tục nên xác ông ấy bắt đầu trương lên, chuột nó vào gặm cái tai trái cắn nát ra, da mặt đã xám lại. Để trang điểm cho ông, người ta lấy phấn viết bảng nhà trường  ghiền ra bôi lên mặt. Còn môi ông, người ta thoa son, son loen ra cằm nhếch nhác, trông chẳng khác gì hề trong những vở chèo. À, thì chết như vậy, hỏi có não lòng, hở Trời! 
8

  Về Hà Nội, việc đầu là tôi đến thắp hương vái bác Nguyễn. Vẫn căn phòng với giá sách bám bụi như xưa. Nhưng thôi, đâu rồi cái giáng gù gù, mái tóc bạc xõa đến gần vai, và nhất là cái nhìn hóm hỉnh đèo nụ cười nửa miệng. Nay, có khác là cái bàn thờ đặt ngay lối vào phòng. Nay, chỉ còn bức ảnh bác lặng lẽ trang nghiêm đặt trước một bát nhang đầy tro rải xuống nhắc chuyện về nơi cát bụi. Bác gái bật diêm cho tôi châm hương, thì thào, ông nhà tôi đi sau ông bạn già đúng một năm, đôi lúc không còn tỉnh là hỏi tôi có tin gì từ bên Mỹ không...Còn tôi, tôi chắp tay vái, tai văng vẳng câu ‘’... mình tồn tại được cho tới nay bởi biết sợ’’. 
  Như bác Nguyễn mà phải sợ thì hỏi có ai mà không sợ?  Nhà văn Kim Lân kể, trong một buổi họp hành gì ở Hội Nhà Văn, bác Nguyễn bực dọc kêu với đồng nghiệp rằng gì cũng sợ, nhưng ngẫm lại thì chẳng biết sợ cái gì! Bác nói, rồi uể oải chống batoong đi ra. Nhưng lần này, lần đi cuối, chắc bác chẳng cần cái sợ theo chân. Sống chết thì cũng thế, vậy sợ gì tham gì, chắc chắn người bạn già của bác cũng đã đọc cho bác nghe rồi. Nói chuyện với anh Lân, ngày đưa bác đi Văn Điển quả bao nhiêu hoa ở Hà Nội  đều là hoa tiễn bác. Và từ thời đám tang cụ Hồ, chỉ lần này dân Hà Nội mới lại tự động xuống đường đưa đám một người. Lại một người không quyền cao chức cả mà chỉ mang danh phận nhà văn. Aidám bảo bạc là dân nào?
Danh phận nhà văn? Trí thức phương Đông xưa’’trung quân’’, và  nay tiếp tục phò chính thống như một cái nếp tiềm thức bao che một loài vi khuẩn mang tên nô vong. Thỉnh thoảng mới có một Nguyễn Hữu Chỉnh, một Cao Bá Quát, hay một Hồ Xuân Hương, những người dám nổi loạn. Ngoài ra, phần đông họ ngâm vịnh cho sướng miệng, đánh tráo nghĩa bằng chữ, và thường mang giấc mơ tiến vi quan, dẫu cho quan thì nhất thời nhưng dân vạn đại vẫn cứ vạn đại là loài thấp cổ bé miệng. Nhưng may thay, chính những kẻ thấp cổ bé miệng đó mới đồng thanh tương ứng với những người cầm bút nói thay được ước vọng ngàn đời của họ để âm vang của những con chữ có nghĩa sẽ truyền qua vách vực thời gian...
Bác Nguyễn, thế là đâu đó đúng 18 năm bác đã thành người thiên cổ. Năm kia, phúng bác dăm câu thơ. Năm nay, chép lại một đoạn,  
...     
Viết toạc trời xanh
              chữ người tử tù
Những chữ ngoằn ngoèo 
                    rạch mây nhỏ máu
Ô này,
        một thời từng vũng…
Vũng nào vang bóng chốn thiên thu ?
gửi bác với tấm lòng kẻ hậu sinh này ngày xưa đã đi tìm một trăm cách khóc để khóc bác.









          Những con voi không đẻ được
       Tưởng nhớ Văn Cao


Bài này đăng trên báo Ðất Việt năm 1986, khi anh đang nằm bệnh, đã tưởng khó qua. Anh lành bệnh, và in tập thơ Lá (nxb Tác phẩm mới, 1988), viết ‘’ Voi đã đẻ, gửi đứa con để anh nuôi ‘’. Rồi năm 95, anh cũng đã về với cát bụi. Và cát bụi mệt nhoài, trong hoàn cảnh những người làm văn hóa của thế hệ anh.
                                                     


1.

     Ra khỏi nhà anh Lê Ðạt, nắng Hà Nội hầm hập.  Nắng đến rát mắt, nắng sáng lóa, nắng lên đỉnh ngọn tre ở nhà quê. Nắng đổ xuống làm ướt nhem nhép nhựa đường lòng phố thành thị.  Cả Hà Nội ngủ trưa thì phải.  Chỉ còn vài kẻ gò người đạp xe đạp.  Mồ hôi ứa ra ướt đẫm nách áo, lưng áo.  Dăm ba đưa trẻ ngơ ngác bước ven những căn nhà cũ, bẩn, nhưng vẫn còn chút bóng mát của những cái liếp tre, liếp nứa treo hờ hững.  Hơi nóng từ mặt đường nứt nẻ, lỗ chỗ, từ những bức tường gạch xám xịt, loang lổ cứ bốc đến độ khó hít thở một cách tự nhiên.
     Nắng quá, anh ơi.  Lấy tờ báo mà che đầu, khéo cảm đấy.  Nhanh nhanh đi anh, bà chị em bà ấy đợi.  Này, rẽ trái trên phố Lương Văn Can trước mắt kia kìa.  Nắng ráo, ráo cả cổ.  Giá mà có một  cốc  nước  chanh.  Thật lạnh, là hết xẩy.  Hết xẩy là làm sao cậu ?  Là hết ý của Hà Nội ta đó.  À, ra thế, hay nhỉ !  Thế anh có biết cái hết ý « hiện đại » của dân gian không ?  Mình đóng cửa đọc sách lâu rồi, chịu không biết !  Thế kể nhé «...Tiền là tiên là phật.  Là sức bật của loài người.  Là nụ cười của tuổi trẻ.  Là sức khỏe của cụ già.  Là cái đà của danh vọng.  Là cái lọng của nịnh thần.  Là cán cân của công lý.  Tiền là... hết ý ».
     Thế là cùng cười.  Tôi nhìn sang anh, vẫn có một cái gì thật đôn hậu trong cái con người đầy sóng gió này.  Anh cũng đưa mắt nhìn lại.  Nụ cười không còn cái xuề xòa của một câu chuyện vui, hình như mắt đầu hơi mếu.  Chúng tôi bỗng dưng trở nên trầm ngâm.  Và bước nhanh hơn.  Eo ơi !  Vẫn cứ nắng.  Nắng bốc lửa.  Nắng xém tóc.  Cứ thế này, trở thành Xuân tóc đỏ tất.  Nắng bốc hơi, nắng thui, nắng và ẩm, nắng làm ri rỉ mồ hôi.  Nắng quá.
     Chúng tôi bước vội vào căn nhà, số... phố... Ðây là một hiệu ăn sắp khai trương.  Ông bà chủ là họ hàng gì đó với chủ cái gác ở Lý Quốc Sư, cái gác ăn kiểu Âu nổi tiếng.  Tôi nói bâng quơ « Kiểu Âu nhưng cách Hà Nội đấy ».  Món ăn Âu đã biến hóa, được thêm thắt bằng cái mùi vị rất ta.  Nhất định là có cả nước mắm.  Anh Ðạt hóm hỉnh « Ta có cách của Ta ».
     Chị tôi vẫn chưa đến.  Nói gẫu một lúc.  Trời vẫn nóng.  Bà chủ bảo con dội nước lên cái vách tường hửng nắng, kêu « Cứ như nung như nấu thế này thì ăn uống gì được ».  Những chiếc quạt giấy kêu phành phạch.  « Không có điện hả bà ?  Có quạt điện bây giờ thì tốt quá ! ». « Cúp điện chú ạ !  Chú chịu khó ».  Anh Ðạt cười rộng lượng, quạt đi cậu, quạt này là quạt « cải tiến ».  Ôi chao ơi, hai chữ « cải tiến » nó lại làm lộn ruột đến độ nóng mặt lên.  Anh Ðạt nhìn tôi dò hỏi.  Số là, anh ạ, một buổi tối em với Nguyễn Duy từ Thủ Ðức về Sài Gòn, thấy những đốm đỏ rơi lả tả xuống mặt xa lộ, lạ quá kêu lên, gì kia kìa, ma à?  Duy nó cười « Xe than  «cải tiến»  đấy.  Than hồng bò lổm ngổm trên đường là cách của ta.  Ðược huy chương sáng tạo của Thành Phố mang tên Bác đấy nhé.  Ðằng ấy xem có nơi nào trên thế giới có được chiếc xe này không?  Thật là cực kỳ... ».
     Chị Băng vừa bước vào vừa kêu « Nóng quá, em nhỉ ? ».  Khi thấy anh Ðạt, chị sửng sốt « À anh, chào anh...» rồi hỏi « Ðể xe đạp ngoài của có sao không bà ? ».  Bà chủ đon đả « Dạ, khóa thì không sao!  Nhưng tôi bảo cháu nó nom cho.  Thời buổi này cứ sểnh ra là mất ngay... ».  Chị Băng ngồi xuống, tay cầm lấy cái quạt giấy tôi đưa chị.  Chị có vẻ hơi sượng sùng « Có lẽ đến hai mươi năm không gặp lại anh ».  Anh Ðạt cười « Vâng, trên hai mươi năm, từ năm năm chín đến bây giờ... ».  Chị Băng cười, nét mặt có hơi đăm chiêu.  Ðấy, chị tôi, một người đàn bà rất đẹp.  Lại con tư sản, thứ thiệt.  Chị yêu ông anh tôi, một chiến sĩ cách mạng.  Ông ấy thì thật đủ thứ tài.  Ðã từng lên võ đài đánh bốc.  Ðã hoạt động thời Tây, nằm ở nội thành, trên cái bến cảng vào ra của miền Bắc.  Ðã lên chiến khu khi cụ Hồ kêu gọi toàn quốc kháng chiến.  Trêu chị, hỏi có phải chỉ vì thế mà chị lấy anh không, chị hiền hậu cười mỉm mà không đáp...
     Chúng tôi gọi một số món ăn thử.  Chị Băng vui vẻ « Nếu ăn được, bà chủ ạ, chúng tôi sẽ đặt cưới để khai trương hiệu cho bà đấy».  Quí hóa quá, ông bà với chú đây giúp cho thì thật là quí hóa quá.  Nào, xin mời.  À, cái món xúp cua này ngon chị ạ.  Thế có phải thật là Tây nó ăn như thế không ?  Em chịu.  Ðấy anh, em gắp cho anh bồ câu quay nay...  Ăn được không ?  Ðược đấy, nhưng nóng.  Nóng quá.  Thiếu quạt bà chủ ơi.  Thôi, chị cầm lấy cái quạt này đi.  Ðể em lấy báo làm quạt.  Hà Nội ơi, cái nóng tháng bảy sao mà ngột ngạt thế này !  Này, đừng gấp tư, cứ mở ra, gấp hai rồi cầm cho chắc.  Báo này mà làm quạt thì nhất rồi, quạt mát lắm.  Cậu còn trẻ, quạt đi nào.  Nóng này, quạt lên làm gió này...  Ðó cũng là biện chứng.
     Thưa chị, anh đi công tác ở Cộng hòa Dân chủ Ðức?  Vâng, nhưng mà đi chơi thôi chứ có công tác công tiếc gì đâu !  Lần đầu được ra nước ngoài đấy anh ạ.  Nhà tôi đi cũng được hai tuần rồi.  A, còn cái chuyện Quốc ca !  Chẳng hiểu cho anh ấy đi, rồi về người ta có đổi không nhỉ ?  Tôi cũng không biết.  Anh Ðạt trầm ngâm, chuyện bụng đói thì chẳng lo...  Vả lại Quốc ca là của cả nhân dân, của một giai đoạn lịch sử và thuộc vào lịch sử...  Cứ ra nghị quyết mà đổi được đâu.  Ôi thôi, rỗi hơi anh ạ !  Nghị quyết kiểu này thì mặc nghị quyết.  Nhà nước có cái việc họp việc bàn việc ra nghị quyết, nhân dân có cái việc của nhân dân.  Nhiều cái phải lo ngay.  Cứ bữa tối bữa sáng mà lo cho đủ cũng đã chết mệt rồi...  Trước hôm nhà tôi đi, tôi bàn  để cho tôi đi vay vốn, ông ấy ra ngoài mua ít hàng về.  Dễ gì mà xuất ngoại.  Các anh « ấy » cũng đã nhận cho vay, bán xong rồi chia.  Con cháu tôi nó làm cả một thư mục những cái mua được, bán được.  Thế nhưng mà ông ấy gắt nhắng lên, không chịu.  Ông ấy bảo đi là đi cho tất cả anh em, ai lại làm con buôn đi buôn lậu.  Gàn thật...  Tôi buột miệng, chẳng phải gàn đâu, chị Băng ơi, sao chị lẩm cẩm thế !  Chú không biết, chị không lo thì ai lo ?  Cái ăn, cái uống...  Chú ạ, khổ lắm !  Lại sợ nữa.  Chị nói, cho nên anh ấy chỉ vẽ thôi.  Vẽ nghệch ngoạc cho báo Văn Nghệ.  Vẽ thì khó bắt tội.  Người ta có ưa gì anh ấy.  Rồi quay sang anh Ðạt, chị nói như xin lỗi « Viết lách là tôi lo ngay ngáy, chỉ sợ... chuyện cũ lôi ra...».  Anh Ðạt thở dài, lặng lẽ.  Tôi ồn ào nói vào « Chị hay can thiệp quá, can thiệp vào đến cả tâm thức của anh ấy...». Rồi tôi nói đi nói lại, chị Băng ơi, chị đừng bắt anh ấy cũng phải sợ như chị, cứ để anh ấy tự do...  Chú nói dễ lắm, nhưng còn các cháu nữa, còn cả nhà... chú ạ, khổ lắm, chú không biết hết đâu...
     Tôi cứ kêu trời, trời ơi đất ơi, một người có tài như anh, thì phải để anh ấy viết văn, làm thơ, làm nhạc, vẽ... Cả  trăm  năm  mới  kết được một thứ tinh hoa, không còn làm được gì thì phí phạm biết bao nhiêu cho mai sau ?  Cái lỗ trũng đen ngòm trong nền văn hóa, ít hay nhiều, lớn hay bé đều là những cái ta đáng lẽ có thể lấp đầy được cả !  Tại sao ta cứ phải làm tội lấy mình ?  Rồi tôi bắt chị Băng hứa.  Chị hứa với em nhé, hãy để cho anh ấy tự do.  Ðừng kìm hãm, giằng cái cọ anh đang vẽ, giữ cái bút anh đang cầm...  Chị hứa đi...  Chị Băng cúi xuống, ứa nước mắt.  Tiếc lắm chú ơi.  Anh Ðạt nhỏ nhẹ :
     - Anh ấy là voi.  Voi đẻ thì cần mười năm để thai nghén...  Chúng tôi xin đợi.

2.
     Tháng tám năm đó, Văn Cao ở Cộng hòa Dân chủ Ðức về.  Tôi đến nhà anh.  Chúng tôi ôm lấy nhau.  Anh vẫn râu vẫn tóc.  Vẫn cái giọng nói hơi ê a, cái cười nửa xuề xòa nửa làm ra xuề xòa.  Anh châm đèn, rít một điếu thuốc, mắt như đê mê trong một khắc thời gian ở giữa cái không và cái có.  Chị Băng giữ tôi lại ăn cơm, kể lại chuyện cái đám cưới ngộ nghĩnh đó.  Vui không ?  Vui lắm anh ạ !  Nhất là có cụ Tuân !  Thiếp cưới in ở nhà in báo Nhân Dân, đỏ chét, buộc  lạt  mang về.  Nguyễn Duy rủ, đến ông cụ ngay.  Em bảo, ông ấy « kiểu cách » chết.  Không sao đâu !  Thế là đến, mở lạt, cộc lốc « Thưa cụ, đám cưới « tự phát », chẳng phép tắc quái gì cả.  Cụ là người đâu tiên được mời, mời ở cái nghĩa là ép buộc cụ để « nhậu » cho vui... ». « À, ha ha...được, được rồi... ».  Anh Văn hồn nhiên « Vui thế mà mình lại vắng mặt, phí quá... ».  « Ta làm lại vậy, anh nhé ».
     Hai hôm sau, rủ rê nhau lại nhà anh Lân và chị Sâm.  Nào uống thêm một bữa.  Uống mừng.  Còn kể chuyện bên Ðức nữa.  Nào, rủ cụ Tuân.  Uống rượu Tây nhé.  Anh Văn ơi, chẳng biết mừng gì đây ?  Hay là mình uống để mừng một ngày vẫn còn sống, còn thở, còn tin rằng mình vẫn ít nhất còn chút ích lợi, dù đó chỉ là cái tình với nhau ?  Hay là mình uống để chôn đi những hoài bão, ao ước, quên đi cái chuyện « Ðời đi qua như một tiếng thở dài, ta chôn cả khát khao vào bụng vợ » ?  Nhưng cứ phải uống.  Mỗi người say cho mọi người !  Mọi người say cho mỗi người !  Zô, zô đi anh, một trăm phần trăm !  Zô à ?  Tại sao lại zô ?  Zô là « vào cuộc ».
     Vào cuộc, xin mời anh một trăm phần trăm.  Vào cuộc đi, con voi khổng lồ phải thai nghén mười năm.  Sau Thiên Thai, sau Suối Mơ, sau Những người trên cửa biển.  Sau cú đấm, nặng chì của võ sĩ Văn Cao tuổi thanh xuân.  Sau Tiến quân ca, Không quân Việt Nam, Hải quân Việt Nam.  Sau bức vẽ Ðặng Thái Mai u uẩn lắng đọng.  Sau... rất nhiều.  Nhưng đã từ một thủa xa xưa rồi, con voi phục xuống nằm im nhăn nhó.
     Ốm nghén quả là khó chịu.  Bụng cồn cào axít.  Muốn ăn, ăn cả vôi, cả đất.  Những quả nhót đỏ chua lè.  Một bốc sung chát, thật chát.  Ăn nữa, ăn sống cả mướp đắng.  Nếu có mạt cưa, cũng ăn.  Ăn xong, ta hát.  Hát khản cổ.  Hát những bài hát mang niềm tức tưởi của con người cổ sơ mới tìm được lửa ở họng núi lửa nhưng không biết cách mang lửa về được bản làng.  Hát những bài hát thèm muốn biển rộng, thèm muốn trời cao, thèm cơn gió lồng lộng ở chốn thinh không.  Hát nữa, hát mãi với tiếng đàn còn lại. Văn Cao xoài người ra như ôm lấy cây đàn để cùng đàn lắng mình vào âm hưởng một thế giới chưa có thực.  Chiếc đàn piano đó, chị Sâm vẫn dùng để dạy đàn cho mấy lớp em, lớp cháu.  Văn cao ngửng đầu lên, dướn thẳng người.  Những nốt nhạc nhảy nhót đến chín bậc thinh không.  Văn Cao cúi xuống, những nốt nhạc chìm dần vào những vực sâu tưởng sẽ mất hút.  Văn Cao gục xuống, tiếng đàn nghẹn lại tăm tích mơ hồ.  Mắt anh đầy nước mắt.  Bỗng Văn Cao vùng dậy, râu tóc dựng đứng.  Râu tóc ấy đã bạc phơ, song cái xanh của con người trong anh, dẫu có lẫn chút bóng đen của đêm tối, thì vẫn xanh.  Tối hôm ấy, khi nắm tay Văn Cao, tôi thấy ươn ướt.  Thì ra Văn Cao đánh đàn thế nào mà ngón tay ứa máu.
     Khi đèo xe đạp anh về nhà, tôi vòng tay ra sau quàng lấy anh.  Anh chỉ mặc một cái áo mỏng.  Tôi đau xót chạm vào xương vào da của anh.  Cẩn thận anh Văn ơi, anh ngã xuống thì chúng tôi đau khổ lắm.  Còn nhiều người yêu anh, anh ạ.

Xổ bụi

    Tôi sinh ra dưới một ngôi sao trái nết nên đời có đôi phần vất vả. Nhưng chị Liên, bà chị kết nghĩa của tôi, còn vất vả ít là gấp năm gấp bảy lần. Trái nết nên khó dậy, riết thành trắc nết lêu lổng, mẹ tôi gửi tôi nhà «hai bác» năm tôi mười hai tuổi. Thuở đó, cha tôi đi làm xa, mẹ tôi một mình than khổ ơi là khổ, nhà không có đàn ông ! Phần tôi, thật là thú vị. Trên «hai bác» có mấy đứa loai choai cùng tuổi. Rồi mỗi nơi một chốc, mẹ hỏi ở đâu, tôi đáp con ở trên nhà hai bác, bác hỏi đi đâu, tôi thưa con về dưới nhà cha mẹ con. Cứ như thế, cuộc lêu lổng dẫu danh bất chính nhưng ngôn lại thuận.
    Hai năm sau ngày tôi làm con nuôi hai bác tôi gặp chị lần đầu. Chị mang đứa con trai bé tí về nhà. Khi ấy tôi mới biết chị cũng là con nuôi và mù mờ nghe chị vào Nam vài ba năm trước cuộc di cư năm 54. Nhà bố mẹ nuôi lúc nào cũng tấp nập khách ra khách vào. Bố nuôi tôi lúc đó là Chủ tịch Hội Ðồng Kiểm Duyệt thời Trần Chánh Thành còn làm Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin trong nền đệ nhất Cộng Hòa của miền Nam. Khách có hai loại. Loại nòi tình chữ nghĩa, làm văn làm báo, nhớ không xuể. Có Ðái đức Tuấn, Lê văn Trương. Có Nguyễn mạnh Côn, đang hoàn thành  Ðem tâm tình viết Lịch Sử. Có Vũ hoàng Chương, Ðỗ bằng Ðoàn, Bùi khánh Ðản.  Ðám trẻ, Thanh Tâm Tuyền, thỉnh thoảng đếân thăm bác Kha, cha anh gần như trú ngụ thường xuyên trong nhà. Rồi Dương hùng Cường, Mai Thảo, Doãn quốc Sĩ, Nguyễn sĩ Tế, Trần thanh Hiệp…Nhà báo, có Phạm việt Tuyền, Lý Thắng, Văn Giang. Ký giả, nào Lô Răng, Anh Tám Xạc Ne. Loại chính trị, không ít. Phan huy Quát, «bác» Quỳnh, Vũ quốc Thông, thậm chí Trần kim Tuyến…
    Họ đến thế giới «trên gác» nơi bố tôi tiếp khách, xì xào to nhỏ, và thường là im bặt khi bọn trẻ con chúng tôi, thế giới «dưới nhà», bưng nước, rót trà. Họ giả tảng lơ đãng, rít thuốc lào, nhìn như giục như đuổi, và chúng tôi chỉ quay lưng là họ lại tụm đầu vào, lại nghiêm trọng hạ giọng, khi chép miệng, lúc thở dài.  Khách về, tôi để ý bố tôi xếp lại giấy tờ hồ sơ vào một cái tủ gỗ, cửa kéo dọc xuống như một bức mành, và khóa lại, tiếng nghe một cái cách, đến là kích thích. Ngày nọ qua ngày kia, sự tò mò khổ còn hơn là cơn ngứa mà không được gãi. Tôi vê kẹo cao-su, nhét vào lỗ khóa, và đi đánh chìa. Ðợi cả nhà đi vắng, tôi mở tủ, ôm chồng hồ sơ ngoài có chữ Mật, leo lên trần nhà tìm một nơi có ánh sáng hắt vào. Năm 58, tôi đã đọc trên những tờ pơ-luya mỏng tanh Con ngựa già của chúa Trịnh, vừa uất ức vừa ngậm ngùi.  Tôi đã rưng rưng nước mắt lẩm nhẩm  Tôi vẫn đi, không thấy phố, không thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ.  Tôi đã hít cho căng lồng ngực lập đi nhắc lại  bút giấy tôi ai cướp giật đi, tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
    Vâng, tôi đã tiếp cận Nhân Văn-Giai Phẩm như thế, trên trần nhà tranh tối tranh sáng, trong cái nóng hừng hực của mùa hè Sài Gòn. Vài tháng sau, cụ Hoàng văn Chí đem xuất bản Trăm Hoa Ðua Nở trên đất Bắc. Lúc ấy, tôi mới biết rằng tôi đã đọc văn Phùng Cung, thơ Trần Dần và Phùng Quán…Chuyện đánh chìa khóa đọc hồ sơ Mật rồi cũng lộ. Bố nuôi tôi không đánh không mắng, chỉ bảo, giọng buồn buồn «…có những cái tao cho là ở tuổi con, con chưa cần biết »  rồi dặn, cứ giữ cái chìa, muốn thì đàng hoàng mở tủ, và đừng bao giờ hành xử như quân bất lương trộm cắp.
    Trưa hôm ấy, tôi mang cái chìa khóa ra cầu Bông. Nhìn dòng nước lờ lờ triền sông Thị Nghè, tôi lẳng nó xuống, một lần, và mãi mãi.
*
    Chị Liên là một nhân vật tiểu thuyết.  Từ Cao Bằng về ở với bố mẹ nuôi tôi lúc đâu cũng mười hai, mười ba tuổi, chị đột nhiên một mình bỏ vào Nam.  Vài năm sau, chị lấy anh, giòng dõi đích tôn Phan Thanh Giản, nay là một gia đình đại điền chủ.  Thời gặp chị, phải nói, chị là người đàn bà có nhan sắc.  Về bản lãnh, vứt ra đường đời từ thơ ấu, chị không cắp sách đến trường, cứ than, chị thất học, cậu ạ !  Nhưng những điều chị học, không có trường dạy.  Cực kỳ thông mẫn, chị cảm nhận một cách lạ lùng những mảnh đời oan trái.  Năm tôi mười lăm, tôi nghe chị hỏi « Tại sao sinh ra ?  Tại sao rồi chết đi… Phi lý ! »  Ðó là câu hỏi rất « hiện sinh » đầu những năm 60.  Rồi chị quậy  cuộc hiện sinh không thương tiếc, không giới hạn, ràng buộc.  Chữ Tây chỉ bonjour bonsoir giắt bụng, chị leo máy bay đi Thụy Sĩ.  Không có Visa, chị vẫn trốn sang Pháp, đến bằng được kinh kỳ nơi có cà phê Les Deux Margot ở St-Germain, xem cái bàn Jean P Sartre vẫn ngồi nó hình dáng ra làm sao ?  Mà lỡ gặp người ta ở đấy ?  Có thể lắm chứ !  Cuộc hàn huyên của triết gia Tây phương đắt giá với cô công chúa dị thường Giao Chỉ.  Không thể phi lý hơn thế được sao ?
    Dĩ nhiên, chị yêu tiểu thuyết.  Chị ái mộ văn nhân.  Trên hai mươi năm qua, chị sống ở Cali, nhưng cứ gần đây một hai năm chị lại về Sài Gòn, về Hà Nội.  Mỗi lần chị gọi điện thoại, và tôi lại xin chị, chị về đến 47 Lý Quốc sư, thăm anh Hoàng Cầm hộ em.  Lần nào chị cũng vui vẻ nhận lời.  Mỗi lần chị qua lại Mỹ, chị chịu khó mang theo từng chai rượu làng Vân anh Cầm gửi cho tôi, lắm khi giữ cả năm mới có dịp trao tận tay, tươi cười bảo, quà của ông anh cậu.  Cứ mỗi lần như vậy, tôi rưng rưng ngậm ngùi.  Một phần là vì anh Cầm, một phần vì tấm lòng chị đã cưu mang thêm một tình bạn giữa hai người đàn ông, một già tuổi đã hôn hoàng, một trẻ thì cũng đang chập choạng lớp xế trưa.  Cưu mang, bất cứ cái gì đi thì cũng nặng !
    Thế nhưng lần cuối, tôi cũng nhắc lại bằng ấy lời.  Chị ngập ngừng, rồi nhỏ nhẹ, lần này chị chẳng chiều cậu được.  Tôi ngạc nhiên, gặng hỏi.  Chị nói quanh, rồi lát sau, bảo chị gửi cho cậu quyển sách.  Ðọc rồi cậu sẽ hiểu.
    Ðó là quyển Ghi  1954 – 1960, của Trần Dần[1].
*
    Tôi gặp Trần Dần khoảng tháng 11 năm 81.  Ðó là thuở tôi gồng mình chống lại tan vỡ của những huyễn tưởng.  Bắt đầu, từ giải phóng đất nước, đến xây dựng một xã hội công bằng.  Rồi từng bước một nhích vào thế giới hiện đại, đỡ nghèo, đỡ khổ, và nhất là băng bó cho lành vết thương nội chiến.  Nhưng phía dưới những con nắng là bọt xà phòng cả.  Bọt xà phòng phản chiếu hình ảnh những trại cải tạo.  Học tập một tuần, một rồi ba tháng, và nay đã sáu năm.  Những đứa em gái tôi tuổi hai mươi lấm lét uống thuốc ngừa thai sẵn sàng vượt biển.  Các em ơi, sao vậy ?  Bảy phần chết, ba phần sống, không sợ à ?  Cướp biển hãm hiếp, giết chóc.  Trời nổi cơn, sóng cuộn, nước nhận người vào đáy đại dương. Vả lại, cứ như nhà thơ kia hát, « ( nếu em ? ) có vết bẩn trong hồn, vết nhơ trên má.  Thì tình yêu Tổ Quốc chữa cho lành » ( thơ Chế Lan Viên).  Nhưng ai có cái quyền phán xét bảo vết này bẩn, vết kia là nhơ, hả Trời !  Tình yêu Tổ Quốc không nhốt ai để chữa cho lành, kẻ đi nhốt nhởn nhơ hô mình nhân đạo chỉ mong cải tạo đám lầm lối lạc đường, người ở tù ấm ức khẩu hiệu hòa hợp hòa giải dân tộc nghe như tiếng gọi hồn oan.
    Ghê rợn hơn, chính quyền non trẻ (từ 1945, hay 55,  sao cứ vẫn non trẻ ? ), « vừa học vừa làm, sai thì sửa…», mà có sai thì, chẳng phải « cấp trên» mà do « cấp dưới » không ( hoặc chưa) thông nghị quyết (thường rất chung chung ).  Ðảng dẫm lên chân nhà nước, cơ quan nào cũng có một vị đảng ủy, từ cấp Bộ trở xuống.  Tôi có ‘’làm việc’’ với một vị Trưởng ban Ngoại Giao của Ðảng, nghĩa là ngang cơ và lắm khi còn quan trọng hơn Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch thời bấy giờ.  Ðó là Ðảng, mà Ðảng thì phải vận động quần chúng, nhất là quần chúng như tôi, nhân sĩ ngờ nghệch sống xa quê hương.  Ôm vai tôi (để gần quần chúng), vị ấy bảo, « Chú là tiến sĩ kinh tế thật đấy, lại chuyên môn về tài nguyên, nhưng chú chưa biết cái này đâu ! »  Ghé vào tai tôi, ông thì thào « Chú biết không, dầu lửa của ta ở thềm lục địa ấy mà.  Này nhé, trữ lượng ở Trung Ðông ai cũng bảo là lớn nhất thế giới, phải không? »  Tôi gật đầu, ông xiết tay, mắt tóe lửa, say sưa « …thế mà nó chỉ như con tem !  So với trữ lượng của ta thì là lấy tem dán lên đít con voi ! »  Ông phá lên cười, nước bọt bắn vào mặt tôi, răng vàng xịt khói thuốc lào Vĩnh Bảo.  Một tay vẫn xiết vai tôi, tay kia ông quơ cái điếu cầy (rất quần chúng ), hồn nhiên phán, thế thì còn sợ cái ‘’đếch’’ gì !  Vâng thưa anh, mừng thật.  Chúng nó ( bọn đế quốc, dĩ nhiên ) mù cả, đi sờ voi mà chẳng biết đâu vào đâu.  Chỉ có ta mới biết chỗ nào là đít con voi, dán tem lên mông, và đợi voi ỉa ra dầu.  Dầu thô, màu đo đỏ, công nông ra phết.  Lỡ có mùi, ừ  thì  « cũng tốt thôi » !  
    Ðít voi trên bong bóng bọt xà phòng cho phép tiến mạnh, tiến nhanh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa mà không qua giai đoạn tư bản, chỉ hai mươi, ba mươi năm ta sẽ kịp, và tất nhiên là vượt bọn Mỹ. Người người hồ hởi, nhắc đi nhắc lại, vẽ vời ra viễn tượng một tương lai rực rỡ. Nhưng tôi không thể nói như thế khi gặp anh Dần. Tôi không nói gì cả.  Buổi trưa hôm ấy, nắng hanh và trời lên cao đến không còn đó.  Anh dựa lưng vào tường nơi quán nước cửa nhà Dương Tường, nâng chiếc điếu cầy rít sòng sọc, miệng chiêu ngụm nước chè, mắt nhắm, đầu khẽ ngật ra đằng sau.  Khò khè ho khan, anh mở mắt ra rồi lại nhắm lại.  Tường vỗ vai tôi, nhón nhén bảo, cậu này cũng là bạn của Nguyễn Hữu Hiệu đấy.  Lúc ấy anh mới mở mắt nhìn tôi tròng trọc.  Cặp mắt anh sáng, sáng lạ lùng.  Và long lanh rừng rực đam mê, ánh đỏ lè, như mắt cọp.  Từ đấy, nghĩ đến anh, tôi cứ liên tưởng đến một con cọp.  Một con cọp ngủ ngày, thình lình thức dậy, quắc mắt.  Kỷ niệm leo lên trần nhà trên hai mươi năm về trước bỗng ùa về.  « Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc.  Ðất hôm nay tầm tã mưa phùn.  Bỗng nhói ngang lưng máu nhỏ xuống bùn.  Lưng tôi có tên nào chém trộm ?  A, cái lưỡi dao cùn.  Không đứt được mà đau ! »
    Anh lửng lơ, « Có tin gì của Hiệu không ? ».  « Dạ, Hiệu đã đi Mỹ ! Nghe đâu gập cả Henry Miller, tác giả sách Hiệu đã dịch…».  Anh mỉm cười, cái cười méo mó vui buồn, lại nhắm mắt lại.  Con cọp nhắm mắt nhưng không ngủ, chòm râu bạc thỉnh thoảng lại nhếch lên như từ phản xạ.  Khuôn mặt anh tạc đá, thứ nham thạch lạnh mặt trên, bốc lửa phía dưới.  Gò má u lên nhô thành một khối hoạn nạn, liệu dưới sâu còn một hỏa sơn nào âm ỉ chực phun ra chất bỏng cuộc đời ?  Anh xua tay, quán nước không phải là chỗ nói.  Người ta thuở đó có thói quen thầm thì với nhau, ghé vào tai, và thường là cứ ngoái lại, nhìn ra sau, miệng rì rầm như khấn vái những điều làm như ma quỉ đang rình mò đợi lỡ lời nói to là xẻo lưỡi.
    Vào độ cuối đông, Hà Nội thu mình khép gió. Những tàn cây trụi lá co ro trơ xương chống đỡ cơn may hiu hắt lạnh, mênh mang nhớ,  rưng rức đau nỗi niềm không tên gọi, có đây rồi lại vụt mất, chập chờn kéo hiện tại nhập vào một tiền kiếp không thể ngày một tiêu ma dấu vết.  Trần Dần chống gậy, lao chao bước, vứt lại một « thôi nhé », đi không quay đầu lại.  Tấm áo cánh trắng xóa ngõ Phan Huy Chú, chiếc mũ len sùm sụp, anh một mình lê cho về đến phố Vũ Lợi, chẳng gần, cũng chẳng xa, để vào lòng tôi một nỗi man mác.
    A, cái lưỡi dao cùn, không đứt được mà đau !
    Tôi chạnh nghĩ đến đợt anh bị « quân kỷ ».  Ba tháng tù.  Chị Khuê đang có mang cháu đầu lòng.  « Tổ chức » không vun vào việc « xây dựng ».  Chị công giáo, gia đình lại di cư vào Nam hết.  Anh viết đơn xin giải ngũ.  Và đơn xin ra khỏi Ðảng.  Trong lao lung, anh ngẫm, tại sao ?  Tại sao đám quan lại văn nghệ hò nhau đánh bài « Nhất định thắng ».  Có phải ta đầu hàng giai cấp ?  Hay là năm trước, ta đã cùng Hoàng Cầm, Ðỗ Nhuận, Tử Phác… đệ trình « Ðề nghị cho một chính sách văn hoá »    yêu cầu tự do sáng tác, trả quyền lãnh đạo văn nghệ về văn nghệ sĩ…  Hay là trước đấy, ta quá nặng lời phê bình « Cách nhìn sự vật của nhà thơ Tố Hữu ».  Ta bảo, một, thơ Tố Hữu không có cách nhìn mới nào rõ rệt.  Hùa với Lê Ðạt, ta cũng nhận xét rằng Tố Hữu nói những chuyện mới mà không hiện tại, lại đẩy lùi vào quá khứ.  Hai, là thơ lười biếng, chính trị công thức, kiểu « cụ Hồ sáng soi », hoặc  « Chúng bay chỉ một đường ra. Một là tiêu diệt hai là tù binh », chỗ nào có hay thì lập lại Nguyễn Du, Tản Ðà, ca dao.  Ba, cách nhìn Tố Hữu thật nhỏ bé quá. Nhìn vấn đề gì, vấn đề ấy thu hẹp lại.  Yêu ai, người ấy nhỏ đi.  Nhìn lãnh tụ, hình thức gượng gạo « Chòm râu mát rượi hòa bình », sau lại biến ra đạo sĩ nhàn tản « ung dung yên ngựa bên đường nói reo ».  Sau cùng, cách nhìn Tố Hữu bao phủ lên vấn đề một cái buồn yếu đuối, và « chất tiểu tư sản là cái chính của tập thơ Việt Bắc ».  Trời ơi, Tố Hữu là ủy viên Trung Ương phụ trách Văn Hóa Văn Nghệ !  Thế thời…
    Thế thời, thế thời phải thế, cái kiếp phải lột quần đánh trên sân Văn Miếu, có khác  gì Ngô thời Nhậm xưa.  Ðêm thăm thẳm.  Tôi thui thủi mơ mòng. Ván cờ, tốt chúng qua sông, lơ láo nhập cung, lách ca lách cách những chân lý mới, như tính tổ chức, tính giai cấp, quần chúng… rồi lủng củng nào những chính sách, những quan hệ…tít mù quay như chiếc đèn cù. Tôi, con pháo tịt ngòi, ngửng đầu tìm lửa, sờ soạng một ván chiêm bao,  tay lại quơ vào lưỡi dao cạo.
Trần Dần cứa cổ.
Ôi, không đứt được mà đau !  A, cái lưỡi dao cùn.
*
Lưỡi dao cùn để lại một vết sẹo.  Vết thương trông tưởng lành, nhưng ba mươi năm máu nhiễu vào trong, giọt rơi tí tách đánh nhịp tháng năm một trái tim bị chấn thương đời.  Trần Dần thở phào, « Không có gì chống lại được với cái kim đồng hồ ».  Tôi nghe, im lặng.  Những buổi đến với anh, thật khác khi thăm Lê Ðạt, Hoàng Cầm, Ðặng Ðình Hưng, Văn Cao.  Có « rượu», anh chỉ nhấp.  Không ham vui, ăn ít nói ít, mắt trừng trừng, anh thỉnh thoảng câu đực câu cái, đôi khi đúng một chữ.  Thường, tôi dựa xe đạp cạnh cái cửa sổ có chấn song, ngồi đối diện anh, nơi có chút ánh sáng hắt vào, trước cái khay có để ấm chè, cái điếu cày và một ngọn đèn hoa kỳ le lói cháy.
    Tôi kể, đêm qua tôi chiêm bao.  Nhìn đồng hồ, chiếc kim dạ quang quay ngược chiều đẩy mọi sự về phía đằng sau.  Hoảng hốt, tôi chồm dậy, nhìn lên tường.  Chiếc đồng hồ treo cũng vậy.  Nó câm, không cứ tích ta tích tắc, nhưng kim cũng quay ngược, mỗi lúc mỗi nhanh.  Tôi tung cửa lao ra đường.  Hà nội giữa trưa không một bóng người.  Ven theo hồ, tôi  cắm cổ chạy về phía Bưu Ðiện. Nhìn lên cái đồng hồ lừng lững ngất ngưởng, tôi nhướng mắt, ô hay, hai cái kim đồng hồ quay, cũng ngược, và quay mỗi lúc một nhanh, như chong chóng.  Cứ thế này, tôi thầm nhủ, chắc trở lại thời nhà Tiền Lê trong một khắc. Ðúng thế thật, mặt đất chao nghiêng, tiếng người ơi ới thứ thổ ngữ tôi không thật hiểu. Thêm dăm phút, tôi chắc mẩm, chắc là đến thời Hồng Bàng mất. Nhưng hai chiếc kim bỗng tuột ra, bay lên, mỗi lúc một cao, tít tắp cuối trời. Mặt đồng hồ trơ ra. Mấy giờ rồi ? Tôi nhìn xuống cườm tay.  Hai chiếc kim dạ quang trên chiếc đồng hồ tay của tôi cũng biến đâu mất.  Ghé nóù cạnh tai, tôi lắng nghe.  Tích tắc, tích tắc.  Nó vẫn sống.  Nhưng chiều quay đẩy thời gian về đằng sau hay kéo ta lên phía trước ?  Tôi réo lên hỏi.  Tiếng tôi kêu lạc lõng.  Mặt hồ Hoàn Kiếm lăn tăn bọt.  Tôi chắc là Rùa thần sắp lên.  Tôi đợi. Thình lình một bọn người áo vàng ập đến túm lấy  lưng, hò nhau, nó đây, bắt được nó rồi.  Tôi vùng vẫy.  Tại sao ?  Tôi làm gì mà bắt.  Tôi sợ.  Phía dưới cơ thể bỗng nóng lên, rồi uớt nhơm nhớp … Tôi hét cho đến khi tỉnh dậy.
    Anh Dần nghe, nhếch mép, được, viết nó ra.  Tôi không đáp.  Kim quay ngược, lúc này là đến kỷ Hồng Bàng rồi.  Anh thì thào, thời « vỡ kỷ », mảnh văng tứ phía.  Anh nhắm mắt.  Cọp ngủ ngày, chiêm bao cái chiêm bao của cọp.  Tôi khẽ khàng đứng lên.  Anh mở mắt.  Thì ra cọp giả ngủ, đang rình.  Rình một tứ thơ chăng ?  Anh đọc hai câu thơ anh tặng tôi :
    Tôi đã hát những lạc quan không hát
    Bây giờ tôi hát lạc quan đen
( thơ Trần Dần ).
*
    Năm 82, Hoàng Cầm viết trên tập « Về Kinh Bắc » anh tặng tôi « …là một năm đầy hạnh phúc và cũng đầy oan nghiệt ».
Hạnh phúc?  Tôi muốn hát lạc quan xanh.  Nhưng hiện thực màu tro nghiệt ngã.  Phản chiến, bị chính quyền Thiệu cấm về miền Nam, rồi Canada trục xuất…  nhưng tôi chưa hề bi quan, tôi vẫn giữ trong tôi một ngọn lửa.  Phải chấm dứt chiến tranh đã. Rồi về để xây dựng, bắt đầu lại, tất cả.  Nghĩa là từ từng người, với từng người . Hàn gắn cho nhau những vết thương chưa đóng miệng, cùng nhau xua những cơn ác mộng vẫn rình đêm về để đánh úp, và chân thành nói với nhau bằng lẽ phải, với con tim.  Nhưng về, tôi chỉ thấy sự sợ, sự nghĩ một đằng nói một nẻo, sự có hai ba nhân cách trong một con người.  Và con người tư riêng hình như bị cắt khỏi con người xã hội, cái thằng lúc nào cũng phải đối phó, phải tranh thủ, phải ngụy trang bằng nụ cười và ém dao dưới áo đề phòng mọi kẻ khác, già cho đến trẻ, từ hàng xóm đến cán bộ cùng cơ quan.  Hồng Ðăng, nhạc sĩ nghèo, xoay thế nào mời tôi được bữa cơm có một phần tư con gà luộc.  Gọi bọn cháu, con Ly và thằng Phương, chúng đáp « …chúng cháu ăn cả rồi ! »  Cuối bữa, dọn bát đĩa đi rửa.  Tôi thấy Phương lúi húi ra bươi đất gốc cây cuối vườn.  Làm gì vậy cháu ?  Nó lấm lét « …cháu chôn xương gà !  Không thì hàng xóm họ biết… ».
    Hạnh phúc cũng có, nhưng phải may.  Tôi gặp và kết bạn được với những người đáng yêu và đáng tin.  Ðầu tiên là Hồng Ðăng, rồi từ Hồng Ðăng, tôi gặp các anh Nhân Văn-Giai Phẩm.  Thuở ấy, Tạ Trọng Hiệp ở Paris tiễn tôi ra phi trường Charles de Gaule đi chuyến bay Air France về Sài Gòn. Anh dặn dò giao tiếp phải cẩn thận.  Anh kể kinh nghiệm của anh.  Ðinh Trọng Hiếu, cũng đã từng về nước, cười khuyên phải « khép lại mà đi » ( marcher les fesses serrées ), dạng háng ra là phiền.  Thì tôi cũng biết vậy.  Nhưng làm sao đây ?  Nếu không đánh cho tan cái sự sợ, người đâm thành ngợm cả, thì tiền đồ một xã hội đa phần hóa ngợm sẽ ra sao ?  Mới vừa giao tiếp với Nhân Văn-Giai Phẩm, đã có người đến « nhắn », quan hệ không được tốt.  Tôi đáp, dạ, xin cứ cho tôi một danh sách những người không nên quan hệ, tôi sẽ tuân thủ.  Thách thức như vậy, quả là tôi là một người không biết điều.  Không biết điều, nhưng tôi biết sợ.  Như đứa bé sợ ma trong bóng đêm giữa nghĩa địa hoang vu, chống lại cái sự sợ không có cách gì khác là vừa đái, vừa hát, hát càng to càng đỡ sợ.  Cứ thế, tôi đã hát những lạc quan không hát.
    Tôi đã hát, với Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Văn Cao.  Và rồi với các anh.  Có « Gấu chợ », giữa bề bộn khăn, màn, giấy vệ sinh, xà phòng.  Ở một căn nhà phía dưới là tạp hóa trên phố Hải Thượng Lãn ông, Lê Ðạt gấu ( với các vị chức trách ), nhưng mẫn cảm và trí tuệ.  Anh đùa bảo, cậu cứ về chơi, mang cho chúng tớ một ít không khí để thở, thế là « đóng góp » rồi.  Tôi đọc những bài thơ gom lại trong Bóng Chữ  xưa làm tôi ngỡ ngàng.  Có « Phượng bặt hơi », nhà khu Trung Tự, thuở ấy vừa mới có tin con trai « sắp » được giải Chopin.  Ðặng Ðình Hưng dán trên tường một Bến Lạ những thơ.  Bến lạ và đẹp, lạ như phong cách hào hoa của anh, và đẹp nghiêng ngả xa vắng những giấc mơ nửa chừng, cũng của anh, mang mang day dứt. Có « Hạc nội », lâng lâng một nỗi mây ngàn, rượu Ðình Bảng mang ngâm mơ, ngâm mận.  Phần anh, anh cũng ngâm, ngâm thơ.  Giọng ngâm của anh nửa như hát cung văn, nửa như than van khóc lóc, tức tửi nghẹn ngào.  Còn thơ, là thơ Hoàng Cầm của Về Kinh Bắc, của Men Ðá Vàng, với những Cây tam cúc, Quả vườn ổi, Lá diêu bông.  Có « Én trái mùa », mang chút hơi xuân ngơ ngác xót lại buổi đầu đông, se sẽ buồn, se sẽ hát, se sẽ nhớ.  Dương Tường dịu dàng, quí bạn, hấp háy nhìn làm vẻ vô tư qua cặp kính cận dầy bằng nửa gang tay.  Và các chị, Thúy của Ðạt, Khuê của Dần, Yến của Cầm.  Lấy nhau, họ đều có vấn đề với tổ chức vì « quan hệ xã hội phức tạp » cả.  Trường hợp Trinh và Tường, chắc không.  Còn Ðặng Ðình Hưng, anh ở một mình, chuyện riêng tư với vợ là bà Thái thị Liên, anh không nhắc. Có nhắc, anh nhắc Ðặng Thái Sơn, ôm vai tôi, dặn ra ngoài nhớ tìm cháu, chú cháu gặp nhau cho tôi vui.
    Thuở ấy,  Cọp ngày đang loay hoay với Lễ Zàng Sao, với các Tư mã, Tư mã gãy, Tư mã ổi…  và nỗi buồn « vỡ kỷ » cùng những hạt bụi anh xổ vào bao la. Xổ bụi, đó là cách trối trăn với đồng loại.  Bóng anh hắt hiu khập khiễng cuối ngõ, khiến gió cũng chẳng nỡ lòng thổi, nắng chẳng nỡ lòng lên.  Nỗi ấy, có tên bơ vơ.  Tôi đọc Cổng Tỉnh những ngày cuối năm 81 :
    …Có phố nào xanh
       Hoa lay hàng dậu tím ?
       Có phố mờ chờ tha thiết tự  ngày xưa
       Ðể tôi phải bơ vơ
       Bơ vơ ?
       Tôi ?
    …Tôi cô đơn trời xanh cô đơn trời tím
       Cô đơn nắng đào cô đơn mưa tái nhợt đầu ô 
    …Cô đơn lòng ngõ rỗng trăng chênh
       Cô đơn sân ga tầu chạy tốc hành
       Không đỗ lại các cuộc đời xé lẻ…
Tôi thấm câu anh hỏi « Tôi có thời cay đắng, nào kịp cay đắng đâu ?  Sao đã cho tôi những phố xào xạc ?  Sao đã ghi tôi vào mép sổ buồn rầu ? »  Anh hỏi, nhưng hỏi ai ?  Ai đáp ?  Mà dẫu có đáp, tin được gì
    Khi thế kỷ còn rung chuông lừa bịp
 Những canh gà báo trượt rạng đông
 Con rắn lưỡi cắn người như cắn ngoé
Khi xe tăng chửa đi cấy đi cày
Như một lũ tội nhân cần cải tạo
Khi con thò lò ngày đêm hai mặt đói meo
Còn quay tít trên kiếp người hạ giá…
                       ( Hãy đi mãi, Văn, 1957 )
    Bài thơ  này anh viết, hai mươi bốn năm sau tôi mới được đọc.  A, thì ra hai mươi bốn năm chẳng thay đổi được gì à ?  Phạm thị Hoài ghi đây là chương kết của Trường ca Ði !  Ðây Việt Bắc.  Năm 90, Trường ca được xuất bản ở Hà Nội với tên Bài thơ Việt Bắc, song toàn bộ chương Hãy đi mãi bị cắt bỏ.  Trên tập thơ tác giả đem tặng người « biên tập » cho mình, anh Dần viết : 
Gửi Vân Long, 
Người biên tập lại  Ði !  Ðây Việt Bắc !
Thông minh và công phu !
Song tôi vẫn phản đối mọi kiểm duyệt…
                       ( Ghi, trang 451 )
*
    Hai tuần sau khi nhận được Ghi chị Liên gửi, tôi đọc kỹ, và rất kỹ những trang, những đoạn chị đánh dấu, khi thì bằng bút bi đỏ, khi thì bút « phớt » vàng.  Tôi điện thoại cho chị.
-  A, cậu đấy à ( giọng chị làm ra vui )…
-  Cám ơn chị, em đã nhận được tập sách chị gửi !…
-  Cậu đọc chơi cho vui thôi…
-  Không em đọc thật, chứ không đọc chơi.  Nhất là những chỗ chị có đánh dấu…
Chị nói quấy quá :
-   Ừ, chị có cái tật gạch xanh, gạch đỏ vào sách.  Lẽ ra phải mua gửi cậu quyển sách mới, đằng này…
Tôi ngắt :
-  Thế mới quí ! Em vừa đọc được sách, vừa đọc được cả tâm tình người đã đọc sách trước em, mà lại là chị…
-  Thế cậu thấy thế nào ?
-   Buồn…
-   Chị cũng buồn !
-   Nhưng em tin rằng một phần nào, em buồn như chị buồn.  Còn một phần em buồn, chắc khác với nỗi buồn của chị…
Chị Liên ngạc nhiên, hỏi giống là giống thế nào, khác thì khác thế nào ?  Tôi nhẩn nha, gợi cho chị nói.  Dĩ nhiên, chị lập lại, bằng lời, những nét gạch đỏ, gạch vàng trên những trang Ghi của Trần Dần.  Thì ra, chị ấm ức, những người chị coi là thần tượng, đã « đầu hàng ».  

Ngày 8 - 01-1958, Trần Dần ghi « Một ngón tay, Nhân Văn cũng không có !  Non năm nay, họ đã nằm ẹp cả xuống, vắt tay lên trán, suy nghĩ như các nhà hiền triết cả rồi…  Họ đang tranh nhau đi vào con đường cầu an…  Tôi biết họ chỉ duy nhất một điều, là mong « Thánh Ðế hồi tâm ».  Nhưng hình như thánh đế bị bọn quan hoạn lừa phỉnh…  Bơm to, vu cáo, ton hót lừa trên, dối dưới, các thứ thủ đoạn, tinh vi thì không tinh vi gì đâu.  Song không hiểu sao con mắt Ðảng, con mắt to thế mà chưa nhìn thấy chuyện ? » ( Ghi, trang 187 – 88 ).
Ðó là thời Hội Nhà Văn bị đánh.  Hội thành lập tháng 4 – 57 sau Ðại Hội lần II, trong đó Tổng bí thư Trường Chinh  công khai đập Nhân Văn-Giai Phẩm, sau khi Nhân Văn ra được năm số và Giai Phẩm ba số.  Tô Hoài làm tổng thư ký Hội, xuất bản báo Văn do Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân và Nguyên Hồng phụ trách.  Khi đó, guồng máy quyền lực đã thành lập Hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, chỉ đạo bởi Nguyễn Ðình Thi ( và đằng sau là Tố Hữu, phụ trách công tác Văn hóa- Văn nghệ của Trung Ương đảng ).  Bối cảnh chính trị  là thời hậu Cải cách ruộng đất.  Chân rết « Xứ ủy Bắc bộ », đứng đầu là Trường Chinh, đang từng bước mất chân đứng với Lê Duẩn, « Xứ uỷ Trung bộ » ( và ảnh hưởng không ít đến Nam bộ ), đang xông vào hất cẳng, lợi dụng những sai lầm « tả khuynh » của Cải cách ruộng đất. Hội Nhà Văn ( đàng sau là Xứ ủy Bắc bộ ? ) bị Hội Liên Hiệp tấn công, gán cho là cánh tay nối dài của Nhân Văn-Giai Phẩm.  Văn, có Lời mẹ dặn của Phùng Quán, Hãy đi mãi của Trần Dần, sống được bảy tháng, cho đến đầu năm 1958 khi đăng trong số 36  Ông năm chuội của Phan Khôi  thì bị đình bản. 
    Không khí thời gian đó là không khí khủng bố.  Một số nhà văn thấp thỏm sẽ phải ra « biên chế », tham dự những lớp « đấu tranh tư tưởng » và cuối cùng Hội Liên Hiệp tổng kết cuộc đấu tranh thắng lợi với Nhân Văn-Giai Phẩm vào tháng 6 – 58.  Tháng 7, Nguyễn Ðình Thi thành Tổng thư ký Hội Nhà Văn, thông báo kỷ luật các văn nghệ sĩ đã tham gia Nhân Văn-Giai Phẩm.  Trần Dần bị khai trừ khỏi Hội Nhà Văn, sau phải đi lao động cải tạo tại công trường Chí Linh cùng Lê Ðạt, Tử Phác, Ðặng Ðình Hưng, vv…
    Hai tháng trước đó, con người nói chung, và nhà văn « phản cách mạng» nói riêng, hoàn toàn « mất giá » dưới tất cả những thứ áp lực, từ miếng ăn đến tư tưởng.  Thậm chí, tội kết  có cả tội làm gián điệp, tội âm mưu lật đổ Trung ương bằng phương pháp hòa bình ( thì ra diễn biến hòa bình thời nay cũng chỉ là lập lại một « truyền thống » ! )  Ðó là trường hợp của Nguyễn Hữu Ðang và Thụy An ( Ghi, trang  254). Phùng Cung có những phản ứng không khoan nhượng, khi học tập « hỗn » đến bị đuổi khỏi lớp ( Ghi, trang  253 ), chửi « mẹ nó, nhục lắm.  Mình xin về nhà có được không nhỉ ?» Trần Dần khuyên, rằng nên « đầu hàng », « họ » là « chân lý », không nên xin ra khỏi biên chế, lúc này việc cũng có thể bị coi là một sự tiến công của « tư tưởng thù địch ». Tháng 5 – 58, Hội Nhà Văn « để cho » nhà văn tự kiểm thảo sáng tác.  Ai cũng phải tự phê.  Về mình, Trần Dần tự kết tội là « …giặc – bút, viên đạn xét lại, mũi tên độc địa của chủ nghĩa cá nhân đồi trụy, chủ nghĩa vô chính phủ và đầu óc làm phản, v.v… » , và rồi anh dí dỏm « …tôi sáng tác thêm vaì chữ để miêu tả chân tướng mình, cho nó hết lòng một thể ». ( Ghi,trang 257 ).
    Trong không khí khủng khoảng tâm thần tập thể, cá nhân thành một con kiến, không có tư thế chống đỡ gì khi bị « đưa » lên mũi nhọn, và đàn áp tinh vi là làm thế nào « chia để trị », tìm ra những mâu thuẫn, buộc nhau vào cái thế anh nọ « đổ vấy », « tố điêu » anh kia.  Hoàng Cầm lắm tội, nghiện thuốc phiện, lại bị ra tòa về việc chung sống với chị Yến, thú với Văn Cao « mình dát, bị đánh quá, mụ đi như « con đồng », họ hỏi đâu thì cứ phun ra tuồn tuột, không nghĩ gì cả nữa » ( Ghi, trang 265 ).  Văn Cao, chắc có Tiến Quân Ca là cái lá chắn, bảo « Tao chỉ có tội chống Tố Hữu, chứ tao có chống Ðảng đâu ? ». Trần Dần tổng kết «… tình hình nay là một thứ hỗn tạp mới :
-  chủ nghĩa xét lại, khuynh hướng bôi đen đang bị đánh tan tác,
-  bên sự đầu hàng thực sự đó đây có kẻ trá hàng, 
-  chủ nghĩa giáo điều, khuynh hướng bôi hồâng đang nhăm nhe ngóc dậy.  Ðó đây có ló mặt chủ nghĩa cơ hội, thính mũi và vô tài.
Văn học đang có cái nguy cơ hạ giá trị, nguy cơ ca ngợi một chiều, chạy theo sự cần thiết trước mắt, nguy cơ bôi bác và nhất là nguy cơ tràn ngập tác phẩm xoàng, phỉnh nịnh đảng. Còn cái nguy cơ xét lại đã bị đẩy lùi tới cái mức không thể nào phản công lại dù dưới hình thức tinh vi nào.  Có chăng, chỉ là lẩn lút nổ bằng mồm dăm quả mìn muỗi còn vương sót lại trên chiến trường, không tài nào thu dọn hết ! Có vậy thôi ! ».Vì thế, Trần Dần nghĩ, thì thôi, cải tạo chân thực, nhưng không chủ nghĩa cơ hội, lập công giả dối, hay buông tay thả mặc.  Anh vẫn tin « chủ nghĩa nhân đạo không cho phép đè nén, lăng nhục ai, dù người đó có tội nặng…  Dùng sự sỉ nhục để cải tạo người ta, không thể là một phương pháp cách mạng : vì nó hết sức phản khoa học, phản trí thức…»  ( Ghi, trang 268-269 ).
    Hai mươi năm sau khi viết những dòng chữ trên, anh đúng một nửa, sai một nửa.  Văn học ( miền Bắc ) hạ giá không phải là nguy cơ mà là một hiện thực, rất não lòng.  Còn xã hội.  Con người.  Ðiều anh tin là một huyễn hão : chủ nghĩa nhân đạo đẻ thiếu tháng trên những văn kiện và nghị quyết, tã lót máu me, và tiếng khóc đứa bé đẻ non lịm đi chẳng khác gì một tiếng mèo văng vẳng trong đêm vô vọng.
*
- Chị ạ, quyền lực dọa dẫm bằng cắt cái miếng ăn, cấm không được lấy người mình yêu, bắt phê, tự phê, kiểm thảo tư tưởng, rồi chiêu dụ, lấy người nọ đánh kẻ kia…  Hóa ra, ở đằng sau, có thể nào vẫn hai thế lực « đàng trong » và « đàng ngoài » húc nhau, Nhân Văn-Giai Phẩm chỉ là con muỗi tế thần ?  Thành thử, khôn cũng chết, dại cũng chết, chỉ biết mới sống…
Chị Liên ngắt :
- Sống !  Sống thế nào, mới quan trọng !
- Một mặt lý tưởng, mặt khác lại có phần ngây thơ nên khi vạch cái mặt trái của Cải cách ruộng đất, bêu cái tính cơ hội cuả bọn quan lại bàn giấy, phải chăng phe Lê Duẩn « đàng trong » ngầm ủng hộ Nhân Văn-Giai Phẩm để phá phe Trường Chinh « đàng ngoài » ?  Nhưng đến khi một thế lực đã chiếm được tiên cơ, họ phải giữ quyền lực, và họ co lại hệt như « đàng ngoài », quay đánh vào tính « vô chính phủ » của những kẻ đã phản kháng… Lịch sử lập lại tấn tuồng nhàm chán nhiều lần. Hệt như sau này, Mao dùng Hồng vệ binh nắm được quyền lực, rồi cũng chính Mao ra tay diệt Hồng vệ binh.  Dưới lớp son khẩu hiệu, quyền lực thời tàn dư phong kiến chỉ có thể mang thuộc tính của những ông Thành Hoàng giơ roi cầm vọt, và dùng hàng đàn chó, hàng đàn cừu, loại sai đi cắn và loại dễ bảo…  Cọp ngày, Gấu chợ, Hạc nội, Phượng bặt hơi  là … hàng mỹ thuật xa xỉ trong một xã hội phải « cào bằng », ngôn ngữ quá độ phải đậm đà tính cày sâu cuốc bẫm tiêu biểu nền nông nghiệp mang truyền thống cha ông. Truyền thống, nghĩa là cứ con trâu đi trước cái cày theo sau, trên những thửa ruộng bón bằng phân tự mãn  chèn vào là hò hét vinh quang đến độ bệnh hoạn.
Chị Liên xen vào, giọng cao lên : 
- Nhưng cậu nói thế nào thì nói…  Ai cũng phải biết chết.  Chị thì chị chết chứ không chịu nhục !
Tôi khựng lại.  Quả bà chị tôi đủ cái gan chết chứ không chịu nhục.  Chị bỏ nhà đi giang hồ từ tuổi ấu thơ, lặn lội, đấu tranh và thành người bằng ý chí nghị lực, giữa những lựa chọn trắng - đen, sai - đúng, thật - giả lúc nào cũng rình rập thách đố.  Tôi thở dài, tay sờ lên cổ :
- Vâng…  anh Dần đã cứa cổ bằng dao cạo một lần, khi chị Khuê có mang cháu đầu lòng.  Nếu anh ấy chết được lần ấy, bỏ vợ bỏ con, thế có gọi là « biết » chết không ?  Chết như vậy, cứu vớt được ai và thay đổi được gì ?
Chị Liên im lặng.  Ở đầu dây, tựa hồ một tiếng nấc.  A, cái lưỡi dao cùn, không đứt được mà đau…
- Cứ giả dụ cái lưỡi dao ấy không cùn.  Nó rạch toang cần cổ, máu nhiễu xuống có vòi, anh dẫy lên, hét, kiểu Nguyễn văn Trỗi, chính chúng bay là giặc, chẳng hạn! Miền Nam sẽ tung hô anh, kẻ chết vì tự do và chính nghĩa, đặt anh lên hàng thánh tử vì đạo !  Còn Miền Bắc, chắc giới văn nghệ sĩ lặng đi, và sợ, trở nên dễ « cải tạo » đến độ không hô vẫn theo, không dạy vẫn ngoan, đánh đĩ « thoải mái » !  Ðấy, chết thì như thế !  Còn sống thế nào ? Trời sinh làm giặc bút, thì viết.  Muốn mỗi con chữ là một tiếng gào thất thanh, không thể viết gì  ngoài cái thống khổ, sự ruồng bỏ, phản bội… O ép vật chất may còn qua được, nhưng tinh thần thì, ôi thôi !  Ðầu những năm 60, Hoàng Cầm viết được Về Kinh Bắc.  Trần Dần hoàn thành Cổng Tỉnh, rồi Ðêm núm sen.  Những Bóng Chữ của Lê Ðạt và Bến Lạ của Ðặng Ðình Hưng không biết có phải cũng từ những ngày ấy không ?
Chị Liên vẫn im lặng.  Tiếng điện thoại viễn liên vo ve như muỗi ngày. Tôi tiếp :
- Vậy giả dụ tất cả những lưỡi dao không cùn, nó cắt, xoẹt một cái, đứt cổ và chúng ta có thêm dăm vị á thánh, anh hùng, chết vì cái nọ cái kia. Nhưng đổi lại chúng ta mất đi những tác phẩm đã cứu vớt phần nào được ba mươi năm văn nghệ bị trói khuỷu, tay ê buốt mãi đâm mang cái hình dạng tê liệt thương tật của cả một tập thể « những nhà văn » chỉ giỏi ê a « chống Mỹ cứu nước », hát bài hát hy sinh, anh dũng… để tiếp tay gây ra một cuộc hủy diệt, số tử vong lên đến số triệu đếm đủ ngón một bàn tay…  Không, trăm phần không.  Không ai có cái quyền bắt người khác làm anh hùng !  Và cái chết, dẫu chết thế nào, vì cái gì cao đẹp đến đâu chăng nữa, cũng không thể đánh đổi lấy sự sống.  Nhất lại là sống để tiếp tục nhả tơ nuôi đời.
Như anh Dần, 1961, nhả tiểu thuyết Ðêm Núm Sen.  Năm 1963, Zờ Zoạc ( thơ ).  Năm 1964, Mùa Sạch ( thơ ). 1965 là thời gian sung sức, hai tác phẩm Một Ngày Cẩm Phả ( tiểu thuyết ) và Những ngã tư và những cột đèn ( tiểu thuyết ). Năm 1967, Con Trắng ( thơ hồi ký ). Năm của Tết Mậu Thân 1968, 177 Cảnh ( hùng ca lụa ). Không biết sao anh đợi 6 năm sau, đến 1974 mới ra Ðộng đất tâm thần ( nhật ký thơ ).  Rồi 1978, Thơ không lời – Mây không lời ( thơ, họa ). Liền sau đó là 1979 với Bộ tam Thiên Thanh – 77 – Ngày Ngày, 1980 với Bộ tam 36 – Thở dài – Tư Mã dâng sao. Ba năm sau, anh bệnh. Nhưng đến 1987, anh viết  Thơ Mini.  Anh viết, cứ viết.  Biết bao giờ in ?  Há chi !  Không cần, viết là nghiệp.  Cứ thế, anh viết gần ba mươi năm.  Một mình.  Không độc giả !  Rồi năm 88, Trần Dần, Lê Ðạt, Hoàng Cầm… được phục hồi hội tịch Hội Nhà Văn.  Tác Phẩm Mới xuất bản  Bài thơ Việt Bắc ( bỏ chương Hãy Ði Mãi, đã nói trên ).  Sau là Cổng Tỉnh năm 94, được trao giải thưởng năm 95.  Anh mất năm 97.  Ðến 98, tập Mùa Sạch được nhà xuất bảnVăn Học cho ra mắt.  Trả lời Nguyễn Quang Lập, hỏi qua thời Nhân Văn, anh tự thấy anh được cái gì nhiều nhất ?  Trần Dần đáp, được cái hoạn nạn.  Do được cái hoạn nạn nên được không dưới ba chục tác phẩm trong ba mươi năm.
Ðó là thời anh đi Huế gặp anh em làm báo Sông Hương.  Hoàng Phủ Ngọc Tường hỏi, sau khi anh nhận « hội tịch » :
-  Thưa anh, con người sống ai cũng cần có nhân cách, nhà văn lại càng phải có nhân cách.  Theo anh, nhân cách nhà văn quan trọng nhất ở chỗ nào ?
Trần Dần đáp : 
-  Nhân cách nhà văn chính là văn cách của anh ta… ( Ghi, trang 439 )
Sau đó, Trần Dần vào Sài Gòn.  Và đó là dịp tôi gặp anh lần cuối.

*
    Gặp những người tôi gắn bó, lần nào tôi cũng tự nhủ, ai biết đâu những bất trắc và tình cờ, với thời gian thì không chừng lần nào cũng có thể là lần cuối.  Ðó là cách tôi sửa soạn tâm thế sẵn sàng nhếch mép cười trước mọi được – thua, mất – còn, đời người ai cũng có.  Lần gặp các anh sau dịp Tết Dương Lịch năm 82 cũng vậy.
    Chúng tôi « hội sao » ở nhà Dương Tường một buổi xế chiều.  Gió mùa Ðông bắc vi vút qua những cành bàng trơ lá dọc con lộ Lý Thường Kiệt, đẩy cái se se băng giá ngấm qua những chiếc áo len mỏng mảnh chụp xuống con người khiến dáng dấp co ro tội nghiệp đến xót lòng.  Các « tư mã » lục tục, người  trước, kẻ sau, gặp thì cười, nhưng là cái cười của những cuộc chia tay ai cũng tránh nói thành lời.  Quà cho tôi là những bài thơ các anh chép tặng.  Thơ Ðặng Ðình Hưng thơm mùi ổi, bốn câu.  Thơ Lê Ðạt, dập dờn bóng chữ, bốn câu.  Thơ Hoàng Cầm, thê thiết quan họ, bốn câu. Thơ Dương Tường, gập gềnh lyrique, tám câu.  Riêng Trần Dần, bốn trang thơ, viết chữ như kiến bò ngang bò dọc, rồi vẽ vẽ, viết viết, đọc trên, mũi tên chỉ xuống, sang trang mũi tên lại bay lộn về.  Ghim vào tim với những nỗi đau « vỡ kỷ », những hạt bụi « xổ » vào bao la, với nhân duyên và những sợi tơ hồng đứt đoạn trong niềm đau « mạt kỷ » thuở lễ Zàng sao…
    Ôi tài hoa, bao nhiêu đây quanh tôi là tài hoa.  Và tài hoa, khốn khổ thay cũng là hoạn nạn, bao nhiêu là hoạn nạn.  Tôi thầm hỏi, này sông này núi, ai trấn ai yểm gì mà cái đất nước  này cứ phải chôn sâu vùi chặt những đứa con ưu tú nhất  ?  Cớ sao những gì là tinh hoa trí tuệ cứ muôn đời phải chống trả với cái vung tay thô bạo của thứ quyền lực nhất thời ?
    Năm 82, Hoàng Cầm lại bị bắt.  Tội danh là bán rượu chui !  Oan nghiệt ló mặt nhìn bằng cặp mắt những con chuột nhắt chui ra lúc đêm đổ xuống thế gian.  Bán rượu chui đâu phải chỉ một Hoàng Cầm ?  Lẽ nào là vì anh giao du với tôi, Việt kiều, tức là người nước ngoài ( ngoài nước ? ).  Thời gian đó tôi ở Paris. Tin anh bị bắt tôi đọc trong tờ Le Monde giữa một tiệm ăn Việt Nam khu Quartier Latin.  Nước mắt tôi ứa ra, không cầm lại được.  Tôi bắt Métro trạm St Michel, nhìn xế qua là bồn nước có những con sư tử há miệng phun có vòi.  Có lẽ dáng điệu tôi lúc ấy thảm thương lắm. Ðến độ một người da đen nghèo khổ vỗ vai, một kẻ sans abri có lẽ, đưa cho tôi điếu thuốc anh đang hút dở. A, con người với nhau.  Thật may, cũng có chút tình !  Tôi lẳng lặng rít một hơi, rồi trả lại.  Sau Hoàng Cầm, còn ai nữa ?  Trần Dần, Ðặng Ðình Hưng, Lê Ðạt…  Tôi lại còn giao du cả với Nguyễn Tuân, Văn Cao, Bùi Xuân Phái … toàn thuộc diện  Nhân Văn xưa có vấn đề…  Tối hôm đó, tôi ghép thơ các Tư Mã tặng, để báo đền chút tình tri ngộ.  Tiện đây tôi xin chép lại :
    Một chùm sao nhấp nháy những âu lo
    Về tụ lại lễ Zàng Sao giữa hạ
    Nơi đã đặt tên và chỗ định số dăm chàng Tư mã
    Nhễ nhại trăng khuya nhiễu xuống ngân hà
    Thuở Bích Câu vọng câu tao ngộ
Chuyển tần số lòng những ánh sao sa
Chở đá đến một vùng chưa tiếng nói
Ðốt lửa lòng lên đuổi mù sa
Ai khép gió giữa hai mùa vội vã
Trời quê hương xao xác một canh gà
Tiếng chó sủa
Tiếng huýt sáo một người đi chơi đêm về đánh thức
Mắt lũ ánh buồn kẻ ở xa
Bờ ao mẹ nắng trở mình, sáo tắm
Rỉa cánh gầy xổ bụi giữa bao la
Xin đợi nhé mùa chim mây vỡ tổ
Ðầu ăng ten sẽ lại tin nhà
    Khâu lý lịch chữ, Lễ Zàng Sao, Tư Mã, nhấp nháy âu lo là clignetitude, chữ Trần Dần bịa.  Tiếng huýt sáo, mắt lũ ánh buồn là Dương Tường.  Mùa vội vã và bờ ao mẹ, Ðặng Ðình Hưng, từ « bao giờ về trong khoanh một cái ao – ngồi giặt áo cả ngày ».  Nắng trở mình, khép gió, chữ Hoàng Cầm.  Rỉa cánh, xổ bụi, lại Trần Dần. Mùa chim mây vỡ tổ, và ăng ten, là chữ Lê Ðạt.  Những chữ này lý lịch như thế chẳng hiểu chúng có được ba đời bần cố nông hay không ?
*
    Về Hà Nội hè năm 88, tôi sững sờ, không biết là buồn hay vui khi nạn nhân Nhân Văn-Giai Phẩm đều « được», và đều « nhận », phục hồi hộ tịch.  Văn Cao trước đấy được Huân chương hạng tư, hân hoan càvát vét-tông đi chụp ảnh, với Hải – Không quân, vì là tác giả của những bài hát biểu trưng những binh chủng này.  Ðó là cái rớt sau khi Tổng bí thư Nguyễn văn Linh « cởi trói » văn nghệ sĩ năm 87 và Trung Ương thông qua nghị quyết do Trần Ðộ, Trưởng banVăn hoá Văn Nghệ, soạn thảo.  Nhưng chỉ năm sau Ðổi Mới đã khựng lại.  Trần Ðộ mất chức.  Linh thụt lùi và Ðỗ Mười xông lên.  Tôi trách Văn Cao.  Tôi bảo, tiếng tăm anh chỉ mất đi chứ thêm được gì với cái Huân chương đó.  Anh giả say, mắng tôi là quân khiêu khích -agent provocateur – rồi giơ tay dọa đánh. Thái bá Vân, chuyên gia và là nhà phê bình Mỹ Thuật có ở đó, đứng dậy chìa mặt cho Văn Cao, kêu, anh muốn đánh thì cứ đánh tôi. Thao, con trưởng anh, cũng nhổm lên, bảo tôi chú đừng chấp bố cháu. Không đóng được kịch đánh (trước một khán giả có thể là kẻ đi theo «bảo vệ» (!)  tôi), anh đành đuổi vậy.  Thật ngộ nghĩnh, chị Băng vợ anh can thiệp.  Xấu gì ở Văn Cao cũng đổ cho « bà» Băng là sai.  Hôm ấy, hành xử rất tư cách, chị quát anh.  Phần tôi, tôi xin với bạn bè có mặt là quên đi, để giữ  « huyền thoại » Văn Cao.  Bởi huyền thoại cũng cần : có tí gì để hãnh diện, để vênh vang, cũng là một cách giữ cho mình tồn tại giữa một cơn hỗn mang đạo lý.
    Gặp nạn nhân vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, tôi bớt gay gắt, nhưng cũng chẳng giấu gì cách mình suy nghĩ.  Không khác với trường hợp Văn Cao, tôi nghĩ nhận hội tịch là phá đi một cái huyền thoại, không phải về những con người, nhưng là huyền thoại về phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, ngọn lửa dẫu ai có giang tay dập sao vẫn cứ âm ỉ ba mươi năm nay trong lòng người.  Vâng, tôi nói thế, dẫu các anh có thể không vui.  Phần Trần Dần, anh buồn, im lặng.  Con cọp ngày khật khừ, nhướng lên, ánh mắt không rừng rực như cọp nhớ rừng.  Với thời gian, anh thành cọp nhà, cọp phố Vũ Lợi, cọp chống gậy đi dọc Yết Kiêu, đến Trần Hưng Ðạo rẽ trái, và lững thững bước về phía Bờ Hồ.  Vài ngày sau anh bay ra Huế.
    Chúng tôi gặp lại nhau ở Sài Gòn giữa một buổi trưa nắng gắt.  Anh đợi, ngồi rià một cái quán bên đường.  Vẫn cái tư thế cọp ngồi chống mắt nhìn đời, chập chùng xe qua xe lại nhả khói khét mùi xăng nhớt.  Cọp nheo mắt chóa nắng lừng lững chống gậy đứng lên.  Lần ấy là lần đầu anh vào miền Nam.  A, cái lưỡi dao cùn.  Nó chẳng phải chỉ cứa cổ người . Nó chém ngang lưng Tổ Quốc.  Không đứt được thật, miền Nam vẫn đó. Nhưng mà đau, nỗi đau còn đó, lưng rướm máu, nay vết sẹo mới tấy da non, xin chớ ai động mạnh.  Chúng tôi lại hẹn hò.
    Tối hôm sau, liên hoan trên gác ba nhà Nguyễn Quang Sáng.  Nguyễn Duy mới đi Liên Xô và Ðông Âu về, đang đánh tiết canh vịt dưới bếp.  Ðã hẹn, nhưng sao mãi chưa thấy Trịnh Công Sơn.  Khoảng bảy giờ, có tiếng chân, tiếng người.  Sơn đi trước, Lữ Quỳnh đang xốc Bùi Giáng theo sau.  A, hay thật là hay.  Con đười ươi Tề Thiên tối nay gặp cọp ngày. Năm 24 tuổi và đầu một đời thơ, Giáng hạ bút Vòng theo máu hai vòng tay khép chặt. Ồ thưa em ta thấy mộng không thường. Năm xấùp xỉ 20, Dần «chôn tiền chiến», và trong Dạ Ðài, bản tuyên ngôn Tượng Trưng, anh gầm :
    Không thể rung cảm chúng ta nữa cái văn chương cổ tích chỉ có một chiều chỉ nhắc gợi một cõi đất một tâm tình…Sau cái thế giới hiện trên hàng chữ, phải ẩn giấu muôn nghìn thế giới, cả thế giới đương thành và đương hủy…Bọn lãng mạn, sau khi chùi xong nước mắt lại lảm nhảm nói chuyện những nàng tiên.
    …Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đương kể những câu chuyện cổ tích cho người đứng tuổi nghe. Phải gây nên cả hai không khí hoang đường và hiện thực…Chúng ta cũng không thể tách lập được hẳn thực hư, và chia đôi địa trấn bằng một bờ sao rõ rệt…Làm sao mà giải quyết được sự mâu thuẫn phi thường đó ? 
Chúng ta chỉ có một con đường đi để thoát khỏi mê đồ. Chúng ta chỉ có thể dung hợp được thực và hư bằng hình tượng…Thế nên chúng tôi – thi sĩ tượng trưng – chúng tôi sẽ nói lên và chỉ nói lên bằng hình tượng, thứ ngôn ngữ tân kỳ, ngôn ngữ của những thế giới yêu ma, của những thế giới thần nhân mà cũng là của cái thế giới âu sầu đây nữa.
    Thế ra anh cũng mộng không thường !  Anh bổ những nhát cuốc đào mồ «tiền chiến» : …cái thi ca cổ rích, cái thi ca tĩnh của tiền nhân ngâm vịnh, của bọn lãng mạn chẳng làm chúng ta quên, vì chẳng có thể đẩy đưa chúng ta theo những nhịp điệu bồng bềnh của bản thanh âm hoàn vũ. Thế nên chúng tôi – thi sĩ tượng trưng – chúng tôi sẽ đón về đây tất cả những thế giới quay cuồng, chúng tôi sẽ bắt một vầng trăng phải lặn, một ánh sao phải mờ đi, một chế độ phải tàn vong và một bài thơ phải vô cùng linh động. Và với anh, nghĩa là một bài thơ…không được dùng lý trí, không được dùng cảm tình, nghĩa là không được chỉ dùng có một quan năng tách bạch của chúng ta – dù quan năng nào đi nữa. Hãy đem tất cả linh hồn, hãy mở tất cả cửa ngách của tâm tư mà lý hội. Trận gió sẽ lên :  tức  khắc và đột nhiên, vì thơ đã không cần lý luận.
    Chẳng biết đười ươi Tề Thiên đãù đọc Dạ Ðài hay chưa ? Chỉ thấy đười ươi huyếch miệng cười khan và sáp lại, mắt hấp háy. Cọp bất động, nhưng nhìn đười ươi chằm chằm.  Anh em xếp cho đười ươi ngồi trước mặt cọp.  Sơn tươi tỉnh « …anh Giáng, hứa không được phá nghen ! »  Móm mém, Giáng cười, tiếng cười trong vắt hồn nhiên.  Chưa đụng vào đũa, Giáng bi bô chỉ trỏ vào Dần, và nói, tay vung lên, miệng say sưa.  Chẳng ai hiểu gì !  Vì anh nói một thứ tiếng lai tiếng Ðức, tiếng Anh, tiếng Pháp, nghĩa là thứ tiếng riêng của Bùi Giáng, lộn nhộn đủ loại ngữ ngôn.  Lạ thật, Dần gật gù.  Thình lình, Giáng đứng lên ghế, tiếp tục nói, như diễn thuyết.  Sơn ra bên cạnh, kéo Giáng ngồi xuống, nhắc « …phá quá cha nội !  Hứa gì quên rồi ư… ».  Giáng cười khì khì, giả ngồi yên.  Sơn vừa về chỗ, Giáng lại đứng dậy.  Con đười ươi  Tề Thiên nghiêng ngả, kêu chí choét, lại nói.  Lúc ấy Dần giơ tay.  Giáng ngừng ngay, mắt trố lên nhìn.  Con cọp giọng trìu mến thốt « …người ta bảo Bùi Giáng giả điên ! »  Giáng lại kêu chí choét, như giục, còn gì nữa ?  Dần im lặng.  Giáng vùng đứng lên ghế, rồi giả xiêu giả vẹo.  Lữ Quỳnh phải chạy lại đỡ.  Con đười ươi Tề Thiên cứ thế, diễn màn độc thoại, nhưng vô ngôn, có lẽ dành riêng cho cọp.  Lữ Quỳnh và tôi, mỗi người một bên, dìu Giáng xuống thang, ra đường gọi xe xích lô.  Ðẩy Giáng lên, chúng tôi trả tiền xe.  Vừa quay lại thì Giáng đã nhảy tót xuống xích lô, tay chìa ra, miệng kì kèo «.. « tau » không đi xe, mi chia « tau » một nửa tiền xe hỉ ! ».  Rồi Giáng lẩn trong bóng đêm trên đường xưa là Công Lý, nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa, vạt áo bà ba trắng vụt biến vụt hiện như một linh hồn lạc lõng.  Lữ Quỳnh kể, người nghe lo cho Giáng.  Sơn cười « …già ấy tỉnh, khôn thấy mồ tổ, đừng lo ! ».
    Hai bữa sau, tôi lại lên đường.  Nhưng sao chưa đi mà đã nhớ !  Lại tự nhủ, lần cuối, nhưng miệng cứ hẹn sẽ gặp lại, còn gặp lại, dẫu trời mang mang, đất mang mang, vì đại dương bây giờ, lời Nguyễn Tuân, chỉ còn là cái ao ếch một đêm mưa.
    Từ trụ sở báo Văn Nghệ số 43 Ðồng Khởi, Nguyễn Duy, Hồng Ðăng và tôi ghé lên căn gác nơi Trần Dần nghỉ trưa nhà Hồng Văn, một nhà báo hưu non, đang ở tạm.  Trần Dần nằm, mắt nhắm nghiền, tay vẫn nắm chiếc gậy hôm nọ tôi xin anh.  Khi đó, anh nói « …Bửu Chỉ mới cho » và tôi đành « thế thì anh giữ làm kỷ niệm ! ».  Nhìn anh, tôi thì thào với Ðăng, « …thôi để ông ấy ngủ ! », dẫu tôi biết anh chỉ nhắm mắt.  Anh thừa biết tôi đến chào anh.  Nhưng cả anh lẫn tôi, chúng ta nào có ai biết đấy là lần cuối.
    Tám năm sau, tôi ghé Bolsa gặp Trịnh Cung.  Câu đầu Cung nói, là « Anh Dần mới mất, mình vừa nhận được tin ! »  Về nhà Hoàng Khởi Phong, tôi dìm nỗi đau xé lòng trên phiến máy điện toán, viết về con cọp ngày vừa chia tay cả phố thị lẫn rừng xanh. Bản viết đó, rõ ràng tôi gõ « save », nhưng nó lại trôi tuột vào hư không vì máy hỏng.  Hoàng Khởi Phong loay hoay chữa nhưng vô phương.  Dẫu có « Save », ai làm thế nào cứu vãn được cái mất mát chính, là anh.  Vâng,  mất mát đó vô cùng lớn cho tất cả những kẻ  lòng còn gắn bó với chữ nghĩa và quê hương.
*
    Một chuỗi biến cố kể từ cuộc đàn áp ở Thiên An Môn đến sự sụp đổ bức tường Bá Linh khiến tôi lại chẳng được visa để « qui cố hương » thăm hỏi các anh sau năm 90.  Thế là Ðặng Ðình Hưng đi.  Rồi Bùi Xuân Phái, Văn Cao.  Và Trần Dần năm 97.  Nghe tin Lê Ðạt « được » qua Paris, tôi vội bay đến hàn huyên.  Chúng tôi có vài ngày với nhau nơi nhà một người bạn nhà văn Ðỗ K. đã mượn cho ở.  Sáng nào chúng tôi cũng ra uống cà phê trên St-Germain. Nhìn ra phía trước là Métro Odéon, quay về phía sau, sao chúng tôi vẫn lại chỉ thấy Bờ Hồ trong cơn mưa bụi.  Lê Ðạt bảo « …Dần mất thế là hơn nửa năm rồi !  Nhanh thật, cứ như mới hôm qua… ».  Vâng, mới hôm qua.  Những cái mặt đồng hồ trơ trẽn không kim trong giấc mơ ở Hà Nội ngày nào lại hiển hiện trước mắt tôi.  Ở Paris, kim đồng hồ là một hiện thực.  Vòng quay của kim một chiều, và chiều đó là chiều quay đánh dấu những tiến bộ trong một số địa hạt nhất định.  Như khoa học.  Kỹ thuật.  Như công, thương nghiệp.  Dưới một mức, là quyền con người.  Nhưng dẫu sao, nó cũng nhích lên, trong một thế giới thông tin mở, không chập chạp, ù lì, chai cứng đến độ mất hết sức sống.  Lê Ðạt nhắc kỷ niệm xưa, giọng tiếc nuối « …Dần nó có tư cách « chưởng môn » !  Còn mình thì không, cứ bông lơn ba lăng nhăng… ».  Tôi lại hình dung ra con cọp ngày, mắt rừng rực, quyết liệt tuyên ngôn, rằng cái kho chữ là tài sản quí nhất của một dân tộc.  Anh nhếch mép, râu rung rinh đùa hỏi tôi, cái môn kinh tế học của cậu nó có dạy thế không ?  Không hả, anh cười, thế thì « hỏng ».  Những phút ấy thật hiếm.  Ðùa xong, anh lại trầm ngâm.
    Tôi hỏi Lê Ðạt, đã đến lúc anh viết về Nhân Văn-Giai Phẩm như những chứng nhân và nạn nhân chưa?  Ðạt bảo, Hoàng Cầm nói và thu cát xét, dễ có đến cả chục cuộn băng.  Còn mình, anh cười, mình chưa ghi chép gì cả.  Tôi bàn, viết về Nhân Văn-Giai Phẩm là viết về một giai đoạn và một tinh thần văn học.  Anh gật gù, thế cậu thấy cái gì gọi là tinh thần Nhân Văn ?  Câu anh hỏi, tôi chưa đáp, khất đến hôm nay.  Xin thưa gọn : tính nhân bản cộng với tinh thần sáng tạo.  Và như phương tiện vận chuyển xã hội đến lý tưởng mà chung quyết là hạnh phúc con người, văn chương hành động dấn thân, can đảm phê phán hiện thực.  Tệ quan liêu, chủ nghĩa tô hồng cơ hội, và bản chất phi nhân giữa thập kỷ 50 là đối tượng.  Nghĩ kỹ lại, đến nay là thiên niên kỷ thứ 21, tình hình xã hội cũng chưa khác là bao, thậm chí so với thời đã qua thì nhiều vấn đề cấp bách hơn, trong đó sự mất niềm tin vào tương lai đến độ tuyệt vọng là căn bệnh ung thư bộ não đã vào giai đoạn cuối cùng.
      Tương quan giữa quyền lực và văn hóa trong xã hội có một số thuộc tính khó chối cãi được.  Năm 87, ông Nguyễn văn Linh « cởi trói » cho văn nghệ sĩ, thừa nhận hiện thực « bị trói », và trói bằng những vòng kim cô xiết lại nới ra tùy theo nhu cầu chính trị.  Ðùng một cái, từ 87 đến 91, liên tiếp một số tác phẩm  sáng giá ra đời.  Tướng về hưu, Thiên sứ, Những Thiên Ðường mù, Nỗi buồn chiến tranh, Ði về nơi hoang dã, Những mảnh đời đen trắng, Bến không chồng… Và những khuôn mặt mới như Dương thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm thị Hoài, Bảo Ninh, Nhật Tuấn… làm  nổi lên một không khí sáng tác, mạnh dạn hơn, chất lượng có, và gầy nên được cái hy vọng lấp dần khoảng trống của thứ văn học khẩu hiệu, xoàng xĩnh, có tính dịch vụ tuyên huấn, uỷ lạo, động viên thi công thúc chiến.  Rồi cũng đùng một cái, Linh co lại, Ðỗ Mười lên.  Ðùng một cái, sáng tác lại khuôn phép ngậm miệng.  Và ở giai đoạn bỏ bao cấp xã hội chủ nghĩa quá độ tiến lên (tiểu) tư bản thủ công đỏ và đen, văn hóa trong nước tràn lan trăm chuyện xe cắn chó, chưởng rẻ tiền, tình Hồng Kông, Ðài Loan, Thái Lan…  Ðất nước chúng ta có phải chăng đang phá sản ở mọi mặt ?  Kinh tế tụt hậu, nợ cứ nợ, thế hệ sau ( ? ) trả.  Con người hạ giá, xuất khẩu làm tôi mọi khắp nơi, ô-sin vinh quang với nhiệm vụ quốc tế.  Còn văn hóa, ta chỉ còn độc cái món thi hoa hậu, hoa hậu từ làng tới huyện, từ huyện tới tỉnh, từ tỉnh tới vùng, từ vùng tới thành phố, rồi từ thành phố đến toàn quốc.  Giáo dục, ôi thôi, cả nước «lãng» học nhưng tiến sĩ, phó tiến sĩ nhan nhản đầy đường.  Tiếng báo động   chục năm vang như tiếng sấm, sấm động nam bang theo cách nói một sứ giả  đại quốc đến thăm viếng ta trong huyền thoại Trạng Quỳnh. Nhưng các vị lãnh đạo nay đang hy sinh cho tiền đồ  hay hy sinh tiền đồ ?  Họ kiên quyết ngồi yên, không động đậy, bằng chân như vại, rủng rỉnh ngựa xe. Mặc dầu có 25 triệu ( tức là 60% lực lượng lao động ) người thất nghiệp, theo thống kê của Ngân Hàng Thế giới năm 2002. Thế thì trăm ngàn ô-sin, triệu gái mãi dâm, là tất yếu, là…« qui luật », thứ qui luật mới.
    Chưa bao giờ, tinh thần nhân văn cần như lúc này!  Gió ơi, đừng nghe lời khuyên chớ đừng rung cây!  Gió hãy lên!  Cho cây đổi mùa thay lá.  Vì sông mấy khúc nhưng rồi nước cũng chảy, mây mấy tầng nhưng rồi chim cũng bay…
*
    Nhà văn Phạm thị Hoài, người biên tập và hiệu đính GHI, nói rõ « Với chúng ta, đó là những văn liệu và tư liệu vô giá về một giai đoạn văn chương và lịch sử cho đến nay vẫn xếp sổ, nếu quả còn có sổ… » Ghi trở nên một hình phạt, Trần Dần viết, nhưng « kết quả của hình phạt với một người lại có thể là quà tặng không ngờ tới bao nhiêu người khác ».  Ðiều này rất đúng.  Nhưng nó đòi hỏi người khác, tức là chúng ta, một cách đọc để hiểu.
    Chị tôi, chị Liên, đã đọc.  Chị cũng hiểu, là Trần Dần đã từng đầu hàng, Hoàng Cầm thế này, Lê Ðạt thế kia…  Ai cũng có lúc nhụt chí , yếu xìu,  hèn đi, qui thuận và thậm chí đôi khi van lơn chạy « tội ».  Chị buồn vì đèn tắt, nến tàn và dăm cây nhang cháy đến gốc không còn cái mùi ngất ngây gây mê trên bàn thờ nơi thần tượng vừa sụp đổ.  Vâng, nếu là thần tượng, thì có thế thật.  Nhưng nạn nhân vụ Nhân Văn-Giai Phẩm là những con người.  Và nhất là những nhà văn.  Họ có thành thần tượng, là do chúng ta nặn lên cho chính chúng ta.  Nhu cầu tế lễ không phải là lạ, từ ngày con người tìm ra lửa, biết tầm quan trọng của quá khứ, và đẻ ra huyền thoại như một trong những phương cách nhằm xác định bản thể mình.
    Họ là những nhà văn.  Lập lại lời Trần Dần, nhân cách của họ là văn cách.  Ðiều sau, đòi hỏi họ có tác phẩm.  Chính cái sự rất người là yếâu, hèn… đẻ từ hoạn nạn mới cho phép họ viết về cái rất người của những con người.  Giả như họ chỉ anh hùng ( rơm ), kiên cường, móc mắt mình như Thụy An ( rồi chết ), thì bất quá họ để lại cũng chỉ một hai câu, đại loại kiểu « bay là giặc ! », « không thành gì thì thành nhân », hoặc « thà làm quỉ xứ tự do ( miền Nam xưa, USA bây giờ ? ) còn hơn làm vương đất độc tài toàn trị ( miền Bắc xưa, Nga mafia bây giờ ? )».  Trời ơi !  Ðất nước ta đã có quá nhiều anh hùng.  Họ là những kẻ đã nằm xuống rồi, và cho sống dậy chắc gì họ chẳng không hối tiếc ?
    Cách đây bốn năm, tôi lại về Hà Nội.  Tôi đến thắp hương cho Trần Dần, cho Văn Cao…  Như những năm xưa, tôi đến thắp hương cho Nguyễn Tuân, cho Bùi Xuân Phái…  Tôi có cảm giác họ vẫn đâu đây, như những người muôn năm cũ, lẩn quẩn trong tâm tư những kẻ nòi tình gắn bó vào chữ, vào nghĩa, và vào cả cái định mệnh khốn khổ của những người làm nghệ thuật nhưng không có tự do.  Ðâu đó, tôi nghe tiếng Nguyễn Tuân rủ rỉ, nước mắt tràn trề trên những sợi râu bạc, kêu khẽ … Sợ !  Tôi tồn tại được là vì tôi biết sợ !
    Tôi cũng thế, nghĩa là tôi từng sợ, từng hèn, từng yếu,… có lắm lúc buông trôi, nhưng cũng có đôi khi nổi loạn !  Và tôi hỏi chị Liên, còn chị ?  Tôi kể, tôi mơ thấy ông Dần ngồi trên vạch phấn, một bên là thiên đường, một bên là địa ngục.  Cạnh ông, một rổ đá, cục nào cục nấy to bằng nắm tay.  Ai đi qua, ông cũng chìa cho một cục, miệng bảo « Không từng sợ, không từng hèn… thì cứ ném đá cho tôi chết thêm một lần ! »
    Làm gì có kẻ chết được hai lần !
    Nói đến cái chết. Và chôn. Trong dịp chuyện trò với anh em biên tập Sông Hương, Trần Dần  kêu «…Thế hệ trẻ à ? Tôi cứ đợi mãi. Nó bị trong vòng vây của văn chương cung đình, tôi sốt ruột đợi lớp trẻ lớn lên để chôn bọn tôi, như chúng tôi đã chôn tiền chiến. »
    Những ai đã chôn Trần Dần?  Chưa chôn? Vì anh chưa chết, thế hệ trẻ ơi !
    Vài tháng sau khi tôi đọc GHI, một hôm tiếng điện thoại viễn liên reng lên. Cầm máy nghe, lại chị Liên. Chắc chị mới từ Hà Nội bay về Cali. Chị kể chuyện, con cà con kê, rồi bảo, có một món quà bất ngờ cho cậu. Tôi hỏi.  Giọng dịu dàng, chị nhỏ nhẹ :
-  Chị mang quà anh Hoàng Cầm gửi.  Vẫn như mọi bận, một lít rượu làng Vân.  Ðể hôm nào chị qua chỗ cậu chị mang sang !
    Cám ơn chị, đến thăm anh Cầm là chị đã hiểu. Chị cứ kêu chị thất học, nhưng chỉ học chữ dễ khiến lắm người quên mất nghĩa. Và cái học trường đời, chữ cần một, nghĩa cần đến mười, mới thành người được. Chai làng Vân chị mang qua cho em lần trước vẫn còn một nửa. Tối nay, em sẽ uống, một ly cho chị. Một ly cho những huyền thoại chúng ta cùng nhau gìn giữ, không phải để phong thánh ai rồi nhang đèn điếu đóm, mà là từ đó ta lại khởi đi một cuộc lên đường sáng tạo. Còn lại, em uống để nhớ món quà Nhân Văn trao cho những thế hệ sau.Rượu làng Vân, rượu tình rượu nghĩa. Cũng những chén rượu đó tôi nhắp môi vào, hai mươi năm trước, nghe anh Cầm nghẹn lời, hạ giọng «…Chỉ mình ta…Ta say ta đạp lùi tinh tú. Ngủ yên rồi đôi cá đòng đong». Trên nền đất nện, một cái bàn mộc, dăm chiếc ghế chân lay, xộc xệch bao nỗi đời nên may mà có rượu chui, thơ chui. Như thơ các anh,  những nhà thơ không được có độc giả, sao dám mãi cứ thi gan nhả chữ vào vực thẳm để tiếng vọng xô từ vách đá là tiếng thở dài lẫn trong tiếng nguyền rủa. Thế đấy, nhưng Trần Dần vẫn  cười khẩy, thách thức  « tôi có thể mặc thây ngàn tiếng chửi tục tằn, trừ tiếng chửi ‘’sống không sáng tạo’’».Như rượu làng Vân, cũng phải chui. Quốc lủi, khác rượu quốc doanh ở chỗ nó thật, không dối trá, không lên gân hô khẩu hiệu. Nó thoang thoảng hương nồng chất nếp than, để lại đầu lưỡi buốt bỏng vị cay của hoạn nạn. Uống vào, bỗng dưng sẽ thấy con chữ ở dạng nào cũng đèo trên mình chữ tâm của người viết, chữ tình trong kiếp nhân sinh. Và nhất là trách nhiệm, với mọi người, kể cả những người muôn năm cũ.
18 – 11 – 2002










Nhớ Phái


Nằm bệnh, không sức làm gì khác hơn là lục lọi cái viết lách của mình, và tình cờ tìm được Nhớ Phái đã đăng trên báo Đất Việt, Canada, năm 1988. Nay nhuận chỉnh lại, xin viếng người họa sĩ tài hoa này sau khi ông rời cõi tạm đã ¼ thế kỷ, nhắc những người còn sống chớ quên văn hóa nghệ thuật ở đâu cũng có cội nguồn...

&
    Bạn đến. Vợ chồng con cái tíu tít. Con bé út, vừa được ba tuổi, ngày càng nói nhiều. Nó ngọng nghịu, hát :
  Au clair de la lune, mon ami Pierrot,
  prêtes-moi ta plume pour écrire un mot...
Nó vung tay múa, vụng về, nghiêng bên phải, ngả bên trái. Nó mắc cở, im  tiếng. Cháu cứ hát đi, ngọng một chút nhưng thế lại hay. Anh bạn cười. Chị bạn cũng cười. Cười hỉ hả. Bỗng anh hỏi:
    ‘’ Bùi Xuân Phái ở phố nào nhỉ?’’
Định bụng đáp phố Phái, chữ Nguyễn Tuân bịa, nhưng tôi lại nói:
     ‘’ Phố Thuốc Bắc  thì phải...’’
Anh bạn nói, vẻ lơ đễnh:   ‘’ Phái mới mất, hôm hai mươi mươi bốn tháng sáu!’’
Nghe bạn báo tin, tôi nhói trong lòng. Thảng thốt, tôi hỏi lại, thừa thãi: ‘’ Thật à ?’’.  Thật đấy. Mụ già định mệnh gọi, ai tránh được. Vả lại, trừ những kẻ đi tìm thuốc trường sinh như Tần Thủy Hoàng, mấy ai thật lòng cứ cố tránh mãi.
Thế là... người đời kêu, một ngôi sao đã lìa cái trần thế tai ương này. Thiên hạ ơi, những người yêu Phái và cả những người ghét Phái, dẫu muộn nhưng ta cùng nhau viết một câu phúng đi. Cần ca ngợi, chớ dè dặt toan tính, chớ tung hô mà sượng sùng gượng gạo. Hãy đếm cho thực kỹ số tranh Phái vẽ, chép miệng thì thào với nhau  thế mà cũng chẳng phong Nghệ sĩ Nhân dân. Nhân tiện, hãy nói  những điều  nhân  nghĩa. Thậm chí hãy tạo những huyền thoại quanh Phái, thứ huyền thoại thực là cần cho những người đang  sống mà chẳng biết về đâu.. Phải, bây giờ ai cũng làm như vậy  được. Nên làm, cứ làm, thảnh thơi mà làm, làm cho lương tâm yên ổn. Vì nay, Bùi Xuân Phái đã nằm xuống. Ông không nghe  nữa, không nhìn nữa, không nói nữa. Và không vẽ nữa.  Và này, hỡi những người đang sống, bao giờ cũng dễ độ lượng hơn với những người chết hơn là với những người đang sống. Khốn khổ thay! 
Phá cái trống tênh tịch mịch, anh bạn bảo ‘’  Cả Phạm Huy Thông nữa, mới đây cũng mất rồi. Báo chí đăng tin tùm lum, Nhân Dân  cho một cột lớn. Còn với Phái thì không, chỉ dăm tờ báo nhỏ  mới nhắc, như Hà Nội Mới, Văn Nghệ…’’. Tôi thầm nhủ, thế là may cho Phái.  Cắt ngang ý nghĩ tôi, anh bạn tiếp ‘’ Ông có biết Phạm Huy Thông không?’’. Có, gặp nhau bên Úc, cách đây có lẽ đến 5,6  năm rồi. ‘’Thân thế ông ấy thế nào?’’ Ông ta là một trong  những người làm thơ mới những năm 30. Sang Pháp du học, ông góp phần xây dựng phong trào Việt Kiều  thuở đó. Rồi sau Cách Mạng tháng 8, ông về nước. Ông sau này là Viện Trưởng Viện Khoa Học Xã Hội…  ‘’  Này, nước ta  làm gì mà có loại khoa học ấy?’’. Có chứ, cái gì mà ta lại chẳng có! Nhưng cuối cùng ông Thông chỉ làm việc Khảo Cổ. Cái việc  đồ đồng đồ đá ít tính giai cấp, làm cho vui, và biết đâu lại chẳng có chút ích lợi. ‘’ Thời buổi này thí nó vô bổ! Ông ta có công trình gì không? ‘’ Có chứ!  Đấy, là tiên phong trong phong trào thơ mới. Còn công trình gì  à?  Tiếng sáo hay tiếng địch sông…Chẳng nhớ là sông nào, sông Dịch hay sông Ô, tôi chịu!

*
  Nếu chỉ miệt mài đi tìm cái Đẹp và tránh cho thật xa  cái vòng quan trường thì chỉ có những tờ báo ‘’nhỏ’’ nhắc  khi anh nằm xuống. Lúc chưa xuôi tay, nghĩa là khi còn cầm được cọ, pha được màu, và còn dùng cả những hộp diêm bé tí tẹo làm khung vẽ,  chỉ có bạn bè nhắc đến anh. Như Nguyển Tuân chẳng hạn.
Nguyễn Tuân đã viết ‘’ Phố Phái’’. Những phố Phái xiêu vẹo. Xám. Đen. Nhưng trong vùng xám đen xiêu vẹo vẫn có những bóng con người. Khi tất tả, khi nhọc nhằn.  Nhưng lúc nào màu vẽ con người  cũng vẫn bật lên sự tiềm ẩn của hy vọng, nét bung ra sức sống, thường mạnh mẽ, quả cảm. Màu vẽ quần áo lắm lúc đỏ, cam. Nhỏ, chấm phá, nhưng vẫn là những con người có tương lai, còn hy vọng trong cái xám sẫm đường phố Hà Nội vốn siêu vẹo lại càng thêm siêu vẹo.
  Phố của Phái là thế đấy! Nhớ đến Hà Nội là nhớ đến những con người, là nhớ đến phố Phái, và …nhất là nhớ Phái. Cơn bực bội chợt ùa về làm lũ trong lòng.  Này, thiên hạ, Phái đã nằm xuống rồi, hãy can đảm cất lên tiếng nói chứ. Ít nhất, nếu không khẳng định gì thì cũng nêu vài câu cần hỏi. Tỉ như, sinh thời Phái được đãi ngộ thế nào? Sau vụ án Nhân Văn, Phái phải sống ra sao? Nghệ thuật của anh bị vây bủa o ép thế nào? Phái có những phương tiện gì để tiếp tục sáng tạo? 
Và hỡi những người không còn chịu nổi thứ văn hóa sần sùi của những cái lưỡi gỗ, thứ văn hóa tung hô, nô bộc, thực chất là  phản văn hóa, đã đến lúc chúng ta phải mở miệng. Không thể cứ mãi đánh đĩ với lương tâm. Không thể ném rác rưởi cặn dư vào bôi bẩn tâm hồn. Không thể cứ mãi câm nín. Chúng ta nay buộc phải mở miệng thuốc men giải phóng cho chính mình. Cho bớt tàn tật. Cho bớt những điều vô cùng phi lý. Bây giờ, phải ngoảnh mặt nhìn lui để biết ta thành tựu gì. Và phải biết những điều chưa làm được để tiếp tục vun trồng một nền văn hoá có bóng con người. Những con người thật. Có anh hùng, liệt sĩ với những chiến công giữ nước. Có những hèn yếu, thất bại, nông cạn thời thôi chiến tranh. Nhưng phải tôn trọng sự thật.  Sự thật nào cũng gần gũi với những con  người bình thường, biết yêu, biết ghét, phải ăn, phải mặc. Nhất là phải có hy vọng.
Với phố của ông, Phái cố giữ những hy vọng đó cho  những con  người sống trong ba mươi sáu cái phố phường Hà Nội.

*
(…) Lần đầu gặp anh, tôi đi với Dương Tường. Anh vừa ngao du ở Đông Đức về, hồn nhiên khoe ‘’  lần đầu mình xuất ngoại trong đời đấy!’’.  Anh lục lọi cho chúng tôi xem những bức tranh nhỏ xíu vẽ trên những mảnh bìa. A, không phải chỉ có phố. Có những nàng kiều nữ mặc áo tứ thân hớ hênh khoe bộ ngực no tròn. Có minh họa thơ bà cô tổ Hồ Xuân Hương, nào là Đánh Đu, nào là Sư chùa…Ơ kìa, Con ngựa và chiếc xe thồ. Tôi dán mắt nhìn, sao cô đơn lạ.  Anh thủng thỉnh ‘’ vẽ từ hồi kháng chiến chống Pháp, trên Cao Bằng’’ .  Tôi nhắm mắt lại. Bây giờ chẳng chỉ có cô đơn. Tôi nhìn ra  sự nhẫn nại. Và nhất là  một tâm hồn dịu dàng.
Trước khi về, anh tặng tôi một bức tranh.  Anh viết sau lưng bức tranh, nhắc  đi nhắc lại ‘’  Giữ kỷ nhé…Có biết  thế nào là tranh  đẹp không? Cho những kẻ chẳng biết gì thì…tiếc lắm!’’. Vâng, tiếc thật. Nhưng tiếc hơn cả là có những người không biết  cái Đẹp mà lại có quyền định ra khuôn thước của nó, từ đó đi phê phán, o ép và rồi trói buộc không cho  phép ai tự do  sáng tạo. Ai lại vẽ phố như Phái, buồn chết, chẳng hồ hởi chút nào, thiếu cái tính hiện thực xã hội chủ nghĩa, nghĩa là chỉ nhìn hiện thực bằng một con mắt tô màu đỏ. Kết quả, Phái vẽ, rất cô đơn,  trong những hoàn cảnh ngặt nghèo. Tranh anh là tranh của sự túng quẫn. Vẽ trên tất cả những gì có thể vẽ được. Từ bao diêm đến mảnh bìa cắt từ những thùng hàng ở ngoại quốc gửi về cứu trợ thân quyến trong nước. 
Còn Phái. Mảnh khảnh, xơ xác, đưa tay cho tôi bắt. Mắt anh rất sáng. Anh sống trong sự quên cái hiện thực vây bủa như chấn song bằng sắt của tủ hãm chẳng thật cần thiết. Anh lại nhắc ‘’  Giử tranh cho kỷ nhé, không thì tiếc lắm!’’.  Rất hồn nhiên. Anh cười. Vâng, chính sự hồn nhiên đó  mới cho phép  sống và vẽ như Bùi Xuân Phái được.

*
 ‘’ Kỳ vừa rồi ông về  ông có gặp ông Phái không?’,  anh bạn hỏi rồi quay sang bảo con bé  ít làm ồn cho người lớn nói chuyện. ‘’ Có chứ, lúc ấy ông Phái bị viêm họng, ho sù sụ, không nói được thành tiếng’’. Đó là lần tôi về Hà Nội sau 6 năm bị cấm cửa từ 1982 vì lý do gì thì tôi chỉ có thể đoán mà không biết chính xác (có lẽ là vì bản Góp ý về Ổn định và phát triển kinh tế VN - nói kiểu ngày nay - rất  ‘’ diễn biến hòa bình’’ mà tôi đã viết theo yêu cầu của ông Phạm Văn  Đồng để gửi đến Hội Đồng Bộ Trưởng thời đó). Tôi nhìn Phái, tưởng tượng chắc rồi cũng chỉ đau ốm qua loa. Chị Phái  bảo so với tuần trước thì anh ấy khá hơn, không sốt nữa. Tôi với tay xem mấy lọ thuốc.Thuốc là thuốc trụ sinh loại nhẹ, do một anh bạn tôi từ Toronto mang về.
Phái lắc tay như gạt chuyện thuốc men qua một bên. Anh cầm chai rượu trắng rót vào một ly, ly loại cổ cao dùng để uống liquor. Anh nhìn, không uống.  Dương Tường chép miệng ‘’ Chắc sắp khỏi rồi. thế chuyến đi Pháp tháng 7  này với Bửu Chỉ  đã chắc chắn chưa?’’Anh gật. Chị Phái đỡ ‘’  Ông ấy nói không được chứ thường mà gặp bạn là huyên thuyên nhiều chuyện lắm!’’.  Anh nhìn, tay chỉ vào miệng, cố gắng thốt ‘’  nói bằng mắt’’. Vâng thưa anh, đó cũng là một  cách nói.  Nói thế, chắc ít điều thừa thãi. Quan trọng hơn, khó nói dối. Xưa nay khi anh nói những  điều trong tâm can của người đời, anh đã chẳng vẽ để bắt họ nghe và  hiểu bằng mắt  đó sao!
Ra khỏi nhà Phái, chúng tôi sang bên kia đường để tránh dăm ba người ăn xin chắc từ Thanh Hoá ra Hà Nội mỗi năm. Và tôi thầm ước, ‘’  ước gì khôngcó những người chết đói trên phố Phái’’. Chiều về, tôi nhờ Tường cầm đến cho Phái một lọ trụ sinh loại mạnh hơn. Tối đến. trời mưa như trút nước. Bâng khuâng, tôi tự hỏi chẳng biết những người từ Thanh Hoá ra đây sẽ trú ẩn ở đâu. Và tôi lại thầm ước, ‘’  ước sao trời không mưa  thế này trên phố Phái’’.
       Tuần sau, tôi cùng Tường đi Sài Gòn. Chúng tôi đến atelier của Đinh Cường ở Phú Nhuận. Nhắc đến Phái, Tường vẫn lạc quan ‘’ Ông ấy còn khoẻ chán…Chắc  ốm sơ sơ, Văn Cao nằm nhà thương  mới đáng lo’’. Tôi nhìn lên tường, thơ Tô Thùy Yên chép chữ khổ lớn nhảy muá khúc Ta Về,  rưng rưng thấm vào lòng lời ‘’ cám ơn hoa đã vì ta nở/ trái đất vui từ mỗi lẻ loi’’. Trưa Sài Gòn nóng kinh người. Trịnh Công Sơn cởi trần ra, lúi húi rót ararat, thứ cognac Đông Âu, vào ly. Sơn bây giờ gầy guộc, có khác chi đâu một cánh vạc. Sơn cũng vẽ. Anh vẽ Nguyển Tuân để nhớ Nguyễn Tuân. Như một ngọn nến cô đơn, phía trái có một giọt máu nhỏ xuống, từ tim. Cường bảo đã nộp đơn xin cùng cả gia đình đi Mỹ. Chúng tôi tránh nhìn nhau những phút đó. Liệu có phải đi là chết trong lòng một ít  không? Đi thế, khác cách Phái sau đó vài tháng ra đi.  Anh đi luôn, và phải đào đất lên chôn xuống. Đi không ngoảnh mặt, không vẫy tay, không à ơi hẹn ngày trở lại. Nhưng những người nghệ sĩ buộc phải tha hương tìm đường sống hẳn chết trong lòng. Nhưng người còn cầm cọ quét màu lên canvas ở lại mong chết trong lòng một tí mà chẳng được. Họ chỉ còn biết đốt hương phúng viếng chính mình. Và cắm một cành hoa mỏng mảnh cho ngành Nghệ Thuật Việt Nam cứ dần dà phai nhạt. Nghe đâu Nguyễn Trọng Khôi cũng vừa đi Boston  để đoàn tụ với gia đình khoảng tháng nay rồi.

*
      Chị bạn thắp một nén hương cắm vào chậu cây nhài đang ra hoa. Nén hương viếng Phái đã nằm xuống hôm 24 tháng 6 năm 1988. Hôm ấy, có lẽ Dương Tường còn ở Sài Gòn, chắc không ra Hà Nội kịp. Trần Dần và Phùng Quán còn rong ruổi ở Huế. Và Bửu Chỉ, chắc lại ôm mặt khóc như từng khóc Nguyễn Tuân, khóc  mà không làm gì được.
Mùi hương thoang thoảng một buổi bóng đêm chập chùng ập xuống. Anh bạn chép miệng: ‘’ các ông ấy đi hết thì nay về Hà Nội chẳng  có hứng thú gì! ‘’ Thở dài, tôi cũng biết thế. Hững mình vào một khoảng tối tịch mịch, tôi  nghe  đâu đó một  tiếng kêu, các bạn ơi….Bạn viết, cứ viết. Vẽ, cứ vẽ. Làm thơ, cứ làm, như những  con  người  tự do. Làm nghệ thuật, xin làm như làm tình, trên mọi ngả phố Phái. Xin các bạn tiếp tục những  con đường  của những người như  Nam Cao, Nguyên Hồng, Đặng Thế Phong, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân…Và Bùi Xuân Phái. Để tôi còn về và xin làm quen các bạn!
    Có lẽ chưa bao giờ  chúng ta lại thiếu chữ nghĩa, thiếu âm thanh, thiếu màu sắc như bây giờ.
Bao giờ thời kỳ Phục Hưng bắt đầu?
    Các bạn ơi…Đóng góp vào nền văn hoá phục hồi trong tương lai  đó là các bạn mang trả lại hy vọng cho những  người  bình thường trên những  ngả phố Phái. Người bình thường chỉ mong ước một  cuộc sống bình thường với chút hy vọng vào tương lai. Tương lai ấy  hẳn ít đi những  anh  hùng, liệt sĩ của thời chiến nhộn nhạo mới qua. Tương lai ấy cũng chẳng  cần đến những  dối lừa gian manh, những  khẩu hiệu mị dân, những  mưu đồ cơ hội của thứ quyền lực ma ám  trong một  thời bình  mới vừa chập chững.
Con cháu bé  lại  nghêu ngao: 
            ‘’ Ma chandèle est morte 
                      il n’y a plus de feu
            Ouvres-moi ta porte, 
        pour l’amour de Dieu  ‘’
    Thấm thía từng câu hát, tôi ứa nước mắt. Giọng cháu ngọng nghịu nên chân thật, và tôi mạn phép bạn xin dịch lại để ta chia sẻ với nhau:
          ‘’  Dưới ánh trăng, bạn tôi ơi
                hãy cho tôi mượn cây  bút
                Để tôi viết lại  một lời
 Đâu còn lửa nữa,  ngọn nến  ấy tàn rồi
                      Hãy mở cửa
 Hãy mở cửa  cho (chúng ) tôi,  lạy  Trời!  ‘’
   

4 /7 / 1988









Đỉnh Ảo, Một Đời Thơ


Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ của mai này đụng độ mà không chết, dẫn tôi đi tìm Bùi Giáng. Không về ghé sông Mao phá phách chơi, chẳng chia nốt nỗi sầu cùng gái điếm, và bụng dạ nào để nghĩ đến đốt tiền mua một thoáng ngày vui. Đó là Sài Gòn đầu thập niên 80. Quần đen, áo bà ba. Nón cối gắn sao đỏ. Áo vàng thấp thoáng góc phố, mắt cay nghiệt rình rập, mặt lạnh như tiền. Như thế, dẫu là thánh cũng chẳng thể không mang mặc cảm phạm tội. Một thứ tội danh chưa biết nhưng có thể ụp xuống đầu bất cứ lúc nào, thậm chí ngay bây giờ, hoặc mai, hay mốt. Tội hay không, hên sui may rủi như  lắc xâm xin quẻ, tung đồng chinh sấp ngửa cầu một quẻ hào dịch ê a niềm hy vọng từ miệng người thầy bói mù đang lén lút hành nghềø dị đoan mê tín.
Chúng tôi đạp xe dưới nắng chang chang. Qua cầu Bông. Tìm, hỏi. Rồi hỏi, tìm. Không, không thấy. Vòng qua Tân Bình, cũng không. Mấy bữa rồi ông đi mất tiêu. Qua chợ Trương Minh Giảng, lại hỏi, cái ông ấy mà, râu tóc trắng xóa, con mắt rực màu tinh quái, áo vá chằng vá đụp thùng thình, thỉnh thoảng la hét gầm gừ, vai bị, tay gậy, nghe đâu dạo này lại có một chú tiểu đồng con con lẽo đẽo theo sau. Ờ, mới thấy bữa trước, giờ chắc ổng zìa Sè Gòn rồi. Chỗ nào? Trời biết, ổng như thần thánh, lúc biến lúc hiện…Chịu, thôi thì thôi, để mặc mây bay, chưa bén duyên thì gửi lòng yêu theo cơn gió lửng. Nào, đạp xe về, chỗ đám văn nghệ sĩ trú, số 160 Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Nguyễn Bắc Sơn ra chợ trời, tối hôm đó mang về một cuốn sách mất bìa, tơi tả  buộc kiểu bó giò bằng hai sợi dây thun, thiếu 48 trang đầu, bảo …ta cho chú mày cuốn sách gối đầu giường. Tôi rón rén nhẹ tay mở ra, phía trên trang bên phải  có chữ Tư Tưởng Hiện Đại (TTHĐ), bên trái thì M. Heidegger, cứ thế giở, đến W. Faulkner, A. Camus. Đến trang 478, tiếp Phụ Trương Thần Thoại Hy Lạp, với cước chú rất tếu:‘’…vì muốn hướng câu chuyện theo những viễn tượng nào đó được phơi mở nhiều trong tác phẩm của Homère – Euripide - Sophocle nên tôi kể chuyện Thần Thoại nghe ra có khác trong sách vở‘’…
  Tếu thế, và thế được là rất ngông nghênh, nhưng ngông nghênh duyên dáng nên chẳng để ai mất lòng (trừ những học giả hàn lâm, nghiêm túc chỉ thuần trích, dịch, ghi chú, liệt kê sách biên khảo với số trang chính xác…để … làm tài liệu). Giở trang bìa sau nát bét, mọt nhá đã bươm tả, giấy nhăn nheo vàng ố, thấy ghi Giấy phép số 2715/XB cấp ngày 10-11-62, không có tên Nhà Xuất Bản. Trang trong ghi Lời Cuối Tập, rằng:
Vì điều kiện ấn loát quá khó khăn, nên ông chủ nhà in muốn chia cuốn sách ra làm hai tập. Tập thứ nhì sẽ in xong sau Tết Nguyên Đán. Độc giả thông cảm cho. Đa tạ. (Ký) Năm Của- Năm Cao-Năm Lửa-Năm Giáng.  
Nhưng Tết năm nào? In thế, ông chủ nhà in hẳn chịu chơi và rất chiều tác giả, để tên ký cũng cợt nhả, không phép tắc qui củ, bất cần nhân thế, cái thế nhân thường giữ cho bề ngoài có nét đứng đắn đến độ ảo não âu sầu! Tay nào viết cuốn này vậy? Nguyễn Bắc Sơn phá lên cười, thì Bùi Giáng chứ còn ai vào đấy được! À, và nếu ông chủ nhà in là ông Thanh Tuệ thì nhân đây tôi xin gửi ông một lời chào. Quả ông có con mắt xanh, chắc ông in năm 63, thời đệ nhất Cộng Hòa, mai hậu sách sử gọi là thời Tiền Ngụy để khỏi lẫn với thời sau 90.

*
Có sách, phải đọc. Thật kỳ lạ! Dĩ nhiên có các vị M. Heidegger, W. Faulkner, A. Camus nhưng tất cả qua cái lăng kính Bùi Giáng, trộn vào nào là Thu Trang, Kim Cương, Thúy Kiều, Brigitte Bardot và Marilyn Monroe, nhuần nhuyễn tồn hoạt với nhau trong một tồn sinh mà tại thể tạo ý nghĩa cho tồn thể. Nhưng tại thể là gì? Là Dasein trong ngôn ngữ Hết-Đe-Ghè, …là thực tại người?…là cái thể đứng ra để đón mời tồn thể. Nếu không có thực-tại-người-tại-thể thì tồn thể sẽ thiên thu mất ý nghĩa, sẽ chỉ còn là lù-lù-vật-thể-lai-rai ( Tựa thứ hai cho M.Heidegger và Tư Tưởng Hiện Đại). Vậy Dasein là, Bùi Giáng cao giọng nghịch ngợm (TTHĐ, tr. 104), là Da (nghĩa thịt da) mà vì Sein (chỉ cái vú trong Pháp ngữ). Thế là nữ lưu các vị ở trên, Bùi Giáng ký dưới cứ rên hừ hừ. Thơ kiểu lục bát thì tỉnh bơ ký BG và Tố Như, còn sang đường luật thì là văn xuôi, tuyên bố ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn thể và cứ thế quậy cho… nát nhừ những nghĩa cùng ngôn, thò tay xem cái lò tôn (đọc lái kiểu Bùi Giáng, là tồn lo, là…) là gì. Tóm lại, đọc để hiểu tư tưởng Bùi Giáng quả là bất khả, nhưng có những thoáng thiên tài nhấp nháy ánh sao sa, và những phút giây khiến vỗ đùi cười phá lên vì không thể nhịn mà được. Tỉ dụ:
Khoa học giết người …khoa học ngây thơ được phép không ngờ…đã hồn nhiên gây bóng tối. Triết học giết người …và ít ai hiểu rằng sở dĩ khoa học giết được nhiều con người đến thế là chính bởi triết học khốn nạn đã dọn đường, chính triết học hư tà đã phạm tội trước tiên… Sự lầm lẫn tai hại của các triết gia-học giả đã tàn phá triết học thi ca suốt bao nhiêu thế kỷ, và dẫn  con người thời đại này tới đầu hàng cơ giới duy lý duy vật một cách nhục nhã. (trích Tựa thứ hai, sách dẫn ở trên).
…Luận lý học là tạo phẩm lai rai của nhà trường, của học giả. Triết nhân nếu có sử dụng luận lý học thì bao giờ cũng sử dụng với những hậu ý, coi luận lý học như một phương cách tạm thời giúp ta đạt được một cái-gì-khác lung linh hơn…Từ bao nhiêu thế kỷ tư tưởng của tinh anh đã hao mòn trong vòng vây của luận lý. Người ta đo tư tưởng theo tiêu chuẩn lệch lạc. Buộc cá phải bò trên bãi cát? Buộc chim phải lội dưới dòng sông?…Tất cả vấn đề là: làm thế nào cho xoang điệu hào hoa đừng bị đánh chìm bởi luận lý cò kè đo đếm, bớt một thêm hai. (trích Tựa thứ hai, sách dẫn ở trên).  
…Sau nghìn thế kỷ của ba trăm năm điêu tàn sa mạc, con người Trí Thức Trưởng Giả Da Vàng…vừa thống thiết tự xưng ’’ta Đông phương da vàng’’ vừa lém luốc dòm dỏ theo đưôi ‘’em Tây phương tiến bộ văn minh da trắng’’…Đông phương đã tiếp tục ngủ vùi giữa những trầm thống thất thanh kia. Và lúc sực tỉnh ra thì chỉ biết thống thiết chạy theo đuôi một cái đuôi hút heo tan nát, vừa chạy theo đuôi vừa gào to lên rằng mình vớ chộp được một cái đầu thật bự! (Trích Tựa cho Mùa Xuân Hương Sắc, An Tiêm,1990, tái bản lần1).
Vỗ đùi mà cười phá lên:
Nhưng tinh hoa của tư tưởng tồn sinh chính là ở chỗ chập chờn- tồn hoạt, hắt hiu -tồn động, lây lất- tồn lung. Luôn luôn phải xin mở những dấu ngoặc để nói chuyện đầu Ngô đuôi Sở, là cố công cố gắng để đi sát nhịp với tồn sinh…Và nói chuyện đầu Ngô đuôi Sở xong, thì xin phép đóng dấu ngoặc lại, để xuống dòng bàn đến chuyện đầu Sở đuôi Ngô khác. Bởi vì nếu không  tiếp tục bàn chuyện khác cũng đầu Ngô đuôi Sở thì ta sẽ rơi vào cái lỗi của hệ thống ngu si dập dìu những Waelhens những Jean Wahl những Sartre cứ lục tục nối đuôi nhau - nhưng không nối đuôi được đẹp đẽ như chuồn chuồn – để tết dệt hàng hàng những lách lau bá láp (TTHĐ, tr 103).
Cuộc «cách mạng» tư tưởng của học thuyết Sartre chỉ mở đường cho tư duy xuống dốc ( ta hết sức tàn nhẫn mặc dầu ta yêu Sartre gần bằng Trang Phượng. Và mến Sartre hơn bao kẻ hương nguyện. Và không muốn quên cái công của Sartre - không phải công với triết học mà là công với dế mèn – nhưng không thể nào không đậâp ngươi vì bổn phận đối với lá cỏ cồn mà ta yêu quí. Đập ngươi, ta rất đau lòng). Chủ nghĩa hiện sinh theo điệu Sartre sẽ sớm chầy bắt tay với duy - vật và suy - tư - khoa - học - máy móc. ( TTHĐ,tr. 147).
Tại sao một đêm ăn trộm bằng ba năm làm? Những bọn cầm bút phê bình cha-chú, ru rú rúc rào, lấp lơ giả vờ đứng – đắn – ta – đây để bổ nhào đè lưng kẻ làm vườn mồ hôi nhuễ nhoại – vâng – những bọn đó nên suy gẫm kỹ một cái câu này.(TTHĐ,tr. 183).
TTHĐ, tr. 364:
- “I’ve seed de fisst en de last”, Dilsey said, “Never you mind me”.
  - “First en last whut?” Frony said.
-  “Never you mind”, Dilsey said. “I seed de beginnin, en no I sees de endin”
Bùi Giáng dịch (giọng Quảng) :
-  Tôa đỏa thếy ké đòa ké cuếi.
-  Chớế ngeại chi têoa, Chớế lôô chi cho têao.
-  Đêầu cuếi ké chi?
-  Chớế lôô ngeại chi chô têao  hếếc.
*
Tết năm con khỉ cách đây hai giáp, tôi đến thăm Trịnh Công Sơn và gia đình thì Bùi Giáng đã ở đó, áo trắng (sạch sẽ, chắc để đi ăn Tết), nhưng mặt mũi thâm tím. Sơn vỗ vai tôi, bảo tên này cũng làm thơ. Giáng cười móm mém, vờn vờn đi kiểu hát bội, vòng quanh tôi hai vòng, mắt chằm chằm nhìn tôi như  một con vật lạc loài nơi phố thị. Đập đập lên vai, sờ sờ nắn nắn, Giáng làm điệu bộ đánh hơi, ước giá, miệng kêu khìn khịt, mắt hấp háy tinh quái. Thình lình, Giáng thò tay trái ra bắt, hố hố, «Đười ươi thi sĩ, đích danh tại hạ!» rồi đưa tay lên trán chào kiểu nhà binh. Năm Dao hỉ! Giáng ré lên, chỉ trỏ cười, huyên thuyên nói thứ ngôn ngữ pha Anh Pháp Đức Việt và ba lăng nhăng đủ loại âm thanh, nói liền năm bẩy phút, không cho ai cắt lời, chẳng cần ai hiểu. Tôi ngớ ra, lúng túng nhìn Giáng, chỉ biết cười cười. Sơn kêu, ông nội này phá quá trời quá đất. Giáng mặc, cứ tiếp tục, thình lình lăn cù xuống đất, lộn ngược đầu, xoay vòng vòng, lăn từ trong nhà ra sân, rồi lại từ sân lăn vào, tiếng da thịt đụng xuống nền đất bình bịch. Tôi kinh hoảng. Hình như cả nhà Sơn đã quen với cái cảnh này, chẳng ai lộ vẻ ngạc nhiên. Sơn đủng đỉnh, chút chả hết cơn, không sao đâu… Mươi phút sau, Giáng thôi ngọ nguậy, nằm thở hồng hộc. Một lát, Giáng lồm cồm ngồi lên, mặt mũi tươi rói, có vẻ không nhớ gì những giây phút vừa qua. Phải chăng, tôi tự hỏi, Giáng vừa tìm lại một thứ quân bình giữa cái thể và cái trí chừng như cái nọ làm lệch cái kia. Bất ngờ, anh nhìn chằm chằm vào mắt tôi, giọng Quảng đặc sệt, dịu dàng: «Có sống như thơ thì mới làm thơ được!».
Thơ Bùi Giáng. Phải nói, nhiều người đã xưng tụng thơ Giáng. Cũng nhiều người, nhăn mặt kêu, thơ đang hay bỗng trửng giỡn, mất hay. Nhưng nói gì thì nói, ai cũng nhận rằng Bùi Giáng là một nhà thơ. Và là một huyền thoại sống. 
Tôi biết một đêm ăn trộm bằng ba năm làm, không chơi trò ru rú rúc rào, nhưng xin thưa với Đười Ươi thi sĩ những bài thơ của anh mà tôi trân trọng. Trong tập Mưa Nguồn (1963), bài Người đi đâu,với 
          Trời vi vút én liệng vòng hớt hả.
 Đi đi em nguồn giậy mộng chiêm bao.
Về thao thức canh chầy tìm trở lại. 
Bốn chân trời người đứng ở nơi nao. 
Rồi bài Phương Hà, nhất là đoạn: 
Trời tuổi trẻ bụi nào về vây hãm. 
Giữa mịt mờ trăng nước lạnh liên miên.
Hoài vọng uổng bên nỗi đời thê thảm. 
Hờn núi sông anh lạc xứ xa miền. 

Trong Mắt Buồn, hai dòng như chuỗi hạt trai, rằng: 
Bây giờ riêng đối diện tôi.
Còn hai con mắt khóc người một con.

Cuối cùng, Mai Sau Em Về, trác tuyệt bất ngờ là hai câu:
Em về mấy thế kỷ sau. 
Nhìn trăng có thấy nguyên mầu ấy không.  
Đến tập Lá Hoa Cồn (cũng 1963), tôi yêu lục bát Bùi Giáng, và nhận ra anh là đứa em cuối cùng của Tố Như Tử (chứ chẳng phải Nguyễn- Bính- ca- dao hay Phạm- Thiên- Thư- vô -thanh - vì- không- đủ -đoạn- trường). Với Dệt Áo, hãy nghe:
 Áo vàng xin dệt cho em. 
Tơ vàng ai lựa sợi mềm tay đan. 
Mai sau để lại hoe vàng.
Cầm nghe có thịt da nàng ở trong.
 Còn Sa Mạc Phát Tiết, đoạn cuối khiến châu thân lạnh toát rợn người:
 Thưa em trời chẳng cho gần. 
Đường vô hạn trắng tử phần ban trưa.
 Đêm vần vũ bạc phau xưa.
 Hồn sa mạc phát tiết mưa ra ngoài.
 Bây giờ, lần dở Ngàn Thu Rớt Hột ( lại cũng 1963) và nghe Bùi Giáng lên cơn tếu trong Gởi thôn nữ Vĩnh Trinh, kêu ca:
 Tấm quần em rách đường tơ.
 Cỏ trong mình mẩy bâng quơ mọc nhiều, 
rồi  sau lại hỏi: 
Bây giờ em đứng nơi đâu.
Cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao.
Chưa hết, làm xong mấy khổ lục bát, Giáng tái bút:  
Gắng thu xếp gấp rồi vào. Tấm quần năm trước phai màu rồi phải không. Trong này thiên hạ rất đông. Ăn mặc thật đẹp nhưng trông không mặn mà bằng em.
Anh viết cứ như thật! Em nào chịu cho nổi cơ chứ? 
Đến  Màu Hoa Trên Ngàn ( lại lại 1963), Bùi Giáng vẫn cứ phong độ, thơ trào ra, có tệ thì thi thoảng xuống mức thường thường bậc trung, nhưng chỗ này chỗ kia vẫn lấp lánh những ánh sao băng kỳ diệu. Em về mấy thế kỷ sau lại được lập lại (sau đó thêm một lần nữa thì phải) trong bài Em Về Ra Sao. Xin chép: 
 Em về mấy thế kỷ sau. 
Hồn ngân tiết điệu câu chào vọng qua.
Em đi lòng độ giang hà. 
Cỏ mùa thu mọc chớm già chợt non.
A, cái tứ thơ lạ, em về nhưng lại mấy thế kỷ sau, tại sao hở em? 
Chỉ nội một năm 1963, Bùi Giáng  ra thêm Màu Hoa Trên Ngàn, tức là 5 tập thơ. Thêm vào , Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Đại I và I I, rồi Sao Gọi Là Không Có Triết Học Heidegger, là hai cuốn sách lý luận biên khảo. Và chỉ một năm thôi, là thừa cho một đời văn: anh đả để dấu ấn Bùi Giáng trong văn học và thi ca. Từ 1955 đến 1975, Giáng viết khoảng 46 (47?) tác phẩm, đủ thể loại, từ sách Giáo Khoa đến Dịch Thuật. Sau 75, anh không sung sức như trước, nhưng thơ anh thấm thía trạnh lòng hơn, và cũng hoài nghi hơn, đôi khi có chút uỷ mị chua xót, nhưng gì thì gì, vẫn ngộ nghĩnh. Tôi chép ba bài tôi cảm:
Bao giờ
Bằng bút chì đen
Tôi chép bài thơ
Trên tường vôi trắng
Bằng bút chì trắng
Tôi chép bài thơ
Trên lá lục hồng
Bằng cục than hồng
Tôi đốt bài thơ
Từng phút từng giờ
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không 
Một đời
Một đời đâu chốn đâu nơi
Đâu người đi kẻ ở đời đâu đâu  
Em đi từ tỉnh mộng đầu
Một mình anh ở mang sầu trăm năm
Em từ vô tận xa xăm
Trùng lai chất vấn: từ trăm năm nào?
Gió
Gió qua đồi núi cheo leo
Gió chào em Mọi bên đèo đầu truông
Giữa đèo rốt cuộc một muôn
Bên giòng suối mát cởi truồng ngồi chơi
Nhân vì có việc qua đồi
Thấy em xinh đẹp tôi ngồi ngắm em
Thế rồi công việc bỏ quên
Chỉ còn có biết ngắm em thôi mà
Về sau khắp bến giang hà
Nơi nào cũng thấy ngọc ngà đèo truông
Phải nói, bài Bao Giờ hay, có chất Apollinaire, một nhà thơ người Pháp Giáng trân trọng. Bài Một Đời trung trung, được câu chót, bất ngờ, nâng cấp bài thơ lên một tầng siêu hình. Bài chót, Gió, mới đọc thì thường, quá thường, loại thơ kể chuyện. Nhưng không hiểu sao nó ám ảnh. Em Mọi man sơ nay thay những kiều nữ môi son má phấn Kim Cương, Malyn MốngLồ, Bizít Bàđô? Sao thế nhỉ? Thơ lại thơi thới, hân hoan, giản dị, thực thà, ngộ nghĩnh và trẻ thơ. Nhất là vào những phút cuối đời! Sao trẻ thơ được thế nhỉ?

*

Sống như thơ thì mới làm thơ được!
Nhưng sống thế nào là sống như thơ, anh Giáng? Khà khà, là sống, thế thôi. Sống như anh là lang thang phiêu bạt, không cứ sơ ûđể cứ bàng hoàng nỗi niềm cố quận. Chẳng danh chẳng lợi, ôi chuyện phù hoa. Không quá khứ không vị lai, tại thể phải ngay đây, chốn này, tức thì, quyết liệt từng giây từng phút tồn lưu. Chân thành với cả hư vô và hữu thể, tránh màu mè uốn éo giả dạng này kia. Thôi ảo vọng, nhận mặt cuộc phù sinh như bạn đời chăn gối, và gối chăn là sao trời là huyễn mộng ta gắn cho cô em cái tên để thành hiện thực mầu nhiệm lung linh…
Thế thôi sao? Quay hỏi tiểu đồng, sao mặt mũi ổng thâm tím thế? Tiểu đồng đáp, ổng zô hẻm, lộn đầu trồng cây chuối chổng đít lên trời đi bằng tay, bên trên hẻm có căng biểu ngữ nền đỏ chữ vàng, kẻ «Không có gì quí bằng độc lập tự do…». Công an kêu, ổng tỉnh bơ. Nó chặn nó uýnh, uýnh xong ổng lại lộn đầu chổng đít đi ra. Nó biểu, chống chính quyền hả. Ổng cười. Lại bị uýnh, lần này lết không nổi. Người bầm dập, mang về bóp thuốc, chưa khỏi thời ổng lại tới con hẻm, bắt đền, đòi quyền sống. Sống thế, cũng là sống như thơ à? Tức phải trung thực. Phải tự do, tự do tuyệt đối, bất kể bất cứ quyền lực nào vây bủa o ép, sẵn sàng sống chết đổi lấy một thứ giá trị người đời cho là trừu tượng viển vông...
Có phải có thế thì mới sống với và bằng những con chữ mà không mang thân phận mang kẻ bất lực chăn chiếu đang gượng leo lên giường rồi quay mặt không dám nhìn bà sồn sồn quyền thế nằm ngửa dạng chân? Khi Tố Hữu leo đến tuyệt đỉnh quyền lực, anh em văn nghệ kể, Bùi Giáng đến trước số 160 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, giữa trưa réo, ông Lành ơi, ông làm chi mà chúng nó đày đọa văn chương thế này? Nghe Giáng  gào thét, ai nấy im lặng. Người đứng, đứng yên. Người ngồi, ngồi yên. Nhột và ngột. Giả tảng không hiểu, nhưng chẳng ai dám nhìn vào mặt ai. Chẳng ai xuống mở cổng mời ông vào, rót cho ông chén nước, mặc để ông cứ gào,  ông gào như thế chóng chầy chắc sẽ rách toạc cuống cổ.
  Một buổi tối năm 88, Trịnh Công Sơn đưa tôi đến chỗ cõi tạm Bùi Giáng, trong một khu vườn nhà cháu ông, một người tôi cũng quen biết. Chúng tôi mới mon men vào, đèn bỗng tắt ngúm. Sơn khe khẽ gọi, anh Giáng ơi, Sơn đây. Đèn lại bật. Sơn hả? Bùi Giáng đẩy cửa, tươm tất, sạch sẽ, thậm chí đỏm dáng, áo quần râu tóc trắng tinh. Chiếc màn buông quanh chiếu, cũng trắng, và thoang thoảng trong không gian là mùi hương mới đốt. Bùi Giáng không điên như người đời tưởng. Anh điên cách của anh, có chọn lựa và rất ý thức. Anh dịch lời Pascal, người ta vốn điên, điên một cách thiết yếu đến nỗi không điên cũng là điên theo một lối khác. Và nói cho cùng, Nietzsche điên, Heidegger điên, Holderlin điên… Trang điên, Lão điên, Thích Ca cũng điên… Thì anh, kẻ  nòi tình đến sau, muốn về nơi họ chắc không điên chẳng được. Và khi anh tỉnh, rất uyên bác với một trí nhớ kinh điển khủng khiếp, thì ai mới là những người điên nhỉ? Năm đó, lần cuối tôi gặp anh là dịp ta cùng gặp Trần Dần. Cũng lần cuối.
Trở về chuyện Bùi Giáng, huyền thoại sống. Thiên hạ bốn phương cần huyền thoại vì phải chăng sống như thơ là một nhu cầu hằng tưởng nhưng bất khả đạt? Vì trung thực là một tất yếu của cuộc tồn sinh? Tự do, sự sống còn của tồn thể? Và nghịch ngợm, hóm hỉnh, hân hoan là cái hạnh phúc tồn hoạt. Nhưng những cái tồn (nọ, kia) theo chữ Bùi Giáng, ít người biết anh định nói chi. Ngược lại, người  người biết anh sống cái gì và sống ra sao. Và có thế anh mới thành huyền thoại. Với bài thơ Gió và cô em Mọi, anh hoàn nguyên chất trẻ thơ. Anh thật may: trung niên thi sĩ gầm gừ tác phong mãnh hổ đã hoá thân ra đứa trẻ lúc cuối đời là giấc mơ của Nietzsche. Hình ảnh Bùi Giáng áo quần chằng đụp đủ mầu như một lão đạo sư nghễu nghện trên đỉnh ảo một đời thơ không là huyền thoại. Anh thực sự có đó khi xưa, và vẫn đây trong tâm tưởng tôi bây giờ, với nụ cười móm mém hiền hòa, ánh mắt tinh quái nhưng dịu dàng. Câu anh thốt, sống như thơ thì mới làm thơ được, vẫn đâu đó theo tôi đằng đẵng một thời.
Cứ nhớ bạn, lại mất ngủ. Nhớ anh, lại nhớ Sơn và căn vườn treo phố Duy Tân. Nhớ ánh nắng xế trưa hoe vàng đậu trên những tàn lá cây me dưới cái màu xanh ngăn ngắt của trời cao độ lượng. Bây giờ, đêm ở đây. Tôi lục lại dăm tấm ảnh, mấy bức thư còn ấp chút hương xưa một thời quá vãng. Một mảnh giấy nhỏ xíu mầu vàng rơi xuống. Không phải lá muà thu, dẫu ngoài kia, trời đã lạnh và rừng phong cạnh nhà đang chuyển sang màu đỏ. 
Mảnh giấy đèo bồng hai hàng chữ: 
Người đâu gập Búi Giáng Bùi
Hỏi thiên thu, gió, buồn vui những gì ?
Chữ anh hay chữ Sơn. Chắc chắn không phải chữ tôi, xấu chứ không được đẹp như vậy. Thơ anh hay thơ Sơn. Hay thơ tôi. Không nhớ được. Hề chi, hề chi. Có hề chi vàng những rong rêu…Không- anh không- Sơn không- tôi thì là chúng ta vậy.
Xin chào, anh Bùi Giáng. Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau. Rồi sẽ một ngày tái ngộ, hẳn thế. Với anh, với bạn bè và những kẻ nòi tình.


Gửi BG, 5 năm khuất mặt
7-10-2003
Hợp Lưu, 74, Xuân Giáp Thân






  


Phùng Cung, thơ và người
Kính viếng Phùng Cung và Phùng Hà Phủ

Năm 14 tuổi, tôi đọc Con Ngựa già của Chúa Trịnh. Đọc lén vì bản thảo nằm trong một cái tủ cha tôi khóa kỹ, thỉnh thoảng mở ra rồi thận trọng nhét vào một cái hồ sơ trên có đề chữ mật. Chữ này đầy mãnh lực, hấp dẫn đến đỗi quên ăn quên chơi ngay ở tuổi tôi đang lớn. Tôi đánh được chìa,  mở tủ lấy hồ sơ, leo lên trần nhà. Ghé vào những khoảng sáng hắt qua kèo cột, tôi say sưa đọc, mồ hôi nhễ nhại  trong cái hừng hực nóng của mùa hè Sài Gòn đổ lửa. Năm sau, cụ Hoàng văn  Chí in Trăm Hoa đua nở trên đất Bắc. Tôi lại đọc lại, lần này đàng hoàng đọc. Nhưng tôi chưa thật hiểu thế nào là ẩn dụ, tuy bụng vẫn quặn thắt  đau cái nỗi đau của con ngựa chiến đứt ruột chạy vòng cuối, cái vòng khốn nạn của thứ định mệnh oái oăm.

*
Lần đầu tôi đọc Phùng Cung khi ông ta vừa 30 tuổi. Về Cải Cách Ruộng Đất, ông Võ Nguyên Giáp đã công khai nhận sai xót, và như một hình thức kỷ  luật, ông Trường Chinh thôi chức Tổng Bí Thư Đảng Lao Động. Vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm đã yên ắng.Tuy thế, người ta vẫn xử lý nội bộ, định tội, bắt đi ‘’thực tế’’, bỏ tù và vô hiệu hóa những người dám đòi lại quyền lãnh đạo văn chương-nghệ thuật về tay chính những kẻ làm văn chương-nghệ thuật mà không chịu uốn cong ngòi bút phục vụ những tiêu chí thuần chính trị, những khẩu hiệu vô hồn, những ý đồ được khôn khéo che đậy bằng thứ ngôn từ uốn éo như rắn hổ mang chui ra từ những chiếc lồng khi nghe tiếng kèn phù thủy. Năm sau, tình hình miền Nam sôi sục. Những người tập kết xốn xang tung hô khẩu hiệu giải phóng miền Nam, bộ xe-pháo Duẩn-Thọ phất cờ, trong khi mâu thuẫn giữa Trung Quốc mao-ít và Liên Xô xét-lại đã hóa ra công khai. Với miền Nam, giải phóng thế nào đây? Chiến tranh cách mạng kiểu Bắc Kinh hay vận động chính trị  trong bối cảnh chung sống hòa bình Mốt-cơ-va? Đột nhiên, cái gọi là «xét lại chống Đảng» được xì xào như một mối nguy cơ, và nhân đấy đám thân Tầu tiếp tục cuộc «chỉnh đốn tổ chức» đã phải bỏ lưng chừng trong đợt sửa sai Cải Cách Ruộng Đất. Những mối thâm thù lại có cơ tác quái, và mọi thứ bạo lực từ những động cơ ngu muội tô hồng bằng bạo lực Cách Mạng được xử dụng nhằm thanh trừng nội bộ, xoán chiếm quyền lực mông muội. Tiểu tư sản-trí thức thành thị- cái anh tạch tạch sè- thình lình thành đối tượng đấu tranh của giai cấp nông dân (được nâng cấp thành liên minh công-nông). Vào năm 1961, người  ta bắt Phùng Cung khi chị Thoa- vợ anh- có 2 đứa con còn cắp nách. Tại sao?
   
*
Hơn bốn mươi năm sau khi đọc Con Ngựa già của Chúa Trịnh, đầu tôi vẫn cứ một câu tại sao? Phùng Cung xưa phụ trách nhà in, không ‘’chính trị’’ như Nguyễn Hữu Đang, uy tín như Phan Khôi, và cũng không là chiến tướng như những Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán…Trừ Đang và Thụy An, tất cả đều đi thực tế, một cách cải tạo không phải là gay gắt nhất. Sau thực tế thì về Hà Nôị nhưng bị treo bút, cô lập. Khổ nhất là bị cô lập, không ai dám ‘’dây với hủi’’, kể cả những người trong gia đình
Năm 1999, tôi có dịp hỏi một nhân chứng ruột thịt của Phùng Cung. Con anh, là Phùng hà Phủ, đến thăm tôi vào dịp Giáng Sinh. Phủ kể, ‘’ …thời Cải Cách Ruộng Đất, ông nội cháu lo vì có thể bị qui là địa chủ cường hào, và quả là sau ông bị đấu tố  rồi đưa lên giam trên Thái Nguyên. Bố cháu lên thăm, nhưng đến nơi thì mộ ông cháu mới đắp, trên chỉ có một ngọn sắn lá đã héo để đánh dấu, đất còn ướt…’’. Phủ châm thuốc lá, rít một hơi, thở dài ‘’ thế mà trước đó bố cháu cứ tin rằng có một bày con đi kháng chiến thì sẽ chẳng đến nỗi nào!’’. Nói qua quít để an ủi, tôi bâng quơ ‘’ chắc ông ấy hận lắm…’’. Cời  thanh củi cho cháy bùng lên trong lò sưởi, Phủ khe khẽ lắc đầu. Lát sau, Phủ trầm ngâm ‘’ Bố cháu hận thì không, nhưng buồn thì có. Buồn đến độ bố cháu chẳng còn muốn gặp ai…Sau, bố cháu kể, oan thì có oan, sai thì có sai, nhưng thời đó chuyện ấy đầy rẫy, cải cách rồi sửa sai…’’. Nghe Phủ thì thào, tôi thốt nhiên chột dạ. Tôi nhớ đến lời những  lãnh tụ nhắn nhủ,  cứ vừa làm vừa học, rút kinh nghiệm, hễ thấy sai thì sửa. Trời ơi, nhưng sai mà gây ra án mạng, cướp sống những cuộc đời vùi vào ba tấc đất oan khiên mất rồi thì sửa làm sao? Nhưng sai mà phá tan nát cái cấu trúc cơ bản làng xã, kích thích lòng tham lam và hận thù khiến nhân nghĩa lộn lạo, thì sửa làm sao?   
Sửa thế nào được khi những con rắn giáo ba đầu sáu tay lẩn vào ước mơ và dùng ngôn từ để ngóc đầu nhe răng phun nọc!

*
Phùng Cung chỉ buồn? Anh tiếp tục công tác trong cơ quan hội Văn Nghệ. Đến khi Nhân Văn ra đời, anh đợi đến số 4, tháng 10, năm 1956 mới đưa in Con Ngựa già của Chúa Trịnh. ‘’ Thế thì 5 năm sau, tức vào năm 1961, người ta lại bắt bố cháu đi tù? Và tù liền 12 năm? Tại sao?’’
Phủ không trả lời, chỉ thở dài. Nhưng sao tôi nghe đâu đây như có tiếng ngựa hí? Không, ở xứ này giờ đây là mùa Đông, ngoài trời lạnh –20 độ C, nước  chỉ dăm phút là đóng đá. Gió rít lên, lửa trong lò sưởi chập chờn, tuyết bay bám vào cửa kính vẽ mơ hồ những đoá hoa trước lúc hóa băng.
Tại sao? 
Lại tiếng ngựa, nó hí, vó đạp lộp cộp xuống mặt đất co cứng. Con Kim Bông chăng? Chắc nó đang ‘’cao đầu phóng vĩ’’, cái thế con Thiên lý mã lệnh xông xáo trận mạc ven sông Gianh. Mà nào đâu sông Gianh, nay hòa bình lập lại rồi. Đây là Hà Nội,  thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Như vậy thì Kim Bông đang hàm ân thánh đế, ở mã đài, để  bọn mã phu dăm bảy đứa chải bờm tỉa lông. Rồi một ngày:
‘’…khi mã phu buông tay; lạ lùng lắm, nó thấy hai vật gì to bằng cái lá đa che ngang hai bên mắt, khiến nó có thể nhìn thẳng phía trước mà thôi. Rồi mã phu đẩy nó lùi lại, đứng vào giữa hai càng gỗ sơn son thếp vàng. Ủa lạ quá chừng, những cái gì mà đẹp thế này? Ta sẽ làm gì đây? Nó rùng mình, thấy hãnh diện như được sống một kiếp sống khác, sung sướng hơn trước.
Bỗng dưng hai càng gỗ dúi mạnh một cái,cổ nó bệt xuống, miệng nó gần chạm đất, nó vừa ngóc được thì dây cương đã ghìm thẳng. Nó cất bước thấy nặng; cái nặng quái gở, như bóp nghẹt lấy cổ, có lúc bềnh bồng nhẹ đi một chút nhưng rồi gáy no càng như lún xuống…Khi nghe tiếng bánh xe nghiền trên mặt đá, nó mới biết là nó đang kéo xe cho Chúa.
Nó gục đầu xuống lủi thủi kéo chiếc xe qua sân, hai mắt lờ đờ nhìn thẳng, mỏi mệt, chán ngán…’’   
(Trích Con Ngựa già của Chúa Trịnh)
Phủ tiếp, giọng trầm hẳn xuống,  Bố cháu ra tù khi hai anh em cháu đâu mười một, mưòi hai.  Một hôm, cả nhà cháu đi bộ trên lề phố Trần Hưng Đạo, khúc gần Bà Triệu, thì có tiếng gọi, Cung ơi, Cung. Mọi người quay lại. Bác Dần đứng lề bên kia vẫy. Bố cháu chưa kịp phản ứng thì mẹ cháu giằng lấy tay, miệng van vỉ, em lậy anh, đi thôi…Em và các con đã khổ lắm rồi…Đi  thôi, anh ơi!   Ra tù, bố cháu cách ly với bạn bè, chỉ chuyện áo cơm cũng đã khổ sở. Đập đinh, rồi làm bánh. Và khi có việc thì nề, mộc…Thế mà công an họ cứ đến  ‘’làm việc’’, khủng bố tinh thần đến độ mẹ cháu bảo thà là ở trong tù còn hơn…

*
Tại sao? Hay là…
‘’ Nó gục đầu xuống lủi thủi kéo chiếc xe qua sân, hai mắt lờ đờ nhìn thẳng, mỏi mệt, chán ngán.
Nhưng chẳng bao lâu,những chậu thóc trộn mật vừa ngọt vưà bùi, những bó lá trúc quân tử vừa thơm vừa dòn sậm sựt đã cùng những buồn tủi sầu muộn, cùng những ước mơ trôi qua ruột, tống ra ngoài trả lại cho quá khứ. Con thiên lý dần dần quen với chức vị. Nó thấy mình phải phò Chúa đến hơi thở cuối cùng mới xứng danh Thiên lý mã’’  (Trích Con Ngựa già của Chúa Trịnh).
Chức vị nào trong Hội? Hội Nhà Văn hay liên hiệp hội Văn Học Nghệ Thuật? Ông Nguyễn đình Thi? Hay là ông Tố Hữu? Hay cả hai. Hoặc lại ông Tô Hoài, con dế mèn phiêu lưu nó phình to hơn chính người ông, như Phùng Cung từng nhắc lại sau này trong một truyện ngắn? Tôi không biết. Và nay, có những người đã nằm xuống. Nghĩa tử là nghĩa tận. Tôi chép bài thơ Bụi sao rơi, rất Phùng Cung, gửi viếng họ:
Đèn bên sông 
Hay bụi – sao rơi
Mà hiu hắt cơ hồ muốn tắt
Có phải bóng hình người 
Đã khuất
Mộng công hầu chưa đạt
Nay lại lần về mượn cửa
tái sinh.

*
Cơn bão tuyết đêm qua đánh tan những đám mây khiến sáng dậy mặt trời nở ra rực rỡ. Dưới ánh nắng tươi vàng, hai chú cháu đi dạo trên những con đường tuyết phủ trinh bạch, chưa một vết chân, chưa có gì thừa thãi, dẫu một  lời, dẫu một hơi thở. Chúng tôi bước trong giấc mơ nguyên thủy, khi lời nói còn âm điệu tiếng chim ban sơ.  Phủ ngừng chân, buột miệng ‘’ …tiếc là bố cháu chưa gặp chú !’’. Chép miệng, tôi ngần ngừ, duyên phận cả. Phủ kể, bố cháu một hôm nắm tay cháu, cao hứng đọc thơ cho cháu nghe. Bố bảo họ Phùng nhà ta chẳng có gì, chỉ có cái này, tay đưa cháu một tập bản thảo, toàn chữ là chữ. Cháu còn ngơ ngác thì bố cháu đập tay lên vai, cười, ‘’…có cái này là có đóng góp cho đời…Con phải biết hãnh diện! ‘’.
Tôi nói, Phủ nhớ, đọc một bài đi. Phủ rưng rưng :
…mồ hôi Mẹ
Tháng ngày đăm đăm nhỏ giọt
Con níu giọt mồ hôi
Đứng dậy làm người
Tôi lặng đi, lần đầu nhớ một người chưa gặp.
Lát sau, nhìn Phủ, máu mủ của cái con người ấy, tôi thành thực ‘’…Chú gặp bố cháu rồi đấy. Gặp ở cái thế Đứng. Đứng dậy làm người’’. Vừa dứt lời, tôi ứa nước mắt. Vâng, dẫu nước mắt là cái chẳng một ai dám tưởng mình có thừa!

*

Vào đầu thập niên 80 tôi có hỏi nhưng không một ai biết gì ngoài Con Ngựa già của Chúa Trịnh. Như vậy, chẳng phải những Truyện Ngắn viết từ 56 đến 59 nhưng không phổ biến đã là cái đẩy Phùng Cung vào cảnh tù tội. Thế thì  Tại sao? Nói đến chức vị thôi, làm sao có thể gây thâm thù đến độ đày đọa nhau đến thế? Bỗng đâu tiếng chân ngựa lại chậm rãi lộp cộp. Có phảI vẫn Kim Bông, con ngựa Mã lệnh mang danh Thiên lý nay kéo xe…
‘’…Từ ngày vào phủ Chúa, lần đầu nó được đi ra ngoài. Nó ao ước thăm cảnh cũ. Xe ra khỏi phủ Chúa, bon bon trên con đường đất rộng thênh thang. Nhìn thẳng phía trước, nó lấy làm lạ, nó kêu í í trong cổ như tự hỏi ‘’ Làm sao con đường này ngày xưa rộng mà nay nhỏ bé như thế này!’’ Đi được một quãng nó nhìn lên phía trên, lại đứng tự hỏi : ‘’ Ô hay, ngôi chùa kia, ngày xưa rõ ràng nằm bên cạnh một quả đồi lớn, mà bây giờ quả đồi  lại nhỏ bằng con đường ta đi là nghĩa làm sao? ‘’ Tất cả  những cảnh vật trước mắt nó đều nhỏ lại, và thẳng tắp. Nó nhìn cánh đồng, cánh đồng cũng chỉ là một đường thẳng. Rồi cây cỏ, núi đồi cho đến mầu giời xanh cũng chỉ thu lại là một đường thẳng. Nó không ngờ hai chiếc lá đa che hai bên mắt chỉ cho nó nhìn được một chiều. ‘’
        (Trích Con Ngựa già của Chúa Trịnh).
Anh Cung, chịu anh! Quả đồi cũng  thẳng, mầu trời xanh cũng thẳng nốt, và tất cả đều nhỏ bé lại bằng con đường ta đi. Anh nói thế là chạm nọc rồi, và lại nói gần năm mươi năm trước như một lời tiên tri, ở thời điểm có kẻ lu loa rất ‘’khoa học’’  là có sức người sỏi đá cũng thành cơm!
Ôi cái thân trâu ngựa! Kim Bông hỡi Kim Bông! Con ngựa chiến đi kéo xe,
‘’ trước hơi thở cuối cùng, nó lấy hết sức tàn, ngóc đầu lên cao, co co hai chân trước, thẳng thẳng hai chân sau, chừng như cố để giữ lấy cái  thế  ’’cao đầu phóng vĩ ’’. ‘’
        (Trích Con Ngựa già của Chúa Trịnh). 
Cái thế đó còn gọi là cái thế có kẻ ao ước làm một tên hát rong, un chantre, mà Tố Hữu kể cho Phùng Quán nghe vào lúc thất thế cuối đời. Chantre, là kiểu Văn Cao gọi Trịnh Công Sơn. Và đến nay tôi vẫn chưa hình dung ra nổi sự tương đồng giữa Sơn và nguyên Ủy viên Bộ Chính Trị ĐCSVN  Tố Hữu. Ô hay, tôi ơi, đừng tuyệt vọng!

*
Đến giữa những năm 90 người ta mới biết có Xem Đêm, và câu chuyện cảm động : Nguyễn Hữu Đang mang hết tiền dành dụm chắt bóp cùng Phùng Quán tìm cách in thơ Phùng Cung. Phủ nói, cháu có tâm nguyện in cho bố cháu một tuyển tập. Dẫu  có đọc, nhưng đọc chút ít, tôi khuyên, thơ không cần nhiều, nhưng phải hay. Một  đời thơ chỉ 5,10 bài là đủ. Phải đến khi Phủ chuyển cho tôi, tôi mới biết dòng thơ Phùng Cung có cái chất long lanh của những hạt sương đậu trên cánh lá non xanh một sáng tinh mơ của vạn vật. Mời nhau cùng nghe:
Lá súng lát mặt ao
đốm ngọc 
Con sộp phàm vồ hão
Bóng hoa lay
Lá tre rụng
Nhuộm hoàng hôn đỏ gạch
Tiếng cuốc bèo da diết
Gọi Ngày Mai
Đố con sộp là con gì? Tôi mở Từ Điển Tiếng Việt do Trung Tâm Ngôn Ngữ  ở Hà Nội in năm 1992, nguyên Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Phạm Văn Đồng có viết tay trân trọng giới thiệu, là quyển từ điển đầu tiên ở nước ta do một tập thể cán bộ ngôn ngữ học biên soạn trên cơ sở tư liệu tương đối đầy đủ. Tra xem sao :
Sộp t (kng.) Sang, tỏ ra nhiều tiền và hào phóng. Khách sộp, Vớ được món sộp.
Thế thì con sộp là cái quái gì?  Từ điển im  như hến. Vậy xin mách, sộp, danh từ, là một loại cá sống trong ao. Còn phàm. Dễ thôi. Con Mực phàm ăn vồ hão cục xương. Nhà thơ phàm danh vồ hão những con chữ trống trơn.  Thế mà sao Nhà Nước ta không mời Phùng Cung vào làm Từ Điển nhỉ?  
Nhưng thôi, cho tôi quay về với thơ, không chơi trò chiết tự nữa. Đầu tiên, phải nể cái kho chữ Phùng Cung. Chữ  thôn dã, nhưng anh nâng lên thành một vẻ đẹp hồn nhiên, chẳng khác cái duyên thầm không tô son điểm phấn, mà sao nét cười quanh vành nón   cứ vấn víu lòng ai.  Xin kể : Đêm về khuya. Trăng ngả màu thiên lý. Tiếng gọi đò. Căng chỉ sang sông  . Hay là Gió bạc cánh. Chưa hết vòng kim cổ. Làng cách làng. Từng quãng – phong dao.  Hoặc Chó sủa làng xa. Sủa hơn xóc ốc. Sáo diều ai hóc – gió ven sông.  Quay lại cấu trúc thơ, dẫu câu có cắt ra 3 hay 4 chữ, ta vẫn dễ dàng nhận ra gốc gác Đường thi.  Nhưng trong thơ Phùng Cung, ngôn ngữ và hình ảnh thuần ca dao, nâng cái đẹp chân quê lên mức hết sức trang trọng với mặt ao đốm ngọc, hoàng hôn đỏ gạch. Và không chỉ có cái đẹp hình thức, nhà thơ đột nhiên để tiếng cuốc bèo da diết gọi Ngày Mai nói thay cho lòng mình, tức là chuyển đi cái nội dung mà thơ hay văn, bất kể hình thức nào, cũng cần có để sống còn với thời gian.
Anh Cung, tiếng cuốc trong thơ anh chắc cũng đau đáu cái nỗi đau con quốc quốc của Bà Huyện Thanh Quan. Nhưng chỗ tụ lửa trong tâm hồn anh, tôi đồ, vẫn là Ngày Mai anh viết hoa. Và anh vẫy gọi. Da diết gọi. 
Nhưng Ngày Mai ở đâu? Và bao giờ, hở anh?

*
Lần cuối về Hà Nội, tôi đến thăm anh Hoàng Cầm và báo tin Phùng hà Phủ đã qua đời. Phủ đi làm về, ghé quán bia với bạn, bỗng ngật người đi hôn mê, đưa vào cấp cứu nhưng không qua được bàn tay tử thần. Rủ nhau xuống chia buồn với chị Thoa, nhưng mấy ngày sau anh Cầm lại bị ngã gẫy xương chậu, nằm bẹp. Thế là chịu. Thôi thì cứ ngày ngày đến chia sẻ với anh Cầm, mong anh có được chút niềm vui trong những ngày nằm bệnh. Chuyện trò, anh lại kể. Con người Phùng Cung là một con người của những thái cực. Xưa, Trần Dần nhận biết anh ấy là loại tử vì đạo, im lặng thì có nhưng đầu hàng thì không. Một vai, anh ấy âm thầm gánh cái nặng của anh em, giọng  ‘’kiểm thảo’’ vẫn cứ ngoan cố lửng lơ, đúng là theo kiểu cao dầu phóng vĩ của một con ngựa chiến không chịu thành gia súc cho nhà Chúa. Khi anh ấy bị đưa đi quản thúc trên Bất Bạt, chị Thoa lên thăm nuôi, nhưng anh ấy nhất định không nhận chị Thoa là vợ, không cho nhìn mặt, trả lại tiếp tế và khăng khăng một mực là mình không còn liên hệ gì với thế giới bên ngoài. Lần đầu, chị khóc sướt mướt. Đành về, rồi ít lâu sau chị lại lên. Anh Cung vẫn thế. Quản giáo vặn, lý lịch anh khai là đã kết hôn, thế là khai man. Anh đáp, thời ấy Đảng không đồng ý cho tôi lấy vì cô ấy thuộc giai cấp phong kiến, mà tôi thì mê mẩn, mất lập trường giai cấp. Nay tôi tỉnh ngộ, nhận có chung sống ngày trước, nhưng từ bây giờ tôi xin chấp hành…Thế thì anh lợi dụng hủ hóa, thêm một tội, quản giáo gằn giọng. Ừ thì thêm một tội. Thêm một chứ mười tôi cũng chịu…Chị Thoa lại về, để tiếp tế lại chia chác cho anh em tù. Và chị cứ lên. Anh tiếp tục ruồng rẫy. Ba lần, bốn lần…
Tôi thở dài, có lẽ là anh Cung mong chị quên anh ấy đi, chứ đã mang cái án miệng là phản động, là chống Đảng, bôi bác lãnh đạo như anh ấy thì biết ngày nào ra! Vả lại, chị Thoa khi ấy còn trẻ…Anh Cầm chép miệng, chắc vậy! Nhưng chị Thoa vẫn cứ đều đặn lên thăm nuôi, cho đến một ngày, hơn hai năm sau, hai vợ chồng mới lại nhìn lại nhau…Và chị Thoa sống cảnh chia ly như vậy suốt 12 năm đằng đẵng!    
Tại sao? Tôi muốn hỏi lại, một lần cuối, tại sao? Đọc Xem Đêm, tôi nói với anh Cầm, tôi chưa hề thấy Phùng Cung mang thù hận vào thơ. Anh buồn và xót xa. Nhưng anh vẫn nhân hậu. Anh vẫn trong trẻo. Thậm chí độ lượng. Anh Cầm giơ tay xoa mặt, mắt đờ đẫn nhìn vào khoảng không choãi về phía nơi quá khứ còn nương náu. Tại sao ư? Đó là câu chuyện của những con ngựa cung đình. Chúng không thể để dăm con ngựa chiến tồn tại để phủ nhận chính chúng. Còn Vua Chúa, thói thường là họ yên tâm với những con ngựa đã thuần, leo lên lưng, ra roi, nắm bờm và chờ tiếng hí đã rập khuôn rắp mẫu. Nhưng  có hoạn nạn, anh Cầm cao giọng, thì Cung nó mới có thơ hay như vậy! Anh cười, thế là bội thu đấy. Anh tiếp tục cười, nhưng tôi nghe có gì như  tiếng nấc ừng ực…

*
Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều, thực lòng tôi chưa bao giờ quan tâm đến cái thuyết Tài Mệnh tương đố, bảo Cung có tài nên trời xanh ghen với má hồng đánh ghen. Tôi cho rằng Phùng Cung trả giá chẳng phải vì anh thâm thù chuyện cha anh bị đấu tố mà hóa ra ‘’chống phá Cách Mạng’’. Tôi tin Phùng Cung trả giá chỉ vì anh níu giọt mồ hôi Mẹ, đứng dậy Làm Người. Và ở cái tư thế làm người, anh không muốn nhìn một chiều kiểu con ngựa cung đình có hai chiếc lá chắn che mắt, chỉ thấy con đường ta đi nhỏ bé trước mặt, thẳng tắp cho đến độ màu xanh da trời cũng thẳng. Vì thế, anh không đành tâm để Vua Chúa cưỡi lên lưng khiến anh làm con ngựa tôi đòi. Anh chẳng thể cuống cuồng nhai danh vọng trộn với thóc và mật ngọt trước khi chạy những vòng đua nịnh hót. Và anh lại chẳng như Hữu Loan xuôi  ra Thanh Hóa, như Nguyên Hồng bỏ lên Bắc Giang, đi cho khuất mắt những con ngựa cung đình rắp ranh bổng lộc. Anh sờ sờ ở Hà Nội, nơi ngựa cung đình nhởn nhơ nhưng chưa an tâm. Đợi dịp, chúng xúm lại, hóa thân thành giống biết sủa biết cắn và biết đẩy anh vào cái thân phận tội đồ. 
Trong tù, anh chỉ còn thơ. Và trăng.
Trăng qua song sắt
Trăng thăm ngục
Bỗng ta chợt tỉnh 
Sững sờ
Trên vai áo tù
Trăng vá lụa
Ngày xưa ơi!
Xa mãi đến bao giờ.
Ra tù sau 12 năm, giam ở Hỏa Lò, rồi Bất Bạt,Yên Bình, Phong Quang, anh còn gia đình. Và bè bạn. Và nhất là anh có một Di cảo Thơ-Văn anh đã dặn dò Phủ ‘’…Có cái này là có đóng góp cho đời…Con phải biết hãnh diện!’’. 
Không phải chỉ có Phủ hãnh diện, những ai theo gót anh cũng hãnh diện, anh Cung ạ! Cuốn sách  Phùng Cung 11 Truyện Ngắn Tập thơ Trăng Ngục Thơ Xem Đêm được in và phát hành ở hải ngoại chẳng phải là cách tưởng niệm anh, một nhà văn ở cái nghĩa đúng nhất,  hay sao.

  15-06-2004










Trịnh Công Sơn như cánh vạc bay

1
 9.45 ngày 31-03-2001 
  Ðến Hiển, viết cho Sơn trên trang đầu cuốn sách mới in  « kéo thời gian về phía mình».  Linh tính sục dậy.  Viết thêm  « kéo thời gian về phía đời sống».  Ngần ngừ, tái bút «...đợi mình sang năm về ».  Tối hôm 30, cả bốn cô em Sơn vội vã bay về.  Máy bay ngừng lại Alaska để sửa.  Quái !  Hãng nào.  Air Canada.  Chợt nhớ cách đây trên mười lăm năm, Sơn viết  «Về với nhau đi.  Mình hết thời gian rồi !».  Tự nhủ cho vững bụng « Có sao đâu.  Mụ già định mệnh chưa gọi! ».  Nhớ Trần Dần, anh bảo không có gì chống nổi cái kim đồng hồ.  Rồi lỡ hẹn với Dần, ông «cọp» ngày, gầm gừ  suốt nửa thế kỷ những lạc quan đen, những hạt bụi xổ ra trong mưa phùn.
Bấy giờ, tôi ở góc Mentana và Duluth thành phố Montreal.  Ðêm qua trời lại đổ tuyết, thứ tuyết trắng đến đầu Xuân không ai mong đợi.  Nó thừa thãi.  Nhưng vẫn trinh bạch.  Như một tà áo trắng.  Như một cánh vạc bay.
2
 9.30 ngày 01-04-2001.  
Anh đấy à ?  Anh Sơn đi rồi.  Hồi 1.30 sáng.  Hả ?  Bốn cô em còn kẹt ở Hồng Kông chưa về kịp.  Tim Sơn ngừng ba lần.  Rồi lại đập.  Lần thứ tư thì thôi.  Nó mệt.  Yêu quá cũng mệt.  Thương quá cũng mệt.  Yêu thương quả là mệt.  Yêu thương rồi hát, dĩ nhiên mệt.  Trong cô đơn, hát rồi uống.  Lại càng mệt.  Mệt đến độ không còn co thắt theo nhịp vũ trụ.  Thôi nhé, bung ra.  The big bang.  Cho toang.  Cho tan vào chất hư vô, thành tố cấu tạo yêu thương.  Ôi cuộc đời ơi !
11.30h.  
Gọi Vũ.  Vũ ơi, anh Sơn đi rồi.  Bây  giờ em qua đường nhìn xe cẩn thận.  Trời đất hỡi !  Hiển cứ mang sách anh tặng Sơn, viếng mộ rồi đốt.  Ðó cũng là một cách hóa vàng.  Gọi Trịnh Cung : mình biết rồi !  Thôi, Cung về.  Nhớ nhé, sang năm moi sẽ gặp.  Ờ, ờ... biết thế nào được.  Thì đợi.  Ðừng ai vội hóa vàng cho ai.
3
13h.  
Hôm nay sinh nhật con tôi.  Bạn bè cháu đến mừng.  Tiếng đàn trẻ thơ.  Bài folklore của người Pháp «dưới ánh trăng»,gọi bạn Perrault.  Hỡi Sơn ! Cho tôi mượn cây bút. Tôi xin viết thêm một chữ. Ngọn nến tôi cầm đã tắt.  Lửa nhóm cũng tàn. Hãy mở cửa, bằng tình nhân ái của mọi đấng thần linh.  Hãy mở cửa, hãy mở cửa.  Có phải cửa thiên đường ?  Lại văng vẳng lời Cung : Sơn nó sống có nhiều nỗi khổ.  Thôi, mong nó đi an nhiên.  Ừ thì thế vậy.  Gọi Ðinh Cường.  Vẫn không có ai đầu dây nói.  A, những lúc cần an ủi lẫn nhau !  
13h30. 
Ðóng cửa phòng.  Tiếng động đời sống xa dần, mất hút.  Bỗng thèm nghe Khánh Ly hát Người con gái da vàng.  Băng nhạc cũ  rè rè tiếng xưa về một thời xa xưa, thời hát yêu quê hương nên yêu đồng lúa chín.  Nhớ về một đêm mưa, trú với Sơn, nhìn con đường Phạm Ngũ Lão góc chợ Thái Bình ( xưa ).  Dưới hàng hiên độ lượng, mưa trên trút rào rào.  Con đường sủi tăm dưới tầm mắt.  Nước dâng lên, rồi tràn ứ, xuôi vào đục ngầu những lỗ cống không đủ lưu lượng rút nước đi.  Sơn hồn nhiên «...đấy, phố bỗng thành dòng sông uốn quanh».
Anh hồn nhiên như thế.  Phải nói được như thế vì sự hồn nhiên đó đồng thời tồn tại với độ sâu những nỗi nghĩ suy lắng đọng về kiếp người và cuộc sống.  Nhưng luôn thấp thoáng trong hôm nay là bóng ngày mai.  Và anh nhắc «em hồn nhiên, rồi  em sẽ bình minh».  Vì thế, không phải chỉ có Sơn - hát rong.  Sơn - thi sĩ, Sơn - cầm cọ.  Còn một Sơn khác, Sơn - hiền giả.  Nhưng chẳng bao giờ có một hiền triết nào nguyên vẹn.  Họ đầy thương tích, trên thân thể, trong hồn.  Sơn viết «... Những vết thương khi đã được đánh thức... là một vết thương tỉnh thức.  Vết thương tỉnh thức là một con mắt sáng ngời.  Nó nhìn ngược về quá khứ và ngó thẳng tương lai.  Nó mách bảo cho chủ nhân của nó là không có một vết thương nào vô tư mà được sinh thành cả.  Nó là một nỗi đớn đau như khi trời đất trở dạ làm thành một cơn giông bão».
Sơn ơi, còn vết thương cuối cùng.  Nó ra sao, hở ?
5
15h45.  
Cách đây đâu trên hai mươi năm, tôi gặp nhưng tránh, cứ có Sơn là tôi lảng, vì loáng thoáng nghe kiểu tin «đồn» không rượu mời thì khỏi có «dính» được vào cái tiếng tăm một tài danh thứ «xịn».  Một bữa, Sơn vào nhà Nguyễn Duy và tôi đứng dậy.  Sơn nói thẳng «moi làm gì mà toa không thích moi ?  Thôi, để moa hát tặng, rồi toa hãy đi ! «.  Ðó là bài Ở trọ, thú nhất là hai câu «trăm năm ở đậu nghìn năm, đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn».  Hai hôm sau là giao thừa năm Nhâm Tuất, Sơn rượu vào, nửa đêm đến réo tôi nhà Duy, leo cổng sắt ngã trặc chân.  Tôi nghe chuyện, đến thăm Sơn lần đầu.  Tết năm đó, mang cho Sơn quà của cụ Nguyễn Tuân, đâu hai trăm gam đường trắng vừa nhờ người chuyển đến tay.  Sơn cảm động, nói «làm sao nói ông ấy, moa đâu có thiếu đường.  Chỉ Hà Nội thiếu mới quí, giữ lại mà dùng...».
Thế rồi chúng tôi có dăm bảy dịp lãng đãng với nhau.  Sài Gòn, Paris. Rồi Montréal, Québec. 
    Sài Gòn - Studio của Ðinh Cường, gần chợ Tân Ðịnh :  30 độ C, nóng và nắng.  Có cái gì uống không ?  Mở cửa cho đỡ ngộp.  Vách và bài thơ của Tô Thùy Yên viết chữ đại tự.  Ðọc thơ toa cho anh em nghe. 
«Tôi chịu ! Tôi không thể an tâm phất cờ hô khẩu hiệu Khi áo cơm không đủ, ai đành ?»
Không, Sơn nói.  Tội chịu chứ không tôi chịu.  Bài thơ Ung thư Mẹ của tôi nợ Sơn một dấu nặng.  Rất nặng. 
Paris - Lang thang.  Cứ thấy hiệu giày là Sơn đứng lại.  Thôi, mê giày như mê gái, đi đi.  Cười, xuất khẩu thành «giang hồ phố đã nghìn chân», lại nhắc Bùi Giáng, và... Marilyn Monroe.
Montréal - Trầm trồ khoe ( không có mặt Khánh Ly ), nàng là Edith Piaf của moa.  Vào công viên.  Này, tượng là tượng ai ?  Một văn sĩ.  Thành phố này không công viên đường phố mang tên anh hùng, may thật.  Nước mình có nhiều anh hùng quá, thế mới mệt... Cười buồn.
Québec - Trồng cái cây trước nhà toa, khi thấy cây là phải nhớ tới moa.  Ngẫm nghĩ, Sơn bảo tìm cái loài chống được mùa đông.  Sơn ạ, cây vẫn đấy.  Cứ tháng năm nó lại ra lá.  Loại táo Nhật lá đỏ, xuân về là hoa táo màu hồng rừng rực một góc vườn...
Bây giờ, tới mùa hoa ta sẽ nhắc ai ?
6
20h15.  
Ðộc ẩm.  Nào mời.  Bạn cứ nâng ly, bây giờ kiêng khem chi nữa.  Rượu ngon không có bạn hiền.  Thế thì đợi gì.  Bạn đây.  Ta đây.  Uống đến xơ gan ra với tuế nguyệt.  Chẳng phải để quên mà để nhớ.  Nhớ hết.  Từ người yêu thuở học trò tóc xanh, rồi người bỏ ta đi thuở trường đời mắt trắng.  Cho đến khi chập chờn lau trắng trong tay, lại tự mình thủ thỉ cho mình nghe «tôi ơi, đừng tuyệt vọng !».
Ðừng tuyệt vọng, tôi ơi !
Này, biển sóng đừng xô ta.  «Ta xô biển lại sóng về đâu».  Có phải về hư vô.  Không chắc.  Nhưng mà đau, bởi cái bám víu vào như mảnh ván mỏng bập bềnh giữa vô bờ sương khói.
Tôi ơi hỡi, tôi ơi !  Bạn đâu rồi ?  
Có phải bạn vẫn đấy, nhìn vào vạt nắng mái tường bên, ngậm ngùi «...bây giờ mình chỉ viết về nắng...».  Nghe tâm sự, khung rêu tươi lên vàng óng một nụ cười thơ.  Có phải bạn nhẹ nhàng «... hạnh phúc là lúc chờ, êm ắng như buổi trưa, lặng đi rửa mình để rước vào phần hồn những nụ hôn của cuộc đời sửa soạn bước chân vào lễ hội».  Nghe tâm sự, văng vẳng đâu đây tiếng chuông nhà thờ bay từ đầu dốc Phú Cam xuống bến Ngự, mang theo tiếng thì thầm của những thiên thần cứ còn quyến luyến chốn trần ai.
Ðừng, đừng tuyệt vọng !  Vạt nắng vẫn đó.  Khung rêu vẫn óng ả.  Và tiếng chuông nhà thờ sẽ còn ngân nga ít ra là vài trăm năm nữa.
7
22h55.           
Thỉnh quân thí vấn đông lưu thủy
 Biệt ý dữ chi thùy đoạn trường
Này, thêm một bôi.  Hỏi bạn về đâu dòng nước chảy.  Xứ của Thái Bạch ?   Lý quân đang khề khà, quay nhắn, ngắn dài này nỗi biệt ly ơi !
8
8h40  ngày 02-04-2001
Chịu.  Giấc ngủ đêm qua chập chờ.  Thức dậy, thấy hững đi.  Tự nhủ, mơ, phải mơ.  Những giấc mơ mắt mở khó dần với tháng năm.  Thôi thì nhắm lại.
16h40 
 Nhớ những buổi «ngồi đồng» với Sơn.  Mỗi người một góc, loay hoay với mình.  Hứng thì ngưng, đọc cho nhau một đôi câu :
Nhan sắc = vẽ vời
Lý tưởng = viển vông
Chợt rụng rời giữa có và không
Mày xanh
Mi biếc
Môi hồng
Tỉnh ra sóng đã bềnh bồng cuộn trôi
Tôi ơi hỡi, tôi ơi !
Sơn kêu, tôi ơi là «tới».  Ta thì muôn đời «đáng ghét». Rồi thì có «tôi ơi đừng tuyệt vọng !».  Sơn lại dụ, moi dậy toa viết nhạc, đánh đàn.  Có thế mới chở thơ đi được.  Tôi chịu (lần này không phải tội chịu).
Dịch xong hai trăm bài thơ Ðường, tôi có dịp bảo « thơ Sơn có những hình ảnh Ðường thi không có...».  Bạn vui mồm hỏi, thí dụ đi.  Này nhé  «Tóc em, từng sợi nhỏ.  Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh».  Rồi, «Ôi áo xưa lồng lộng, đã xô dạt trời chiều».  Còn nữa, muốn biếât không ?  Thôi.  Uống.   Chuyện xong rồi, uống đã.  Con chữ đã ở đấy.  Nó là cỏ mong manh, lá mong manh, sống mong manh, tay gối mong manh, chết mong manh, tình mong manh.  Nó là đời bềnh bồng, môi rồ dại, là một vòng tiều tụy, là phố xá thênh thang, là hạ trắng, nắng thủy tinh.  Là nhiều đêm  thấy ta là thác đổ .  Là phôi pha.
Sơn ngậm ngùi, moa qua Canada kiếm một chỗ vắng người, ngồi viết về cuộc đời chính mình, nghệ thuật của mình.  Sẽ có những chương sách chỉ một dòng chữ.  Thậm chí, những chương sách bỏ cho giấy trắng tinh thì mới truyền đạt được ý thật của mình...  Lần cuối gặp nhau, tôi hỏi, viết chưa ? Anh lắc đầu. Tôi gặng, bao giờ ?  Sơn mím môi không đáp.  Tôi nghĩ anh chưa viết.  Bởi vì , ôi hệ lụy của tài danh, nó cướp của anh những phút anh cần chỉ có một mình anh.  Ðêm tân niên  1999, khi những người kiều nữ môi hồng má đỏ đã thôi í a hát ca khúc Trịnh Công Sơn, khi những nhà tư sản mới vừa kiếm ra tiền đang co tay quệt miệng sau lúc cạn ly XO và chúc anh vạn sự như ý, anh ngồi với tôi, cau có «... moa khổ quá !  Thôi, thây kệ...».  
Thây kệ, thây kệ.
Phải chăng  bạn tôi đang kiệt sức trong vòng vây bủa phù hoa. Anh biết nó quá rõ, đã từng viết «Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá».
9
18h10
Bờ cỏ xuyên tuyết nhú ra mầm xanh báo Xuân đang về, chậm nhưng chắc, và không thể khác đi được.  Mở điện thư, từ khắp nơi bạn bè anh báo cái tin anh đã khép lại những hẹn hò. Mai mốt, anh sẽ lên Gò Dừa nằm cạnh mạ anh, như đứa con ngoan quay về ngủ yên trong vòng tay mẹ.
Sơn ơi, hãy yên nghỉ  Thực sự yên nghỉ. Sống thế là trọn vẹn với mình với người lắm rồi. Thây kệ, những kẻ còn lại nếu chỉ thấy có thiếu vắng khi bạn ra đi thì thây kệ. Họ chẳng muốn hiểu vì.... « không ai muốn làm một tên tuyệt vọng. Nhưng tôi (Sơn) nguyện làm tên tuyệt vọng. Bởi nhiều sớm mai khi tôi thức dậy không thấy được hoa quả khai sinh trong trái tim người...Nỗi vinh nhục đã mang ta ra khỏi đời sống để đưa đến những đấu trường. Tôi đang bắt đầu những ngày học tập mới. Tôi là đứa bé. Tôi là người bạn. Ðôi khi tôi là người tình. Chúng tôi cùng vẽ lại chân dung của nhân loại. Vẽ lại con tim khối óc. Trên những trang giấy tinh khôi chúng tôi không bao giờ thấy bóng dáng những đường kiếm mưu đồ, những vết dao khắc nghiệt. Chúng tôi vẽ lại những đất đai, trên một đời sống không còn bạo lực...»
  Sơn viết thêm... « Tin vào niềm tuyệt vọng có nghĩa là tin vào chính mình. Tin vào cuộc đời vốn không  thể khác. Và như thế, tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng.».
Tôi đã đến vơi Sơn lần cuối như một tên nòi tình tuyệt vọng đi tìm một kẻ tuyệt vọng khác. Thời gian đó, tôi đang thai nghén vở kịch Treo đầu dây Quan Họ, lời hạ màn viết dành cho Sơn. Cuối cùng, rồi một lúc cũng sẽ phải hạ màn, cho rằng hài hay bi kịch.
Anh ghi dăm chữ, có lẽ chẳng phải cho riêng tôi mà là cho tất cả những người bạn anh. Tôi xin phép chép lại, lời cuối gửi đến những tên tuyệt vọng nhưng cứ còn yêu thương cuộc sống :
«… May thay trong đời người vừa có tình yêu vừa có tình bạn. Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có, nhưng không nhiều.
Tôi thấy tình bạn quí hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa.
Cuối cùng, không có gì khác hơn là sống và chết. Sống làm thế nào cho tràn đầy sự có mặt và chết cho ngập tràn cõi hư không. Phải đi đến tận cùng hai cõi sống chết để làm tan biến tất cả những giấc mộng đời không thực».
Cám ơn Sơn, bạn quí. Ngày mai này bạn lên đường vào cõi thênh thang không hẹn hò trói buộc. Ơ kìa, cỏ sáng mới nhú ra khỏi tuyết đã xanh mơn mởn. Còn cây táo bạn trồng cách dây mười năm, chỉ ba tuần nữa sẽ cũng đâm hoa. Bạn ơi, may thay, như vốn không  thể khác được.
2-04-2001









        
 Ngỡ ngàng, nước đục bụi trong



Sau trăm năm, gạn đục và khơi trong không phải là chuyện của người đã nằm xuống.  Ở chốn về vĩnh cửu chỉ còn im lặng.  Trong và đục là chuyện nơi chốn trọ của những kẻ còn đang ở trọ. Là chuyện để nói với những lữ khách còn xuôi ngược bước trần gian.  Và trong trường hợp Trịnh Công Sơn, xin nói ngay, trong là bụi.  Ðục là nước.

Nước đục !
Ghê rợn và kinh hoàng, đục ngầu một màu máu đỏ.  Ðau xót hơn, máu của anh, của em, của chị, của mẹ.  Có ‘‘ người chết hai lần, thịt da nát tan ‘‘.  Trong ‘‘ từng vùng thịt xương có mẹ có em, anh đã hát, tiếng hát đến thẳng từ trái tim. Giữa tiếng ‘‘ đại bác đêm đêm dội về thành phố ‘‘ và bên cạnh ‘‘ người phu quét đường dừng chổi đứng nghe ‘‘, anh đã nhắc đến gia tài của mẹ.  Còn gì?  ‘‘  Một bọn lai căng !  một lũ bội tình ‘‘.  Tôi có hỏi Sơn, Sơn không sợ à ?  Phản chiến giữa khi người ta hò hét đâm chém nhau là cách hành xử của một tên tử tội, nhát dao thường bổ xuống từ hai phía.  Sơn cười ‘‘ ...lúc đó mình sẵn sàng.  Chết, như tự tử.  Nhưng rồi sống...  và bây giờ  chỉ muốn quên thời gian đó đi ‘‘.  
Quên là quên cả những bài hát?  Không! Tôi thì không quên.  Lời  những bài trong ‘‘ Ca khúc da vàng ‘‘  là tiếng nói của lương tâm.  Trước cái chết của một người, kẻ còn sống động lòng thương thân.  Trước cái chết của một xã hội, thì thương mọi người để cất giọng tìm cách hồi sinh, bất kể thân thế của mình.  Giữa hai lằn đạn thuở đó, Sơn là một hạt bụi.  Một hạt bụi trong ngần.
Nước vẫn đục.  Sau 75, Sơn tiếp tục ‘‘ ...đi về đâu hỡi em, khi trong lòng không chút nắng ‘‘ và kể tâm sự những ‘‘ cây cành, giờ giới nghiêm ‘‘.  Sơn nhớ.  Và với những kẻ lưu vong, Sơn hỏi ‘‘ Em còn nhớ hay  quên ? ‘‘ rồi dặn dò ‘‘ Em ra đi, nơi này vẫn thế.  Vẫn có em, trong tim của mẹ... ‘‘.  Nơi này vẫn thế.  Thế là thế nào ?  Vẫn thế, là không đổi.  Không đổi được !  Ơ, chẳng nhẽ Cách Mạng rồi mà thế ư ?  Và Sơn lại có vấn đề.  Hỡi những ai đã ồn ào gọi Sơn bằng thằng khi anh đã nằm xuống, xin hãy nghĩ lại.
Nước vẫn cứ đục.  Sơn hát, ‘‘ Sống có trăm năm, vui vui buồn buồn, người người ngợm ngợm ‘‘.  Chữ ngợm này có lẽ là chữ ngợm đầu tiên trong ca khúc Việt Nam.  Và nước đục, vì ngợm ?  Ðể  ‘‘ sống chết trăm năm như thân cỏ hèn mọc đầy núi sông ‘‘.  Núi sông ở bản đầu, khi Sơn hát cho tôi nghe, lâu rồi.  Sau này, núi sông thành núi non.  Dĩ nhiên thế là nhẹ đi, nhẹ đi nhiều lắm...  Nhưng xin nói, Sơn không làm ‘‘ chính trị ‘‘.  Anh hát điều anh cảm nhận.  Ở chỗ này, nhà chính trị thập thò nhìn người nghệ sĩ, nửa hoài nghi sợ sệt, nửa lại cơ hội đòi nắm bắt cái cảm nhận kia để dùng nó mà giữ ổn định.  Ở đây, ổn định đồng nghĩa với quyền lực của mình (và phe phái ).

Người người ngợm ngợm ! 
 Cuối năm 98, tôi ở với Sơn một tối.  Sau khi cả hai chúng tôi từ chối dự một bữa cơm thân mật với ‘‘ lãnh đạo ‘‘, có tiếng điện thoại.  Sơn bắt máy.  Tôi chỉ có thể kể những gì tai nghe.  Có một đoạn, Sơn nói ‘‘ Thôi, mấy cái mẫu đất ấy dân người ta còn ở... ‘‘.  Im lặng ( không phải đầu dây bên kia im lặng ).  ‘‘ Không anh, cám ơn anh...  Tôi không lấy đâu.  Tôi chẳng biết lấy đất làm gì cả ‘‘.  Im lặng ( không phải đầu dây bên kia im lặng ).  ‘‘ Thôi...  ai lấy cứ lấy, anh cho ai thì cho... ‘‘.
Người không tham, nhưng ngợm ?  Người thì ‘‘ ...đôi khi cho tôi tiếng nói vui tươi ‘‘.  Còn ngợm ‘‘ ...cho tôi tiếng nói đôi khi ngậm ngùi... ‘‘.  Anh ngậm ngùi kể, lần đầu ra Hà Nội, anh có một buổi ‘‘ thật vui ‘‘ với Bùi Xuân Phái.  Hai người vẽ nhau trong một cuốn sổ tay thì phải.  Vẽ suốt đêm, và Phái tặng hết cho Sơn.  Bạn anh mượn.  Ai ?  Anh không kể tên.  Rồi có tiếng phao lên một thứ  xì-căng-đan.  Sơn bảo, xì-căng-đan thế là nhằm xí xóa sạch.  Tập tranh Sơn - Phái hóa thành bụi, đòi không được !  Khi tôi nói ‘‘ ...chắc là hiểu nhầm ‘‘ thì Sơn thở dài ‘‘ ...xin moa, moa cho.  Ðặt điều thì ... ‘‘.  Thuở đó, tranh Phái đang lên giá.  Một bức nhỏ bằng ba bàn tay cũng năm, bảy nghìn USD.  Tôi lại ba phải ‘‘ ...tranh Phái giữ được không bán cho ba Tầu ở Singapore thì trong tay ai cũng thế ! ‘‘.  Lần này, Sơn cười, cười rất buồn. Nhưng Sơn im lặng.  Những bức tranh đó nay đâu ?  Trời biết !
Nói chuyện người.  Chênh chếch Vương Cung Thánh Ðường Sài Gòn cách đây trên hai mươi năm có một cô gái bán nước dừa.  Tôi có cái duyên ghé uống, vội đến háo hức lôi Sơn đi.  Cô ta độ đôi mươi, áo bà ba đen, quần cũng đen, chít một cái khăn rằn.  Dưới ánh nắng Sài Gòn, da cô rám hồng, cặp mắt thăm thăm màu nước, và trời ơi, trên mép cô những hạt li ti mồ hôi óng ánh kim cương.  Hai thằng điên đội trời nắng rát trầm trồ thì thào, trời ơi, đẹp quá, như phép lạ.  Rồi cứ dăm ba ngày, lại đúng giữa trưa, đến uống để ghé thăm những giọt mồ hôi bên trên cái khóe mép đã nhếch lên cười khi thấy khách không còn lạ mặt. Tôi bảo, để tôi làm quen nhé.  Sơn can, chớ, thế là quen rồi, từ xa thì giữ được cái đẹp. Từ xa là cái khoảng cách giữa những người đàn bà và Sơn.  Oái oăm thay, anh lại là tác giả một số lượng những tình khúc đẹp nhất trong âm nhạc của chúng ta.  Trong các tác phẩm đó, nhiều là chỉ có môi hôn ngọt, bờ vai nhỏ, ngón tay gầy... lãng đãng.  Những người tự nhận là người yêu (của) anh vênh vang giữ vẹn tiết trinh.  Ai lòng nào rêu rao buộc anh vào những thô bạo khó hiểu ?  Thôi, thây kệ !
Chuyện người đối với anh, trước hết là gia đình.  Anh yêu mẹ, như một đứa trẻ.  Có lần ở xa, anh thốt lên ‘‘ ...moa nhớ mạ moa quá ‘‘.  Rồi anh cười khoe ‘‘ ...mỗi khi làm xong một ca khúc, moa hát cho mạ moa nghe.  Cái mạ bảo được, thường là ai cũng thích.  Nếu không, moa sửa...  lắm khi bỏ luôn ‘‘.  Sau là các em anh, đặc biết với Vĩnh Trinh, anh cứ tội cô em nhỏ này sinh ra là mồ côi cha.  Cái tình anh san sẻ cho gia đình không nhỏ.  Em dâu em rể anh quí anh như ruột thịt.  Các cháu anh coi anh còn hơn cha.  Phải chăng ‘‘ bống bồng, bống bồng ơi ! ‘‘ là tiếng lòng anh đến con trẻ ?  Hồn nhiên, anh hát, vì thực sự anh vẫn giữ được trong sâu lắng con người anh tâm hồn một trẻ thơ.
Chuyện người với anh, sau gia đình là bè bạn.  Với bạn, Sơn chân tình và rộng lượng.  ‘‘ Moa chơi với ai, là chỉ moa với người đó.  Dẫu có kẻ nói này nói nọ, moa cũng mặc...’‘  Nhà Sơn lúc nào cũng rầm rập khách.  Khách đến uống rượu của anh, lê la vài câu văn nghệ vui vẻ tìm chút tự tin.  Khách đến, khoe cái này, chê cái nọ.  Từ bốn phương. Từ Tây, từ Mỹ, từ Úc, Canada.  Rất ồn và hỗn tạp.  Nhưng bạn khác khách.  Cô bé người nhà tên Síu ê a ‘‘ Cậu Sơn ơi... có cậu...đến ‘‘ chứ không phải, như khi gập người lạ mặt, nói máy móc  ‘‘ ...dạ thưa, cậu Sơn con đi vắng ! ‘‘.  Nghe riết, một số chúng tôi  thành cậu tuốt.  Có cậu Cường.  Sơn có lẽ yêu nhất cậu.  Có một lần Sơn chép miệng ‘‘ ...Nó tròn quá, đầy quá.  Chứ nó góc cạnh một chút thôi thì nó là grand maitre đấy ! ‘‘  Ê, Sơn!  Toa có thấy mấy bức họa vài năm sau này của Cường chưa?  Góc cạnh đấy chứ! Có cậu Quỳnh.  Cậu hiền lành nhỏ nhẹ hết lòng tận tụy với bạnï.  Có cậu Cung.  Cậu này là cái cậu kêu ‘‘ ...ừ  thôi em về ‘‘ để cậu Sơn phổ nhạc (có lẽ là lần duy nhất ?) . Cậu ăn lẻ được thì cậu lỉnh đi ăn một mình nhưng xong lại hồn nhiên kể lại.  Thỉnh thoảng vào chơi, có Bửu ý, người Sơn rất quí mến tin cậy.  Vài năm cuối, có cậu Quế.  Sơn nói với tôi ‘‘ Toa bảo xừ lũy cho moa nghỉ, moa mệt lắm ‘‘.  Tôi biết là Quế yêu Sơn, lại rất dai sức, lúc nào cũng cặp kè chuyện thơ văn.  Nhưng đôi khi ‘‘ yêu nhau lại chẳng bằng mười phụ nhau... ‘‘.
Và lần cuối gặp, tôi hiểu là Sơn đã rất mệt, mệt nhoài.  Thường Sơn ngồi trong ghế bành, mím miệng, mắt nhìn xuống đăm chiêu, có cái nét nghiêm nghị của một người kiệt sức.  Anh ngồi, ai muốn nói gì thì nói.  Anh có mặt, nhưng anh ở đâu ?  Những người khách quanh anh cứ thế, ô nhiễm ồn ào. Bạn anh, sợ khách, lảng và tìm những phút anh chỉ có một mình.  Hiếm hoi làm sao những phút ấy.  Hệ quả tất nhiên, anh cô đơn. 
 Bấy giờ, muốn gặp Sơn như bạn thì không thể gặp ở nhà Sơn.  Tôi hẹn anh ở nhà Trần Long Ẩn.  Hôm đó, anh đi taxi lại, đầu chụp nón, dáng một  chàng đạo sĩ lênh khênh xuống núi.  Anh cười.  Chỉ có ba chúng tôi, anh lại hồn nhiên như ngày nào.  Sơn vui ra mặt, ăn được đến nửa bát phở ở cái quán nổi tiếng trong ngõ cạnh nhà Ẩn.  Bức tranh trên vách anh vẽ vợ Ẩn đẹp lạ lùng, là một bức vẽ dở.  Anh nói ‘‘ Dở dang thế mà lại đẹp.  Nắn nót, đâm hỏng... ‘‘.  Một hai tiếng sau, Sơn nhìn giờ.  Anh bắt đầu cau có ‘‘ Moa phải về, có tay X, việt kiều luật sư ở bên Mỹ nó hẹn.  Nó lo chuyện copyright cho moa... ‘‘.  Tôi can ‘‘ ...thôi, lâu mới có một buổi sáng nhẹ thế này.  Toa gọi điện thoại hẹn lại... ‘‘.  Sơn ngần ngừ.  Rốt cuộc, anh vẫn về.  Mặt anh lại nghiêm, mắt đăm chiêu.  Chúng tôi đưa anh ra con lộ chính.  Người đạo sĩ vẫy taxi lên lại núi.  Cái núi cao kia thành nơi ồn ào danh lam thắng cảnh. Thành một địa điểm du lịch cấp cao.  Ôi hệ lụy !  Danh vọng dẫn nhau đến chỗ ấy sao ? Mệt ghê, mệt chết người.
Ngoài bạn bè, còn tình yêu trai - gái.  Tôi đã thấy nhiều người đàn bà yêu Sơn. Một người đã định làm vợ Sơn than ‘‘ ....anh ấy yêu chai rượu hơn em ! ‘‘. Có kẻ đến từ ngoài khơi, ở đâu đất Phù Tang xa lắc, đeo đuổi đến cảm động.  Sơn nhận.  Và cái anh cho lại, hình như là cái gì khác với tình yêu.  Như anh - em. Ðôi khi như bè - bạn. Với Khánh Ly. Với Hòng Nhung. Có lẽ chỉ trừ một lần.  Anh đã sắm xe hơi và định lấy vợ thật.  Lần này, a ha, vui được rồi đây.  Nhưng không.  Mối tình đó vuột đi. Chuyện lại xảy ra hình như sau sự ra đi vĩnh viễn của mạ anh, và ‘‘ có điều gì gần như niềm tuyệt vọng...’‘. Gần như thôi, chứ chưa phải là...Anh viết : 
‘‘....may thay trong cuộc đời này vừa có tình yêu vừa có tình bạn. Tình bạn thường có một khuôn mặt thật hơn tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quí hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không tái tạo được nữa ‘‘

Ru tình à ơi !
Viết về Sơn, không thể không nói nghệ thuật Sơn.  Phần này, tôi nghĩ rằng nhiều người sẽ nói, còn nói.  Và đã có Ðặng Tiến, có Cao Huy Thuần.  Tôi có thêm thắt, cũng là thêm thắt thôi.  Với ca khúc, Sơn đi từ hình thức lãng mạn, sang siêu thực, mang mang chất Thiền để rồi cuối đời anh trở về với nỗi lòng anh một cách trực tiếp, giản đơn, không chút phù phiếm chữ nghĩa.  Bàn với nhau về thơ, cách đây đâu mười năm, Sơn chủ trương không chơi chữ, viết ngắn (hai câu), chỉ một hình ảnh để dẫn đường cho một tư  tưởng.  Ðó là những câu lục bát khi anh lang thang ở Paris, tôi giữ và đã trao lại Vĩnh Trinh.  Ðó là những câu lục bát khi anh lãng đãng ở Montréal. Anh không muốn ‘‘ phổ biến ‘‘, anh cẩn thận, và anh không bao giờ nhận là nhà thơ.  Mặc dầu, có lẽ anh là một nhà thơ lớn.
Nhà thơ lớn ?  Là thế nào ?  Tôi có nói với Sơn về một số hình tượng trong ca khúc của anh, dẫu cùng một cung bậc rung, vẫn là những hình tượng mới so với thơ Ðường.  Nhưng ngoài hình tượng, còn ngôn ngữ. 
Sơn là người đầu tiên nói với tôi rằng cách phân chia động, tĩnh, danh từ đều phần nào giả tạo.  Anh cố ý đảo, chẳng hạn như viết ‘‘ em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh ‘‘.  Bình minh không còn là danh từ mà thành tĩnh từ. Anh thường sử dụng tính mơ hồ của ngôn ngữ, như ‘‘ ru ta ngậm ngùi ‘‘.  Ta ngậm ngùi, hay ru ngậm ngùi ?  Cả hai.  Và mơ hồ nhân lên nhiều lần lượng thông tin trong ca từ Trịnh Công Sơn. Rất nhiều thí dụ như tôi vừa nêu ra. Anh giầu là vì vậy.
Sơn cũng là người có những cách ghép ngôn từ hết sức bất ngờ.  ‘‘ Sóng lao xao bờ tôi... ‘‘ chẳng hạn.  Sóng mà lao xao ?  Bờ, không phải bờ biển, bờ sông, bờ vực mà ‘‘ bờ tôi ‘‘.  Hoặc ‘‘ đêm gội mưa trong ‘‘. Ghép chữ độc đáo tạo ra những kết hợp hình ảnh rất lạ.  Như ‘‘ Chim... ngậm hạt sương bay ‘‘. Như vuốt mái tóc bạc mà thành ‘‘ chập chờn lau trắng trong tay ‘‘.  Hoặc những câu hỏi siêu hình, hỏi ‘‘ ta xô biển lại, sóng về đâu ? ‘‘. 
Ðếm tên ca khúc, ta thấy có ru và tình.  Ru  ta ngậm ngùi.  Giọt lệ ru người.  Ru em.  Ru đời đã mất.  Ru em từng ngón xuân hồng.  Ru đời đi nhé.  Ru tình.  Tôi ru em ngủ.  Tình  thì bài nào cũng nhắc, nhưng tựa có Tình xót xa vừa.  Tự tình khúc.  Tình khúc  Ơ Bai.  Tình nhớ.  Tình xa, Tình sầu.  Tình yêu tìm  thấy...  Nếu chịu khó đếm từ trong toàn bộ trên tám trăm ca khúc Trịnh Công Sơn, có lẽ ở bài nào cũng có chữ tình.  Và về thân phận con người, rất nhiều hư vô, tuyệt vọng, tàn phai, mong manh...  Tám trăm ca khúc ?  Bỗng nhiên tôi muốn làm một so sánh ( mặc dầu thấy mình lố bịch ).  Với J Brel, G Brassen, với B. Dylan... Sơn của chúng ta có một độ dày so những kẻ ‘‘ nòi tình ‘‘ vừa kể trên.  Ðó, có lẽ vì Sơn trả giá để cho và chúng ta có cái may được nhận.
Hình tượng, ngôn từ...đến từ tài hoa. Ðiều kiện cần, nhưng chưa đủ để thành một nghệ sĩ lớn. Sơn lớn, theo tôi nghĩ, là vì Sơn dâng cả trái tim để vẫy gọi chúng ta, những con người.

Bụi trong ...

Trong 128 ca khúc in ở ‘‘ Tuyển tập những bài ca không năm tháng ‘‘ của Sơn, tự nhiên có những cái tựa rất lạ. ‘‘ Bống không là bống ‘‘, ‘‘ Bống bồng ơi ‘‘ và ‘‘  Thuở bống là người ‘‘.  Trong ba ca khúc này, Bống ở nơi nao ?  Ði đâu mà vội ?  Là những câu hỏi đi hỏi lại...  Và ngỡ ngàng, ‘‘ em đi bống về, em về bống đi ‘‘, ‘‘ Tìm tình trong nắng. Em gặp cơn mưa.  Tìm tình giữa ngọ.  Buồn lưa thưa về ‘‘.  Rồi ‘‘ ngày bống, mẹ bồng.  Nhẹ quá tơ tằm, lay nhẹ bống bồng bông ‘‘ để kết cục ‘‘ Ngày xưa ngần ngại, xõa tóc trên vai.  Hư vô bỗng về, câu thề đã bay ‘‘...  Tôi có cảm nghĩ Sơn hát bống bồng là hát cho riêng mình. Rất ngỡ ngàng, như trẻ thơ.
Ngỡ ngàng bởi nước đục, như chẳng thể khơi trong. Ngỡ ngàng, người với ngợm.  Ngỡ ngàng bởi mong manh.  Bởi chia ly, bởi phụ bạc.  Ngỡ ngàng, với vinh  quang tung hô, ca tụng trần trụi và những « cuộc đời hết sức ngây ngô». 
Ngỡ ngàng, anh nhận.  Ngỡ ngàng, anh cho.  Phải nói Sơn cho rất nhiều.  Ngày Sơn chia tay đời, một người chị gái gọi cho tôi, bảo Sơn là người tình của cả triệu phụ nữ Việt Nam.  Khi hôn mê giữa dở dang, bội bạc, sống chết, họ lắng nghe lòng và rồi họ hát Trịnh Công Sơn.  Những tiếng hát về thân phậân.  Và về tình yêu. Nhưng dẫu ngỡ ngàng, Sơn không ngần ngại rủ chúng ta :
‘‘ Hãy yêu như đang sống và sống như đang yêu. Yêu để sự sống tồn tại và sống cho tình yêu có mặt ‘‘
Bởi thế, tôi xin với Tố Như  rộng lòng cho phép  đổi hai chữ lỡ làng của người thành ngỡ ngàng cho Sơn.  Và ‘‘ còn hai con mắt ‘‘, tôi dành ‘‘ một con khóc người ‘‘.  Con kia, để tôi còn nháy với hư vô, vì ‘‘ bầy vạc ( í a ) bay qua, hát lời ( ối a ) mệnh bạc, từng giọt (í a) vô biên, trôi chìm ( ối à ) tiếng tăm‘‘.
Sơn suốt một kiếp ‘‘ ngỡ ngàng, nước đục bụi trong ‘‘.  Và chắc Tố Như cũng đồng tình với kẻ hậu sinh này rằng hạt bụi trong ngần kia, như một nghệ sĩ lớn, đã ‘‘ trăm năm để một tấm lòng từ đây ‘‘. 
 Ðó là cách duy nhất , như Sơn từng hát, để tạ ơn người tạ ơn đời.










một vị thuốc đắng
một vị thơ…


1
Thế đấy.  Anh chép miệng cười.  Nụ cười rất tươi, rực lên cùng ánh mắt.  Anh bảo : «...nó vận vào người», lại rót rượu. Ðó là một loại rượu ngâm với mơ, màu vàng óng, vị hơi ngọt, uống khá đầm.  «Rượu làng Vân, ngâm mơ thế này là đã cả năm rồi», anh lại cười, tay với điếu cày.  Tiếng nước reo sòng sọc. Mùi thuốc lào hăng hắc xông lên.  Anh ngả đầu ra sau, mắt lim dim.  Tôi ngắm anh.  Những nét hào hoa nay hằn xuống, nhưng vẫn là những nét hào hoa.
Anh quả là một người hào hoa.
    Chị đi đâu về.  Tôi đứng dậy.  Chị bảo «...à, chú đấy à !». Rồi chị ra ngồi, tay rót nước.  Tôi nhìn chị.  Chị quả là một người đàn bà đẹp.  So với người Hà Nội những năm đó, chị đỏm đáng.  Có lẽ chị biết là mình đẹp.
Tôi đưa ly rượu lên môi, bâng khuâng nhớ người con gái trùng tên chị đã hẹn tôi rồi không đến một năm xưa.  Tôi nhìn anh, vẩn vơ hồi tưởng lần đầu đến quán rượu này.  Tai tôi lại văng vẳng tiếng cười ròn rã của họa sĩ Hoàng lập Ngôn «... muốn thì đi với tớ, không đi lại chê Hà Nội không có !»  Ngồi trên chiếc ghế  đẩu chông chênh chỉ chực đổ soài ra, tôi nghe tiếng ngâm thơ.  Anh ngâm một cách ngâm lạ lùng.  Ngâm như than, như khóc, như rên rỉ, như van vỉ.  Như hát chầu văn.  Như rủ người nghe nhập đồng.
Quái lạ.  Lời thơ lại vượt khỏi tầm trí tuệ.  Nó lơ lửng ở chốn nửa nhân gian nửa thần thánh.  Nó chém xuống tâm linh, để lại vết cắt, thứ vết cắt hằn sâu xuống ở lớp thứ tám.  Vâng, hiểu thì chỉ cần lớp một cho đến lớp ba, bốn.  Sau đến lớp năm, lớp bảy là cảm.  Khi đó chữ nghĩa hết là chữ nghĩa.  Nó thành những tác động tâm - sinh lý.  Nhịp tim không còn đều đặn đẩy máu đi như làm thứ nghiệp vụ buồn tẻ trong một cơ thể bình thường.  Nhịp thở không còn đều đặn như khi người ta ngủ say đến mất hết khả năng tiếp nhận bất cứ gì.  Còn lớp tám ?  Tôi phải nói thế nào ?  Tôi biết  như kẻ có lòng tin vào Thượng Ðế, nhưng làm sao nói đây ? 
  Tôi lẩm nhẩm «... Ta soi. Chỉ còn ta đạp lùi tinh tú.  Ngủ say rồi đôi cá đòng đong».  Ở tầng thứ tám, một bàn chân người nhỏ bé đạp vào không gian mênh mang bí ẩn đẩy lùi lại những vì sao long lanh trên dải ngân hà trong suốt.  Cúi xuống, cũng ở tầng thứ tám đó, con người nhỏ bé soi mình trong lạch nước, và an bình thay, đôi cá đòng đong còn nhỏ bé hơn nữa đã ngủ say rồi.  Từ vô cùng lớn, chỉ vài chữ là đến li ti nhỏ.  Ở giữa, con người kia cô đơn làm cái ảo tác đạp lùi tinh tú.  Hình ảnh đó còn bi tráng hơn huyền thoại Sisyphe lăn đá lên cao.  Hòn đá tới đỉnh lại lăn xuống như một thứ định nghiệp vô căn do, lăn xuống để rồi lại phải đẩy lên, theo cách diễn tả sự phi lý kiếp người của Camus.  Lăn đá là hình phạt của Zeus, thứ thần linh hóa ra đại bàng đi đánh cắp một cô con gái nhưng bị Sisyphe - kẻ được bàn dân coi như một vì vua mong xây dựng một vương quốc có văn minh - nhận diện và tố cáo.  Văn minh nằm ép dưới quyền lực.  Còn luân lý, luân lý đã nhiều lần chùn bước trước sức mạnh trong lịch sử nhân loại. 
 Hình ảnh lăn đá của Sisyphe khắc nghiệt hơn đôi cá đòng đong ngủ say. Con người cô đơn nổi loạn đạp lùi tinh tú, nhưng hiểu ra sự bất lực của ảo tác đó nên vội quay về tìm an nhiên bằng giấc ngủ của đòng đong. May thay, đòng đong vẫn có đôi. Ðó là một cách an ủi. Dĩ nhiên kém triệt để, nhưng bao dung hơn. Phải chăng Ðông khác Tây là vậy ?  Nhưng thế thì sao «nó vận vào người» được nhỉ ?

2
Buổi sáng hôm ấy lành lạnh gió.  Hai mươi năm sau, cứ mỗi lần gió như thế, tôi lại nhớ, lại mang mấy tấm ảnh cũ ra nhìn.  Ảnh có cụ Sìn, có Văn Cao, có Thái bá Vân, những người đã khuất.  Có anh.  Có Duy.  Có tôi.  Những người vẫn còn.  Có chị Băng, dĩ nhiên.  Còn có T và L, hai cô gái nuôi của cụ Sìn, một họa sĩ đầu đàn của Hà Nội vào những năm ba mươi.  T kéo violon cho dàn nhạc giao hưởng.  Duy làm bài thơ khá đẹp về bàn tay và chiếc vĩ cầm.  Còn L, cô dạy học ở Hải Phòng, nhưng nay đã lưu lạc đâu đâu bên Hòa Lan rồi.  Duy đèo tôi bằng chiếc xe đạp Phượng Hoàng cứ dăm trăm thước lại tuột xích.  Chúng tôi đi dọc đại lộ Lê Duẩn về hướng Nghi Tàm.  Tôi bảo «Chẳng biết các ông ấy gặp nhau thì thế nào nhỉ ?».  Khi mời anh, Duy chỉ nói «...anh lên xem bức tranh cụ Sìn vẽ anh năm tiếp thu thủ đô !».  Khi mời Văn Cao, tôi chỉ nói «...cụ Sìn nhắn anh lên, lại khà khà bảo không có anh thì thôi không đình đám nữa.  Cụ yếu lắm rồi...».  Chúng tôi đều biết là từ cái thuở Nhân Văn gần ba mươi năm xa lơ xa lắc, anh và Văn Cao không gặp nhau nữa.  Lý do ?  Tôi kêu lên «...miễn bàn !».   Cả nước hòa hợp hòa giải.  Văn hóa thì thế.  Một dúm tác phẩm.  Dăm ba ông đứng đầu, ông nọ tránh không nhìn mặt ông kia.  Con cháu sau này trông vào thì sẽ nghĩ gì ?  Thái bá Vân gật gù, nhỏ nhẻ «Cho tôi đi với !»  rồi hồn nhiên tiếp «...cũng đến lúc các ông ấy nên gặp nhau rồi !»
Tôi không hề hỏi  đến lúc  là đến lúc nào.  Tôi cũng vô tâm, chẳng thắc mắc thế nào là  nên, thế nào là  không nên .  Bữa ăn nhà cụ Sìn khá vui vẻ.  T và L chạy lên chạy xuống.  Cụ bà đi vào đi ra.  Tôi vui trong bụng, chỉ cảm thấy một thoáng sượng sùng khi hai anh bắt tay nhau, để ý các anh tránh nói với nhau, nhưng cả hai đều góp chuyện.  Văn Cao thích làm dáng, đôi khi hơi gượng trong dăm ba hoạt cảnh đầy tính kịch.  Còn anh, anh hồn nhiên.  Cụ Sìn mang  bức tranh cũ ra.  Bức tranh không có khung, vải bố nhem nhuốc, nhưng anh, anh cười trong bộ quân phục màu vàng, đọâi mũ có đính sao.  Cụ Sìn lại khà khà móm mém bảo «...lính Vệ quốc đẹp thế đấy !».  Anh mơ màng «...đẹp và trẻ.  Có lẽ đẹp vì trẻ...», mắt nhìn T và L đang cúi xuống thẹn thùng.  Quả thế.  Tôi cũng nhìn.  Cô giáo ở Hải Phòng đằm thắm hơn.  Cô nhìn lại rồi chạy vụt đi.  Cô nhạc sĩ vĩ cầm dáng dấp có nét bốc lửa, nhưng mắt lại  mơ màng chút u uẩn than tro.  Cô làm vẻ thản nhiên, nhìn về phía sân, nơi nước ao đã tràn lên mấp  mé ven bờ.
Buổi trưa hôm đó qua đi, rất nhẹ, không khác cơn gió lành lạnh chớm đông.  Cõi nhân duyên chập chờn oái oăm.  Hai anh lại chia chung cái chiếu rượu này.  Và chia với chúng tôi.  Mỗi kẻ một vẻ đời.  Làm lính.  Làm thơ.  Kéo đàn.  Dạy học.  Ðến từ một bờ Ðại Dương xa lắc bên kia.  Lên từ Cảng, quê hương của người tài tình thõng một câu thơ nhập « Sinh ra tôi đã có Hải Phòng...» cho bản trường ca  Những người trên cửa biển dính dấp đến vụ quyền lực hãm và hiếp văn học vào năm 1956. Ðè xuống rồi nằm lên dăm ba tờ báo để che bớt đi cái ê chề  có tên là cải cách ruộng đất, quyền lực thở phì phò, xong việc kéo quần lên, tay chùi mép dính nước bọt phán lửng một lời «...có phải con gái nhà lành đâu, quí báu đéo gì !».  Chữ đéo không thừa.  Nó vạch ra tính chất của hệ tương quan giữa chính trị và văn hóa. Con gái nhà lành thì dĩ nhiên không phải là con gái tạch tạch sè thành thị. Họ dẫu còn trinh nhưng điều đó không thể bảo đảm rằng họ thuộc thành phần cốt cán của dân tộc. Nước ta vốn là một nước nông nghiệp và sẽ còn lâu vẫn là một nước có rất nhiều nông nô.  Nhưng chuyện đã xưa rồi.  Bây giờ khác, người cày có ruộng và công bằng ra thì người viết có giấy có bút để góp phần xây dựng một xã hội tươi đẹp. Có lẽ chính vì vậy là đã đến lúc các ông ấy nên gặp nhau ?  Tôi ngây thơ nghĩ thế.  Còn anh, hồn nhiên như anh, chắc anh cũng nghĩ thế.  Cụ Sìn, cụ chỉ cười khà khà. Cụ không nhầm, mặc dù tuổi đã cao.
  Tối ăn cơm, không biết là chân ai khều nhè nhẹ vào chân tôi.  Hẳn vô tình.  Giá mà cố ý nhỉ. Ai biết được, lại chuyện nhân duyên. Ðêm hôm đó, tôi ngủ lại nhà cụ Sìn với Duy.  Hai đưa lau sàn xi măng đã lên dầu mồ hôi sáng bóng rồi mắc màn.  T và L cũng thế, hai cô nằm chiếu bên cạnh. 
Tiếng ễnh ương bờ ao.  Vẫn gió.  Gió xào xạc.  Ngọn đèn hoa kỳ vặn xuống li ti sáng một màu xanh biếc.  Tiếng cụ Sìn ho.  Tiếng đập muỗi.  Tiếng thở dài nhè nhẹ chiếu bên. Duy bắt đầu ngáy.  Tôi thiếp dần đi trong mùi đàn bà bay thoang thoảng. Tôi mơ bay lên thật cao, cao đến độ trái đất ở dưới chỉ còn là một hòn bi ve óng ánh màu hy vọng  một hạnh phúc trong tầm với của cả dân tộc tôi. Thú thật, tôi đã là một kẻ có  niềm tin như vậy. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn cố gắng tin và còn hy vọng nên mới viết được những giòng chữ này, dẫu rằng đôi khi bóng tối có lúc đã bao trùm  cả đời tôi lẫn đời những người tôi yêu.
Hình như ai thò tay sang nắm lấy tay tôi.  Tôi để yên, lòng ngậm ngùi, vờ ngủ.  Cho đến nay tôi vẫn chưa biết bàn tay đó là tay L hay tay T.  Tôi chỉ biết tờ mờ sáng L đã đi ra bến xe về Hải Phòng.  Và sau đó tôi rồi cũng phải bay sang bờ Ðại Dương bên kia.  Nỗi ngậm ngùi sau này đọng lại được đúng hai câu :  Em đi rón rén trời chưa sáng.  Bước động ao bèo bỗng hóa sông.

3
  Thuở đó anh biết tôi yêu thơ.  Thật ra, tôi yêu tất cả những cái đẹp.  Và yêu, dĩ nhiên là mù quáng.  Là như bị thôi miên.  Là buông hết, và thả luôn đời mình vào cái mình yêu, hệt như những kẻ tử vì đạo.  Cái đẹp, gộp luôn cả chân - thiện, trở thành tất yếu cho sự tồn sinh, và mặc dầu tôi là người ngoại đạo, thỉnh thoảng lại mập mờ mang hình tượng Ðức Chúa đóng đinh trên thánh giá cứu rỗi, sườn loang lổ máu một vết dao đâm vì lòng tham tàn cộng thêm sự ngu muội.
Tôi đến chơi với anh như đến với cái đẹp.  Người ta chặc lưỡi «...giao du phải cẩn thận.»  Tôi bảo «Nếu phải xin phép thì cho tôi một cái danh sách, những ai là người không nên giao du !».  Người ta trừng mắt.  Tôi quay lưng đi.  Người ta cho là tôi thách thức quyền lực.  Tôi thì không.  Vì tôi nghĩ, rất ngây thơ, là đã «đến lúc» vì bây giờ chỉ có ta, và ta phải «cùng nhau» góp tay vào xây lại một mảnh đất đã quá đọa đầy.  Ðòi hỏi của hai từ ghép «cùng nhau» là phải xóa đi lằn ranh dĩ vãng đã chia nhau ra thành đôi, thành ba, thành năm thành bảy mảng.  Những mảng băng rời trôi mỗi mảng một hướng.  Nước ơi, chỉ có tình của nước mới làm tan những mảng băng chia cắt lạnh lẽo kia.  Người ta lắc đầu nghi ngại.  Tôi đến chơi với anh.  Với Trần Dần, Lê Ðạt.  Với Ðặng Ðình Hưng.  Người ta nhăn mặt «Trải chiếu hoa cho mà không biết lên ngồi à ? ».  Tôi giật mình.  Thì ra phải chọn giữa mảnh chiếu hoa đã trải và cái đẹp !  Nhưng tôi đã thưa, cái đẹp là tất yếu cho sự tồn sinh, và tôi xin trả lại một góc chiếu vẽ hoa đỏ không hợp tạng.
Anh biết tạng tôi, cái tạng con trẻ không làm sao cho khôn ngoan thích ứng hơn được với cuộc đời.  Tôi không kể cho anh cái đêm có một bàn tay đàn bà thò qua màn nắm lấy tay tôi ở chiếu bên.  Anh tặng tôi một chai rượu mơ anh ngâm, dán thêm hai chữ Men Quê và Bốn câu thơ.  Anh kể : 
«... Tên nàng cũng là Yến.  Chúng mình lên đồi, mặt đất xanh rì, nhấp nhô mềm dịu như mông như vú đàn bà.  Nắng đã bắt màu vàng tươi trên mái chùa Phật Tích ngói đỏ xa xa.  Ngả mình nằm xuống thảm cỏ, nàng nhìn, cái nhìn như bảo ban.  Bỗng nàng chồm dậy, hai tay bíu lấy đầu mình kéo xuống, rồi áp môi hôn những nụ hôn cuồng nhiệt.  Khi buông nàng ra, mình đọc «Một con bướm lửa đậu môi».  Nàng nắm hai tay mình kéo ra, miệng thầm thì «Hai nhành hoa lửa chia đôi tay cầm».  Nhìn lên trời, những ráng mây xa óng ánh như sắp cháy bùng lên, mình tiếp «Ba làn mây lửa về thăm».  Nàng như say sóng, ôm choàng lấy mình để giữ thăng bằng trong một cơn bão biển bất ngờ ào vào thân thể, mắt nửa khép nửa mở, tay quơ lên, miệng thở dốc.  Mình lao vào nàng, vào cơ thể nàng, vào tâm hồn nàng bằng tất cả sinh lực đàn ông, cứ thế cho đến khi cùng kiệt.  Nàng ngước mắt, vừa cười dịu dàng, vừa đếm «... Bốn lần chim lửa đến nằm rậm hoang».
Hai mươi năm sau, tôi vẫn nghĩ cho đến nay câu chuyện anh kể không chỉ là một câu chuyện thật.  Nó có chất cốt tủy như khi anh bảo với tôi rằng nàng Thơ vốn dĩ lẳng lơ, gặp ai cũng quyến rũ, nhưng chung chạ gối chăn với nàng lại là chuyện khác...  Tôi tin lời anh.  Anh hồn nhiên nhận mình là người may mắn.  Như vậy cái gì có thể lại «vận vào người» anh ?

 4
Mẹ, Chị, rồi Vợ anh và những người đàn bà yêu anh đều là cốt đồng cho anh nhập vào tâm giới của nàng Thơ.  Hiện tượng này nằm dưới tầng ý thức của chính anh.  Thậm chí, nó nằm ngoài anh, và chính vì thế mà anh kể là thơ anh «... vài ba câu đầu bao giờ cũng không phải là tôi nghĩ ra, mà đúng thật là những lời văng vẳng bên tai như có một giọng nữ đang hát, hay đang đọc...  mà tôi xin gọi là lời của thần linh đọc cho mình chép lại được.».
Vâng, nghe đâu anh chép được nguyên bài Lá Diêu Bông.  Lần cuối gặp anh năm ngoái, anh hỏi «Thơ mình được mấy bài ?».  Tôi tần ngần, đếm có Về với Ta, Ðợi mùa, Cây tam cúc, Quả vườn ổi.  Ðó là những bài thơ lạ, ngôn ngữ thơ biết thở, biết hát và biết im lặng.  Tôi đáp «năm, sáu bài...».  Anh cười «...thế là lấy của thiên hạ quá nhiều rồi !» và hồn nhiên nói tiếp «... à, em mới kể có năm thôi !». Thật ra còn bài U gì anh làm gửi cho Ðặng Ðình Hưng.  Bài Ðợi mùa, ít người nhắc. Thú vị nhất là tiếng chim tu hú, thứ chim lớn hơn sáo, lông đen nhạt điểm trắng, đẻ trứng thì đẻ vào tổ sáo hay tổ chim ác là, và cuối Xuân là kêu để gọi Hè về :
Mùa chưa về
Tu hú gọi Em đi tìm Mẹ
Dãy tre xa giấu biệt giải khăn điều
Khi gậy nắng ăn mày đã quăng sau núi
Hàng tre nhà 
                 yếm trả   
  Mẹ về
             lều dột đón mưa đêm
Thì chị đi 
             mấy lối chân chim
Ðể Mẹ về bao phương bèo nổi
Riêng Em nằm trơ đợi giờ tu hú gọi

Câu bốn và năm trong đoạn này rủ người đọc thở một nhịp thở gấp gáp, tiếp đó, nhịp thở lại chậm đi, rồi nức nở nghẹn lại.  Tôi xin trích thêm một đoạn :
Em bước vào đình
ôm cột bốn người ôm
Em rẽ sang chùa
lay chân hộ pháp
Sau chùa tát đêm một, chạp
Gầu giai ai vớt Chị ơi lòa lõa thân trăng
Chị lỡ xe hồng
Mẹ đi lấy chồng
Cỗ cưới chênh vênh khoai luộc
Mật vàng mọng rách vỏ nâu non
Giữa câu bốn và năm trong đoạn này, thơ chuyển mạch bằng cách im lặng ( đọc ở giữa hai câu, nghĩa là không có chữ nào ).  Và đây là đoạn cuối :
Có hôm Em lần xuống bếp
Cậy cháy sành vỡ toác chôn niêu
Một con mèo mướp ruỗi chân chiều
Lưỡi gió liếm gio vờn tóc rụng
Tưởng như Mẹ về
Vai áo toạc ba vá chằng tơ dứa
Tưởng như Chị về
Tơ tóc đêm xưa giờ rễ tre
Bao giờ Chị về
tóc phủ vai Em chiều hương nhu
Bao giờ Mẹ về
Buộc yếm đào phai vỗ hát ru

Khấn thầm như gặp Chị
Mắt nứa cứa tay Em
        vẫy đón đầu làng
Khấn thầm 
                 như mẹ lỡ đò ngang
Miệng hé hạt na nhòa bến vắng
Cổ tay tròn đẫn mía gie
Không
Bầu mẹ không tròn
Bưởi Chị không hoa
Ðã hết năm tu hú gọi rừng già
Ðã sang mùa
tu hú ngủ rừng xa
Hai câu cuối cùng, thơ là thơ biết hát.  Trong đoạn vừa trích, thơ biết im lặng sáu lần và hát lên hai lần.  Còn thở, thơ thở hắt ra ba lần, thở kiểu máu nhồi cơ tim một lần. Mời bạn tìm, xem sao.
 Ðiều tôi thực sự muốn nói bằng cách nói trên : Thơ hay là Thơ có tác động sinh lý lên người đọc qua nhịp thở và nhịp tim.  Chính tác động đó ảnh hưởng đến tâm lý, tạo ra cái đa dạng của thất tình : buồn, vui, bâng khuâng, bực dọc, phẫn nộ...  Ðã nói đến nhịp, là nói về nhạc.  Thơ hay không phải chỉ một câu hay.  Thơ hay, không phải một chữ hay.  Trò kén chữ cho khéo là trò kén chồng, kén để làm lễ cưới cho có pháo nổ và họ hàng hai bên cười cợt, xong lễ thì ém nhẹm đi cuộc sống lứa đôi dẫu ổn thỏa hay không ổn thỏa.  Thơ hay là thơ nhìn dưới góc độ một tổng thể.  Tác động câu chữ là tác động trên trí tuệ.  Thêm một mức, một mức cao hơn mới tới tâm cảm, hệ quả của tác động trên nhịp thở - nhịp tim, yếu tố sinh lý gây lên thất tình.  Thơ hay chính nó là Nhạc.  Và thường thường, chúng ta đơn giản hóa Nhạc vào vần, vào điệu.  Nhưng vần thì thật ra thừa, và điệu, rất sáo mòn, nhất là vần điệu của lục bát, tứ tuyệt hay thất ngôn ( nhưng nói thế, không phải bảo rằng Thơ hay không có thơ lục bát, tứ tuyệt hay thất ngôn ).  Thơ anh ra ngoài thể loại vần điệu đó.  Thơ anh mang âm vận của Từ đời Tống và những bài Phú thời Nguyên - Minh, tự do hơn, phóng khoáng hơn, nhưng là thơ Việt Nam vì mang mang tính cách Quan họ đặc biệt đất Bắc Ninh.  Thơ anh có Mẹ, có Chị.  Những «Bầu Mẹ không tròn, bưởi Chị không hoa».  Cũng vì vậy nên thơ anh là thơ của Lỡ làng.  «Chị lỡ xe hồng.  Mẹ đi lấy chồng, cỗ cưới chênh vênh khoai luộc...».  Sự lỡ làng chỉ đổi lại bằng khoai, «mật vàng mọng rách vỏ nâu non».  Vỏ khoai có khác ai hơn là Em, tâm hồn tả tơi làm thơ khóc những lỡ làng ?

5
Năm 1982 là một năm đầy oan trái nghiệp nghiệt.  Ngẫm lại, hình như những vết chém phi lý và vô nghĩa, những vết chém không làm sao tìm được căn do, đều chọn được loại nạn nhân riêng của nó.  Cả anh lẫn tôi đều nằm ọp bốn năm liền nhấm nháp cái vị tanh của máu ứa ra từ những vết chém đó.  Anh chịu cả phần xác lẫn phần hồn trong lao ngục.  Phần tôi, tôi chịu phần hồn trong một nhà tù không cần  cửa sắt chấn song.
Sau Tết năm Nhâm Tuất, tôi rời Sài Gòn sang Paris, ở nhà Tạ Trọng Hiệp vùng Gentilly.  Nhà bị kẻ gian cậy cửa.  Xe để dưới đường bị đánh cắp.  Ngày đêm, tôi cứ phải trông chừng Hiệp đang bị đại nạn tình với T, nói đến cái chết rồi khóc, và dự trữ rất nhiều thuốc ngủ.  Ðến tháng sáu, tôi lại về Hà Nội sau khi dặn dò Hiệp là chớ chết dại.  Chết dại là chết vì tình, chết khôn là chết với tình.  Lời dặn đó ngây ngô : làm gì có chết khôn hay chết dại.  Chết là hết, thế thôi.
Lần về này, tôi gần như tuyệt vọng : thế quyền đã «co cụm» lại sau Ðại Hội IV, vẫn khăng khăng một thứ giáo điều lưỡi gỗ, ngược hẳn lại với những điều tôi đã trình bày về phương thức dùng qui luật thị trường nhằm ổn định kinh tế Việt Nam trong một đề nghị chuyên ngành với cấp cao nhất có thẩm quyền.  Chống lại niềm tuyệt vọng, thấy ánh đèn là tôi lao vào, cứ như loài thiêu thân. Dễ nhất lại là lao vào tình yêu.  Hay bất cứ gì đồng dạng với tình yêu.  Anh cho tôi một món quà mừng cái tình yêu đó : tập thơ Về Kinh Bắc anh hì hục chép tay trên một quyển vở học trò.  Tôi vào Sài Gòn trước khi bay sang Pháp.  Một người bạn vào báo anh vừa bị công an giữ để điều tra.  Tập thơ Về Kinh Bắc tôi trao cho những người trong nước giữ lại, không mang theo khi đi, tránh không để ai kết tội anh chuyển thơ «chống đối» ra nước ngoài.  Thật ra, Về Kinh Bắc chẳng chống đối gì cả : nhà xuất bản Văn Học  đã in nó năm 1994.  Còn bắt anh, họ bắt vì lý do gì rồi giam cầm anh một thời gian khá dài ?  Bán rượu ?  Hút thuốc phiện ?  «Hủ hóa» Việt Kiều ?  Trên Métro từ Luxembourg đến Place Italie, tôi giở tờ Le Monde đọc.  Báo loan tin anh bị tù.  Hôm ấy, tôi đọc rồi nước mắt ứa ra.  Cứ thế, tôi khóc.  Kẻ đi qua thản nhiên hay chỉ khẽ nhăn mặt.  Duy có một người da đen đến chìa cho tôi mẩu thuốc lá hút dở, và nói «Bonne chance !»
Bonne chance.  Năm ấy, tôi chẳng có một thứ may mắn nào cả.  Về đến chốn ngụ cư, tôi tất bật lo việc «bảo lãnh gia đình».  Tôi xin giấy nhập cảnh Việt Nam.  Lần này là cấm.  Lý do ?  Không ai cho tôi biết.  Ðơn xin, không bao giờ có phép.  Cấm như thế sáu năm liền.  Gia đình tôi qua.  Thế là đi vay, làm một quán ăn.  Tất cả mười hai nhân mạng, lấy gì mà sống.  Thực tế sống ở nước ngoài khác hẳn với sự mơ mộng của thành phần tương đối «dư dả» thời xưa ở Sài Gòn.  Các cô em nhăn mặt, qua đây mà phải đi hầu người ta trong quán ăn thì thà ở Việt Nam còn hơn. Vài năm sau, các cô ấy đều ăn nên làm ra với dịch vụ quán ăn. Nhưng lúc đó, các cô em tôi  thì thào cho tôi nghe thấy «...qua đây bị tư bản bóc lột lao động ...» và gọi tôi là ông giám đốc. Giám đốc đấy, nhưng lắm bữa trưa, tôi không có tiền ăn đến độ phải nhịn đói.   Rồi sau đó, tôi phải ra tòa vì đã ký giấy bảo lãnh mà không cung ứng tiền chi tiêu cho đủ. Người trưởng thượng đâm đơn kiện lại là người ruột thịt: «Anh mang gia đình qua là cứu (sic) cả gia đình. Nhưng tôi, tôi bây giờ phải bảo vệ (sic) nó». Bảo vệ thế nào ?  Cô em dâu đến đề nghị cho một món tiền cỡ ba chục ngàn đô thì xí xóa giấy bảo lãnh. Cậu em thì bảo cứ đưa cho cậu ấy quản lý toàn bộ quán ăn, tôi không được can dự, nhưng dĩ nhiên nợ nần vốn liếng thì cứ vẫn tôi thôi (!). A, thì ra thế! Tôi ở vào thế kẹt. Kẹt đủ điều: tôi không thời gian vì còn nghiệp vụ chuyên môn, chẳng một ai để tin tưởng phó thác, đầu óc căng cứng khủng hoảng. Kẹt cho nên phải chẹt. Chẹt mọi mặt, mang ra tòa gây áp lực chỉ là một phương án. Nhưng ông tòa xét thấy tôi nợ đầy đầu, đến điện thoại cũng bị cúp vì không có tiền trả, nên tha cho.  Ngoài ra, nghiệp vụ chuyên môn bị xao lãng vì nào là chuyện quán ăn, nào là chuyện kiện tụng tòa án, đồng nghiệp tôi «điều đình» để tôi tự ý xin thôi việc.  Lại nữa, người vợ mới cưới qua Paris, kẹt lại vì lao phổi.  Thế là phải gửi gấm.  Rồi bạn phản.  Tình phụ.  Chỉ một năm, bằng ấy cái họa.  Mất nhà, mất nước, mất tình, nghề nghiệp bị đe dọa.  Quán ăn phải thuê người làm, bị ăn cắp hết vì không lấy ai ra để trông coi. Lại nợ.  Nợ chồng nợ chất.  Nhưng ghê rợn hơn hết là sự trống rỗng.
Chính sự trống rỗng đó đã đưa tôi đến cạnh cái chết lúc ấy tôi đồng hóa với giải thoát.  Tôi thức hàng đêm, nhìn ra ngoài trời tuyết trắng mênh mông, đầu óc tê điếng, vô cảm, và chỉ thấy trùng trùng băng giá, không yêu không ghét không hờn không giận.  Chỉ trống rỗng. Cái trống tếch trống toác của thế gian không có một chút tình người. Tôi là tên tù nhân của cái ngục trống khủng khiếp không có cửa sắt chấn song. Lẽ sống lúc đó nhẹ tênh tênh, vậy thì tự do mà làm gì.  Tôi nhịn đói hàng tuần, không thấy cần ăn, uống nước lạnh thôi là đủ.  Sống chết lúc đó ở ngoài tôi.  Soi gương, «kìa ai đó - tôi lạnh nhạt-  chớ có phải tôi đâu».  Cho đến một hôm.  Vâng, hôm đó người bạn gái gốc Chilê, kẻ đã dịch một đoạn thơ tôi ra tiếng Tây Ban Nha gửi đăng trong một tờ báo phe tả ở Salvador, đến nhà tôi với một bông hồng.  Nhìn tôi, nàng nói «Không nhà thơ nào có thể chết được !» và cười rất tươi.
Nghe nàng nói, không hiểu sao tôi lại nghĩ ngay đến anh.  Lúc đó, anh vẫn còn nằm trong tù ngục.  Anh là nhà thơ.  Anh không thể chết được.  Còn tôi, câu nói của Cecilia đẩy tôi ra khỏi một cuộc tuần du đầy ác mộng. 
 Tôi phải sống.
6
Có sống mới về thăm anh được.  Năm 1988, giải tỏa lệnh cấm.  Dĩ nhiên, Ðại Hội VI đã Ðổi Mới Tư Duy, và thấp thoáng một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa.  Vậy thì những đề nghị ngày xưa của tôi đâu là tội.  Tôi, con gà gáy trước khi trời sáng, chỉ là thứ gà non, gà ngoại, gà  lai giống, gà vừa đạp vỡ vỏ trứng đã vội khập khiễng đi tìm rạng đông.
Tôi men ngách vào nhà anh, số 43 Lý Quốc Sư.  Nhà vẫn vậy, nhưng quán rượu thì dẹp rồi.  Cháu nội gọi ông, anh từ gác xép leo xuống.  Anh đây.  Anh gày gò, tóc bạc gần hết đầu, mắt trũng sâu, răng cửa đã khuyết một cái.  Anh ngẩn ngơ nhìn.  Tôi ôm lấy anh.  Chúng tôi ngồi nhìn nhau.  Giữa chúng tôi là bốn năm tù của anh.  Tôi nói «... có điều gì khúc mắc anh cứ hỏi».  Anh bảo «... giá em về trước hai năm thì anh em mình chẳng được thế này đâu».  Tôi im lặng.  Trong tù đầy, hỏi cung, quay quắt ra biết bao nhiêu thêu dệt thực hư.  Tôi hỏi «Tập thơ anh chép cho em, anh đã lấy lại rồi chứ ?».  Anh cười, cái cười đau xót.  Ðó là cái lấy lại được, nhưng vừa ra khỏi tù thì anh mất ngay chị, rồi liền sau đó anh mất con gái anh, cũng tên là Yến.  Nước mắt ứa ra, anh kể :
«... đêm hôm đó, anh đang chập chờn ngủ, sao lại ở đâu có một con bướm vàng bay vào lảng vảng quanh màn.  Mở cửa màn, con bướm chui vào.  Anh linh cảm, anh biết, anh khấn.  Bướm bay rồi đậu lên bàn thờ.  Anh lại khấn «Yến ơi, con ơi, con về đấy à, khổ thân con».  Bướm từ bàn thờ bay xuống quấn quít bên anh như không nỡ rời dẫu âm dương cách trở».
Nắm tay anh, tôi không muốn để anh mất mát thêm bất cứ gì.  Sau, tặng tôi tập thơ Men Ðá Vàng, anh viết «...để cùng nhớ những năm tháng đầy oan nghiệp nhưng cũng đầy hạnh phúc».  Ðấy, cặp bài trùng oan nghiệp - hạnh phúc.  Và hạnh phúc của nhà thơ lúc nào cũng là một điều thật bí ẩn. Bí ẩn như ngôi sao trên kia long lanh sáng, nhưng xa lơ xa lắc, kẻ bình thường như tôi có giơ tay lên với cũng không nắm bắt được.
  Có một người Anh như anh, là một niềm hạnh phúc.  Anh nghiêm mặt bảo «...cái vốn từ của cậu chưa đủ.  Phải đọc đi đọc lại truyện Kiều.  Rồi đọc cô tổ Xuân Hương...»  Tôi cãi, chữ cho đơn giản chứ bí hiểm quá, sang quá, hay điển tích quá thì đều là «quá tải».  Hôm ấy có cả Trần Dần và Lê Ðạt.  Anh Ðạt khéo kết chữ cũ cho ra mới.  Còn anh Dần, anh đi tìm chữ mới, đang thử nghiệm loại thơ cực ngắn, đôi khi chỉ đúng hai chữ.  Anh quay hỏi «...nó nói thế, chúng mày nghĩ thế nào ?»  Anh Ðạt lý giải.  Còn anh Dần, anh nhìn tôi chằm chằm, buông gọn, cũng cực ngắn, «cứ làm !».
Cãi thế, nhưng tôi về tôi nghĩ.  Tôi đọc đi đọc lại Truyện Kiều.  Tôi đọc đi đọc lại thơ Xuân Hương.  Tôi học chữ Hán để đọc cả Bắc Hành Thi Tập.  Rồi tôi dịch lại hai trăm bài thơ Ðường mà khi chuyển sang tiếng Việt, những người đi trước tôi lại dùng thể lục bát.  Rồi tôi dịch lại cả Chinh Phụ Ngâm của Ðặng Trần Côn cho sát lối Tập Cổ, tránh kiểu song thất lục bát của bà Ðiểm.  Ðấy, chỉ một câu anh nó thôi mà khi hiểu ra tôi đã đổ mồ hôi như vậy.  Chuyện này, tôi chỉ mới nói thoáng cho anh nghe.  Nay nói lại, một cách gửi lời cảm tạ anh.  Quả là vốn từ của tôi nay có hơn xưa.  Song có ân ái được với nàng Thơ hay không lại là một chuyện khác.
Hợp rồi tan.  Tôi lại phải ra đi.  Cứ mỗi lần như thế, anh nhắn nhe «...lại anh thêm dăm phút».  Lúc tôi về, anh lại đạp xe đạp theo đến khách sạn.  Và khi chia tay, anh ôm tôi, anh hôn, anh khóc.  Tôi nhìn theo anh trong bóng đêm.  Mái tóc anh trắng bồng bềnh lồng lộng gió ven hồ Hoàn Kiếm.  Bóng anh mãi cũng xa dần rồi mất tăm.  Lúc ấy tôi cũng khóc.
Chúng tôi là những kẻ mau nước mắt.
7
Nhưng cũng có một thời những giọt nước mắt chảy vào trong.  Và rồi một thời khóc - cười là một.  Hè năm 1990, bước vào Nội Bài thì người ta đã hờm sẵn.  «Xin mời ông qua bên này !».  Vâng.  Cuối cùng, «Ông hiểu cho.  Ông không có phép nhập cảnh !».  Tôi hỏi «... thị thực nhập cảnh đây.  Giấy mời đây.  Chắc là lầm lẫn gì đó...».  «Vậy ông đợi, chúng tôi điện vào Hà Nội».  Trưa hừng hực nắng.  Chiếc quạt máy vừa quay vù vù, vừa lắc đầu qua lắc đầu lại.  Nhìn ra sân phi trường, chiếc máy bay Air-Thai vẫn nằm lì ở đó.  Một tiếng đồng hồ qua.  Rồi hai tiếng.  Hai vị công an cấp tá lại ra.  Các vị bắt chiếc cái quạt máy lắc đầu «... Lệnh trên không cho phép.  Ông thông cảm...».  Tôi nói «...cứ để tôi ở khách sạn của phi trường.  Hôm nay là ngày nghỉ.  Ðợi đến thứ hai, ngày làm việc, tôi xin điện vào hỏi kỹ...».  Lại tiếp «... vậy, ông đợi...».  Một lát sau «... Lệnh trên không cho !».  Chiếc máy bay Air-Thai không được phép cất cánh vẫn đó.  Tôi hỏi «Lệnh trên là trên thế nào ?».  Ðáp «...trên là cao lắm, chúng tôi chỉ thừa hành».  Tôi cũng biết vậy, lắc đầu.
Tôi bước lên máy bay, được hai vị cấp tá xách hộ va-li đi hai bên.  Cô chiêu đãi viên hàng không Thái hai tay chắp, cúi đầu reo như thông lệ «Welcome to Air -Thai !», rồi đưa lên ghim một bông lan vào áo tôi.  Cô kịp nhìn ra bông lan cô gài cho tôi khi tôi sáng nay rời Bangkok bay đi Hà Nội vẫn còn đó.  Cô ngại ngần, ánh mắt tối đi một thoáng, nói nhỏ «I am sorry !»
Ðến Bangkok, tôi phải đợi máy bay.  Tôi quyết định ra bãi biển nằm, tránh cái hừng hực hè và mùi xăng dầu sùng sục xông vào mũi.  Lúc đó, tôi thừa thời giờ để tìm nguyên do cái việc thô bạo kia ở Nội Bài.  Phải, thời gian đó là chưa chẵn một năm từ khi bức tường Bá Linh xụp đổ.  Và chỉ vài tháng sau những tiếng hò trên quảng trường Thiên An Môn.  Rồi đám Việt Kiều ngây thơ chúng tôi lại ký Tâm Thư này nọ ( mặïc dầu riêng tôi, tôi không ký vì lý do Tâm Thư chưa đủ tính triệt để đáp ứng với thời cuộc lúc bấy giờ).  Rõ ghét.  Và tôi, cái con gà non ngông nghênh chưa sáng đã gáy, cho vào là lại tổ bực mình rách việc !
Vâng, tôi nghĩ là chỉ có thế.  Lúc ấy, khóc - cười thành một.  Tôi không còn hờn oán gì nữa, chỉ thấy tội nghiệp cho quyền lực.
Những cánh phượng vĩ vẫn đỏ rực dưới nắng vàng óng ánh mật ong.  Ðỏ như phượng vĩ Hà Nội.  Biển vẫn xanh và sóng vẫn rì rào.  Xanh như biển Việt Nam, quê hương tôi.  Và rì rào như đòi quyền sống.  Tôi thanh thản nhìn trời, nhìn nước.  Bấy giờ, rõ ràng quê hương đích thực chính là lương tâm.  Và mảnh đất lưu đày nào cũng là những mảnh đất không tôn trọng nhân phẩm và quyền con người.  Thôi, từ biệt nhé, ảo vọng về trí tuệ và lòng thành tín trong guồng quay của thế quyền.  Từ biệt nhé, giấc mơ nóng vội đổi đời.  Tôi viết một bức thư dài gửi cho cái trục chính của guồng quay gọi là bộ Chính Trị, khẳng định tôi tin rằng dân chủ là tất yếu, và làn gió ấy sẽ rồi thổi đến quê hương tôi như điều không khiên cưỡng được.
Ngửng mặt nhìn những cụm mây trắng thong dong, tôi biết tôi là một người có tự do.  Vấn đề đặt ra : tôi làm gì với sự tự do đó. Tôi, một người may mắn, không thể vô trách nhiệm.

8
Là một người có tự do, tôi lại càng hiểu thế nào là tù ngục.  Những  năm anh tù tội nằêm trong trại giam  lại ám ảnh tôi.  Anh tội gì ?  Ai có quyền cướp sống dăm ba năm một đời người ?  Nhân danh ai, nhân danh gì ?  Và hẳn anh rồi không có tội nên anh mới được phục hồi «hội tịch» vào năm 89 !
Phục hồi, chắc cũng trả cho tí tiền.  Liệu tiền đó có đổi được những đêm dài lắng nghe muỗi vo ve, tiếng chuyện trò duy nhất với những tội nhân.  Riêng anh, loại tội nhân có cái tội là chót làm nhà thơ.  Và tội to hơn, thơ lại là thơ hay.  Nhưng hình như có ai nói dân tộc ta toàn là những nhà thơ.  Ðó là một điều đáng hãnh diện.  Ðồng thời đó cũng là một điều bất hạnh trong cái cặp biện chứng oan nghiệt - hạnh phúc.
Thôi im đi, tiếng hát ngọng nghịu của thứ gió định mệnh khắc nghiệt sụp về đánh úp hạnh phúc.  Thôi im đi, những lạc quan đen, những cú phất cờ hô khẩu hiệu, hoan hô và đả đảo.  Hãy trả cho chúng tôi những cái tay bắt chân thành, những cốc rượu của tình bạn, những cuộc đoàn viên có tiếng cười, những phi vụ vui chơi lương thiện...  Tôi bị cấm về, chỉ thỉnh thoảng nghe tin anh qua bè bạn, là ông ấy năm nọ ốm đã tưởng đi, ông ấy khỏe lại yêu, yêu PQ, yêu B.Ng, Yêu ÐÐ..., yêu vân vân và vân vân.  Tôi mừng, ông ấy vẫn đó.  Cho đến 1998 tôi mới lại đặt chân trở lại Hà Nội.  Lần này về, về cho bè bạn. Và đi kèm có cháu Việt, con trai lớn của tôi.
Lại men cái ngách 43 Lý Quốc Sư.  Ngách vẫn thế nhưng nhà anh nay khác, lên ba tầng, trước nhà vẫn còn một đống cát, xi-măng, và dăm ba chiếc xẻng.  Bây giờ, không ai réo tên nhau.  Phải bấm chuông.  Tôi hồi hộp.  Cửa mở.  Anh thò đầu nhìn, mắt nhắm mắt mở.  Tóc anh xù ra bạc trắng màu mây.  Anh còm xuống.  Răng thật rụng hết, nay chỉ có răng giả.  Anh cười.  Ở một cái tuổi nào đấy, cười làm sao thì cũng như hơi mếu máo.  Anh ngồi xuống ghế salon bọc simili-cuir.  Bàn kính.  Nhà lát gạch hoa.  Thế thì đâu rồi những chiếc ghế đẩu nằm soài ra trên nền đất nện ?  Thế thì đâu rồi cái điếu cày, dăm chiếc đóm, chai rượu mơ và ngọn đèn hoa kỳ bâác vặn thật thấp li ti đốm cháy ?  Tôi xin anh, thôi lên chỗ anh ở, chứ ngồi salon làm gì.  Leo gác hai, anh đẩy cửa.  Một cái giường đơn. Trên sàn, trải chiếu, khay nước nằm tênh cạnh ngọn đèn hoa kỳ.  Và chiếc điếu với dăm vê thuốc lào.  Rồi dăm chiếc đóm.  Tôi ngồi sụp xuống đất.  Tôi bắt đầu nhận ra anh.  Anh cười.  Bấy giờ, cái cười mới hết mếu máo.
Lần sau đến, tôi kể cho anh nghe ý định viết một vở kịch về quan họ.  Lần ấy, có TK, rất duyên và cực xông xáo vui chơi.  TK hẹn sẽ cùng nhau đi Bắc Ninh làm một chầu quan họ, dọa là «các em» bên đó «tình» lắm.  Còn phần tổ chức «hành quân», TK la «...cứ để tôi».  Về, tôi hẹn đến đưa anh đi ăn cơm trưa với Việt ngày mai.  Khi bố con tôi đến thì người nhà anh bảo anh ốm lắm.  Chúng tôi lại leo gác hai.  Trong phòng, anh co quắp trên chiếc chiếu giải trên sàn, mình đắp chăn.  Tôi cúi xuống nhìn.  Mắt anh nửa khép nửa mở, trắng đục, vô hồn.  Anh không nhận ra tôi.
Anh phải vào viện.  Năm ngày sau, bố con tôi đến thăm anh trong nhà thương.  Anh bị xưng phổi sau cái chuyến đi «trình diễn» thơ ở Thái Bình thì phải.  Mỗi chuyến đi thế, cũng được thù lao một hai triệu, nghĩa là một, hai trăm đô Mỹ.  Lộc thơ chỉ có thế, và phải chờ những ngày cuối năm.  Chúng tôi đến thì đã có dăm ba phóng viên những tờ nhật báo của Hà Nội.  Anh lại khều tôi, miệng cười rất tươi, chỉ một chị phóng viên ước độ trên dưới ba mươi, và hỏi «...trông được chứ nhỉ !».  Rồi anh víu vai cháu Việt, nói bằng tiếng Pháp, «Bác về là sẽ hỏi cô ta làm vợ».  Ngớ ra, Việt không hiểu nhìn tôi dò hỏi.  Anh tiếp tục, rất chân thành, «Mais oui, je vais lui demander sa main... c ’est sur».  Sau, con tôi cứ cười, bảo «...quả bác ấy là nhà thơ.  Un poète-fou !»
Ðúng đấy Việt ạ.  Có nhà thơ nào không điên?  Tôi lại nhớ lời ra tiếng vào của một người bạn, bàn «Ông ấy nỡm lắm.  Già thế mà lên tivi cứ nói tình yêu này, tình yêu kia...  Nghe ngượng đỏ cả mặt !».  Thưa anh bạn đứng đắn, anh Cầm thế, vì anh ấy sống phút nào là chong mắt tìm một cốt đồng để nhập vào, hy vọng thêm một lần ân ái với nàng Thơ.  Nỡm ư ?  Nhưng ngẫm kỹ mà xem, cứ giả thử như chúng ta có tất cả nhưng không còn yêu thương được nữa, giả thử như trái đất này đánh rơi vào cái rọ đen - black hole - tất cả tình yêu và đam mê.  Chúng ta có tất cả đấy, nhưng lại không còn gì ngoài cái hành trình của những người không tim trong thiên hà mênh mang kia.  Anh bạn đứng đắn ơi, trong hành trình đó  anh cứ đi một mình.  Chúng tôi xin ở lại.
Tôi đến chào anh một lần cuối trước khi bay vào Ðà Nẵng.  Lần ấy, chúng tôi tẩn mẩn đếm sổ văn hóa xem có ai và đã làm được những gì suốt  ba mươi năm qua trong nền Thơ - Văn của chúng ta. Lần ấy là lần anh kêu «... thế là lấy của thiên hạ quá nhiều rồi !».  Có lẽ.  Huy Cận của Lửa Thiêng, trước khi làm quan thì cũng chỉ được dăm ba bài.  Làm thơ, không thể làm quan.  Không thể làm giàu.  Làm quan làm giàu rồi, thơ chết.  Nàng Thơ không ưa công đường.  Không thích nhà cao cửa rộng, ngươì hầu kẻ hạ.  Và nàng chúa ghét những kẻ nói khéo, nói láo, nói dai, nói ngoa, nói nhiều và nhất là loại nói-không-ai-nghe.  Nàng hay ghen.  Yêu, thì Nàng phải là Cứu Cánh, là vợ cả.  Không bao giờ Nàng chịu làm lẽ cho phương tiện danh lợi và quyền lực. Và ân ái với Nàng, bạn chớ chơi trò chơi «kiểu». Kiểu hiện sinh, hiện thực, hiện đại hay thậm chí hậu hiện đại theo chữ nghĩa thời thượng. Trong 36 kiểu, xin hãy làm tình theo cách tự nhiên phát sinh từ bản năng mình. Với Nàng là chỉ có Thơ. Thế thôi.
Ðếm, đếm đi đếm lại. Cuốn sổ văn hóa mỏng dần. Mỏng làm cho bật máu và chảy nước mắt. Tôi thấy dẫu anh bảo anh có lấy quá nhiều của thiên hạ, anh còn phải lấy nữa.  Ngoài dăm ba vì sao lấp lánh, văn hóa của chúng ta mươi năm trở lại đây lại hụt hẫng vào cái rọ đen - cái black hole - ghê rợn kia trong một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu phải hô khẩu hiệu, tôi đả đảo cả hai, chỉ hoan hô một mình nàng Thơ.

9
Bây giờ, trên đầu hai thứ tóc nên tôi rất sợ hô khẩu hiệu.  Chẳng hạn loại khẩu hiệu như «... tất cả cho mai sau», hoặc «Tự do hay là chết».  Bây giờ, trên đầu hai thứ tóc, tôi rất do dự khi đụng vào cái chết.  Tôi linh cảm rằng sự sống quí hơn tất cả.  Nó đèo bồng trên lưng tự do.  Và càng tự do thì gánh nặng càng nhiều.  Cái gánh nặng đó nằm trong câu hỏi là ta làm gì và sống ra sao với cái tự do đó.  Cho những người theo đòi nghiên bút, làm gì là viết gì.  Sống ra sao đồng nghĩa với ý thức trách nhiệm thế nào với người và với mình.
Ngày bức tường Bá Linh sụp đổ, có người bạn gửi cho tôi một cục đá nhỏ.  Anh viết kèm «... kể từ nay, tự do không còn là một cụm từ trong thứ ngôn ngữ chết.  Con người biết tự mình cởi ra những sợi dây trói buộc, kể cả đám lính kín, công an.  Chúng ta có quyền hy vọng...».  Anh ta kể ra hoài bão thực hiện một bộ tiểu thuyết về bức tường mà không còn sợ hãi gì nữa.  Mươi năm qua, anh vẫn chưa viết gì được.  Tôi hỏi, anh đáp hai trăm trang đã viết là viết trước ngày bức tường sụp đổ.  Từ đó, anh chịu.  Tự do đấy, nhưng anh chỉ thêm được vài trang.  Còn hai trăm trang kia, anh đã lặng lẽ viết trong nỗi lo âu.  Lo và sợ.  Ðến độ vợ con anh cũng không hay biết.  Tôi lại hỏi, tại sao, tại sao thế.  Anh buồn bã trả lời «...ngày trước, tôi viết chống một cái gì để cho một cái gì khác chưa có.  Nó thật rõ ràng.  Bây giờ ư ?  Cái gì đó chưa có đã thành ra có, nhưng có đấy mà lại mù mờ nên tôi không còn định hướng viết cho cái gì được nữa.  Có nhà xuất bản bảo tôi, hãy viết để giải trí cho công chúng người đọc thôi, vừa dễ viết, vừa dễ bán.  Viết hay sẽ dịch ra tiếng Anh, có cả thị trường toàn thế giới.  Tôi đã thử, nhưng rồi xấu hổ đem đốt cả đi.  Tôi không muốn là một nhà văn vô trách nhiệm...».
Trách nhiệm đó là gì ?  Có lẽ với anh là ca ngợi Tình Yêu chăng ?  Chỉ năm ngoái tôi mới được anh cho tập thơ Về Kinh Bắc, tập cuối cùng anh giữ lại.  Sách in lem nhem, bìa photocopy đen trắng trên nền xanh lơ, mặc dầu để là nhà xuất bản Văn học in năm 1994.  Tôi cầm cuốn sách, lòng ngậm ngùi.  Những vần thơ mượt mà nhất trong thơ Việt Nam thế kỷ hai mươi bị tình phụ trong nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa ?
Nhưng đó là những vần thơ tình rất đẹp.  Tình yêu Kinh Bắc.  Bắt đầu bằng năm đêm, trong ngũ hành.  Rồi anh đi liền bảy nhịp, trong một cuộc tuần du có Mẹ, có Chị và Lỡ Làng.  Lỡ làng, bến tình không người đợi.  Lỡ làng, mắt mỹ nhân khép đến thiên thu.  Lỡ làng, những mảng hoa bèo ao cá quẫy. Lỡ làng, xin Chị một quả ương, Chị lại dối quả ương chim khoét thủng dẫu chẳng con chim nào lại chọn quả ương.  Lỡ làng, cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng...  Lỡ làng, quan đốc đồng áo đen nẹp đỏ, thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi.  Lỡ làng, em đứng nhìn theo em gọi đôi. Lỡ làng, đứa con anh thai nghén sau những đêm ân ái với nàng Thơ.  Lỡ làng, cơn đau của con tằm rút ruột nhả tơ.  Lỡ làng, là đời anh.  Bởi anh biết yêu.  Biết yêu là yêu đến cuồng dại, tôi viết tặng anh :
«Hờ hững buốt căm, bờ sóng lụy
      cuồng si thiêu rụi bến đa tình,
      Ba ngả sông về người bơi đứng
      Cợt đám hoa bèo dạt đến quanh..»
Ðể kết một cuốn sách  đọc lâu rồi nên tôi đã quên tên, André Breton - một cột sống trong phái siêu thực - viết « Je vous souhaite d’ être follement aimée.» ( xin chúc bạn được yêu đến cuồng dại ).  Ðược yêu thôi ư ? Cũng tạm.  Nhưng tôi, tôi chúc anh khác, chúc anh hơn vậy nhiều.  Tôi chúc anh yêu đến cuồng dại.  Tôi cũng chúc tôi yêu, với chữ Yêu cùng một lúc hiểu như danh từ, trạng từ và nhất là như động từ.  Vâng, yêu có bao giờ lại là tĩnh từ. Nhất quyết là phải thế chứ.  Vì Yêu là trách nhiệm cứu rỗi của những con chữ có nghĩa.  Những con chữ đẹp.  Những con chữ có đời sống.  Muốn đẻ ra chúng, thì có hề chi những cơn đau trở dạ. Thì có hề chi những lỡ làng.
Tôi nhớ đã hỏi anh Hoàng Cầm, tại sao là Hoàng Cầm, và Hoàng Cầm có nghĩa gì ?  Anh cười, có chút gì như là chua xót, «Hoàng Cầm là tên một vị thuốc đắng... Tên nó vận vào người». 
Hoàng Cầm  còn vận vào thành một vị thơ.  Vị của những vần thơ sang nhất, đẹp nhất, nhưng cũng xót xa nhất của dòng thơ Việt Nam ở thế kỷ 20.  Cơn mây mưa giữa nàng Thơ và Anh đã sinh hạ ra Lỡ Làng, dấu vết cặp oan nghiệp -hạnh phúc như vết chân con rắn và trái táo cắn dở của Eva. Nhưng hề chi, có hề chi.
Viết đến dòng này, đếm ra còn đúng bốn ngày nữa là chúng ta cùng bước qua ngưỡng cửa thế kỷ 21.  Tôi lại chúc, anh Cầm, chúc anh yêu đến cuồng dại cả thiên niên thứ ba này, anh nhé.
27-12-1999









Gấu chợ

1

Không biết thế nào mà ngay khi gặp anh tôi nghĩ đến loài gấu. Lạ, quả là lạ. Đi tìm xem gấu là gì trong tự điển. Là loài có vú. Gấu trắng sống trên Bắc Cực, ăn cá. Gấu nâu hoặc đen, ở lục địa Á và Mỹ, ăn hoa quả và rất thích mật ong. Chay tịnh thế,  gấu vẫn nặng từ 3 đến 6 trăm kí, bề ngoài ục ịch nhưng lại rất nhanh, chạy có thể đến 7 hay 8 mươi cây số giờ. Gấu thuần hòa, nhưng khi nổi cơn thì phải coi chừng. Bình thường, gấu dễ thương, cho nên con trẻ chơi gấu bông, loại nhồi mút  bán ở phi trường hay những nhà hàng đồ chơi. Có bé gái mua về chăm chút, ôm gấu khi đi ngủ, gọi gấu là em, là chị, thậm chí là mẹ...và hẳn vào độ dậy thì chắc cũng có nàng gọi gấu là người yêu, người  tình, hoàng tử của lòng  tôi. Ở Canada, gấu rất nhiều, độ hè gấu có thể lạc vào những thành phố gần rừng khi đi kiếm ăn, nếu thấy yêu cầu gọi số khẩn 911 báo ngay, nhân viên trách nhiệm sẽ đến bắn thuốc gây mê gấu rồi thả về rừng. Còn nếu bạn yêu thiên nhiên đi cắm trại thì cẩn thận. Thứ nhất, đừng để đồ ăn trong lều mình ngủ. Hãy để ra ngoài, gấu có tới chúng sẽ thôi không ăn bạn, để bạn yên,  chỉ tha đồ ăn đi. Thứ hai, đang lững thững mà gập gấu, chớ giơ chân giơ tay la thét. Tốt nhất là làm những tiếng kim khí, tỉ như lấy xoong đập vào nồi, lấy nồi  đập vào chảo, và chớ phát những âm thanh bài bản có tính thơ phú, triết học, thậm chí chính trị, vì gấu thường ít quan tâm đến những tư duy trừu tượng, rất hiện thực và thuần bản năng nhất là lúc đánh hơi thấy chất đường trong các loại đồ uống kiểu 7-up, Coca hay Pepsi.  Thứ ba, gập gấu đừng leo lên cây tìm an toàn. Bạn chắc cũng như 90% loài người, cứ tưởng gấu không biết trèo. Bạn nhầm, nếu có môn điền kinh leo cây ở Thế Vận Hội cho muôn loài, hẳn gấu vào chung kết với khỉ, con  người thì chắc sẽ lẹt  đẹt đằng xa, chưa chắc qua được vòng loại. Thứ tư, rất quan trọng, không bao giờ đứng giữa gấu mẹ và gấu con cho dẫu gấu mẹ có là một trang tuyệt sắc thiên kim, vì bản năng mẹ gấu sẽ tấn công bạn tức thì để bảo vệ gấu con, mặc bạn nói gì thì nói, với ngôn ngữ nào cũng vậy.
  Ơ mà này, thế thì tại sao tôi gặp anh lại nghĩ ngay đến loài gấu? Không tìm được lý lẽ trong kiến thức phổ thông, tôi quay sang truyền thống văn hóa. Nghĩ mãi, nào là mật gấu trị bệnh trật tay sái gân rất hay, tay gấu cực bổ, lớp da tay dầy để đối phó với loài ong rừng khi gấu đi tìm mật, ăn vào cường dương mà vẫn trường thọ. Vẫn không, không phải thế. Hay là, a nó đây, cái thành ngữ hỗn như gấu, yếu tố duy lý độc nhất giải thích sự liên tưởng của tôi từ Lê Đạt đến loài gấu, và ngược lại. 
2

Nếu hỗn thì quả anh hỗn thật. Ngay sau khi hòa bình lập lại, kỷ cương chưa ra làm sao, anh đã kêu ‘’ Đem bục công an đặt giữa trái tim người/ Bắt tình cảm ngược xuôi theo đúng luật đi đường nhà nước’’. Anh kêu trong Nhân Văn số 1, mấy tháng sau khi Giai Phẩm mùa Xuân bị tịch hồi, trong đó anh hò ‘’bay thật cao, bay thật xa’’, được Tố Hữu, người phụ trách Tuyên Huấn của Đảng, khuyên đen, hỏi bay đi đâu, bay vào Nam à? Mặc dầu anh cũng trong ban Tuyên Huấn Trung Ương, nguyên làm Thư Ký cho Trường Chinh, đảng viên trẻ năng nổ có tiếng là sâu xắc, và nhậy cảm. Nhưng chính cái nhậy cảm đó hại anh. Nếu là nhậy cảm để bắt gió quyền lực thì chắc chắn anh sẽ thăng quan tiến chức chẳng kém một ai, nhưng không, anh lại nhậy cảm với thơ. Chết chưa, gặp Trần Dần đầu năm 50 trên chiến khu, hai anh đã bàn nhau đào mồ chôn thơ Tiền Chiến. Kẻ danh vọng nhất khi đó lại là Tố Hữu, thế mà các anh đè xuống chiếu thơ, phê tập Việt Bắc, cho thơ Tố Hữu là thơ sùng bái lãnh tụ, nói đến ai hay cái gì thì cái ai cái gì đó nhỏ đi, gây phản cảm. Và khi thơ Tố hữu trổi nét thì chỉ thuần vay mượn ca dao, không có một chút sáng tạo, vân vân. Khi đó, anh lại là phụ trách Thường Trực báo Văn Nghệ, thế có ghê không. Phan Khôi bảo với anh, Tố Hữu gọi bọn Giai Phẩm là lũ phản động! Thế mà, ông anh thân mến, ông anh vẫn cứ cười hềnh hệch trong đợt kiểm thảo sau Tết năm Mùi, không chịu lên án Trần Dần ngay cả khi anh Lành (tên tục Tố Hữu) bảo đã được thông báo ‘’nội bộ’’ rằng Dần là người của địch. Mất cảnh giác đến thế là cùng!
Cái cười Lê Đạt. Người mới quen, ai cũng thấy anh cười hồn nhiên. Để ý, lâu mới biết đi kèm tiếng cười ấy đôi khi là những câu nói hóm và hỉnh, hóm vì rất thông minh, nhưng hỉnh bởi thế nào cũng có chất cường toan axít đâu đấy. Axít nên cái vị một khi trôi qua cổ có thể cay, chua, thậm chí bỏng cổ rát lưỡi. Anh lại bô bô tính mình nó ba lơn như thế, trời sinh cả! Anh Đạt ơi, chính cái cười của anh hại anh, lắm lúc còn hại hơn cả những lời anh nói. Cứ hình dung xem những chiến tướng thơ Tiền Chiến như các vị Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận ...xung quanh Tố Hữu đối phó với cái cười của anh thế nào. Họ nghĩ anh làm chính trị nhưng là kẻ ném đá dấu tay, lãnh đạo ngầm, thứ chất xám điều khiển sự manh nha của một  quyền lực đối kháng có ý đồ cướp cờ chính thống. Đầu tiên, anh bị khai trừ khỏi Đảng, nhưng quyền lực chưa rút phép thông công, còn chờ gió lên để phất cờ. Anh vẫn tiếp tục công tác ở Hội Nhà Văn vì khi đó phe ta, phe XHCN sau báo cáo KrútSốp bên Liên Xô, đang có những biến động ở Hung, ở Ba Lan. Phương Bắc, người cầm lái vĩ đại họ Mao phát động phong trào Trăm Hoa Đua Nở, cho nhà văn nhà thơ đua tiếng, chẳng hiểu sẽ rẽ phải hay rẽ trái. Tình thế quốc tế như vậy cho nên quyền lực ở Hà Nội, sau sai lầm Cải Cách Ruộng Đất, vẫn chập chờ, và nhân thời cơ, Nhân Văn ra đời, sau đó Giai Phẩm  mùa Xuân tái bản, rồi Giai Phẩm mùa Thu, mùa Đông...Hẳn khi đó, các anh hể hả, trong lòng mong xây dựng một xã hội công bằng và nhân bản, xông lên đánh vào cái nền chuyên chính vô sản mới kết nhụy. Nhưng quyền lực hậu thuẫn các anh ở đâu?  Các anh chẳng có cái nhậy cảm chính trị đó, dồn hết tinh anh vào chữ nghĩa, loại quyền lực ảo, không hậu thuẫn, nóng vội tự mình lên thập tự dang tay ra chờ. Chỉ ít lâu sau, người ta mang búa đến đóng đinh, nhưng bắt chết một cách tinh vi hơn cái chết của đấng Cứu Thế. Các anh bị phân tán, kẻ nọ tố kẻ kia ở Thái Hà, rồi tự xỉ vả mình trong những bài kiểm thảo được phổ biến đến quần chúng, và sau là bị gạt ra bên lề xã hội mà chẳng một ai dám thương tiếc. 
Dăm tháng đã thay đổi đời anh từ trắng sang đen. Anh có cười đấy nhưng những người sau này cười lâu nhất không phải là anh. Thật mà nói, oan nghiệt kia hóa ra chuyện Tái Ông mất ngựa. Nhưng mất mà không được gì, vẫn cứ là các chị. Chị Thúy, vợ anh. Chị Yến vợ Hoàng Cầm, chị Khuê vợ Trần Dần, chị Thoa vợ Phùng Cung... Lê Đạt  có bài thơ ‘’Vợ Nhân Văn’’, bao giờ thì anh công bố để trả nợ đây? Các chị cũng bị gạt lề vì cứ tiếp tục làm vợ các anh, trở thành thứ tội phạm liên quan, hạng hai,  nhưng sống trong sự quẫn bách khí trời, đến thở cũng dè sẻn, chẳng dám thở mạnh có thể khiến người đời chú ý. Riêng chị Thúy mới 19 lần xuân, một tài năng trên sân khấu kịch nghệ, đành phải bó thân...về với nỗi đau Lê Đạt.
3
Chị Thúy khi xưa sắc nước hương trời. Ngày tôi mới quen, chị đâu ngoài bốn mươi, dáng vẫn  thướt tha nhưng mặt đôi lúc có thoáng nét thất thần. Mỗi khi từ giả Hà Nội, anh Đạt thường dặn, đến chào chị, chị ấy hay tủi thân. Tôi cảm nhận được sự trìu mến của anh đối chị, và sự thân tình của chị đối với tôi, bởi tủi thì ai lại hoài công đi tủi thân mình với người dưng nước lã. 
Lần tôi về năm 2002, đến chơi, thấy căn số 10 Hải Thượng Lãn Ông nay quả ít là 50 lần số mặt hàng năm 1982, khi tôi mới quen anh chị. Kinh tế thị trường có khác, còn định hướng thì vì cửa hàng quá chật nên mặt hàng nọ đè lên mặt hàng kia, nếu không có cái nét rất truyền thống là thông minh cần cù thì đố ai tìm ra chỗ này để giấy toa-lét (chứ không chùi ...bằng nhật  báo như xưa), chỗ kia xếp T-Shirt có in quả táo (giống NewYork) kèm hàng chữ I’love V, giữa đống ngổn ngang khăn tắm, khăn tay, xà phòng bột, xà phòng thơm và trăm thứ linh tinh đố cả những người tự cho là mình nhiều tưởng  tượng đếm nhẩm ra cho hết. Và đố có thưởng, trong phòng riêng ở tầng hai của nhà thơ Lê Đạt có gì? Sách dăm ba quyển trong một cái tủ con, dĩ nhiên. Chiếc màn mầu sữa ố nhầu nát xếp xó giường, cái gối kê đầu, vài chú bút bi lăn lóc trên chiếu, tách nước uống dở, và xung quanh, chất đến tận trần nhà ...vẫn giấy toa-lét, xà phòng, T-Shirt, khăn mặt, khăn tay... Thân lắm, anh mới tiếp trong phòng riêng, chứ khách người dưng, thường cậu con anh đáp ‘’ ông ấy... đi vắng’’, hoặc nếu không thì anh xuống tay vẫy, miệng cười, rủ ta đi đến đầu đường uống cốc cà-phê đi! Gấu ở chợ, có thích của ngọt như cà-phê đường cũng chẳng thể thoát qui luật thị trường, hàng hoá trao đổi trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi, dĩ nhiên anh mạnh thì vẫn lợi hơn anh yếu. Quả thế, mặt hàng nhiều, nhưng hầu như tất cả đều made in China, hàng nội cũng có nhưng hiếm vì cạnh tranh, bị hàng ngoại giết cả, trừ bia Hà Nội, và trừ ... thơ Lê Đạt.
Chị Thúy hôm ấy xuống nhà, và ba chúng tôi ngồi quanh cái bàn nhỏ xíu nhân một buổi cửa hàng thưa khách. Uống chè Lipton nhé, cho nó sang. Dạ, nhưng không có chè Thái Nguyên à? Có, nhưng tiếp khách xa thì phải Lipton. Anh Đạt cười cái cười của gấu trong nhà, lành và hơi ngường ngượng. Chị Thúy nâng tách, miệng bảo, mời chú rồi mắt bỗng long lanh, nói nửa tỉnh nửa mê, như nói chỉ cho mình nghe. ‘’Đấy, tất tần tật cũng chỉ vì văn hay chữ tốt ấy mà. Ối giời, ông ấy tưởng thu được vào tay ông ấy cả, nhưng giời có mắt, thần nhân cũng mang một ít cho cả những người dốt nát như tôi... Đọc vài câu cho chú nghe nhé...’’ Anh quay mặt, buồn nhưng cố nén thở dài, nhẫn nhục im lặng. Tất nhiên, tôi cảm thấy hơi hướng cái thảm kịch vợ Nhân Văn, và đoán có lẽ từ ngày anh được phục hồi thì tao nhân mặc khách lại chào mời, có ai còn nhớ đến những nỗi tủi nhục mà các chị phải chịu đựng suốt một đời. Chị tiếp, ‘’ cứ ăn hiền ở lành thì giời cho, chữ nghĩa cũng giời cho cả, thần thánh ốp vào tức văn hay chữ tốt ngay thôi... Bây giờ, mấy chị em chúng tôi có bà Khuê vợ Trần Dần, bà Băng vợ Văn Cao...Chúng tôi thỉnh thoảng gập nhau rồi đọc thơ cho nhau nghe, có kém gì ai đâu!’’ Nhưng thần thánh ở đâu hở chị? Tôi hỏi giọng bỡn cợt để đổi cái không khí có chiều ngột ngạt. Chị chỉ tay, da diết, nói như rít ‘’... ở mọi nơi, ở Văn Miếu đàng kia, ở trên trời chứ còn ở đâu nữa! Mai tôi với mấy bà ấy ra Thanh Hoá  đi lễ Mẫu, thế nào cũng phải hỏi lại, cho ra lẽ...Bây giờ tự do rồi, không tin thần tin thánh thì tin ai vào đây, hở chú!’’. 
Vâng, thưa chị. Bao nhiêu cái cấm đoán ấm ức trói buộc nay già néo đứt dây, đứt để đổ tuột vào sông vào biển những vị thần linh trên giấy báo Học Tập. Nay, ta quay về  truyền thống và bản sắc với bà Chúa Liễu, ông Hoàng Mười, hội Phủ Giày hàng năm. Anh Đạt thì thào, Thúy dạo này yếu, hơi bị tâm thần. Rất có thể. Nhưng đâu chỉ vì yếu. Ta nghĩ xem. Này, anh Văn Cao được thưởng huy chương hạng ba (hay tư?). Rồi các anh Nhân Văn được phục hồi hội tịch, lãnh lương bù gần ba chục năm bị người ta bẻ bút. Sau, các anh đi Đại Hội bầu lại (lại ...mãi từ cái ngày đánh Nhân Văn và Giai Phẩm) Tổng thư ký Hội NHà Văn vẫn cứ là đồng chí Nguyễn Đình Thi, và dẫu có chút gì như ‘’hàng thần lơ láo’’ nhưng các anh còn có cái hy vọng từ nay sẽ được sinh  hoạt bình thường để in ra những điều các anh ấp ủ. Nhưng  còn các chị vợ Nhân Văn, các chị được gì để cân bằng với những mất mát 30 năm liền sống bên rìa xã hội, giữa sự xa lánh dè bỉu của cả ruột rà làng nước?   Bài thơ Vợ Nhân Văn đâu, anh Đạt? Hãy trả Cesar những cái gì thuộc về Cesar...Còn cát bụi? Nếu cái thuộc về vợ Nhân Văn chỉ cát bụi thôi thì cũng phải trả lại cát bụi, để đời này (chứ chớ đợi đời sau) biết là đàng sau mọi sự nghiệp đều có những giọt nước mắt không cần tên tuổi.
4

Thú thật thơ Lê Đạt vào thời Nhân Văn Giai Phẩm là thơ chính trị. Chẳng hạn như Nhân câu chuyện mấy người tự tử. Một bình luận thời sự, sắc và thâm, nhưng tôi không cảm như thơ. Thời đó, có lẽ chỉ bài Cha tôi là thơ, sau phục hồi thì anh cho in lại năm 94 với những bóng chữ viết suốt thời gian anh đi đầy trên 36 phố phường trong lòng một Hà Nội lặng lẽ cưu mang những đứa con rơi của thời thế. Nhưng với Bóng Chữ thì thơ Lê Đạt kết tinh từ cô đơn tủi nhục thành thơ, và đó là câu chuyện Tái Ông mất ngựa tôi nhắc ở trên : 
Chia xa rồi anh mới thấy em 
Như một thời thơ thiếu nhỏ 
Em về trắng đầy cong khung nhớ 
Mưa mấy mùa 
mây mấy độ thu
Vườn thức một mùi hoa đi vắng 
Em vẫn đây mà em ở đâu 
Chiều Âu Lâu 
bóng chữ động chân cầu
Chữ đắt, là điều nhận thấy tức thì trong thơ. Trắng đầy cong khung nhớ, khó lầm vào ai khác Lê Đạt.  Và
Bầy em én 
tin xuân 
tròn mẩy áo
Hội kênh đầy 
chân trắng ngấn sông quê
Nắng mười tám 
má bờ đê con gái
Cây ải cây ai 
gió sải 
tóc buông thề
thì, mẩy áo, hội kênh, chân trắng ngấn sông quê, gió sải...là những hình tượng không đến từ sự ngẫu hứng dễ dãi mà là tìm tòi, cân đong từng chữ, và nhất là cấy ghép chúng với nhau. Cái mới trong thơ anh ở công phu cấy ghép đó. Thử đọc :

Ông lão trạm bơm 
miệng o tròn 
ria chóp nón
Ô trời 
lòng cổ thụ bỗng tình tang
Máy kéo gặm xứ đồng tơ ơ cỏ 
Nghé sắt buồn lưng sáo đá xon xon
Đọc liền 2 câu đầu, rồi 3 câu sau. Rõ cấu trúc thơ trong bài này là thơ cổ. Nhưng tưởng như nhìn thấy mấy con sáo xon xon trên một chiếc máy kéo ví với con nghé sắt đang gặm cỏ...Lê Đạt, như anh thú, đúng là phu chữ.
Cái tuyệt nghệ công phu khuân chữ về ghép lên hoa trái mới trong ngôn ngữ thơ Việt Nam của Lê Đạt thật có một không hai. Mời kẻ yêu thơ nhẩm lại trong đầu những bài thơ sau :
Chim ức lửa
            Rouge gorge! Rouge gorge! (Dân ca Pháp)
Em vụt đến như mảnh tinh cầu vỡ 
Ơi con chim ức lửa môi đòng 
Thả đỏ đốt xứ đồng không anh nhớ 
Một thoáng đào nhen mấy độ hồng
Sương khói Bích Câu chiều ai có giáng không

Át cơ
Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ 
Nhà số lẻ 
phố trò chơi bỏ dở
Mộng anh hường 
tim môi em bói đỏ
Giàn trầu già 
khua
những át cơ rơi…
Nhịu tình
Sự đằng ngà 
tâm tuyết trắng dưa lê
Vườn truyện ngọt 
Đàn từ ngon 
âm hé cong mỏ hót
Lòng nhịu tình 
ngôn ngữ loài chim
Đánh ngải
                      Chớ rửa lông mày chết cá ao anh
                                             Ca dao
Mắt xưa xanh 
mưa mành 
sương liễu sóng
Mùa sang may 
thu đánh ngải lông mày
Mây nổi trắng ao say 
Ai ruốc mộng ban ngày

Đệm
Bước đệm 
đưa tình 
xanh khúc phố
Nốt chân xuân 
đàn cò lạ 
phím lùa
Chập chững dương cầm 
bè lạc 
ngã tương tư
để cùng nhà thơ nhặt những tấm chữ : 
Anh rình trắng nghìn trăng nghiêng ngõ mộng 
Bước thị thơm chân chữ động em về
đặt vào cấu trúc Đường thi truyền thống, nhưng đố mà tìm được cái tứ  thơ hương thắp gọi không đáp lửa, và hỏi, hồn ở nhà hay bát mộ đi xanh 

Thanh minh
Lúa con gái
làm rùng rình nỗi gió
Lá hát tình
nắng tỏ
bạch đàn chanh
Nợ cũ khối xương rồng hoa trả đỏ 
Hương thắp gọi ba lần
không đáp lửa
Hồn có nhà
hay bát mộ đi xanh
  A, Lê Đạt. Chữ anh quả tài tình. Anh đúng là một phu chữ tiên tiến, và  chắc anh chả cần ai phong cho anh  4 chữ  anh hùng lao động. Nhưng cẩn thận! Hỡi những nhà thơ, hãy cẩn thận : đừng bao giờ đứng giữa Lê Đạt và những con chữ. Cũng như, tôi đã nói, đừng đứng giữa  gấu mẹ và gấu con. Mặc dầu gấu là gấu chợ.
5
Vụ việc Nhân Văn Giai Phẩm thế mà đã ngót nghét 50 năm. Trong một thiên niên đất nước chúng ta đầy biến động tang thương, cứ kể thêm một nỗi đau, lại thêm một lần ngậm ngùi, thêm những đêm mất ngủ. Nhưng thêm một cơ hội để ngẫm chuyện xưa hòng tránh cho ngày sau những u tối đớn đau, những trói buộc thắt cổ tương lai trong cái tròng của giặc nghèo và giặc dốt. Tôi từng nói với Lê Đạt, thế nào cũng phải một lần nói về cái tinh thần Nhân Văn cuối thập niên 50. Thật ra, cái tinh thần ấy nằm trong bài báo cáo của Nguyễn  Mạnh Tường, đặt lại vấn đề ‘’chính trị thống soái’’,  đòi hỏi ít nhiều tính dân chủ ở phân công để người nào việc nấy với trách nhiệm việc mình làm, và một xã hội  pháp trị rạch ròi với một nền tư pháp cần phải có pháp luật nghiêm minh. Thật ra, cái tinh thần ấy là tinh thần của lớp người Tây học với giá trị nhân văn Âu Châu, trộn vào truyền thống Nho giáo, cái gốc của phương Đông, đang chập chững chuyển mình bước vào hội nhập với thế giới. Và cho đến tận bây giờ, năm 2005, cái tinh thần vừa đề cập vẫn ăm ắp tính thời sự, thậm chí cấp bách hơn trong sự sống còn ngày một ngặt nghèo của dân tộc, và như một sự đặng chẳng đừng, sẽ thành hiện thực.
Đấy là tinh thần. Trong bóng đêm o ép của những năm văn chương lưỡi gỗ uốn éo chốn cung đình, ngọn lửa Nhân Văn dẫu bị dập vùi nhưng tro than còn đủ sáng để  hắt các anh lên vách như những chiếc bóng của hy vọng. Cho đến khi Bến Lạ của Đặng Đình Hưng, Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm, Cổng Tỉnh rồi Mùa Sạch của Trần Dần, Lá của Văn Cao, Xem Đêm của Phùng Cung... góp tiếng vào đời, những hy vọng kia đã đơm hoa nẩy nhụy. May thay! Nhưng đau khổ khốn nạn của các anh không vô ích. Chính bóng đêm Nhân Văn đã đội lên đầu các anh vòng hào quang của những kẻ tử vì đạo. Cái đạo văn chương, không chỉ đơn giản hạ bút xuống viết với cái vốn tài hoa trời cho là xong, mà còn...với những giọt nước mắt của tai ương mà ngày xưa, đã có Tố Như dặn dò, chữ tài liền với chữ tai một vần.
6
Chúng tôi đã gặp nhau 25 năm, đủ để có dịp lang thang bên dòng sông Seine, ngồi uống Cà-phê trước Odéon trên Boulevard St Germain. Đủ để tôi thấy Lê Đạt đúng một lần lãng mạng kiểu tình già Phan Khôi, đúng một lần say, chẳng biết say tình hay say rượu, ngồi sau cô bé đèo anh bằng mô tô ngã sóng xoài giữa Paris cho anh đo đường, rồi anh nôn thốc tháo cạnh miệng cái Metro trước cửa một rạp chiếu bóng. Đủ để nay về Hà Nội, cứ 5 giờ sáng tôi đến gọi cửa số 10 Hải Thượng Lãn Ông, rồi hai anh em đi quanh bờ hồ, một vòng, hai vòng... cứ mỗi vòng là chúng tôi đến gần hơn con mụ già định mệnh chúm chím như định gọi tên. Đạt dạo này yếu. Có một thời gian anh bị mất ngủ, và điện thoại về, câu đầu tôi hỏi là dạo này anh ngủ được chưa? Hà hà, cũng được, được rồi! Nhưng đừng tưởng Lê Đạt già. Tôi xin trích một cuộc phỏng vấn của báo Sinh Viên Việt Nam: "Phản đề" dành cho người Việt trẻ’’:
  
Nhà thơ Lê Ðạt, dù tuổi đã ngoài 70 vẫn là một người trẻ lạ lùng. Trẻ, ở trong tâm hồn và tính cách lẫn những cách tân trong thơ ca Việt - cho dù cuộc đời ông như chính nhà thơ thừa nhận là rất "li kỳ" và chịu nhiều thăng trầm dâu bể. Trẻ, ở chính cái cách mà ông nhìn nhận rất "thiện chí" và cởi mở về lớp trẻ, về thế hệ trẻ hiện nay... 
  Báo Sinh viên Việt Nam (SVVN) đã có cuộc trò chuyện cùng ông trong một ngày đông cuối năm ở một ngôi nhà phố cổ Hà Nội về những câu chuyện của người Việt trẻ trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá đồng thời phát triển những giá trị truyền thống dân tộc.Và làm sao để loại bỏ được những lực cản khách quan và chủ quan, những "tảng đá" giáo điều đeo đẳng trên lưng, những mặc cảm nhỏ nhen, những kiến thức và tình cảm vụn vặt để những người Việt trẻ sẵn sàng cho một cuộc "leo núi" đỉnh cao như nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn từng ao ước. Câu chuyện bắt đầu từ khát vọng và ước mơ của những người trẻ.
SVVN: Tất nhiên tuổi trẻ ai cũng đầy mơ mộng và khát vọng, nhưng có nuôi được và biến nó thành thực tế không mới là chuyện đáng nói. ...Trong thơ ông, tôi cũng đọc được: "Những ước mơ xưa/ Như con chim gãy cánh/ Rũ đầu chết ngạt trong bùn/ Năm tháng mài mòn/ Bao nhiêu khátvọng"... 
LĐ: Tôi cho rằng để sự mơ mộng và khát vọng trở thành hiện thực phải đòi hỏi rất nhiều ở sự can đảm và kiên trì. Ở đó, không có "đất" cho sự thực dụng và những toan tính tầm thường, ở đó cũng không có cơ hội cho những người thiếu lòng đam mê và dũng cảm. Ðể nuôi khát vọng, nó đòi hỏi sự đam mê thành thật, thậm chí vác cả sự đam mê trên vai mà trèo đèo lội suối để biến nó thành sự thật. Với những người trẻ tuổi, tôi có một lời khuyên chân thành: đừng bao giờ sống 50%, đừng bao giờ yêu 50% và cũng đừng bao giờ làm 50%. Sự nửa vời cũng là một trong những lý do để người trẻ phản bội lại ước mơ của mình. 
...Tuổi trẻ mà không có khát vọng tức là chưa kịp trẻ họ đã già hay ngược lại là đã già ngay từ khi còn trẻ. Họ là những đứa trẻ chết già. 
SVVN: Những khát vọng nào của tuổi trẻ đáng được biểu dương nhất? 
LĐ: Có rất nhiều khát vọng đẹp, nhưng tôi thích nhất ở những người bạn trẻ tuổi là khát vọng lên đường, khát vọng đi tìm những miền đất mới, những lĩnh vực mới. (Xã hội nên có những động thái tốt đẹp dành cho những người tìm đường). Và tôi nghĩ, càng có nhiều khát vọng lên đường, tuổi trẻ càng dễ phá bỏ được những định kiến, những cái cũ ở ngay trong chính bản thân họ cũng như xã hội bên ngoài... 
SVVN: Ngoài chuyện thiếu khát vọng, sự dễ hài lòng và sống 50%, theo ông có những lực cản nào nữa kéo sự phát triển của người trẻ lại?
LĐ: Có những tính cách xấu lâu ngày biến thành những khuyết điểm của người Việt Nam, đó là không có ý thức về sự hoàn chỉnh, thói quen không có kỉ luật, không đi đến tận cùng cái mình đang có, dễ hài lòng và chấp nhận thực tại, căn bệnh tiểu nông, tiểu thủ công nghiệp manh mún, giật gấu vá vai... Ðiều này dẫn đến một thói ứng xử xấu nữa là dễ tặc lưỡi cho qua. Một người già chép miệng hoặc tặc lưỡi cho qua đôi khi còn thông cảm được vì sự "lực bất tòng tâm" nhưng với một người trẻ thì rất nguy hiểm. Tại vì khi chép miệng là lúc anh bước từ một cõi thực tế sang một "cõi" ảo, một "cõi" đầu hàng, buông xuôi. Khoảng cách giữa chúng rất nhanh nhưng lâu dần nó cuốn anh đi rất xa. Nếu nói, điều tôi ghét nhất trong tính cách của người Việt là thói chép miệng, nghe thì có vẻ đơn giản nhưng thực ra khi anh chép miệng, phần nhân tính trong anh đã bị buông xuôi và anh đã dễ dàng "đồng hoá" với sự thất bại, với thói xấu.
SVVN: Trong một lần trò chuyện, nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường nói rằng lớp trẻ ngày nay có vẻ hơi "vô thần, vô đạo", thực ra thì theo ông, lớp trẻ có nên nuôi trong mình những "tín điều" không?
LĐ: Vô thần thì nên, nhưng vô đạo thì không nên. Con người nên có những tín điều nhưng không nên thờ thần tượng vì thần tượng là sự xuống cấp của tín điều. Nhìn lịch sử tiến triển của loài người mình phải đứng trên vai của quá khứ mới thấy được tương lai chứ núp bóng quá   khứ thì tương lai không bao giờ thấy được.
 SVVN: Vậy thì theo nhà thơ, lớp trẻ nên "núp bóng thần tượng", "đạp đổ thần tượng hay đứng trên vai thần tượng?
LĐ: Bản thân của sự phát triển văn hoá là chống lại thần tượng. Nói như Trang Tử là "vứt trí bỏ thánh" để trở lại suy nghĩ của chính ta. Nói đạp đổ thần tượng thì nghe có vẻ hơi phạm thượng nhưng tôi nghĩ rằng không sai và nói gì thì nói, nếu được coi là thần tượng tức là họ đã ghi được dấu ấn giá trị trong lịch sử, hiện tại và tương lai nên để lớp trẻ khai phá. Tốt nhất, là đứng trên vai thần tượng vì ở trong hoàn cảnh đó, thần tượng đã làm được một việc có ích là giúp lớp trẻ có một cái nền cao ráo và vững chắc. 
SVVN: Trước đây, nhà thơ Lưu Quang Vũ than "Tôi chán cả bạn bè/ Mấy năm rồi họ chẳng nói được câu gì mới". Gần đây, cả Văn Cầm Hải và Phan Huyền Thư đều nói đến "Những giấc mơ của lưỡi". Nhà thơ Dương Tường thì nhận xét "Có nhiều người nghĩ khác, nhưng ít ai sống tận cùng với cái khác của mình"...Một trong những điều mà giới trẻ tự chán mình là họ đang càng ngày càng cũ, càng nhạt? Ông có cảm thấy điều đó?
LĐ: Tôi chống lại sự nhàm chán nhưng không có nghĩa là tôi sống khác với tôi. Hãy sống thật với chính anh thì anh sẽ khác với những người khác chứ không phải "chủ trương" để sống khác. Vì nếu khi anh sống khác anh tức là anh không thật với chính mình. Còn nếu khi anh tự chán mình, chán bạn bè mình là lúc anh đang khao khát để thay đổi, khao khát sự ‘’vận động’’ của lưỡi.
 SVVN:Vậy ông "khuyến khích điều gì trong cách sống của giới trẻ"? 
LĐ: Tôi khuyến khích sự lao động cần cù và kiên trì của lớp trẻ, từ bỏ cách nghĩ cách làm việc "ngắn hạn", "ăn xổi" và bệnh "khoa trương", "ồn ào". Tập cho mình những tầm nhìn "dài hạn" và đi đến tận cùng cái "tư duy dài hạn" ấy. Trong cuộc sống, thư giãn hãy "bình thường tâm", đừng "phân thân" nhiều quá. "Khi đói ta ăn, khi mệt ta nghỉ" như lời dạy của một thiền sư, chứ đừng khi ăn lại nghĩ đến chuyện khác và khi nghỉ cũng nghĩ đến những chuyện khác.
 SVVN: Và trong tâm hồn, trong thơ ca? Là một nhà thơ không ngừng cách tân thơ Việt, cuối cùng ông nghiệm ra điều gì quý giá nhất ở thơ ca? 
LĐ: Thơ là mỹ học và đạo đức học. Cái đẹp trong câu thơ kêu gọi sự cao thượng. Và nên hiểu thơ ca cũng là một sự lao động ngôn ngữ đầy gian khổ chứ không chỉ là cảm xúc thẩm mỹ thuần tuý (Chữ bầu nên nhà thơ). Nhà thơ, nhất là các nhà thơ trẻ hãy tập cho mình một cách sống gian khổ (chứ không phải cực khổ), một sự "li kỳ" trong tinh thần. Nhưng đáng buồn nhất cho những nhà thơ ‘’li kỳ’’ trong đời thật nhưng lại tẻ nhạt trong đời chữ !
SVVN: Sự "li kỳ" trong đời người, đời chữ của ông, nếu được nói bằng thơ..?
LĐ: Thơ ca, cuối cùng với tôi vẫn là cảm xúc mỹ học và cái đẹp của sự cao thượng. Tôi thích những câu thơ giàu cảm xúc: Vườn thức, một mùa hoa đi vắng/ Em ở đây mà em ở đâu? Hay Tim lặng lạnh góc bồ đề mưa cũ / Chim gõ mõ kiếp xưa, chưa rũ hết lụy tình...
SVVN: Ðiều cuối cùng, nhân dịp mùa xuân mới, mùa như các nhà thơ nói "ươm mầm, chồi xuân, lộc nõn...", nhà thơ có một lời chúc nào dành cho những người bạn trẻ?
LĐ: Tết ở ta có một tục lễ cổ truyền rất hay là xông đất. Tôi chúc các bạn trẻ đầu năm mới hãy "xông đất" nhiều hơn, "xông đất" nhiều lĩnh vực mới hơn nữa.
7
   Lời Trần Dần khi anh vào thăm anh em Sông Hương mười lăm năm về trước: ‘’Thế hệ trẻ à ? Tôi cứ đợi mãi. Nó bị trong vòng vây của văn chương cung đình, tôi sốt ruột đợi lớp trẻ đủ sức lớn lên để chôn bọn tôi, như chúng tôi đã chôn Tiền Chiến! ‘’
Anh sốt ruột, đợi và năm anh rời chân về nơi thiên cổ thì chắc anh vẫn còn đợi. 
   Chôn  thơ Tiền Chiến, không dễ nhưng có Nhân Văn. Chôn thơ Nhân Văn cũng chẳng dễ, nhưng văn xuôi thì không khó. Đầu tiên, Dương Thu Hương mang cuốc xẻng tới dọn đất với tinh thần bất úy trong hành trình tiểu thuyết. Rồi Nguyễn Huy Thiệp đào một lỗ huyệt khá rộng với Truyện Ngắn. Sau, Phạm Thị Hoài đến cời đất, thắp hương. Và Nhật Tuấn, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Thân...lục đục khuơ chuông gõ mõ trong nước. Đấy là chưa kể bên ngoài, dòng văn hải ngoại dẫu gì  cũng đỡ ngột ngạt hơn, với tiểu thuyết Nguyễn Mộng Giác, bút ký Cao Xuân Huy, truyện ngắn Trần Vũ, Mai Ninh, Vũ Quỳnh Hương... Đồng thời, mươi năm gần đây, văn xuôi trong nước  có thêm Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà,  Nguyễn Viện... Truyện ngắn, sau Đỗ Phước Tiến và Nguyễn Thị Ấm, nay xuất hiện Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu...Về thơ, chôn Nhân Văn khó nhưng trong nước có Thanh Thảo, Hoàng Hưng...Rồi Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Nguyễn Quốc Chánh, Nguyễn Hữu Hồng Minh...Ngoài nước cũng có, chẳng hạn Khế Iêm, Chân Phương, Đỗ K... Họ đi một hàng dài, mặc T-Shirk quần zin, và rất mong ngày hạ huyệt với kèn saxo, dàn trống  Yamaha và một cây Đại Huyền Cầm búng dây nổ rền rền thứ thanh âm của sấm chớp. 
Chỉ sợ chưa đến mùa giông. Nhưng đã đến lúc chúng ta nên thòng dây buộc áo quan tiễn vào lòng đất một thời đã 50  năm  xa xưa. Và nếu thật sự làm được như vậy trong Thơ, thì chỉ  khi đó những nhà thơ hậu Nhân Văn mới đáp đền mong đợi của những kẻ đi trước vẫn cứ còn sốt ruột đợi ba thước đất vùi mình. Để cho nàng Thơ tiếp tục bay cho cao, bay cho xa, như ước vọng Lê Đạt trong Giai Phẩm Mùa Xuân Tết Bính Thân 50  năm về trước.









nỗi niềm và trăn trở…


Tôi gặp anh lần đầu khi cùng Trịnh Công Sơn đến thăm anh ở Phú Nhuận. Trưa hôm đó, con gái anh và chị Thanh đang còn tuổi ô mai, đòi chú Sơn hát Ở Trọ cho nghe. Anh ngồi, gật gù, cười nửa miệng với phong cách nho nhã ngày càng ít thấy. Sơn hát xong, anh ôm đàn, đáp lễ. Anh cũng hát, một bài thời anh tham gia kháng chiến, giọng trong và khoẻ, ngân nga luyến láy như ai. Hình như đó là bài có những câu như ‘’ chiều nay trên chiến khu trong rừng chiều, bên đèo tiếng suối reo…đạn bay vèo’’.  Năm đó, năm 1982.  Trên tập Về Kinh Bắc chỉ chính thức được in đàng hoàng năm 94 anh Hoàng Cầm tặng tôi, anh  ghi:  để nhớ  một năm đầy hạnh phúc và oan  nghiệt. Hạnh phúc, tôi yêu, rồi tôi quýnh quáng lấy vợ, quà tặng của anh Cầm là tập Về Kinh Bắc anh nắn nót chép tay cho tôi. Oan nghiệt, khi ra phi trường Tân Sân Nhất, người ta cộp tôi lại, rà soát xem tôi có mang văn hóa phản động ra ngoài không? Tập thơ anh Cầm tặng tôi gửi lại một người bạn. Bạn tôi gửi lại một  người  bạn khác. Và sau cùng, chính Cao Xuân Hạo là người giữ để sau này trả về cho nhà thơ, người  bị tù chẳng  phải vì tuồn tập thơ ra hải ngoại mà vì cái tội bán rượu lậu (?!). Chuyện xưa, xưa như Diễm. Nhắc lại, vì nhớ Hạo, và cái không khí nặng nề của những năm tháng ngột ngạt thời cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên … thiên đường ‘’mù’’, tên một cuốn tiểu thuyết vào những năm đổi mới sau này.
Đổi mới, tôi thôi bị (được ?) cấm cửa, về Hà Nội năm 88. Lại có dịp gặp Hạo từ Sài Gòn ra, và lê la với Dương Tường, Phan Ngọc. Thời đó, báo chí hô khẩu hiệu thời thượng  ‘’đậm đà bản sắc dân tộc’’. Tôi không nhớ Hạo hay Phan Ngọc dí dỏm dịch qua tiếng Pháp là ‘’imbus du caractère national !’’.  Với Hạo, tôi có dịp gặp nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, khi đó chưa tiếng tăm. Hẹn nhau, tôi đến nơi Hạo ở tạm thì đã có TM, một người bạn của anh. Lát sau, Thiệp và một anh bạn vào. Chuyện trò với TM, tôi không để ý lắm đến người mặt mũi khắc khổ sần sùi thì thào to nhỏ với Hạo. Khi anh ta và bạn về, Hạo bảo : ‘’ …đặc biệt đấy! Viết rất hay! ‘’. Thì ra nhà văn đến trao đổi với Hạo về dăm ba tác phẩm chưa in. Tôi hỏi, Hạo cho mượn bản thảo (trí nhớ tôi nay tồi, nhưng có thể là Thương Nhớ Đồng Quê và Ngọn Gió Hua Tát?). Đọc và dăm ngày sau tôi đi tìm Thiệp ở một cơ quan phát hành sách gần nhà Dương Tường ngõ Phan Huy Chú, sau tôi còn rủ rê nhà văn đi ‘’rượu chè ‘’  ở tư gia đạo diễn Thanh Tú nhân dịp chị làm lễ cúng sao giải hạn.  Ngày ấy nhà văn còn rất dễ mến, hồn nhiên thủ thỉ : ‘’  anh lôi tôi, tôi mới đi chứ tôi ít giao du!’’, chứ ai ngờ ít lâu sau ‘’người ‘’ trở thành chủ quán nhậu Hoa Ban danh trấn giang hồ.
*
Phải bốn năm sau tôi mới gặp lại Hạo, lần này ở Paris. Oan nghiệp thế nào mà tôi đã tưởng ‘’mút mùa’’ khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, nên gặp nhau, mừng mừng tủi tủi những chuyện xưa, chuyện nay, chuyện người,  chuyện ngợm. Collège de France mời, anh đi và bảo đây là lần đầu được  qua một xứ Tây Âu, có lẽ nhờ cuốn Phonologie et linéarité. Reflexions critiques sur les postulats de la phonologie contemporaine (1985) anh in bên Pháp đã có tiếng vang. Trong những  ngày nghỉ, chúng tôi  lang thang, khi trên bờ sông Seine khu Quartier Latin, khi thì Monmartre, gần một cái appartement cô em Hạo để Hạo trú ngụ. Thời đó, Hạo rất năng động, viết lách khá nhiều, hăng hái làm việc với Tiểu ban Việt học Đại Học Tổng Hợp T.p Hồ Chí Minh,  hào hứng  thúc đẩy và xây dựng  Hội Nghiên cứu Ngôn ngữ…Tâm sự, anh bảo nay chỉ mong ước một chuyện, là tiếp tục nghiên cứu và  góp phần đào tạo một số anh em quan tâm đến tiếng Việt.  Và như mọi lần, anh lại than tiếng Việt bây giờ ngọng nghịu bởi viết với ngữ pháp tiếng Tây. Anh cho rằng chữ quốc ngữ ABC giữ được âm nhưng làm mất nghĩa, học thì lợi là nhanh nhưng hại ở chỗ mù mờ khiến kiến thức thường dàn trải mà không sâu. Anh lan man qua những vấn đề chuyên môn, cho rằng Âm vị học  khai triển ở phương Tây  không thể dùng để phân tích những ngôn ngữ như tiếng Việt ta, vốn đơn âm, và cứ mỗi âm tiết (tiếng) là một đơn vị ngôn ngữ, không thể phân tích ra thành những âm tố,  rồi nhiều âm vị,  trong  một  cấu trúc  ngữ pháp  Âu châu  mà mỗi tiếng có thể gồm nhiều yếu tố có ý nghĩa khu biệt. Trước niềm say mê của anh, tôi nghe. Dĩ nhiên như vịt nghe sấm, nhưng chẳng sao, cái anh truyền đạt được cho những người nghe anh nói là sự trân quí tiếng mẹ đẻ và tấm lòng trung trinh với văn hóa.  Học thầy không tầy học bạn. Học giá trị sống, học cách làm người, lòng đam mê. Học những niềm hy vọng. Và cả những nỗi trăn trở.
*
Cuối 98 đầu 99, tôi qui cố hương sau thời cái thân mình lại bị ‘’cấm vận’’ 8 năm. Gặp Hạo, vẫn trẻ măng, vẫn phong nhã, vẫn cứ một  niềm say mê. Kể chuyện vui : sau giờ lên lớp của Hạo, chúng tôi ngồi uống bia ở một cái quán trong khuôn viên Đại Học Tổng Hợp T.p HCM. Cô tiếp viên quen mặt Hạo, gọi bằng thầy, đi qua đi lại ‘’phục vụ’’ khá chu đáo, cứ như ‘’khách hàng là Thượng Đế’’, ngay cho đám thầy trò nghèo rớt chỉ biết thưởng thức bia hơi và đậu phọng. Đợi Hạo vào toa-lét, cô đến gần hỏi : ‘’Anh công tác ở Hà Nội?’’.  Tôi gật, đá lông nheo, cái thói cứ có dịp là đùa nghịch. ‘’Anh zô luôn hay đi công tác ngắn hạn ?’’. Tôi đáp : ‘’ zô luôn, sống ngoải cực lắm!’’. Thấy tôi  bắt chước tiếng Sài Gòn, cô cười : ‘’ Chắc ngày trước ông bà già đi tập kết hả?’’ . Tôi lại gật. Khi đó, Hạo ra và cô tiếp viên lui về đứng tựa quầy hàng.  Cô liếc tôi, cứ tần ngần, lát sau mang ra mấy điếu ba số, lúng túng : ‘’ Em mời thầy, mời anh, hút cho vui! ‘’. Hạo ngạc nhiên. Đợi cô tiếp viên đi, Hạo cười tinh quái, bảo cô ta nhẵn mặt thầy mà nay mới mời thuốc, chắc chẳng phải vì thầy mà vì anh. Nhìn tôi dò hỏi, thấy tôi lắc đầu :  ‘’ Nghịch ngợm ấy mà, kiểu anh hùng thấy chuyện …qua  đường…  chẳng tha,  nhưng chỉ thế thôi!’’, Hạo hỏi : ‘’ Ông có đọc Zorba the Greek chưa?’’. Cười ha hả, Hạo tiếp : ‘’ Zorba nói, khi một người đàn bà đến anh dâng hiến tình yêu mà anh quay lưng, thì anh có biết thế là anh báng bổ thần linh không? ‘’. Ôi chao, nhưng tôi biết làm chi đây? Nhìn lên, ảnh Bác vẫn đó, Bác sống mãi trong sự nghiệp chúng ta. Nhìn xuống, cái thân mình Việt Kiều bước đi một bước giây giây lại dừng và …nhìn về đàng sau, tôi ngậm ngùi lẩy Kiều :  Zorba thì mặc Zorba. Quan trên trông xuống , người ta  trông vào…Thôi ông ạ, ta đi…’’.
*
Hoà hợp trong-ngoài tùy giá máy bay về nước, thời gian thoát được chuyện áo cơm, lại phụ thuộc vào độ phập phồng mở ra đóng vào trong ‘’ hoàn cảnh’’ đối ngoại nên năm năm sau tôi mới gặp anh. Lần này, công ty văn hóa Phương Nam đã mua lại tác quyền toàn bộ tác phẩm của anh, hẳn đời anh ‘’tươi’’ hơn ít nhiều. Anh không còn ở đường Huỳnh Văn Bánh quận Phú Nhuận mà dọn đến phố Phạm Văn Chiêu ở Gò Vấp. ‘’ Lạ thật, ông Bánh rồi ông Chiêu lấy làm tên đường, nhưng ông có biết họ là ai không? ‘’, tôi hỏi. Hạo lắc đầu, đăm chiêu ‘’…Chuyện lạ thì đất nước này nhiều lắm!’’. Anh mang ra cuốn Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt (Nxb Trẻ, 2003),  giở  trang 333, bài nói Về tính hiếu học…, đọc một  đoạn cho tôi nghe :  mục Viết Nhịu trong tạp chí Ngôn Ngữ & Đời sống của hội Ngôn ngữ học Việt Nam kê ra vài trăm lỗi viết về tri thức cơ bản thường thấy. Trong các sách giáo khoa đại học, có thể tìm ra 2000 câu lỗi như thế, và trên căn cứ có kiểm kê, khoảng 72% sách đại học đều chứng tỏ người viết không biết đến những tri thức  ngôn ngữ sơ đẳng. Cuốn ‘’ Nhập môn ngôn ngữ học’’ được  mang giảng dậy ngang nhiên phủ nhận tất cả thành tựu của ngành Ngôn ngữ học của toàn nhân loại, và lấy tư cách Chủ tịch  Hội đồng Khoa học Viện Khoa học Xã hội  tại T.p HCM, năm 1997 Hạo gửi thư cho ông Giám đốc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn  cùng ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo một thư dài kèm 200 trang tư liệu minh chứng, để kiểm tra và kết luận  về tác hại của cuốn sách đó. Nhưng đến nay, tức 7 năm sau, vẫn chẳng có hồi âm, kể cả công văn báo đã nhận thư cũng không có!
Hôm đó là ngày mồng hai Tết GiápThân năm 2004. Đáng lẽ phải vui xuân, chúng tôi lại lẩn thẩn nói những chuyện cực lòng. Ngay cả đối với những giáo sư ngôn ngữ, chẳng lẽ họ lại coi thường tiếng mẹ đến thế sao? Họ chắc phải biết ngôn ngữ là lớp trầm tích sâu nhất của văn hóa, khai quật thì có thể soi rọi cách sống, từ tư duy, cảm nhận đến những quan hệ ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân và cộng đồng…Lơ là để cho ngôn ngữ thành một  thứ tạp nham dị dạng vô hồn, có thể nào, tôi  nói liều, cả dân tộc này mắc chứng trầm cảm tập thể, giải quyết bệnh tâm thần bằng cách xô nhau làm giầu ăn xổi để khỏi suy nghĩ, hệt  trong một xã hội tiêu thụ vinh danh khách hàng như Thượng Đế, vong thân biến chính mình thành một món hàng không hơn không kém? 
Trong tương quan giữa ngôn ngữ và văn hóa, tôi đặc biệt quan tâm đến những đại từ nhân xưng, trao đổi với Hạo dịp đó, và hứa sẽ đào sâu sau này. Ở ngôi thứ nhất dạng đơn có tính trung hòa, ngoài tôi, ta, tao, tớ, mỗ  có tính hồi chỉ chính danh thì có lẽ đến 90% trong đời thường người Việt chúng ta dùng ngôi vị thân tộc và tuổi tác (con, cháu, anh, em…) để xưng hô. Ở dạng phức, ta ghép thêm từ  chúng vào ta, tôi, tao. Ở ngôi thứ hai, ngoài từ mày, mi, bay, xưng  hô phần lớn tùy tuổi tác (cụ, ông, cha, mẹ, anh, em),  chức năng hoặc cương vị ( bác sĩ, giáo sư, ngài…), thường ở dạng đơn, thêm những hoặc các hoặc tụi hoặc bọn để  chỉ  dạng phức ( nhưng xin lưu ý các anh, chứ chúng anh lại chỉ ngôi thứ nhất). Với hai ngôi này, rất ít đại từ có tính trung hòa được dùng trong đời sống, khác hẳn với những ngôn ngữ phương Tây ( je, moi, tu, toi, nous,vous (tiếng Pháp), I , you  (tiếng Anh) …) hoặc trong tiếng Trung Quốc ( ngổ, nỉ…áp dụng một cách phổ biến ngay trong quan hệ gia đình giữa bố mẹ anh em). Nếu mày, tao được xữ dụng giữa bè bạn thì chúng(tụi,bọn) bay, chúng(tụi, bọn) mày, chúng ( tụi, bọn)  tao (ta) thường chỉ những quan hệ những nhóm có ít nhiều đối kháng cành cựa với nhau. Đặc biệt hơn hết là nhân xưng trên cơ sở tuổi tác, địa vị, và liên hệ trên-dưới có tính thân tộc vừa miêu tả  tạo ra một tương quan bất bình đẳng giữa những con người. Tác động tốt của nhân xưng thân tộc (cha mẹ cô chú anh em) một cách đại trà như thể mọi người cùng thuộc một gia  đình là tạo ra liên kết tình cảm, nhưng mặt tích cực đó có thể bị triệt tiêu vì hai yếu tố. Thứ nhất, cái liên kết trên ảo; nó thể hiện một sự mong đợi trông chờ chứ không phải một hiện thực, và đẩy đến một cực nào đó, nó là sự giả trá chấp nhận như một qui ước. Thứ nhì, nhân xưng ở ngôi thứ nhất tự thân bị những ràng buộc trên-dưới, ảo-thực…nên khó có thể phát huy trọn vẹn cái tôi  cá  thể  bị kiềm tỏa trong ngôn từ xưng hô phản ánh trật tự (thậm chí, đạo đức) của xã hội dựa trên nền tảng gia đình thị tộc [1].  Cái nền tảng đó do truyền giống nên tự nhiên và bất biến, hệ luận là từ cách xưng hô đó, cái trật tự kia cũng vậy, và con người  xử dụng nó vô hình chung bị vi khuẩn ‘’bảo thủ’’ ngấm vào đến tiềm thức, ứng xử thụ động trước mọi quyền lực ngoại tại.
Nhưng đáng chú ý là những  đại từ nhân xưng ở ngôi thứ ba. Tôi rất khó chịu khi phải xử dụng nàng và chàng, nghe nó cứ như ‘’làm sao ấy’’, hơi ‘’ sên sến’’, lắm khi dùng không  khéo thì phá tan nát cái không khí văn chương.  ‘’Thiếu gì từ khác’’ , Hạo đáp. Hết thời gian nên chúng tôi phải chia tay, tôi hứa sẽ ‘’lạm’’ bàn với Hạo lần gặp sau. 
Ở ngôi thứ ba, ngôn ngữ ta quả không thiếu gì đại từ nhân xưng ở dạng đơn: giống đực : y, hắn; giống cái : ả, thị ;  trung tính : nó,va (?), nghỉ…chẳng hạn. Từ va  và nghỉ  hoặc là tiếng địa phương, hoặc là tiếng cổ, nay không còn thông dụng. Ở dạng phức, chỉ còn  chúng( bọn, tụi) nó . Nhưng mỗi  đại từ trên đều mang một nghĩa hàm ẩn, thường là nghĩa xấu. Thị, ta liên tưởng đến tôi đòi, quê kệch. Ả, tất ả giang hồ, đám xướng ca. Y,  có vẻ gì như hiểm hóc, tối tăm. Còn hắn, đỡ hơn vì ít xách mé, nhưng chắc chắn xa lạ.   Tóm lại, với những đại từ nhân xưng ngôi thứ ba vừa nêu lên, tính cách và thậm chí  bản chất khác với chủ thể hiển ngôn ở ngôi thứ nhất. Nó thường hàm ẩn sự đánh giá, từ khinh miệt, xách mé đến xa lánh, và chuẩn mực ‘’đạo đức’’ ngầm gắn vào danh xưng khiến chúng mất tính trung hòa, tạo ngay những  định kiến  tác động lên quan hệ với đối tượng ngôi thứ ba.  Tưởng tượng một cuộc thoại giữa tôi với anh  về một đệ tam nhân, gọi là hắn, là nó, là y, là ả hay là thị ở ngôi thứ ba. Danh xưng không thôi cũng có tác động chia rẽ phân liệt : cách gọi nào cũng đều hàm ẩn đánh giá đối tượng này. Bây giờ, giả thử có 3 người  và những cuộc đối thoại song phương về một người thứ ba. Đánh giá hàm ẩn qua đại từ nhân xưng gấp lên ba lần,  tỉ lệ thuận với khả năng chia rẽ phân liệt cái cộng đồng ba người đó, tạo ra  xúc tác cho những tị hiềm ganh ghen.  Và có phải chính vì thế mà cứ có một người Việt thì công việc chạy hơn với hai người người  ngoại quốc (người  Nhật chẳng hạn),  trong khi có ba người Việt thì lại không bằng chỉ với một người  ngoại quốc ( như người Nhật chẳng  hạn)  như trong chuyện tiếu lâm tân thời. Ngôi thứ ba dạng phức cũng vậy.  Chúng (bọn, tụi) nó  có cái gì đó không thiện cảm chút nào, chẳng những xa lạ mà còn như đe dọa. Và chính vì vậy mà chúng ta lúc nào cũng phải đối phó với chúng nó,  khi thì lao vào chiến tranh, lúc hòa bình thì ta dùng mẹo trong ngoại giao, trước sau bất tất cứ phải như một. Ở ngoài nước, tình trạng phân chia phe nhóm chúng ta - chúng nó hầu như có trong tất cả mọi cộng đồng rải rác khắp nơi. Chỉ khi  chúng nó là một đe doạ thực sự thì  chúng ta  mới đoàn kết được.
*
Tôi vừa đưa ra giả thiết rằng tính chất hàm ẩn của đại từ nhân xưng ngôi thứ ba có thể là một (một  thôi, xin nhấn mạnh) trong những yếu tố  giải minh tính chia rẽ phân liệt giữa người Việt với nhau. Điều này, chúng ta có thể kiểm nghiệm qua lịch sử những cuộc nội chiến trong quá khứ, và hiện tượng phe-nhóm tràn lan ở mọi nơi, trong mọi thời điểm, từ trong ra ngoài nước.  Cũng xin nhắc, giả thiết này không đề đạt một liên hệ nhân-quả,  chỉ thuần là một giả thiết về tương quan giữa ngôn ngữ với văn hóa và xã hội mà thôi. Trong tham luận ‘’ Ngôn ngữ học có thể đóng góp gì vào việc tìm hiểu tư duy và văn hóa Việt Nam?’’ đọc tại Hội Nghị Quốc tế về Các Giá Trị Văn Hóa Phương Đông  ở Hà Nội năm 1999 [2], Cao Xuân Hạo đề nghị 7 vấn đề , hoặc hệ vấn đề, mà khi được giải quyết thích đáng sẽ dẫn  đến những tìm tòi xa hơn. Anh viết : 1 …2…nhưng tôi xin chỉ kể :
7- Tại sao, và tự bao giờ, các thuật ngữ chỉ quan hệ thân thuộc được dùng thay cho các đại từ nhân xưng, các đại từ nhân xưng hồi chỉ chính danh trở thành vô lễ, và rốt cuộc  trong tiếng Việt khôngcòn có đại từ nào (kể cả đại từ hồi chỉ) có tính trung hòa…nữa? Hệ thống đại từ này có ảnh hưởng như thế nào đối với các quan hệ giữa người với người trong xã hội Việt Nam?
Là người’’ngoại đạo’’ ngành ngôn ngữ, tôi vẫn đánh liều thử ‘’ lạm’’ bàn, lẽ ra là chỉ với Hạo lúc sinh thời, nhưng nay quá muộn nên đành viết ra  để  thay một  nén hương thắp lên cho bạn. Đó là cách cá nhân tôi trả nợ, nhưng điều này nhỏ, tôi chỉ hy vọng làm xúc tác cho một cuộc tìm tòi nghiêm túc và có hệ thống. 
Chuyện lớn hơn, tôi nay xin thưa. Tháng 8 năm ngoái, năm 2006, tôi lại gặp Hạo. Lần này, rõ là anh hơi tiều tụy, trầm ngâm hơn, nhưng lúc chuyện trò, anh vẫn giữ được chất lửa khi nói về những nỗi niềm và trăn trở. Trăn trở, anh lo chuyện lạm phát phi mã những mảnh bằng Tiến sĩ, Phó Tiến sĩ. Những chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư. Anh sợ định luật Graham, như với tiền giấy hồi thế kỷ thứ 17 bên Âu Châu, ‘’la mauvaise monnaie chasse la bonne’’ [3] . Anh than vãn, báo chí tự thân có trách vụ văn hóa và giáo dục, nhất là với ngôn ngữ vì phần lớn người ta có đọc là đọc báo. Nhưng khốn thay, đội ngũ làm báo tắc trách, đáng lẽ nâng lên thì lại làm ngôn ngữ xuống cấp, mất ngữ nghĩa, mất trong sáng…mà tôi lấy một thí dụ điển hình trong phụ lục dưới đây. 
Còn về nỗi niềm của anh, tôi xin chỉ kể ra đây một.  Hỏi Hạo về khả năng nhóm cộng sự và môn sinh tiếp tục đào sâu những vấn đề học thuật anh chưa giải quyết được, anh trầm ngâm rất lâu, lát sau nói: ‘’Mình cũng kỳ vọng ở họ rất nhiều, nhưng khả năng đâu chỉ tùy thuộc họ, nhất là ở cái buổi ‘’hội nhập’’ này, anh em làm khoa học  đâu mang rao bán được cái gì trong kinh tế thị trường!’’. Mắt sáng lên, anh nói về một bộ những cuốn sách giáo khoa anh đã cùng họ soạn thảo với hy vọng thay thế những cuốn sách quái dị kiểu  ‘’Nhập môn Ngôn ngữ học’’ đã kể ở trên, hy vọng đem tiếng Việt thuần khiết chứ không sao chép ngữ pháp Âu Châu trả về cho người Việt. Theo một bài phỏng vấn Cao Xuân Hạo trong báo Xuân Lao Động năm 2003 [4] thì :
Hỏi : 
Thời hội nhập, tiếng Việt có cần tuân theo những quy tắc truyền thống quá cứng nhắc nữa không; hay cần đơn giản hóa, thưa ông?
 Đáp :
Làm sao tiếng Việt chấp nhận những kiểu nói của tiếng Châu Âu? Tôi không hẹp hòi, nhưng rõ ràng có một điều kiện tiên quyết và quyết định là đừng làm mâu thuẫn những quy tắc ngữ pháp cơ bản của tiếng Việt. Duy nhất trước đây có Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đặt vấn đề về một trong những quy tắc mà ngay chính các nhà ngôn ngữ học cũng không giải thích được, chỉ dùng theo bản năng. Nhiệm vụ của nhà ngôn ngữ học là hiển ngôn hóa những gì mà em bé năm tuổi chưa hiển ngôn được. Tôi đã viết gần xong 300 quy tắc như thế cho riêng tiếng Việt.
Tôi không biết các anh đã soạn xong bộ sách chưa, và nếu xong, những cơ quan chức trách khu xử thế nào. Riêng mình, tôi cầu mong cho nó đến được tay những sinh viên, học sinh, những nhà văn  nhà thơ, những biên tập viên, những nhà báo, và các ngài, ngài Tổng Bí thư, ngài Chủ tịch Nước, ngài Thủ Tướng, và vân vân.
Chia tay Hạo năm ngoái, tôi leo lên ngồi sau Honda của một người bạn, quay lại vẫy. Anh đứng trên lề đường, nhìn theo, và cười, vẫn cái cười phong nhã. Hẹn hò gặp nhau nay khép lại, vĩnh viễn. Mở cuốn sách anh đề tặng,…, để nhớ những lần gặp nhau (về rất nhiều phương diện),   tôi không khỏi bùi ngùi. Nhưng Hạo ạ, sống ở thác về. Sống thế nào, anh đã sống toàn vẹn. Còn thác, thì chuyện dĩ nhiên ấy mà. Và nơi về với một con người đã sống toàn vẹn là lòng những người ở lại.
Quebec 21-10-2007









Hình như có điều gì


Không mấy ai không một lần băn khoăn, sau khi đọc, tự hỏi, hình như, có điều gì còn nằm sau văn bản. Với tôi, tôi gọi là phần hồn. Gọi như vậy, tôi lại chỉ định danh cho ... điều gì đó thật mơ hồ, có lẽ một phần là vì cha nuôi tôi. Đó là lần ông cho tôi bản dịch Mái Tây của Nhượng Tống, dặn đọc kỹ lời bình của Thánh Thán, tìm ra phần hồn của Vương Thực Phủ. Thời gian đó là những ngày cuối đời ông, tôi qua Cali sống với ông được một tuần, và trong lúc muốn quên đi những chia ly dẫu chẳng muốn nhưng ắt có, tôi đọc, chẳng phải đọc Mái Tây mà là đọc Ngựa Nản Chân Bon của Nguyễn Mộng Giác. Và tôi tự hỏi, cái phần hồn, nó ở đâu ? Không có Thánh Thán bình văn như với Mái Tây, tôi mù tịt...và thở dài. 

Nhà văn Hoàng Khởi Phong rủ, giọng lúc nào cũng đầy thôi thúc, đi gặp Nguyễn Mộng Giác ‘‘chơi''. Không thấy phần hồn của tác phẩm, thôi thì đi nhìn phần xác của tác giả, biết đâu chẳng gặp. Phải nói thời đó rất ‘‘găng''. Việt Nam chưa ‘‘đổi mới'', đang sống đêm cuối cùng trong số ba vạn sáu trăm nghìn đêm đen sau ngày 30 tháng tư, mà tôi thì vẫn cứ tin vào chuyện ‘‘ hòa hợp hòa giải'', dám đòi Phong đưa đi cho làm quen với Văn Nghệ sĩ quận Cam, và dĩ nhiên là bị từ chối (mười lăm năm sau, Cao Xuân Huy của Tháng Ba Gãy Súng, cậu em rể ‘‘hụt'', bảo lúc đó mà gặp chắc phải đấm anh vỡ mặt). Thế thì sao Phong lại rủ gặp Giác ? Mà Giác là ai, tôi hỏi ? Anh ấy vượt biên, vợ con còn ở Sài Gòn, Phong đáp. À, thế thì gay cho cái chuyện ‘‘hòa giải'' đấy, nói cái chi cũng nên uốn lưỡi ít là 7 lần, tôi tự nhủ. Chúng tôi đến điểm hẹn. Một tiệm phở, dĩ nhiên. Được nhắn, hẹn đã rời. Một tiệm phở khác, dĩ nhiên. Nhìn Phong, tôi đùa, sao mà cứ như chuyện ‘‘điệp viên Z28 phá lưới'', hồi hộp thiệt là hồi hộp. Và chúng tôi rồi cũng gặp nhau.
Lần gặp này là lần gặp của những phần xác. Lịch sự, có. E dè, nhiều. Phở lại không ngon lắm, mặc dù tiệm có trưng một ngọn cờ. Và tôi có cái cảm tưởng tất cả chúng tôi là những xác ướp ‘‘momies'' vừa từ cõi âm bước lên, chưa thực sự nói được tiếng người, chỉ phát ra những âm thanh nhợt nhạt, xoay trở gượng gạo như thể còn đợi tay phù thủy điều khiển âm binh phà một câu thần chú để hồi phục sau bao nhiêu dâu bể. Vì vậy, phần hồn tôi mong tìm được qua phần xác là chi? Đi đâu ? Về đâu ? Tôi chỉ giữ được hình ảnh một con người chừng mực, cái nhìn có chút bóng tối của cuộc đời, nhưng vẫn cười độ lượng dẫu có gì đó tựa sự cố gắng như trong truyện Ngựa nản chân bon...
*
Thế rồi tôi cũng chẳng mấy quan tâm đến chuyện phần hồn một văn bản : thời đó, tôi vẫn ước mơ đổi đời bằng cách xử dụng cơ chế thị trường trong một xã hội vẫn hướng đến công bằng xã hội, và gọi nó thế nào thì cứ gọi, xã hội chủ nghĩa cũng được! Cho nên, những phút khắc khoải với hiện thực, tôi ‘‘ xả xú-bắp'' bằng thơ, nhanh gọn, và thơ thì cũng cho mình và cho bạn bè gần gũi. Bức bách lắm, tôi chọn Thơ Đường dịch lại, rồi Chinh Phụ ngâm... Ông bạn khó tính nhưng chân tình của tôi ở Paris là Tạ Trọng Hiệp mắng (hay khuyên?): ‘‘cậu làm cái gì cũng trung bình ti tí, có lẽ vì tham lam ôm đồm. Văn học, tí ti, chính trị cũng tí ti...Tham vừa chứ!''. Bạn mắng, nhưng ăn thua gì. Tôi cứ thế, chẳng biết mình đi về đâu. Cho đến cái ngày gặp một số bạn trong một hầm rượu ở khu St Germain des Prés tôi mới buột miệng, để tôi viết văn xuôi cho mà xem. Cứ tưởng bốc lên nói càn, sau tôi mới hiểu là điều tôi nói đã cát cứ trong tiềm thức tôi từ lâu. Đổi đời ư, nhiều cách! Đi đường xa, là văn hóa.
Truyện (văn xuôi) đầu tay của tôi là tiểu thuyết lịch sử Gió Lửa. Trong tiểu thuyết này, có một phần là thời Tây Sơn (một phần thôi, hỡi các nhà phê bình lý luận cứ gắn Gió Lửa vào Nguyễn Huệ ? !), và khi đưa An, con gái giáo Hiến vào truyện, tôi đã e-mail cho Giác, báo tôi sẽ ‘‘mượn'' An của Sông Côn mùa lũ. Dĩ nhiên thôi. Vì ngay một vị anh hùng cái thế, một nhà chính trị xoay đất lật trời, hay ...một tay đầu trộm đuôi cướp lừng danh mà không có bóng dáng một mối tình đầu thì làm sao ra con người được! Là con người đã, và vì con người, nhưng cả hai nhân vật An lẫn Huệ trong Gió Lửa và Sông Côn mùa lũ lại rất khác. Khác vì quan niệm tiểu thuyết lịch sử của tác giả. Khác vì văn phong. Khác vì Giác khác tôi, và tôi, khác Giác [1]. Văn chương của anh là văn chương ‘‘mái ấm'', nhẹ nhàng, thấm thía và luôn luôn hướng về một cái gì đó có tính vĩnh hằng của con người. Còn văn chương của tôi, là văn chương ‘‘sóng gió''. Nó sùng sục, nó ‘‘có nhiệm vụ'' đèo bồng xã hội, nó cứ một mực đòi (huyễn hão chăng?) đổi đời bằng một tương lai khác với quá khứ, cái quá khứ vốn rất khốn nạn của một Việt Nam đã quá tang thương qua dâu biển đổi dời.
Nhưng thôi. Nói nữa làm chi, tôi đã định bụng như thế. Cho đến một buổi tối trên bờ biển Normandie, sau khi cuốn tiểu thuyết lịch sử thứ hai của tôi là Đất Trời ra đời. Bè bạn, đám sau này là bọn Ăn Mày Văn Chương, quây quanh và bảo : Nam Dao phải viết về thời hiện đại. Nếu không là trốn chạy, cứ ẩn vào quá khứ, vào thời Nguyễn Trãi-Lê Lợi, thời Trịnh tàn-Lê mạt để mà ‘‘ẩn dụ'' là không dám nhận trách nhiệm nhà văn ở ngày hôm nay của mình. Chao ôi, thêm một lần, tôi sẽ là điểm oanh kích tự do hay sao? Lần này, tên bay đạn lạc không phải từ hai bên mà là tứ phía. Quốc và Cộng, đã đành. Nhưng sẽ có những tay súng của thời ‘‘đổi mới (mà chưa hẳn nới cũ)'', và thời ‘‘trước sau như một''...Cũng đành, tên một tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, chứ biết làm sao bây giờ. Cũng đành, tôi viết Bể Dâu, với cái tâm nguyện tôi mượn hai câu thơ Tô Thùy Yên để diễn tả : Chút rượu hồng đây xin tưới xuống / Giải oan cho cuộc bể dâu này.

*
Chết chưa, thế là tôi đâm sầm vào ‘‘hiện trường'' của Mùa Biển Động. Ôi thôi, cứ tìm những lối đoạn trường mà đi à? Tôi đọc, và biết đừng có trùng đi lập lại một văn bản đã có, lại được viết bởi một nhà văn thành danh. Nhưng đọc trên dưới 3 ngàn trang, tôi quên khuấy mất cái mình ‘'sợ'', nhưng hiểu ra một điều, chẳng ai giống ai đâu, trời sinh Giác khác tôi. Và tôi, khác Giác, nên dẫu chúng tôi có viết về cùng một thời khắc lịch sử, sự khác biệt đó sẽ cho ra đời những cách nhìn và cảm nhận hoàn toàn cá biệt. Thế là tôi tìm cách quên hẳn Ngữ, nhân vật (có chút Giác) trong Mùa Biển Động.
Quên Ngữ nhưng tôi vẫn nhớ tính cách nhân đạo của văn bản, mặc dù một phần thời gian Giác viết tác phẩm này có thể là thời gian khá nghiệt ngã vì những chia cách với gia đình thân thương anh tạm phải chia xa. Anh viết, như chống trả lại nghịch cảnh. Như để hoàn thành tính cách con người của mình. Và tính cách đó tồn tại, bất chấp lịch sử, bất chấp xã hội, không lý luận, không tuyên ngôn, và không nhớp một chút gì ta thường gọi là hận thù, thứ tình cảm chẳng xa lạ trong một tộc người truân chuyên qua 30 năm chiến tranh, gọi là Quốc -Cộng, hay Ủy Nhiệm, hay chống Đế Quốc, hay là gì gì đó... thì cũng chỉ thế, là chiến tranh, mà thôi.

*
Nói thế chưa đủ. Cách đây đâu gần 3 năm, tôi đến thăm Giác. Lần này, anh chị có cháu, và tôi nhìn tận mắt cái hạnh phúc và niềm an bình của anh (và cả chị) khi anh vui đùa với cháu. Hình ảnh một con người mô phạm, một ‘‘ông thầy'' có truyền thống gia đình trong ngành giáo dục, một nhà văn chừng mực, nghiêm túc...chợt như không còn. Tôi chỉ thấy Giác hồn nhiên, Giác tự hào vì đứa cháu đĩnh ngộ, Giác tươi cười, và Giác...thật hạnh phúc. Anh đã đi, và phải chăng anh đã đặt bước đến chốn nhân sinh ai cũng ao ước?
Giác cho tôi xem bản thảo của những tiểu thuyết trường thiên anh đã viết. Bản thảo đâu vài chục cuốn, được đóng lại, bìa cứng, gáy da. Và trong là những trang chữ viết trang trọng, rất ít gạch xóa, sạch và nghiêm, hệt như bề ngoài con người anh. Chẳng bù với tôi, tôi cũng viết tay nhưng trời ơi, đến tôi đọc lại cũng lắm lúc đọc không nổi. Nào gạch, nào xóa, nào tẩy, và những mũi tên, có mũi bay qua hai trang nhưng vẫn ghi chú ‘‘còn tiếp'', bay, bay... đến chỗ đánh dấu X thì ngừng. Còn chữ viết tay, ôi thôi, là một nỗi kinh hoàng cho cả chính tôi. Nếu tôi không chọn (hay nàng chọn tôi ?) được một người vợ đọc ra và chịu đánh compiutơ giúp tôi thì, nói thật, chẳng có cái gì gọi là văn chương Nam Dao cả! Nhưng đó là một chuyện. Chuyện thứ hai làm tôi ngỡ ngàng là viết không tẩy xoá như Giác, anh chắc chắn có một thứ bố cục vững vàng trong đầu cho cả ngàn trang. Với tôi, chuyện này quá khó. Tôi thường phải sửa, chẳng chỉ văn mà cả bố cục, khi viết quá 30 trang. Truyện tôi sửa, ít cũng ba lần, trong khi tôi hỏi thì Giác đáp, anh viết ...là xong, không có sửa đi sửa lại gì. Quả ít nhất anh đã từng là thủ khoa Sư Phạm Văn ở Huế. Đầu anh là một tổ chức hữu cơ. May mà anh không làm cái việc Tuyên Huấn của ông Nguyễn Khoa Điềm mới đây, nếu không chắc anh cũng ‘‘tổ chức'' văn nghệ không kém như khi anh tổ chức Mùa Biển Động hay Sông Côn Mùa Lũ. Nhắc đến đây, cá nhân tôi xin cám ơn chị Diệu Chi, người đã cho Sông Côn vượt biên ‘'chính thức'', vượt biên ‘'không người lái'', loại phở Hà Nội không thịt khi toàn dân nhịn đói ‘'chống Mỹ cứu nước''.
*
Thật là vô tích sự cái bọn văn nghệ văn gừng. Đầu thì bảo đi tìm phần hồn, rồi sau, văn cứ lang bang, hệt như đám vong ‘‘được đâu trầu đấy'' trong dịp cúng cháo lá đa rằm tháng bảy. Vâng, phần hồn của văn bản. Nó là gì ? Nó liên quan thế nào với tác giả? Và nhất là, tôi xin nhấn mạnh, nó tương tác thế nào với người đọc? Đến đây, tôi nghĩ đến cha nuôi tôi và lời ông nhắn nhủ. Tôi đọc lại tập Ngựa nản chân bon. Liệu hai mươi năm sau, tôi có khả năng nhận ra phần hồn một văn bản ? Sự thách đố này không phải chuyện đùa. Một mặt tôi làm là thỏa nguyện lời dạy chí tình của cha tôi, mặt kia, phần nào đáp lại cái duyên tôi có với Giác, chẳng phải qua tiểu thuyết mà qua Kịch. Như một chuyện quái dị của nền văn học sử Việt Nam, Kịch là một bộ môn bị bạc đãi còn quá Kiều sau 3 lần 15 năm lưu lạc, loại đĩ già chẳng ai đoái hoài cưu mang, đã vậy còn bị đồng hóa vào chuyện diễu giở (hay giễu dở, tùy loại từ điển tra cứu). Thế mà Giác đăng Treo đầu dây quan họ trong Văn Học mà anh là chủ biên. Và không chỉ thế. Vở Kịch thứ hai, Ta xô biển lại, anh từ chối, bảo...vì để giữ tiếng cho tác giả ‘‘Treo Đầu Dây...'' . Nhưng sau đó, 5 vở Kịch tôi viết sau đều xuất hiện trên Văn Học, và phải nói, không có Giác có lẽ tôi đã chẳng tiếp tục viết Kịch Bản dưới dạng văn học.
Biết Văn Học làm một số đặc biệt về Nguyễn Mộng Giác, tôi điện thoại cho chủ biên, nhà văn Cao Xuân Huy. Huy nói, ‘‘còn một tuần báo lên khuôn''. Tôi muốn viết một bài, nhưng...Huy cắt, ‘'còn anh, cho anh mười ngày!''. A, mười ngày để tìm ra cái phần hồn tôi đã ê a nói suông chứ chẳng dám lý giải như những nhà lý luận phê bình văn học. Làm thế nào đây? Trước tiên, là phải đọc. Đọc bằng mắt, dĩ nhiên. Đọc bằng tâm hồn, khó hơn, nhưng vẫn OK, vui thì cười, buồn thì khóc, thả lỏng gân cốt (chính kiến), thư giãn tâm tư (và bắp thịt), chớ gồng vì bất cứ lý do gì, kể cả những giá trị nhân loại, những chính nghĩa quốc gia dân tộc, những ý đồ khai phóng để ‘‘hội nhập'' vào nền kinh tế toàn cầu...Bạn đọc ơi, đọc như vậy thú lắm. Không tìm chuyện giật gân, không để chính trị thống soái, không và không, ta cứ để cho câu chuyện hấp ta vào, dẫn ta đi...
Tôi đọc, và cái phần hồn, hình như nó đây rồi... Chú bé khều sao trên mái chùa trong ‘‘Mẹ trong lòng người đi '' mà nhà văn của chúng ta viết những ngày trên đảo Kuku ? Chùa xưa mái ngói cũ. Trèo lên nắm cây sào. Đêm khuya rồi không ngủ. Kéo rụng bao nhiêu sao ? Giác tưởng tượng một chú bé có thể thành nhà chính trị, nhưng nhắn nhủ : ‘‘Tôi thích chú trở thành một nhà thơ hơn, vì hành động « kéo rụng bao nhiêu sao » vừa dễ thương vừa vô hại. Nhưng chú nhớ cho, đừng bao giờ kéo rụng một ngôi sao đặc biệt. Ngôi sao ấy rụng xuống, chú sẽ cô đơn hối tiếc vĩnh viễn trên đường đời...Hãy coi chừng! Chú khều rụng bao nhiêu sao sáng sao mờ cũng được, nhưng hãy lặng lẽ trân trọng cầu xin cho Ngôi sao Mẹ còn sáng mãi trên bầu trời...''. Đọc đến đây, hóa ra phần hồn Giác mang tính ‘‘lãng mạn'', vì anh thú nhận ‘‘ Kéo rụng bao nhiêu sao? Ôi, nên thơ và vô hại biết mấy, nếu chỉ là lời thơ''. Hai chữ vô hại dễ mường tượng khi thời ấy có một nhà thơ, ông Tố Hữu, làm phó Thủ Tướng phụ trách kinh tế. Nhưng còn Mẹ thì hiểu ra làm sao. Là đất nước? Là mẹ anh, mẹ tôi, mẹ chúng ta. Tất cả, vâng tất cả, là Mẹ, chữ M nắn nót viết hoa, với lòng biết ơn sinh thành.
Chẳng lẽ cái phần hồn kia nó trừu tượng đến thế ư? Không, có lẽ khi nói tới Mẹ, chúng ta có những bà mẹ cụ thể hơn, cư xử và hành động thế nào cho ta chẳng thể lẫn lộn với một bà mẹ khác trên cái cõi ta bà này ? Tôi lại tiếp tục tìm. Và đây, đây rồi. Lần này Mẹ đã già, trở thành Bà Ngoại. Bà đưa cháu đi vượt biên, thấy cháu kêu, thương quá nhảy xuống ghe vượt biển và bất đắc dĩ thành thuyền nhân vất vưởng trong Trại Tị Nạn đợi định cư ở một nước thứ ba. Giục cháu viết thư về, bức Thư gửi cho đám mây xa, bà « ...chợt nhớ đến chuyện bên nhà, giật mình bảo cháu: Hà viết xong chưa? Cháu phải viết ngay, kẻo quên thì mang tiếng với người ta chết. Cháu viết cho má biết là hôm đi, ngoại còn nợ của bà Tư Sét hai đồng bạc đường, và một đồng bạc ớt. ...Ngoại còn mượn cùa dì Bảy cái dao têm trầu chưa kịp trả. Ngoại tưởng xuống đưa cháu đi xong rồi về, ai ngờ...».
Mẹ như thế đấy, chân chất, vay trả hẳn hoi với đời, nhưng cho con cháu thì, ôi thôi, mẹ chẳng xá gì thân mình, phận mình, dẫu cho là phải vất vưởng bỏ cả đất nước mà đi. Và Mẹ, đơn giản là cái ngôi sao ấy, ngôi sao rơi xuống là chúng ta vĩnh viễn cô đơn trên đường đời. Phải chăng, Mẹ là phần hồn nằm sau văn bản? Tìm được hết những phần hồn sau toàn bộ những văn bản của một tác giả, liệu rằng ta có thể định hình được cái hồn của văn, và là cái hồn của người viết, trong ngày xá tội vong nhân mà văn chương ngày hôm nay có khác chi cháo lá đa bố thí cho những linh hồn vất vưởng.
*
Cuối cùng, tôi nghĩ mẹ đã thay bà ngoại trả bà Tư Sét ba đồng và dì Bảy con dao têm trầu. Còn Giác, anh cũng đã trả cái nợ nhân gian qua 9 tác phẩm tôi được biết, và 2,3 tác phẩm anh báo là chưa in, nhưng chắc rồi sẽ in. Tôi kể, như để nhắc anh, có Đêm hoang, Mây bay về đâu...Nhưng in hay không, xá gì! Vì anh đã đóng góp khá nhiều cho chúng ta. Cái nhìn ở dài hạn của anh đúng. Hãy sáng tạo, và tự giá trị tác phẩm, nó sẽ quay về nguồn, nơi có Mẹ. Sông Côn mùa lũ tái bản lần 2 ở Việt Nam và, nghe anh Võ Phiến nói, đang chuyển ra phim bản. Nhưng điều đó không có nghĩa gì khi chúng ta nhìn bức ảnh tôi chụp: một Giác an nhiên và chứa chan hạnh phúc với con cháu. Còn gì sau dâu biển đổi rời? Được cái hạnh phúc ấy, tôi cho là phép lạ. Chỉ cầu cho phép lạ nối dài cho đến những đời sau.

Nam Dao






 về quê
Nhớ tiếc Nguyễn Xuân Hoàng
1
Ông bạn Nguyễn Bá Trạc như ‘’ngọn cỏ bồng’’ [i].
Bạn mai về nhà? 
Ờ, thì mai trở lại San Jose. 
Rồi bạn hắng giọng, tại sao lại về? Mình ở đâu khi quay lại nơi đó thì nói là về!  Nhưng tôi trú ở Phần Lan sau khi ngụ tại Mỹ khá lâu, miệng lại  bảo về Việt Nam, nơi tôi vắt chân lên cổ thoát thân đã gần 40 năm, mà không nói như nói tôi đi Pháp, sang Ý, ghé Nga, trở lại Mỹ…Khỉ thế! Có lẽ về, là về nơi mình gắn bó hơn mọi nơi khác trên  trái đất này chăng?
Sợ ‘‘ngọn cỏ bồng’’ lại lăng quăng vòng vo chuyện đi-về-ở…tôi hỏi có đọc ‘’Nguyễn Xuân Hoàng trên con dốc tử sinh’’ mới đây của Ngô Thế Vinh chưa? Nhà thương thuộc ĐH  Stanford danh tiếng nay bó tay, Hoàng xuất viện rồi.  Bạn buồn buồn, chúng mình đến tuổi sắp ‘‘về quê’’  thôi.
Về quê, về quê…
Muốn về, phải đi. 
Người đi ừ nhỉ người đi thật! ‘’Đời’’ thà coi như hơi rượu cay! [ii]
2
Tháng 8 năm ngoái 2013, Phùng Nguyễn làm chuyên đề về Nguyễn Xuân Hoàng trên Da Màu. Có bài của Trần thị NgH, cô em gái tôi gọi là xí muội. Em tôi khai Hoàng bị sarcoma. Tôi kêu ô, đau lắm! Đọc lại Telecom  của NgH, vẫn cái phong cách bó mọi thảm kịch vào cái giọng ‘’cứ như’’ là cười cợt thách đố, chính vì thế mà thảm kịch lại càng thảm. Nghe NgH kể, xưa khi còn bé, em núp dưới gầm bàn nghe lén ông Hoàng nói chuyện văn thơ với chị Kim Lan. ‘’Vẫn còn nhớ đấy!’’. Tôi hỏi sao không viết lại? Viết làm chi, xí huynh! 
Ừ, dăm ba con chữ trượt trên con dốc cuối liệu có ý nghĩa gì!
3
Tháng 2 năm nay 2014, cùng ông ‘‘ngọn cỏ bồng’’  phiêu lãng, tôi bắt xe đò từ quận Cam đi San Jose thăm Hoàng, không còn có thể hứa cuội như vài ba lần trước. Nghe tin ốm đau nhưng Hoàng vừa phải dọn nhà. Đến nơi, ngay cửa vào là tượng Phật trên một cái bệ. Hoàng bảo, nghe nói là tượng cổ, không  biết thực hư ra sao. Tôi đáp, Phật thì có thực, và  chắc cái hư  bếy thế cũng chẳng xá chi. Nhưng tôi chắc chàng ít nhiều cũng là một Phật tử. 
Sàn nhà còn đầy hộp giấy đựng đủ thứ đồ đạc giấy tờ. Hoàng nhỏ nhẹ, cười và nói,  may mà có một số  bạn bè trước là học trò đến dọn giùm. À, nhớ ra, xưa thày Hoàng dậy Triết thời còn Sài Gòn. Chàng quảng giao, hành xử thân tình, tròn trĩnh, nên được cảm tình nhiều người.  Tôi biết ít lâu nay Hoàng làm hóa trị, hình như là lần thứ tư thời gian chúng tôi gặp nhau. Chàng có vẻ lạc quan, tươi tỉnh, báo nhà thương Đại Học  Stanford sẽ mổ  và làm ghép  một cái ‘’trụ’’ chống cột sống giúp cho Hoàng đỡ đau. Tôi thầm nhủ, sarcoma, sarcoma…mi đang làm chi bạn ta! 
Chúng tôi ngồi bên nhau. Chàng không nói gì. Im lặng. Trong bóng tối căn phòng khách mành rủ, tôi nhìn bạn. Tôi cũng chẳng biết nói gì. Tự nhủ trước khi đến thăm Hoàng tôi sẽ hành xử như bạn tôi chẳng bệnh tật gì, sẽ không chép miệng, không an ủi, không thừa một lời. Tự nhủ, tôi sẽ vui, hay cố vui, nói đùa được thì nói, không thì để im lặng thay những lời lẽ thừa thãi vô duyên.
Và rồi, tôi chỉ nắm tay bạn.
Trưa hôm đó, Hoàng có hẹn với Bác Sĩ, tiếc rẻ không đi cà phê vói Trạc và tôi được. Lên đường rời Hoàng, tôi quyết không ngoái lại nhìn, sợ lưu luyến kìm chân. Ngửng mặt, tôi nhìn lên mây. Hôm ấy mây xuống thấp, tôi thấy hình dạng một người đi trên mây, trong lòng giữ chút nắng mùa đông chưa nỡ bỏ lại thế gian này đã chớm màu u ám.
Bước cạnh, Trạc ngậm tăm được một lát, rồi bật nói, bạn bè chúng nó rủ nhau đi ‘’ về quê'’ cả. 
Đi? Chúng tôi chẳng nói chi nhiều nhưng cùng hiểu là sống gửi thác về. Nhưng về đâu?   
Về đâu? Về quê? 
Quê nhà nay không xa lắc xa lơ, nhưng ngoảnh mặt thì tha hồ mây trắng bay.

5
Khoan,  trước  khi đi, hãy nắm tay nhau bạn ơi! Rồi hát:
Nghiêng ngả cuối đời
Mây trôi
Người đi trên mây [iii]
Người trôi trên mây
Người đi một đời
Người trôi một đời 
              *
Nhưng đám mây gió thổi
Tụ ở đâu bây giờ
Đến ngồi bên cạnh bạn
Giờ đây
    biết nói gì
Thôi, chỉ nắm tay thôi
              *
Chỉ nắm  tay
năm  ngón gày gò
mái tóc trắng phau, giấc mơ  dang  dở
Giờ chuông điểm
người đi kẻ ở
Đi, đi đâu?
Ở, cũng ở  đâu?
              *
Mây cao, trôi vẫn ngang đầu
Mây trời ngã xuống nhuốm mầu thế gian
Ngửa tay thả hết lỡ làng
cho xuôi đến cuối địa đàng,  rồi quên...
6
Về đâu? Cuối địa đàng ư? 
Ai biết nói giùm tôi cái nơi ấy là cái chi chi!
Nơi ấy có phải là một nơi ngoài vật chất, rất có thể phi vật thể, thuần chỉ là cõi sóng vi ti của linh thức. Theo tín ngưỡng Kitô, nơi đó phân ra thiên đàng và địa ngục, cái thiện vĩnh viễn tốt đẹp, cái ác vĩnh viễn xấu xa. Theo nhà Phật, thiện ác tiếp tục tiến hóa, cuộc tái sinh luân hồi không kết thúc, và một chuyến đi khác rồi lại bắt đầu mở những chặng đường tiếp nối nhau trong trùng trùng duyên khởi. 
Ông ‘‘Ngọn cỏ bồng’’ gọi về nơi ấy là ‘‘về quê’’,  nơi ai cũng trút bỏ mọi gánh đời nặng trĩu đa đoan, rồi bắt đầu lại tất cả, nhẹ nhàng, thanh thản. Và về như thế là lẽ công chính, kết cục ai cũng  như ai trong mọi cuộc phù sinh hữu hạn. Nên Tham làm gì? Sân làm gì? Si làm gì? 
Phải chăng, biết vậy, ta nắm tay nhau là điều cuối cùng đáng làm trước khi cất bước trên con đường ‘‘về quê’’? 
Mà này, Quê nhà xa lắc xa lơ đó/ Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay [iv]. Thế thì bạn tôi ơi, người đi trên mây, sẽ bay trên mây, tiếp tục phiêu du về phía ấy muôn trùng. Và rồi chúng ta hẳn sẽ gặp lại nhau, nhất định thế.
__________________

[i] Tên tác phẩm của nhà văn Nguyễn Bá Trác.
[ii] Thơ Thâm Tâm, xin đổi một chữ trong ‘’ . ‘’!
[iii] Tên một tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Hoàng
[iv ] Thơ Nguyễn Bính.






          

Thương tiếc người chăn kiến
1
Chuyện một người đi tù tên M. Một ông Giám Đốc chứ chẳng vô  danh tiểu tốt. Bị bắt vì vu tội, xét xử sau, cứ đi tù cái đã. Những  người công an đều là bạn. Họ không bạo hành tù nhân, nhưng để B trưởng ra tay. B trưởng, thường là tù hình sự,  do quản giáo nhà tù chỉ định.  Ông B trưởng này rất...lạ. Thấy ông Giám Đốc trắng trẻo, hắn nẩy ý bắt ông trần truồng  đứng lên cao, cạnh một khung cửa sổ gần nóc nhà  làm Nữ Thần Tự Do.  Không đuốc, thì  tay giơ lên dăm cái kẹo. Xấu hổ, ông khép đùi che cái báu vật của đời. Đứng chênh vênh không đủ, thần Tự Do sau thành chim phải ngã xuống đất. Và ngã mà không được đỡ tay, chống chân. Ngã phải cho đau mới đạt tiêu chuẩn nhà tù XHCN có nếp sống văn minh và đậm đà bản sắc dân tộc. 
2
Trò mới, B trưởng bắt được 4 con kiến. Trích :
Cho đến một ngày... Hôm ấy đi làm vệ sinh về, tay B trưởng bắt ra 4 con kiến đỏ bé xíu đựng trong cái vỏ bao thuốc lá. Hắn cầm mẩu gạch non khoanh 4 vòng tròn xuống nền xi măng. 12 anh tù được hắn chỉ định chia thành 3 ca chăn 4 con kiến nhỏ.
Ông Giám Đốc vẽ một vòng tròn, ngăn không cho  kiến bò ra ngoài. Nhưng phải cẩn thận, chớ làm kiến xây xát. Ông Giám Đốc từ đó thành người chăn kiến. Ông bắt được một con kiến, con thứ năm. Trích:
Thế là một hôm ông gặp B trưởng, chìa ra một con kiến ông vừa bắt được trong khi đi làm vệ sinh và rụt rè, ấp úng xin được chăn... B trưởng cố kìm cơn giận. Hắn miết chết con kiến và quắc mắt, hất hàm về phía sân xê rom.
Ông hiểu. Ông lại khoả thân bước lên. Nhưng ông không được làm thần Tự Do nữa. Ông biến thành con chim. Con chim nhỏ trên cành cây cao. B trưởng đứng dưới, giả cầm súng lom khom, chui lủi, rình ngắm: - Ðoàng.
Ông phải rơi từ sát mái nhà xuống. B trưởng không bằng lòng với cách rơi giả vờ, rơi có chuẩn bị, rơi chân xuống trước ấy. Phải rơi như thật. Như bị bắn rụng thật. Hiểu chửa. Làm lại.
"Thật quá rùng rợn. Cầu mong đừng gẫy cổ, vỡ mặt, mù mắt, gẫy tay là được. Cố vượt qua. Ðể còn ra".
Câu chuyện tiếp, ông Giám Đốc được minh oan rồi xổng tù, được phục hồi chức vụ.  Nhưng  có những  điều không  bao giờ phục hồi được ... Và đố  bạn đọc tại sao  chỉ có 4 con kiến?


3
Tôi gặp anh lần  đầu ở gác 5, tư gia nhà thơ Nguyễn Duy. Trước đấy, Duy nhắn nhủ, cái hay của ‘’Chuyện kể năm 2000’’   là phần Tấn viết về khi đã ra tù. Đúng thế. Cái cảnh dăm người đói ăn nhấp nhổm ngoài cửa mong bạn tù xưa nhìn thấy rồi mời vào nhà cho ăn một bữa sao mà thảm thương đến vậy. Và với Tấn, cái tù 5 năm mà không biết tội gì so với cái cảnh ngoài mà vẫn cứ như trong tù khác  nhau thế nào? Có lẽ trong tù thì hy vọng tại ngoại, nhưng ở ngoài rồi mà vẫn như tại tù thì  hy vọng gì, đi  đâu, về đâu? Ô, nỗi thiên thu tù tại ngoại!
Thế đấy nhưng anh vẫn cười, rất dung dị, và hồn nhiên. Có lẽ cung cách này là sức mạnh của anh. Vì thế, mặc dầu sống đầy ắp oan khiên nghịch cảnh, văn chương anh vẫn ăm ắp chất con người, không oán hận căm thù, không mỉa  mai xỉa xói. Gặp lại anh hai lần sau đều ở Hải Phòng. Khi thì trong căn buồng  chừng 20 mét vuồng của anh chị, khi thì cùng nhau ra bãi biển Đồ Sơn nhìn song vỗ bờ, anh lúc nào cũng thân tình  chân thật. Anh rất hài, kể  ‘’ ấy sống trong tù mà tớ còn lý tưởng lắm nhé, mỗi lần thấy chuyện không phải  là tớ lại rao giảng đạo đức cách mạng, may mà  đám tù nó chỉ sặc cười, không đứa nào đấm vào mõm! ‘’. Biết chuyện anh đòi lương và sổ hưu những năm tù oan, chẳng biết được  bao nhiêu tiền, tôi hỏi. Anh nói ‘’ đòi được rồi thì bạn bè đến chúc mừng, mình khao anh em một bữa, và thế là đâm lỗ chứ chẳng được đồng nào ! ‘’ rồi mủm mỉm cười.

4
Khi nghe tin các anh Châu Diên, Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh...cao tuổi mà cùng nhau lặn lội xuống Hải Phòng thăm anh Tấn, tôi biết  chuyện chắc chẳng lành. Tôi nhờ  Tn, một cậu em thân thiết, đi thăm anh. Cách đây hai năm, anh Tấn kêu lạnh chân và tôi đã nhờ Tn mang biếu anh 2  đôi tất len. Lần này, tôi chuyện trò với anh qua điện thoại. Giọng anh có yếu, nhưng chưa đến nỗi nào. Không nói đến tất len, anh lại nói với tôi về đôi giày anh nhận được. Vẫn cái hài hước rất Tấn, anh bảo giày to đến độ anh và con trai cùng xỏ chân vào mà vẫn còn rộng. Rồi anh lại cười, nghịch ngợm. Anh hỏi khi nào về. Tôi đánh liều, hẹn anh qua Tết nhé. Anh đáp, không hứa  nhưng sẽ cố. 
Nhân có nhà văn VH từ Canada về, tôi báo tin sức khoẻ anh Tấn, và nhờ ghé thăm. Cách đây chưa đến một tuần, anh VH  gọi tôi, và tôi còn  dặn nhắc với Tấn lời anh ấy nói sẽ cố, cố giữ đến sau Tết, để còn gặp nhau.
Nhưng cố thế nào đây? VH  e-meo qua, kể anh Tấn đau lắm, nói thì thào nhưng anh vẫn nghe được ‘’ ...  sao cái nghiệp tôi  nó nặng đến  thế! ‘’
5
Chuyện kể khi ông Giám Đốc ra tù, đổi chỗ làm và được phục hồi chức vụ. Trích:
Giám đốc mới không tham dự. Ăn trưa xong ông về phòng. Các vị chức sắc cũng muốn kéo ông vào cuộc vui nhưng trả lời tiếng gõ cửa là sự im lặng.
Họ bảo nhau:
- Thôi. Ðể sếp ngủ.
Chẳng một ai biết sau khi gài trái cửa, giám đốc rút ngăn kéo lấy ra một lọ nhỏ, trong đựng 4 con kiến. Ông thả lũ kiến vào một vòng tròn bằng phấn vẽ trên bàn. Ông bẻ bánh cho chúng ăn và lấy những các-vi-dít (Có rất nhiều trong ngăn kéo ố của khách và của ông) chặn chúng lại. Thỉnh thoảng ông còn đặt cả ghế lên bàn làm việc. Và khoả thân trên ghế. Ðứng thẳng. Mắt hướng về phía xa. Tay giơ cao. Như kiểu thần Tự Do.
6
Tại sao, tôi hỏi, lại chỉ có 4 con kiến? 
Biển Đồ Sơn vẫn rì rào . Trên mặt cát vàng ố, những con dã tràng lăng quăng se đất cong chân chạy khi sóng  lấn vào bờ. Về đêm, thành phố  chập chờn bóng dáng những người khốn khó đi ăn sương. Tôi nghe. Hình như anh nói ‘’ một con tên Độc Lập, một con tên Tự Do, còn con kia là Hạnh Phúc...’’   Tôi à lên, thì ra thế. Lát sau, tôi thắc mắc ‘’ thế còn con thứ tư? ‘’. Khà lên một tiếng, rồi anh nhỏ nhẹ : ‘’ Là Con Người, tù trong  cũng như tù ngoài khi thế giới có những kẻ chăn tù! ‘’.
Lát sau, tôi hỏi vớt khi anh đứng lên, thế con kiến thứ năm bị chân kẻ chăn tù dẫm lên thì là gì?  Anh  thở dài không đáp. Gió thốc lên, và tôi nghe, rất  mơ hồ, ‘’ ...là  những Con  Người thực sự có quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, và quyền chối bỏ kiếp những con kiến! ‘’.
7
Tang lễ anh được cử hành ngày hôm nay, khi tôi viết những dòng này.  Cậu em tôi đã mang một vòng hoa viếng, có đề tên Nguyễn Duy, tên tôi. Nghe  nói rất đông  người đến  chia tay anh. Có cả, dĩ nhiên, những người làm nhiệm vụ an ninh, chuyện nay nhàm.  Họ  có khác gì những người chăn kiến trong  một nhà tù, và như thế, họ nào có tự do  hơn ai đâu. Trong thâm tâm, có thể họ cũng mong mỏi thành con kiến thứ năm, loại kiến nay  đã có trên thế giới trong cái kiếp phù sinh của đời người này.
Anh Tấn thương kính, hãy lên đường, vì rồi thì tất cả chúng  sẽ cuối cùng về nơi ấy mà thôi.

Bái biệt
20-12-2014







Chớm Xuân, Nhớ về Bến Lạ

Mỗi buổi chuyển mùa, nhất là lúc chớm Xuân, tôi  cảm nghiệm được những giây phút huyền nhiệm khi bắt gặp loài hoa crocus. Cuối Đông, crocus nhụy vàng, cánh phơn phớt xanh,  trồi ra từ  thảm tuyết chưa chịu tan. Thời gian đó trời không còn lạnh lắm, nắng tươi  vàng  đã rực rỡ bám vào những cành cây còn trơ trụi lá. Sự sống vận hành sau 5,6 tháng Đông buốt giá. Hoa crocus báo tin mầm sống bung ra, mãnh liệt, bất chấp… nhưng chỉ sống được dăm ngày phù du, sau nhường chỗ cho những  loài thảo mộc khác đâm chồi nẩy lộc. Mùa Xuân nơi tôi sống là khi tuyết tan, đường phố lầy lội bùn, con người ai nấy mong Xuân qua mau cho Hè tới. Và tôi, nếu được đấng Cao Xanh cho thêm một  kiếp người, tôi mong sẽ trải nghiệm sự huyền diệu  hòa cả thân lẫn tâm vào ’’thế giới phun trào như nước chảy trong thân. Cây cối rộ hoa trên cơ thể’’ ( Tagore).
*
Rời đất Bắc ở độ 8, 9 tuổi, tôi di cư vào Nam chưa kịp mang theo nhiều kỷ niệm Tết. Nhưng nhớ nhất, tôi chì còn nhớ những cơn mưa. Mưa bụi,  mưa nhẹ hồ không có thực, là những  hạt bụi nước chưa kịp đậu lại đã tan biến đi như trong những chuyện hoang sơ cổ tích có Thạch Sanh có Lý Thông. Mưa phùn, rả rích, ngày qua ngày mênh mang, mưa cứ mưa như hành phạt loài người trong thảm kịch Tấm với Cám, loay hoay trong những chiếc áo mưa kết bằng rơm ở thôn quê, hay  làm bằng nhựa plát-tích đùng đục những con mắt vô hồn trong thành phố. Thời đó, gia đình tôi ở Hải Phòng, phố Chevassieu, tên phố sặc mùi thuộc địa. Cứ vào đêm Giao Thừa, bọn nít chúng tôi đứa nào đứa nấy sẽ bị một  trận đòn Tất Niên, đánh xả sui năm cũ để cả nhà đón ‘’năm mới cái gì cũng mới’. Sợ đòn, tôi  lỉnh ra đường, và khi  pháo nổ râm ran đường phố thì tôi lấm lét về nhà. Lạ, ông bà bô đón tôi, cười nói hân hoan. Sợ rớt ngày Tân Niên, cả nhà phải vui, và chúc tụng tôi là kẻ  xông nhà năm mới. Năm sau thì truyền thống đòn Tất Niên đành phài quên. Những người xông nhà sau dó đều là những người có tuổi, áo quần trịnh trọng, thường thì ôm một cành đào mừng Xuân, và chẳng một ai bị lột quần đánh vào đít như bọn nít.
Sau di cư vào Sài Gòn là những  năm dài tha hương,  phải trên ba mươi năm sau tôi mới được sáp gần một cái Tết phương Bắc ở ngay thủ đô Hà Nội. Vào độ  Giao Thừa năm Dậu cách đây 3 con giáp, tôi sắp về Sài Gòn nên có thời gian là tôi la cà với mấy ông anh Nhân Văn Giai Phẩm.  Sáng sáng. cứ khoàng 5 giờ, tôi  đến Hải Thượng Lãn Ông, ới Lê Đạt  rủ anh cùng cuốc bộ đúng 6 vòng hồ Hoàn Kiếm. Trưa trưa, tôi đến quán nước chè ngõ Phan Huy Chú, im ắng ngắm Trần Dần, con cọp ngày đang ngồi rình một tứ thơ. Tối tối, tôi la cà quán rượu Hoàng Cầm ở 43 Lý Quốc Sư, con phố kề cạnh Nhà Thờ, uống dăm chén rượu mơ, lẳng lặng đắm mình nghe chuyện  Quan Đốc Đồng áo đen nẹp đỏ, thả Tượng vàng cưới Chị võng mây trôi...Ấy, cái tật lỉnh đi hoang từ thời thơ dại tôi vẫn không chừa, mặc dầu nay không phải không còn những trận đòn Tất Niên của thế quyền trong cơn còn mê muội. Bạn bè thời nay đều khẩn khoản lưu ý, các anh ấy đều là những  người  có vấn đề.  Tôi mặc, thời bình rồi, cái cần làm là xây dựng lại đất nước từ những đổ vỡ thời chiến. Ôi chao, một thời tàn khốc!
*
Chuyện về các anh ấy tôi đã kể trong tập bút ký Những con người những bóng ma này. Trong số các anh, tôi nói rất ít về Đặng Đình Hưng. Không trong nhóm chủ trương Nhân Văn và Giai Phẩm, anh vẫn bị ‘’liên quan’’ vì anh không phủ nhận tình bạn của anh với những người ‘’có vấn đề’’. Anh cũng bị trù dập, cũng phải đi ‘’học’’ và ‘’lao động cải tạo’’ để quán triệt tính giai cấp trong xã hội công nông vào giữa những năm 50.
Anh Hưng ở khu Trung Tự, hơi xa trung tâm Hà Nội nên tôi ít dịp đến anh chơi. Tường trong căn hộ chưa được 50 mét vuông của anh dán những bài thơ anh viết bằng chữ đại tự, và ôi chao, thật bất ngờ, thơ anh lạ lùng. Phải nói, thơ anh khi đó chẳng giống một ai, âm điệu nhạc jazz tràn đầy, chất văn xuôi trí tuệ mà vẫn ăm ắp cảm tính. Anh chép tặng tôi :
Và lạ miệng! tìm bàn chân xào xạo của Têta,
     thì ra Alfa là con số đợi ở hai vai nở vội
     tôi đuổi theo níu lại hai mùa
Rồi anh đèo thêm một vế với ký hiệu = trong Toán học : Thanh Xuân = Hạnh Phúc. 
*
Thời đó, năm 1981, tôi nào biết những câu thơ trên sau nằm trong tập Bến Lạ in sau khi anh lìa trần vào năm 1990. Nhưng tôi  biết là thơ anh hay, và thật khác lạ với cái ngân nga vần điệu XHCN khá nhàm. Anh trầm, thường khép kín, và chỉ thi thoảng mới ‘’bốc’’ lên với những người  thật thân.   
Vào ngày ông Táo lên chầu Trời năm Dậu, anh bỗng không hẹn mà đến tìm tôi một buổi chiều chạng vạng. Anh bảo, chú đi với anh, rồi lôi tôi đến cạnh một chiếc xích lô kiểu xe ba-gác ngày xưa. Sau khi lên ngồi, anh chỉ tay về phía ga Hàng Cỏ. Thời đó, cứ tối trời là Hà Nội mất điên. Trên con phố Trần Hưng Đạo, những người đàn bà luống tuổi bán thuốc lá lẻ đã châm những ngọn đèn Hoa Kỳ le lói chút nửa tối nửa sáng vàng ệnh soi tỏ lề đường. Anh bảo người đạp xe đi về phía Khâm Thiên, và khi đi ngang nơi còn trưng bày một cái xác máy bay Mỹ-Ngụy trong đám lổn nhổn gạch đá, anh thở dài, chép miệng. Gần đê sông Hồng, gió đông thốc cái lạnh buốt đến thấu xương. Anh ngửng mặt, buông thõng ‘’thôi ta về’’. Và anh cười, giọng hào sảng ‘’ Cháu Sơn mới qua vòng 3  kỳ thi giải Chopin bên Nga đấy !’’. Bóng ma chiến tranh mới đây chợt biến mất. Chỉ còn anh, với ánh mắt long lanh ánh lửa tương lai  trong màn đêm đang ụp xuống vạn vật. 
*
Đó là lần cuối chúng tôi gặp nhau. Vào Sài Gòn  chỉ dăm bữa sau Tết tôi được Hoàng Cầm báo chớ mang tập Về Kinh Bắc đi ra ngoài, anh đang gặp khó ở Hà Nội! Khi tôi qua đến Paris thì Cầm bị bắt. Tội anh là bán rượu lậu, như tội dưới thời Tây thuộc địa. Nhẩm lại, anh đã bán những cút rượu ngâm mơ từ hàng chục năm nay, kể từ khi anh không còn lòng dạ nào để tiếp tục ngâm Đêm Liên Hoan cơ mà! Mơ ngâm rượu thành thơ là tội, và là tội nặng?
Phần mình, từ 1982 cho đến 6 năm sau, tôi bị cấm cảnh về quê hương gốc gác mình. Đến năm 1990, năm anh Hưng vĩnh viễn xa đi, tôi về đến Nội Bài thì được thế quyền ‘’mời’’ đi, và đi luôn cho đến gần chục năm sau. Tôi nhớ những ngày chua xót nằm dài ở Thái Lan đợi máy bay dể bay trở lại Bắc Mỹ. Nhớ sao là nhớ màu hoa phượng đỏ rừng rực thuở đầu hè. Và nhớ nhất là mầu tương lai, như sức trồi loài  hoa crocus mỗi năm thuở chớm xuân. Hoa nhụy vàng cánh trắng phơn phớt ánh lân tinh trổ ra xuyên tuyết những mùa đông rồi sẽ  bị đẩy lùi  trong thuở chuyển mùa của vạn vật. 

Tưởng nhớ Võ Phiến ngày vượt ngưỡng hư vô

Điện thư của một người quen ngày 28 tháng 9, tin báo:  Võ Phiến đã đi rồi.
Nghe, lòng bồi hồi. Gọi phone hỏi, một  câu  thừa thãi: ông ấy 90, đi đâu ở tuổi gần đất xa trời.   
Thì đi gần thôi chứ còn đi đâu bây giờ! Rõ hay, dớ dẩn...
Vượt ngưỡng hư vô, ai dám bảo là gần? Tôi nhủ, phải gọi cho chị Viễn Phố. 
Chuông reng. Không  ai bắt  máy. Rõ hay, gia đình người ta tang ma, ai bắt máy nói chuyện ấu ơ chia buồn! Và lại, buồn thì chia thế nào được! Đâu có như vui, càng chia càng nhiều.
Đành nhờ bạn đến viếng thì thắp giùm cho một nén hương. Bạn ta thở ra dài thườn thượt. Tôi nuốt vào trong, choáng váng! Cái choáng váng khi chạm mặt đối diện hư vô dẫu chưa đến lượt mình.
*
Lửng lơ chẳng biết là đêm, là ngày. Nhớ Nguyễn Mộng Giác và những lần cùng anh đến chơi với Võ Phiến. Lần đầu, Giác gọi Võ Phiến bằng  chú và xưng cháu. Mình thì cứ anh anh em em, thấy chướng nhưng lỡ thế, cho lỡ luôn. Thời đó là thời  mới in ra 2 cuốn tiểu thuyết lịch sử Gió Lửa và Đất Trời. Giác chặc lưỡi. Anh từng bảo tôi bắt tiểu thuyết đèo bồng chuyện cực chẳng  đặng, chuyện ‘’...tìm hiểu nguyên do của một mẫu hình văn hóa VN từng khiến dân tộc chúng ta liên miên chìm đắm trong nội chiến và bạo lực’’. Giác bình phẩm ‘’... Đó là những tư tưởng lớn, cao vọng lớn. Nhưng giao phó những cao vọng và tư tưởng lớn ấy cho tiểu thuyết, liệu có nặng nề lắm không, cho tiểu thuyết gia? Liệu có thích hợp không, cho thể loại tiểu thuyết? ‘’.  Gợi lại vấn đề này, tôi vẫn hăng say khẳng định này nọ. Tôi say sưa nói về nhiệm vụ  của chữ nghĩa, và con  người  như tác nhân chứ không chịu cam phận làm nạn nhân của lịch sử. Võ Phiến chỉ nghe, chỉ cười, cuối cùng hỏi một câu chẳng dính líu gì đến đề tài tiểu thuyết, lịch sử và tiểu thuyết lịch sử tôi đang huênh hoang thuyết giảng.  Khi viết về đất nước quê hương, anh từ tốn nói, Nam Dao ít khi sa đà vào đời sống làng mạc và những con người bình thường, và vì thế nên người đọc khó có cảm tưởng là những chuyện có thật. Tôi đáp, xả lả, thì tiểu thuyết mà anh. Vừa dứt lời, tôi giật mình. Câu anh hỏi không thể trả  lời quấy quá như thế được.  
Hai ngày sau, tôi điện thoại  cho anh.  Tôi vừa  đọc lại Tuyển Tập Võ Phiến, với những nhân vật ở quê anh sống và chết bi đát trong xã hội  hỗn mang một cuộc nội chiến. Đó là những nhân vật “có thật”, và sức thuyết phục của chữ nghĩa cũng đến từ cái “thật” ấy.   Thì ra,  anh hay anh Giác là những nhà văn có quê hương trên đó những nhân vật có da có thịt từng sống và chết. Các anh đèo bồng thứ cội nguồn sâu thẳm, có đất, có người. Các anh viết, viết mãi về cái các anh sở hữu trong tâm hồn, như tiếng chuông leng keng trong một truyện ngắn của Võ Phiến, chuông kêu lên để nhắc nhở những cuộc dâu biển đổi dời.  Có lẽ chính qua những con người có ‘’thật’’ trong một  quê hương “thật”, các anh có thể viết  về cái ‘’ thật’’ các anh có trong tâm hồn? Còn tôi, phải chăng tôi viết về một quê hương huyễn tưởng, thứ quê hương của đứa con lãng tử trên bước đi hoang chẳng có một ngày về?
*
Lục cuốn sổ tôi ghi lại trên  những bước giang hồ, tôi tìm được một bức thư anh gửi sau chuyến  hội ngộ với anh ở Cali. Nay, muốn xin phép anh để đăng lại, nhưng  lược đi những cái tư riêng, và chỉ gợi lại những dính líu với cái hư vô mà trước sau ai cũng phải  đối mặt. Tôi mạn phép, và mong anh lượng thứ :
Trích Thư Võ Phiến:
... Còn tôi ? ra sao? Mình mô tả chính mình, mình mà  ‘‘nhận định’’  về mình? Lố lăng để đâu cho hết. Nhưng không thế thì phụ lòng anh. Anh cho sách, tôi đọc rồi thin thít là thế nào? Vả lại, sách của anh thật sự chấn  động tôi, tại sao lại giấu giếm? Thôi, không giấu : đọc anh, tôi bất giác  nghĩ về mình. Nhưng xin  không dông dài : chỉ xin lôi nguyên con ra, trình anh.
Trình ngược : từ cuối đến đầu.
Cuối đời có mấy câu :
Mải miết ra đi, đâu tính đến
Đến nơi nào?
Bảy tám mươi năm rồi cũng đến
Đến rồi sao? 
(11-1998)
Năm năm trước đó, nghĩ là sắp ‘‘đến’’, tôi kêu :
(...) Ngẩng mặt, mây bay trời bát ngát
Ta vỗ lên cái thi thể sắp lạnh của một đời người mà hát :
‘‘Thời gian ơi, thời gian’’
(8- 1993)
Không phải tới giai đoạn gần sụm mới não ruột thế. Năm 18 tuổi, tôi nghĩ về mình thuở lên bảy lên tám, sống lủi thủi bên cạnh ông bà nội già nua :
... Những buổi mai rực rỡ
Trời xanh nắng chan hòa
Nghiêng nghiêng vành tai nhỏ
Lắng tiếng gọi vu vơ
Tôi thương những đứa trẻ
Sống bên cạnh người già
Âm thầm như chiếc bóng
Ngày mù và sông xa
(1943)
Tiếng gọi vu vơ từ xa - rất xa - đứa bé đã nghe từ hồi 7, 8 tuổi!
Một bẩm chất hướng về hư vô ngay từ đầu, tôi chắc nó không hợp với anh. Nhưng tôi tiếp xúc với ( cái viết) anh lại không tránh khỏi náo nức.Tôi tự biết : rồi đâu lại vào đấy. Rồi tôi lại sẽ thu mình, cô độc, không bạn bè tri kỷ, không hoạt động giao du....
    Tôi cảm tạ anh đã cho hưởng những giờ phút dấn thân sôi nổi vào thế cuộc. Tôi chắc  chắn anh có bản lãnh, anh không nhiễm lạnh vì tôi. Nhưng tôi vẫn phải xin lỗi anh.
Thân kính
VP, quận Cam, 7-2006
Khoan nói về hư vô. Để tôi kể chuyện gặp lại anh bốn năm sau lần đầu. Dịp đó, Giác đau,  không còn  đi  được với tôi đến thăm anh. Hôm trước, tôi cùng các anh Lữ Quỳnh,Thành Tôn… đến chơi với Giác. Gắng  ngồi lên, Giác vui vẻ tiếp chuyện chúng tôi, và khi nói đến văn  chương thì anh vẫn cứ sôi nổi trẻ trung. May, Giác có chị Diệu Chi  bên cạnh,  lúc nào cũng cao giọng cười như đùa nghịch bất chấp  phần số ngặt nghèo.  May, có thày Võ Thắng Tiết bên cạnh, đi ra đi vào làm bạn với Giác trong những phút giây bệnh tật.  
Trời vào xuân, mây lơ lửng trôi trong nắng rơi trên thế gian nhuộm lên vạn vật một màu vàng óng ả. Ra vườn ngồi với Võ Phiến, tôi kể dịp mới thăm Giác,  nhưng anh chỉ im lặng thở dài.  Chợt nhớ ra lời Giác kể là Võ Phiến rất kiệm lời khi nói về cái chung cục ắt rồi sẽ có trong mọi đời người. Chắc hẳn anh không tin vào luân hồi, vào kiếp sau. Và không cảm thấy sự liên tục của sống và chết, nỗi kinh hoàng  trước cái ta gọi là hư vô làm sao tránh  được.
Anh nhờ chị Viển Phố lấy cho anh tập sách đặt tên là Cuối Cùng anh mới cho in năm 2010. Anh ký tặng, miệng hỏi chị, Nam Dao hay Nam Giao, d trên hay gi  dưới ? Chị cười, nói nhỏ ‘’ Ổng nay hơi lẫn rồi!’’. Thế đấy, nhưng ổng chưa lẫn đâu. Đọc 2 cuốn Bể Dâu tôi in năm 2007, anh hỏi : Cuộc Chiến  Việt Nam là chi?  Cuộc chiến chống Đế Quốc Mỹ? Hay một cuộc chiến ủy nhiệm giữa 2 phe, một bên là Tư Bản, bên kia là Cộng Sản? Hay  chỉ là một cuộc nội chiến giữa người Việt? Tôi đáp, cả ba! Nhưng tôi có lẽ nhấn mạnh khía cạnh nội chiến, vì hai khía cạnh kia thì đã có văn chương ‘’ cách mạng’’  và văn chương ‘’ chống Cộng’’ rêu rao chán rồi!  Khía cạnh nội chiến thì chẳng qua là sự tiêp nối oái oăm cùa lịch sử từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh. Không mổ xẻ để chữa trị cho lành thì vết xe cũ có thể lại lặp lại, máu người Việt lại đổ, và oán hận lại chồng chất…Anh  hỏi, giọng rầu rầu, sau những cơn Bể Đâu thì ta liệu có hàn gắn với nhau được không? Câu tôi trả lời trong Bề Dâu là được, với điều kiện chúng ta hành xử với nhau như những  con người  vì con người và vì tương lai. Hóa giải hận thù là chuyện sống còn của cả một dân tộc đã oằn lưng  ra gánh bao nhiêu oan khiên vì theo-chống, vì được-thua, vì còn-mất... Rồi hóa giải hận thù có xong thì ta mới nói được chuyện Hoà hợp Hoà giải dân tộc.
*
Hư vô anh viết trong thư có phải là Bản Thể và Hư Vô, tên tác phẩm triết học của J.P. Sartre? Hoặc giả hư vô là  Sắc bất dị  Không, Không bất dị Sắc. Hay Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị? 
Cảm thấy hư vô có phải là khi trực giác chợt nhận ra đời sống không miên viễn, và sau cái sống thì chẳng thể hay biết là nó cái gì. Đây là trường hợp của những người không tin sau vật chất có linh hồn, sau đời sống có  hoặc Thiên Đàng hoặc Địa Ngục,  hoặc Niết Bàn hoặc những cõi u minh chập chùng Ngạ Quỉ. Câu hỏi thiết thân về cái đến sau đời sống không được đáp trả, hư vô xuất hiện, ám ảnh, đeo đuổi khiến mọi cuộc tồn sinh tự nó đèo bồng mầm mống của cái gì rất mỏng mảnh phù du, thậm chí vô lý vô nghĩa. 
Tiếng gọi của hư vô - vu vơ từ xa - rất xa - cậu bé Đoàn Thế Nhơn đã nghe từ hồi 7, 8 tuổi. Trời cho cậu  thứ trực giác bén nhậy: đó là một ân huệ trong cuộc sống, thứ ân huệ đã biến cậu thành nhà văn Võ Phiến. Nhưng cái gì cũng có mặt trái. Ân huệ kia hẳn cũng đèo bồng ý thức đau đớn về cái tạm bợ trong cái cõi ta bà này.   
Anh Võ Phiến, vậy thì xin cầu chúc anh vĩnh hằng ở một cõi khác, nơi rồi ta sẽ lại gặp nhau,  nơi khoa học vật lý gọi là hố đen (black hole), nơi năng lượng không còn, và mọi qui luật  của những thế giới vật thể đều bị phủ định. 
3-11-2015








Tưởng nhớ Võ Phiến ngày vượt ngưỡng hư vô

Điện thư của một người quen ngày 28 tháng 9, tin báo:  Võ Phiến đã đi rồi.
Nghe, lòng bồi hồi. Gọi phone hỏi, một  câu  thừa thãi: ông ấy 90, đi đâu ở tuổi gần đất xa trời.
Thì đi gần thôi chứ còn đi đâu bây giờ! Rõ hay, dớ dẩn...
Vượt ngưỡng hư vô, ai dám bảo là gần? Tôi nhủ, phải gọi cho chị Viễn Phố.
Chuông reng. Không  ai bắt  máy. Rõ hay, gia đình người ta tang ma, ai bắt máy nói chuyện ấu ơ chia buồn! Và lại, buồn thì chia thế nào được! Đâu có như vui, càng chia càng nhiều.
Đành nhờ bạn đến viếng thì thắp giùm cho một nén hương. Bạn ta thở ra dài thườn thượt. Tôi nuốt vào trong, choáng váng! Cái choáng váng khi chạm mặt đối diện hư vô dẫu chưa đến lượt mình.
*
Lửng lơ chẳng biết là đêm, là ngày. Nhớ Nguyễn Mộng Giác và những lần cùng anh đến chơi với Võ Phiến. Lần đầu, Giác gọi Võ Phiến bằng  chú và xưng cháu. Mình thì cứ anh anh em em, thấy chướng nhưng lỡ thế, cho lỡ luôn. Thời đó là thời  mới in ra 2 cuốn tiểu thuyết lịch sử Gió Lửa và Đất Trời. Giác chặc lưỡi. Anh từng bảo tôi bắt tiểu thuyết đèo bồng chuyện cực chẳng  đặng, chuyện ‘’...tìm hiểu nguyên do của một mẫu hình văn hóa VN từng khiến dân tộc chúng ta liên miên chìm đắm trong nội chiến và bạo lực’’. Giác bình phẩm ‘’... Đó là những tư tưởng lớn, cao vọng lớn. Nhưng giao phó những cao vọng và tư tưởng lớn ấy cho tiểu thuyết, liệu có nặng nề lắm không, cho tiểu thuyết gia? Liệu có thích hợp không, cho thể loại tiểu thuyết? ‘’.  Gợi lại vấn đề này, tôi vẫn hăng say khẳng định này nọ. Tôi say sưa nói về nhiệm vụ  của chữ nghĩa, và con  người  như tác nhân chứ không chịu cam phận làm nạn nhân của lịch sử. Võ Phiến chỉ nghe, chỉ cười, cuối cùng hỏi một câu chẳng dính líu gì đến đề tài tiểu thuyết, lịch sử và tiểu thuyết lịch sử tôi đang huênh hoang thuyết giảng.  Khi viết về đất nước quê hương, anh từ tốn nói, Nam Dao ít khi sa đà vào đời sống làng mạc và những con người bình thường, và vì thế nên người đọc khó có cảm tưởng là những chuyện có thật. Tôi đáp, xả lả, thì tiểu thuyết mà anh. Vừa dứt lời, tôi giật mình. Câu anh hỏi không thể trả  lời quấy quá như thế được.
Hai ngày sau, tôi điện thoại  cho anh.  Tôi vừa  đọc lại Tuyển Tập Võ Phiến, với những nhân vật ở quê anh sống và chết bi đát trong xã hội  hỗn mang một cuộc nội chiến. Đó là những nhân vật “có thật”, và sức thuyết phục của chữ nghĩa cũng đến từ cái “thật” ấy.   Thì ra,  anh hay anh Giác là những nhà văn có quê hương trên đó những nhân vật có da có thịt từng sống và chết. Các anh đèo bồng thứ cội nguồn sâu thẳm, có đất, có người. Các anh viết, viết mãi về cái các anh sở hữu trong tâm hồn, như tiếng chuông leng keng trong một truyện ngắn của Võ Phiến, chuông kêu lên để nhắc nhở những cuộc dâu biển đổi dời.  Có lẽ chính qua những con người có ‘’thật’’ trong một  quê hương “thật”, các anh có thể viết  về cái ‘’ thật’’ các anh có trong tâm hồn? Còn tôi, phải chăng tôi viết về một quê hương huyễn tưởng, thứ quê hương của đứa con lãng tử trên bước đi hoang chẳng có một ngày về?
*
Lục cuốn sổ tôi ghi lại trên  những bước giang hồ, tôi tìm được một bức thư anh gửi sau chuyến  hội ngộ với anh ở Cali. Nay, muốn xin phép anh để đăng lại, nhưng  lược đi những cái tư riêng, và chỉ gợi lại những dính líu với cái hư vô mà trước sau ai cũng phải  đối mặt. Tôi mạn phép, và mong anh lượng thứ :
Trích Thư Võ Phiến:
... Còn tôi ? ra sao? Mình mô tả chính mình, mình mà  ‘‘nhận định’’  về mình? Lố lăng để đâu cho hết. Nhưng không thế thì phụ lòng anh. Anh cho sách, tôi đọc rồi thin thít là thế nào? Vả lại, sách của anh thật sự chấn  động tôi, tại sao lại giấu giếm? Thôi, không giấu : đọc anh, tôi bất giác  nghĩ về mình. Nhưng xin  không dông dài : chỉ xin lôi nguyên con ra, trình anh.
Trình ngược : từ cuối đến đầu.
Cuối đời có mấy câu :
Mải miết ra đi, đâu tính đến
Đến nơi nào?
Bảy tám mươi năm rồi cũng đến
Đến rồi sao?
(11-1998)
Năm năm trước đó, nghĩ là sắp ‘‘đến’’, tôi kêu :
(...) Ngẩng mặt, mây bay trời bát ngát
Ta vỗ lên cái thi thể sắp lạnh của một đời người mà hát :
‘‘Thời gian ơi, thời gian’’
(8- 1993)
Không phải tới giai đoạn gần sụm mới não ruột thế. Năm 18 tuổi, tôi nghĩ về mình thuở lên bảy lên tám, sống lủi thủi bên cạnh ông bà nội già nua :
... Những buổi mai rực rỡ
Trời xanh nắng chan hòa
Nghiêng nghiêng vành tai nhỏ
Lắng tiếng gọi vu vơ
Tôi thương những đứa trẻ
Sống bên cạnh người già
Âm thầm như chiếc bóng
Ngày mù và sông xa
(1943)
Tiếng gọi vu vơ từ xa - rất xa - đứa bé đã nghe từ hồi 7, 8 tuổi!
Một bẩm chất hướng về hư vô ngay từ đầu, tôi chắc nó không hợp với anh. Nhưng tôi tiếp xúc với ( cái viết) anh lại không tránh khỏi náo nức.Tôi tự biết : rồi đâu lại vào đấy. Rồi tôi lại sẽ thu mình, cô độc, không bạn bè tri kỷ, không hoạt động giao du....
    Tôi cảm tạ anh đã cho hưởng những giờ phút dấn thân sôi nổi vào thế cuộc. Tôi chắc  chắn anh có bản lãnh, anh không nhiễm lạnh vì tôi. Nhưng tôi vẫn phải xin lỗi anh.
Thân kính
VP, quận Cam, 7-2006
Khoan nói về hư vô. Để tôi kể chuyện gặp lại anh bốn năm sau lần đầu. Dịp đó, Giác đau,  không còn  đi  được với tôi đến thăm anh. Hôm trước, tôi cùng các anh Lữ Quỳnh,Thành Tôn… đến chơi với Giác. Gắng  ngồi lên, Giác vui vẻ tiếp chuyện chúng tôi, và khi nói đến văn  chương thì anh vẫn cứ sôi nổi trẻ trung. May, Giác có chị Diệu Chi  bên cạnh,  lúc nào cũng cao giọng cười như đùa nghịch bất chấp  phần số ngặt nghèo.  May, có thày Võ Thắng Tiết bên cạnh, đi ra đi vào làm bạn với Giác trong những phút giây bệnh tật.
Trời vào xuân, mây lơ lửng trôi trong nắng rơi trên thế gian nhuộm lên vạn vật một màu vàng óng ả. Ra vườn ngồi với Võ Phiến, tôi kể dịp mới thăm Giác,  nhưng anh chỉ im lặng thở dài.  Chợt nhớ ra lời Giác kể là Võ Phiến rất kiệm lời khi nói về cái chung cục ắt rồi sẽ có trong mọi đời người. Chắc hẳn anh không tin vào luân hồi, vào kiếp sau. Và không cảm thấy sự liên tục của sống và chết, nỗi kinh hoàng  trước cái ta gọi là hư vô làm sao tránh  được.
Anh nhờ chị Viển Phố lấy cho anh tập sách đặt tên là Cuối Cùng anh mới cho in năm 2010. Anh ký tặng, miệng hỏi chị, Nam Dao hay Nam Giao, d trên hay gi  dưới ? Chị cười, nói nhỏ ‘’ Ổng nay hơi lẫn rồi!’’. Thế đấy, nhưng ổng chưa lẫn đâu. Đọc 2 cuốn Bể Dâu tôi in năm 2007, anh hỏi : Cuộc Chiến  Việt Nam là chi?  Cuộc chiến chống Đế Quốc Mỹ? Hay một cuộc chiến ủy nhiệm giữa 2 phe, một bên là Tư Bản, bên kia là Cộng Sản? Hay  chỉ là một cuộc nội chiến giữa người Việt? Tôi đáp, cả ba! Nhưng tôi có lẽ nhấn mạnh khía cạnh nội chiến, vì hai khía cạnh kia thì đã có văn chương ‘’ cách mạng’’  và văn chương ‘’ chống Cộng’’ rêu rao chán rồi!  Khía cạnh nội chiến thì chẳng qua là sự tiêp nối oái oăm cùa lịch sử từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh. Không mổ xẻ để chữa trị cho lành thì vết xe cũ có thể lại lặp lại, máu người Việt lại đổ, và oán hận lại chồng chất…Anh  hỏi, giọng rầu rầu, sau những cơn Bể Đâu thì ta liệu có hàn gắn với nhau được không? Câu tôi trả lời trong Bề Dâu là được, với điều kiện chúng ta hành xử với nhau như những  con người  vì con người và vì tương lai. Hóa giải hận thù là chuyện sống còn của cả một dân tộc đã oằn lưng  ra gánh bao nhiêu oan khiên vì theo-chống, vì được-thua, vì còn-mất... Rồi hóa giải hận thù có xong thì ta mới nói được chuyện Hoà hợp Hoà giải dân tộc.
*
Hư vô anh viết trong thư có phải là Bản Thể và Hư Vô, tên tác phẩm triết học của J.P. Sartre? Hoặc giả hư vô là  Sắc bất dị  Không, Không bất dị Sắc. Hay Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị?
Cảm thấy hư vô có phải là khi trực giác chợt nhận ra đời sống không miên viễn, và sau cái sống thì chẳng thể hay biết là nó cái gì. Đây là trường hợp của những người không tin sau vật chất có linh hồn, sau đời sống có  hoặc Thiên Đàng hoặc Địa Ngục,  hoặc Niết Bàn hoặc những cõi u minh chập chùng Ngạ Quỉ. Câu hỏi thiết thân về cái đến sau đời sống không được đáp trả, hư vô xuất hiện, ám ảnh, đeo đuổi khiến mọi cuộc tồn sinh tự nó đèo bồng mầm mống của cái gì rất mỏng mảnh phù du, thậm chí vô lý vô nghĩa.
Tiếng gọi của hư vô - vu vơ từ xa - rất xa - cậu bé Đoàn Thế Nhơn đã nghe từ hồi 7, 8 tuổi. Trời cho cậu  thứ trực giác bén nhậy: đó là một ân huệ trong cuộc sống, thứ ân huệ đã biến cậu thành nhà văn Võ Phiến. Nhưng cái gì cũng có mặt trái. Ân huệ kia hẳn cũng đèo bồng ý thức đau đớn về cái tạm bợ trong cái cõi ta bà này.
Anh Võ Phiến, vậy thì xin cầu chúc anh vĩnh hằng ở một cõi khác, nơi rồi ta sẽ lại gặp nhau,  nơi khoa học vật lý gọi là hố đen (black hole), nơi năng lượng không còn, và mọi qui luật  của những thế giới vật thể đều bị phủ định.
3-11-2015










49 ngày Dương Nghiễm Mậu

1
Lạnh chưa?
Rồi
Thế thì tốt!
 Du nhắm mắt, cười mỉm trước vô tận.  Bấc đèn dầu sắp lụi chập chờn hiu hắt. Mưa rả rich. Cả một cuộc đời bỗng thoắt biến thoắt hiện. Đầy ngẫu nhiên. Cứ tạm gọi là số mệnh. Hay nghiệp, đã mang lấy nghiệp vào thân.
Tự Truyện Nguyễn Du , Nghiễm cười, bắt đầu như thế. 
Hay gần như thế!
2
Chúng tôi bước lên lầu 2 một cái quán bia vắng người khu nhà thờ Ba Chuông. Ông chủ quán đon đả, quen mặt Nghiễm, chưa  gọi đã mang bia ra.
 Anh đến đây thường? 
Không, đôi ba tháng  một lần, khi có bạn và cần chỗ vắng vẻ  dễ chuyện trò. Nghiễm cười, bạn thì cực hiếm, thời này!
Thời này? Hẳn là vậy. Khi niềm tin rã nát, tương lai nào cũng mang hình dạng ảo vọng, lếch thếch quần chằng áo đụp, bôi mặt phường chèo  xưng ta là đấng quân vương, giữa ngã tư đường chỉ trỏ xe chạy ngược xuôi kiểu một Bùi Giáng giả điên? 
Nghiễm nhếch môi, tôi hẹn uống với nhau sau khi nhận hai tập Bể Dâu bạn gửi tặng, nay xin mời. Nâng ly, Nghiễm tiếp, uống  rồi tôi hỏi bạn vài câu, mặc dầu thế là tôi phá lệ, chẳng bao giờ bàn  về văn chương người khác.
3
Nghiễm cũng lật ngược lịch sử truyền tụng để đặt lại những vấn đề về con người, xã hội, thể chế chính trị ...Trong tác phẩm Nhan Sắc, anh không cho Từ Hải chết đứng, trốn được và tiếp tục  làm một kẻ nổi loạn chống lại bạo quyền. Anh để Kinh Kha cầm dao trủy thủ, nhưng không giết Tần Thủy Hoàng, vì nó chết thì lại có một bạo chúa khác, và chẳng có gì thật sự đổi thay. Anh đứng trước hai con đường, một đến vùng cứ tạm gọi là tự do, còn đường kia là đến vùng giải phóng. Một bên giam hãm đày đọa. Một bên là cái chết. Nghiễm thở ra : ‘’ ... giờ đâu phải là thời của Kinh Kha...nhiều đất Tần bất trắc, nhiều Tần Thủy Hoàng, nhiều sông Dịch phải vượt qua...’’.  Bây giờ lựa chọn con đường nào?  Nghiễm cứng cỏi: ‘’ Tôi từ chối chọn lựa cả hai con đường ấy. Ai buộc chúng ta phải chấp nhận con đường có sẵn? ...’’
Nhưng con đường nào? Vào thập niên 60 thế kỷ trước, những người trí thức có ý thức trách nhiệm chắc hẳn có  đi tìm, nhưng kết quả thì hầu như tất cả đều bị trói  buộc vào những sơị nhợ  kiểu  một bên là tiền đồn thế giới tự do, bên kia là đỉnh cao của nhân loại. Có kẻ nhơn nhơn phát ngôn ta  đánh Mỹ là đánh  cho Liên Xô và Trung Quốc. Có kẻ há mồm gào thét hô hào Bắc tiến, lấy máu tô cho ngọn cờ tự do  dân chủ...Chiến tranh vây bủa dân tộc mình như một  lời nguyền truyền kiếp, và anh Nghiễm  ơi, có thực sự là anh được lựa chọn gì không?
4
Khề khà.
Tôi hiểu cái thảm kịch của Nguyễn Trãi trong Đất Trời của bạn. ‘’ Xét như nước Đại Việt ta/ Thực là một nước văn hiến/ Cõi bờ sông núi đã riêng/ Phong tục Bắc – Nam cũng khác’’. Tuyên ngôn độc lập đã có từ 4 thế kỷ trước, đâu có cần đợi đến ngày 2/09 năm 1945. Nhưng rồi tổ chức thể chế thế nào, xã hội ra sao? Trãi trăn trở, và mặc dầu trước  tác  Quốc Âm thi tập bằng chữ Nôm, người cũng đành buộc phải theo vết Hồ Quí Ly, du nhập hệ Tống nho phong kiến, kiểu quân quân thần thần phụ phụ tử tử, tức vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con. Thắng giặc Minh trên mặt quân sự, nhưng thiếu một ý thức hệ khu biệt, Trãi đành phải du nhập văn hóa chính trị xã hội của giặc. Và thế, kết cục là thua.
Tiếp tục khề khà, thế còn Gió Lửa?   Gió Lửa  viết trong bối cảnh Trịnh -Nguyễn phân tranh, Tây Sơn khởi nghiệp và cuộc xâm lăng của nhà Thanh.  Nhưng điểm chính là thuật lại cuộc nhỡ tàu canh tân cách đây hơn 200 năm trong khi  Nhật Bản đã kịp vươn mình thoát khỏi  cái ách văn hoá Khổng-Mạnh  Trung Quốc, du nhập kỹ thuật Tây phương, kiến tạo ra một mô hình chính trị xã hội bắt kịp đà tiến bộ của nhân loại. Tại sao Đại Việt lại trì trệ bỏ vuột thời cơ và đắm chìm trong chém giết?  Xin đọc Lời Nguyền của Chế Mân trong đoạn chót . Thứ nhất, ý thức của người Đại Việt về việc chung không nhiều, thường quan tâm đế chuyện bòn rút của riêng,  chỉ biết một  hiện tại phù hư mà không biết lựa lọc quá khứ rút ra những bài học lịch sử, vì thế chẳng thể tìm ra được một tương lai xứng tầm.  Thứ nhì, sự đắm đuối vào vực sâu quyền lực và danh lợi. Trong bất cứ  triều đại nào, chỉ 1,2 đời là Vua, Quan hoá ra rắn rít, thành đĩ bợm đi đánh lừa dân gian, và  rồi  đi với ma  mặc áo giấy, dân gian cũng đĩ bợm, chia rẽ. hằn thù, phản phúc, chém giết lẫn nhau...  Đã thế, thảm kịch nội chiến được tô vẽ bằng những mỹ từ như tiền đồn cái này, đỉnh cao cái nọ, và tuy chỉ láu vặt nhưng bọn nắm thế quyền  lại hợm hỉnh hô ta là một dân tộc anh hùng,  anh hùng đông đến mức cứ ra  ngõ là gặp. Nhưng chúng không hiểu một  dân tộc hạnh phúc tiến bộ cần hiền triết hơn cần anh hùng.  Nhiều anh hùng nên máu đổ, tiếp tục nghèo, tiếp tục u mê, say máu...vì thế tương lai  có khả năng cứ lại là những đổ nát khó hàn gắn được.  Thứ ba, là lớp sĩ phu. Bọn này phần đông dùng chữ nghĩa kiếm lợi, phò chính thống, đánh đĩ lương tâm qua những mỹ từ lung lạc lòng người. Chúng mang cái bệnh chỉ nhìn thấy chóp mũi, nhưng đại ngôn đao to búa lớn, mặc dầu rỗng ruột, và  chất hèn ngấm vào sống lưng khiến chúng  không   bao giờ đứng thẳng được ... Đám sĩ phu chính trực có, nhưng thời nào cũng hiếm, không thay  đổi được thế cuộc, xưa thì cuối cùng về ở ẩn, dạy học, nhẫn nhục  chịu cái thế bó chân bó tay....
5
Nghiễm thở dài, thốt, thời nay thì cũng vậy thôi!
Chúng tôi trầm ngâm chiêu một  ngụm bia nuốt  xuống nỗi buồn chỉ chực trào ra.  Quán không còn khách nào  khác. Tiếng xe cũng ngơi dần.  Ông chủ quán ngáp dài, bảo hai vị cứ tự nhiên, khi đi thì rung chuông để quán mở cửa cho khách về.  
Bây giờ mình hỏi bạn về Bể Dâu nhé!
Quyển I, viết về  Cải Cách Ruộng Đất, rồi Cải Tạo Công  Thương Nghiệp và Nhân Văn Giai Phẩm  là cần, và hay, rất cảm động. Nhưng quyển I I, mình có vài thắc mắc. Tại sao bạn khởi đi từ 1973 với mặt trận Quảng Trị ? 
Vì tôi muốn nhấn mạnh đến tính cách nội chiến, một điều mà tôi  bị ám ảnh ngay trong cuốn Gió Lửa.  Tuy nội chiến chỉ là một  khía cạnh,  nhưng tôi lại cho đó là khía cạnh quan trọng nhất khi chúng ta nhìn vào tương lai của đất nước sau này. Dẫu có đề cập nhưng tôi không nhấn mạnh đến lính Mỹ.  Chính sách thay màu da trên xác chết của Nixon-Kissinger khiến giai đoạn cuối của chiến tranh ủy nhiệm mang nặng màu sắc một  cuộc nội chiến. Hận thù lại chồng chất, và điều gọi là hòa hợp hòa giải dân tộc sau chiến tranh chỉ thuần là đầu môi chót lưỡi. Trước hết, phải hóa giải hận thù, nhưng chẳng dễ! 
Khởi đi từ 1973  là vì tôi không  muốn nhắc đến cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế. Câu chuyện kinh hoàng này đã có Giải Khăn Xô cho Huế của Nhã Ca rồi, nhắc lại thì chỉ khoét cho thêm sâu  những cái chết lẽ ra không cần!  
Trong Bể Dâu I I,  tôi viết  về thân phận 2 người lính, một Nam một Bắc, vốn là anh em ruột thịt song sinh, hòa bình rồi mà nào tìm được thấy nhau đâu. Sự chia cắt này không phải đến từ bất cứ ý thức ‘’ chính trị’’ nào. Người từ miền Nam vượt biển, đi tìm   tự do trong cái  thập tử nhất sinh của kẻ lên thuyền máy liều mạng vượt đại dương bất chấp những con sóng dữ . Người từ miền Bắc cụt chân, đẻ con thì con là quái thai vì chất  độc da cam,  phát điên, và trở thành thi sĩ như nghiệp định. Buồn, nhưng sinh ly tử biệt là ...bất khả tư nghì!   Ngoài ra,  sự tàn khốc của chiến tranh  thì đã có Đại Lộ Kinh Hoàng của Phan Nhật Nam. Và tính hài hước của  lính sinh Bắc tử Nam anh hùng thì phải kể Hòn Đất của nhà văn ăn lương Đảng  là ông Anh Đức,  khơi khơi  cho 1 tiểu đội du kích đánh tan nát cả một  Trung đoàn lính Mỹ - Ngụy! 
Kể anh nghe, năm 2007 anh Nguyễn Mộng Giác đọc rồi bảo phải hai mươi năm nữa Bể Dâu mới trở về quê hương được! Tức là  phải đợi đế năm 2027,  nhưng  lúc ấy chắc mộ  tôi xanh cỏ rồi! 
Nghiễm cười buồn, nốc một ngụm bia, nhìn lên con thạch sùng chạy trên kèo quán, không đáp.
6
Lênh đênh qua cửa  Thần Phù 
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm
Nghiễm in dưới cái tên Lênh Đênh Qua Cửa Thần Phù một tập 3  truyện ngắn và vừa, có truyện dưới dạng du ký, một dạng tôi rất đắc ý. Tôi đã viết Trăng Nguyên Sơ và Ghềnh V  dưới dạng này, một  dạng  cho phép tha hồ  nghêu ngao, tâm tình, và tha hồ hư  cấu, ẩn dụ.  Nhưng đó là  truyện đã viết. Giọng bí mật, Nghiễm bảo, mình đang viết Nguyễn Du tự truyện. Anh hỏi, bạn có biết những giây phút cuối cùng Du hành xử ra sao. Thưa anh biết. Hỏi lại,  anh biết Du cũng từng dấy quân phù Lê đánh lại nhà Tây Sơn chứ. Ờ, chàng kiếm sĩ Toàn Nhật trong Gió Lửa bắt huyện quan Tây Sơn mang đến nhà Du và thúc, Du chém nó đi. Đến cắt tiết gà cũng ghê tay, Du chẳng dám,  lắc  đầu.  Nhật bảo Du,  đệ là một nghệ sĩ, sinh ra cho cái đẹp, chớ can vào những chuyện tranh chấp vấy máu, làm bẩn tâm hồn mình!
Nghiễm trầm ngâm, Du là con Quận Công Nguyễn Nghiễm, em quan Chánh dường Nguyễn Khản lo toan chính quyền trong phủ Chúa Trịnh, hẳn thừa biết mình mang ân huệ triều đình vua  Lê-chúa Trịnh,  không thể phủi tay  theo về nhà Tây Sơn  như những danh gia như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huy Tự...  mặc dầu cũng hiểu là vận nhà Lê đã đến lúc cáo chung. Dùng dằng cho đến khi Nguyễn Ánh triệt hạ được nhà Tây Sơn, Du xuất  (ra) thì không cam lòng,  nhưng xử  (ẩn) thì Ánh  cho người đến tận làng ‘’ vời’’ ra. Làm thế nào đây hả Trời? Rồi thì cũng gặp thời thế thế thời phải thế, đành vào Phú Xuân, rồi nhận đi xứ sang Tàu xin cầu phong, nhưng thường là ‘’ không ý kiến’’ khiến Ánh có lần nạt :  ta gây dựng cho, sao ngươi cứ ngậm tăm im  thin thít là làm sao?
Nhưng Du có lựa chọn nào? ‘’ Ai buộc chúng ta phải chấp nhận con đường có sẵn? ...’’ Nghiễm từng hỏi. Ai? ai? Đời bắt vậy, và ta  đành nhượng bộ?  Thành thợ sơn mài 2 năm sau 75, làm tới 1990 thì hết việc, Nghiễm vui vẻ về nhà  nấu cơm rửa bát  phục vụ vợ con, vẫn cứ tự tại, hồn nhiên  như chẳng có chuyện gì quan trọng hơn thế. Chẳng biết chính quyền ‘’ cách mạng’’ có o ép Nghiễm làm gì không, nhưng nếu có thì cũng như không, và chẳng  đi xứ xin cầu phong, chắc chắn Nghiễm tránh được cái thế của Du phải phủ định Lê-Trịnh là cái chế độ từng cưu mang mình!  Phải chăng  chính khác biệt này  khiến Nghiễm cảm  được cái  thảm kịch của Du, nên viết Nguyễn Du Tự Truyện như một sự đồng cảm, một chia xẻ tâm tư  trước  những  dâu bể tang thương  dẫu rằng họ sống cách nhau gần hai thế kỷ. Chỉ mới được đọc một đoạn, tôi quả tình không  biết Nguyễn Du Tự Truyện như thế nào. Nhưng xin một lời với chị Trang,  nay là bà quả phụ của nhà văn Dương Nghiễm Mậu, là nếu có bản thảo thì xin chị chớ thất lạc hầu để lại thêm chút vốn liếng cho văn học và cho những đời sau.
Phút cuối, Du  bảo người nhà sờ chân và hỏi : Lạnh chưa? Dạ, rồi! Thế thì tốt! Cái lạnh đi từ chân, lên bụng, ngực, và cuối cùng  là đầu. Tốt, từ nay không   còn vấn vương gì! Thôi suy tư, nghi hoặc. Và nhất là chẳng cần chọn lựa gì nữa!
Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.
Ba trăm năm sau ai khóc Tố Như? Hai trăm năm, nay hẳn  đã có Nghiễm. 
Còn một trăm năm nữa cho đủ số ba trăm, sẽ là ai? 
7
Khuya  không còn taxi, xe ôm  nên Nghiễm bảo đợi sáng rồi hẵng về. Trời tờ mờ thì tôi lên đường, phải cuốc bộ từ nhà thờ Ba Chuông về  nơi tôi cư trú ở gần chợ Trương Minh Giảng. Tôi nói anh khỏi  đưa, cả đêm không ngủ, chắc ai cũng mệt. Đi, anh đứng nhìn theo, vẫy.  Vừa bước, tôi vừa ngẫm nghĩ. Du hẳn phải tự tin vô cùng khi ra cái hạn ba trăm năm. Tài mọn, chúng tôi cầu chỉ 30 năm cũng khó. Nhưng Nghiễm thì quá cái hạn này rồi. Chẳng hạn Nhan Sắc in năm 1966. Năm nay là năm 2011 mà tôi còn nhớ, tức là đã chẵn  45 năm. Mới đây, khi tái bản 4 cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn của Nghiễm ở Sài Gòn, Vũ Hạnh và lũ văn nô ồn ào lăng nhăng chống đối. Ấy thế thì đối với người  đời văn chương anh lại càng đáng nhớ! Ôi , có những nghịch lý thật đáng yêu như thế đó!
8
Tết năm Ngọ, chúng tôi ăn tất niên với nhau. Nhà hàng nào cũng đông như kiến. Không  tìm ra  chỗ, anh rủ  đến cái câu lạc bộ nằm cạnh nơi sản xuất sơn mài mà anh  đã làm ngày trước. Anh đi trước, dáng thanh thanh, bước thăn thoắt. Nga và Trang theo sau, bị bỏ tuốt đàng sau. Tôi chạy theo, anh Nghiễm ơi, đi đâu mà vội mà vàng, các bà hụt  hơi  theo anh không kịp.  Anh cười, điềm nhiên, à một tiếng rồi đứng lại chờ. Ấy thế mà đã gần ba năm rồi. Anh vốn mạnh khoẻ, sáng nào cũng đi bộ hàng giờ, và  nhất là anh chẳng bao giờ lộ vẻ bi quan, lúc nào cũng tươi cười, hồn nhiên, lịch lãm. Đùng một cái, anh  đột ngột ra đi. Như một vì sao sa. Dấu vết là ánh lửa xẹt ngang trời trong một chớp mắt.
Hôm nay, 49 ngày từ khi anh bỏ đi xa. Cũng là ngày anh thoát kiếp và  sẽ tái sinh, theo truyền thuyết.  Anh Nghiễm, cụ Nguyễn Công Trứ thì xin chớ làm người, làm cây thông  đứng giữa trời mà reo. Còn anh? Anh định làm gì? Anh có reo với trời cao không? Anh  định nói thêm gì nữa?  Tôi thì nghĩ, từ tro than, anh sẽ bay lên thật cao như  một  đốm lửa tìm cách soi những con  đường mới,  những con  đường do  chính anh chọn lựa.
Kính viếng
19-09-2016









Nhớ Nguyễn Quang Thân, kẻ thẳng người mà đi


  Kính viếng anh Nguyễn Quang Thân
Quí mến gửi chị Dạ Ngân và gia đình
Nam Dao, 
Quebec 27/03/2017
1
Sáng tinh mơ ngày 4/03, họa sĩ Phan Nguyên  ngập ngừng báo, chẳng biết là đùa hay thật, Face Book  đưa tin Nguyển Quang Thân  đi rồi.  Cách đây 2 ngày, tôi điện thoại cho  anh 3,4 lần nhưng không ai bắt máy. Hôm qua, tôi ngóng anh ở Cà phê Sỏi Đá trong buổi Văn Việt phát giải thưởng lần 2. Nhưng anh vắng mặt, chuyện  lạ, và hẳn phải có một lý do gì loại bất khả kháng. Nhưng lý do gì? An ninh chặn cửa cấm đi? Hoàng Hưng báo có 2 thành viên trong ban Vận Động Văn Đoàn Độc Lập ‘’ bị’’, nhưng không hề nêu tên anh. 
Thế là thế nào? Phan Nguyên tìm cách kiểm chứng tin động trời. Anh  khoẻ như voi, sống  điều  độ, bỏ hàng giờ thể thao thể dục mỗi ngày, và  lúc nào cũng lạc quan yêu đến cả những cái khốn khổ của mọi cuộc đời quanh anh. Nhưng tin trên facebook mỗi lúc một nhiều. Và rồi không thể không tin, chuyện khó tin kia có thật. 
Từ balcon nhà Phan Nguyên, tôi hững người vào một vùng trí tuệ đóng băng giữa nửa thực nửa hư. Nhìn xa xa, những chiếc xà-lan chở cát lừ đừ trôi xuôi luồn dưới gầm cầu khi con nước xuống. Ven sông Sài Gòn , những mảng lục bình ngược dòng trôi ngược lên thượng nguồn. Chợt dăm câu thơ Thâm Tâm văng vẳng. Ai là người  đưa người sang sông! Ơ sao lại đâu  đây có tiếng sóng. Sáng, trời trong. Dẫu chẳng có hoàng hôn trong mắt trong nhưng sao sóng vẫn ở trong lòng. Và người  đi. 
Người đi, ừ nhỉ người đi thật! 
Để lại nơi đây hơi rượu cay?

2
Nhìn qua sông, bên kia là cư xá Thanh Đa, nơi anh và chị Dạ Ngân cư ngụ. Một căn hộ nhỏ, gọn ghẽ, thoáng và ăm ắp niềm vui sống của một cặp tình nhân không bao giờ ‘’luống’’ tuổi. Chỉ mới đây thôi, vào dịp tất niên năm ngoái, tôi vừa được thưởng thức món chả cá Hà Nội do anh chị Trương Đức Hùng mang vào. Ăn rất ngon, rượu rất nồng, và nhất là ấm áp tình người tình bạn nâng ly chào một năm ‘’cái gì cũng mới’’ cho nhân quần thế thái.
Tôi biết anh Thân từ  những năm 90, khi mỗi năm tôi ghé Paris làm công  việc thỉnh giảng ở Paris-Sorbonne. Bạn tôi, anh Phan Huy  Đường nói về văn chương anh Thân, và lập lại một câu anh nói, xanh rờn, nhắc theo trí nhớ từa tựa như  ‘’ là ngày nào mà tôi thấy trong văn tôi có những điều bất cập nhân tình thì tôi xé, xé hết....’’.  Bạn tôi nhét vào tay tôi  một tờ Diễn Đàn có đăng lại truyện ngắn ‘’ Vũ  Điệu của cái bô’’ năm 1992. Và tôi đọc ngấu nghiến, cảm thấy chính mình là cái anh phó tiến sĩ tốt nghiệp ở nước ngoài nay thất cơ phải xin cái việc kèm dậy tiếng Anh cho một cậu oắt tì con tư sản đỏ lè mới vừa trổ lông mọc cánh. Xin trích: 
... Chị chủ nhà nói: “ Bác để tôi – chị nhăn mũi – quên đưa vào đây một cái bô, bà Múi ơi!” Người nấu bếp chưa vào chị đã bế thằng Cu ra ngoài. Lát sau chị vào, tay thằng bé, tay cái bô. “ Dọc hành lang một đoạn là toa lét. Anh cứ đổ vào đó rồi giật nước là được” . Chị đặt cái bô vào góc nhà như người nhạc trưởng cất gậy lên giá. Điệu vũ chấm dứt. Hảo nhìn cái biểu tượng nhà nghề trắng muốt, chỉ mong chị chủ nhà đi khuất... Chị đưa anh hai chiếc chìa khoá: “Đây là khoá phòng. Đây là cổng. Thỉnh thoảng bác dẫn cháu đi chơi, tuỳ ý bác”. Rồi chị lên lầu, vẻ tự hào đã hoàn thành nhiệm vụ người đạo diễn. ..Hảo hỏi thằng Cu: “Oắt xi o nêm mơ?” Nó nhìn anh trân trân một giây rồi tái mặt: “ Đ...bu mày!” Nó tưởng anh vừa chửi nó. Phải nói là nó chửi rất du dương. Ngày hôm nay phải dạy bằng được câu này cho nó: “Oắt xi o nêm mơ, tên cháu là gì chứ không phải câu chửi tục. Nhân loại chưa đổ đốn đến mức biến một câu vấn danh thành câu chửi”. Chấm dứt buổi học tiếng Anh đầu tiên.
‘’ Oắt xi o nêm mơ?’’ Nay ai biết, sau cái thời cứ ra ngõ là gặp ‘’ anh hùng’’. Bây giờ, đổi mới rồi. Sau thân phận những chị thanh niên xung phong trên Bến không Chồng, những  anh nông dân thuở Cái Đêm hôm ấy đêm gì, những người  thợ xẻ trong Tưóng vể Hưu, những em bé quàng khăn đỏ lùn lùn nhướng chân lên cho đỡ thấp trong Thiên Sứ thì, với trí thức, đến anh phó tiến sĩ đi đổ bô trong cái Vũ điệu bốc mùi của Nguyễn Quang Thân là cái điển hình đau xót trong qui trình một XHCN hoang tường không có bóng dáng những con người đáng được sống với nhân phẩm bình thường. 
‘’ Đ…bu mày, Đ …bu  chúng mày’’, đồ trí thức trong cái xã hội xưa hả miệng hò hét rằng  khoa học kỹ thuật là ‘’ hàng đầu’’, là động cơ của phát triển kinh tế, là cái vốn con người quí hiếm. Nhưng nay thời thế khác rồi, nói zậy mà không zậy, ra ngõ là chỉ gặp lưu manh, tiến lên hàng đầu là tiến lên đâu? Là tiến lên thành ăn cướp, cướp đêm hạ sách, cướp thì phải cướp ngày, và cái cướp được  là cái ‘’ sở hữu toàn dân’’, tức đất đai chẳng  thuộc thằng nào con nào trong mớ giấy lộn có cái tên mỹ miều là Hiến Pháp. Thiệt tình, ‘’ Đ…bu mày’’, bọn tư sản đỏ đầu rỗng nhưng túi chặt ních kim tiền bòn rút của thiên hạ tứ phương. Trớ trêu, cái tiền đó nay chúng vung sang đất đế quốc tư bản đang ‘’giãy chết’’, gửi con cái đi ‘’du học’’ giấu tiền, và hẳn ca rằng  bốn phương tư sản đều là anh em!
3
Biết văn anh, nhưng hàng chục năm sau tôi mới quen anh, một Nguyễn Quang Thân bằng da bằng thịt, rất hồn nhiên, nhân ái, xởi lởi và không bao giờ kiểu cọ bề ngoài. Thời đó về là tôi ở tầng 4 nhà Nguyển Duy, nơi có cái vườn treo, sáng tối bù khú tung tẩy với bạn. Một hôm, anh Thân điện thoại. Anh đến mang cho ít quà quê xứ Nghệ,  lung bung chuyện này chuyện kia,   và lần hạnh ngộ đó để cho tôi  ấn tượng một người ‘’ chịu chơi’’. Dĩ nhiên tôi  biết tình sử giữa anh với chị Dạ Ngân đã  một  thời gây cái sóng gió ‘’tự do luyến ái’’ giữa chị có chồng gặp anh có vợ trong một cái xã hội sặc mùi đạo lý ‘’tổ chức’’ kiểu  nào là đảng viên nào là hội viên một Hội Nhà Văn còn có giá thời những  năm 80. Nhưng kể từ Trại viết văn Vũng Tàu năm 82, phải 10 năm sau anh chị Thân-Ngân mới thực sự phá được  cái quy trình đảng bảo nằm đâu nằm đó để  ‘’ đoàn tụ’’ được với nhau. A ha, chuyện khá ‘’tạch tạch sè’’ trong một xã hội người  ta  hô  giai cấp công nhân mới là thống soái đấy nhé.  ‘’ Chịu chơi’’ thiệt, lãng mạn và chắc hẳn đầy bão bùng giông tố! Khi ra  nơi anh cho tôi mượn căn hộ  trong chung cư Plaza Vủng Tàu, chúng tôi rủ Mai Ninh đi ăn tối trong một cái quán sát bở biển. Trên xe chạy về phía Bãi Dâu, anh chỉ vào  một  nơi nay thành tiệm ăn có cái tên là Ngon, vui vẻ bảo xưa mình với Ngân thường trốn Trại viết Vũng Tàu ra đây hẹn hò tình tự. Thật thiếu xót nếu ở đây không  nhắc một Nguyễn Quang Thân thi sĩ chỉ làm thơ tình cho người  mình yêu dấu: 
Gió về đâu mây trắng bay về đâu
Chiếc xe đò đưa em về đâu
Cơn lốc thổi bay vèo chiếc lá
Khoảng trời vàng trong mắt em nâu

Hoa sứ Vủng Tàu chắc vẫn còn tươi
Cát ở Vũng Tàu vẫn trắng
Rừng dương vẫn im lìm nắng
Kỷ niệm thắp lên những ngọn đèn mờ
Đom đóm cổng chù rọi suốt giấc mơ
Đường lên núi vẫn mọc đầy gai cỏ
Chiếc nón hai màu vàng và đỏ
Dướn lên cao như một cánh bướm trời

Cơn gió thổi bay vèo chiếc lá rơi
Xa cảng mờ trong mái tóc
Nỗi đau này anh không kịp khóc
Trời đã ở xa khơi
SG, 25/6/1982
Thế mà rồi, đùng một  cái, nhận tin anh đã ra đi. Nhà văn Mai Ninh nhắn qua e-mail, chỉ mới đây ngồi ăn nghe sóng vỗ,  anh Thân còn lo em sống một mình không an toàn, khuyên em phải cẩn thận, ăn ngủ điều độ và lỡ mà  bệnh tật gì thì…   
4
Chúng tôi còn gặp nhau ở sự cùng ngưỡng mộ Nguyễn Trãi. Thời viết Đất Trời (NXB Văn Mới, Cali 2004), tôi đã vô cùng kính phục một Nguyển Trãi dâng sách Tâm Công  khi đám võ biền thủ túc của tay đầu mục  Lê Lợi  chỉ lăm le lập công bằng binh quyền võ lực. Trong Hội Thề ( NXB Phụ Nữ, 2008), Nguyễn Quang Thân chia sẻ cùng tâm cảm, hiểu  tình  thấu lý của chính sách ‘’ đem đạo lý thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo’’  khi Lê Lợi tha cho đám tàn quân dưới quyền Vương Thông yên ổn trở về Trung Quốc. Sau đó, ta không có can qua gì với họ hơn 300 năm cho đến thời nhà Thanh.
Nhưng đó là chuyện 600 năm trước. Trong chiến tranh  năm 1979,  ta không truy kích để họ ‘’hồi hương’’ thì sự thể đã thế nào? Chính sách Đại Hán của họ vẫn tiếp tục, và  trận đánh Lão Sơn ở biên giới miền Bắc còn ghi dấu vết một cuộc tàn sát không khoan nhượng! 
Và không chỉ trên mặt trận quân sự, Trung Quốc nay bành trướng qua nhiểu phương thức khác, đặc biệt là xâm lăng chính trị,  kinh tế và tài chính. Chứng ta hiện biết gì? Kẻ nào đang rắc lông ngỗng Mỵ Châu nối giáo cho giặc? Nay lông ngỗng cắm đầy biên giới, trôi ra biển Đông, đánh độc đến  rừng sâu, núi cao thì chúng ta phải ứng phó ra sao? 
Anh Thân ơi, chúng mình có lẽ đều bị thời thế vượt qua mặt rồi ư? Ai  bây giờ dám mang đạo lý ra để thắng hung tàn, lấy trí nhân mà đòi thay cường bạo? Thời này, đám trí thức từ chối thân phận bưng bô Trung Quốc phải làm gì đây? Vũ điệu cái bô phải chăng là một lời tiên tri đau đớn nay muốn tránh  thì  tất cả con dân Đại Việt phải động tâm động trí trước khi quá muộn mằn.
5
Trưa ngày 5/03, chúng tôi hẹn nhau ở tư gia nhà thơ Nguyễn Duy để đi viếng anh Thân. Chuyện râm ran, như để quên đi hiện tại. Nào bên thắng cuộc, là ai? Kẻ thua trong chính tình, là ai? Tóm lại, nói như để nói, cho qua. Nhắc nàng Võ thị Sáu. Duy  từng làm phim về chị chàng anh thư này đã từng ném lưu đạn giết giặc Pháp đầu những năm 1950. Giọng  giễu cợt có một không hai, anh kể, cái kẻ  chết rồi tên là Bé Bê, mẹ Hoa bố Pháp, xưa chuyên lo chuyện cần vụ cho quân viễn chinh.  Sau khi giải phóng ít năm Bé Bê  bỗng về  nước, tay trỏ tượng thị Sáu, kêu .. ‘’ Bà này xưa giết tôi rồi đó!’’. Thế thì sao nhỉ? Hoá ra thị Sáu của hoa Lêkima nở trên miền đất đỏ ném bom thì có, nhưng lại ném vào một đám giỗ của người Việt. Bé Bê không có mặt, thoát chết và sau thì về Việt Nam  đưa mẹ hồi hương về mẫu quốc Pháp.  Lời đồn, Sáu bị ‘’ chập’’, hình như  cả nhà bị chập chứ không chỉ một mình Sáu. Số người chết trong vụ ném bom phần lớn là người Việt, ấy thế mà hai ông Phan Vũ và Nguyễn Quang Sáng tiếp tục ca cẩm và con đường Võ thị Sáu ở Sài Gòn, bên cạnh có công viên Lê Văn Tám, là một trong những con đường chính. Nhân thân của Tám  nay ai cũng biết là không có thật theo trần tình của sử gia Trần Huy Liệu. Còn Sáu, nghe nói nàng rất thiêng, mộ ở Côn Đảo, tháng tháng có hàng ngàn người đến viếng để cầu tài cầu lộc trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa kiểu Việt Nam.  
6
Chúng tôi nói, nói để nói như lấp liếm một cái gì chưa thể chấp nhận được. Phần mình, tôi nghe mà như không nghe. Anh Thân ra đi mới hôm qua, giờ này sao vẫn cứ lơ lơ lửng lửng như chuyện khó có thể có thật. Và rồi…Tôi theo Hoàng Hưng đến viếng anh. 
Gọi Uber, điện thoại reng và chúng tôi ra đường  lên xe. Người lái là một nàng tuổi trên dưới 30, giọng trọ trẹ đất Quảng Trị, cười rất tươi và ăn nói có cái duyên của một người đàn bà vào tuổi  trăng đã vừa độ. Hưng  bảo chúng tôi đến viếng một bạn văn. Quay xuống ghế sau nhìn tôi anh nói cái ông này cũng là nhà văn đấy. Em gái láu táu, thế à thế à, nhưng  có vẻ không hiểu cái giống gì kỳ quái gọi là nhà văn thời này.
Buồn héng?
Ừ, tôi gật gật, buồn và cô độc.
Nghe hát không? Em thích hát, hát  hai anh nghe cho vui ...
Hát gì?
Hát nhạc Trịnh nghe...
Nhạc Trịnh  sao mà vui được ?
Em kiếm...
Cô bé mở I-phone, loay hoay, rồi reo:
Có  nó đây. Bài em thích  lắm, Đêm thấy ta là thác đổ!
Tiếng nhạc đệm trong I-phone cất lên. Em gái lấy giọng. Không khí đặc quánh lại, siêu thực, như một bức tranh lạ màu nước mắt. Tôi kìm lấy họng nuốt vội nghẹn ngào. 
Một đêm bước chân về gác nhỏ, chợt thấy đóa hoa tường vi...Ngày xuân bước chân người rất nhẹ, mùa xuân đã qua bao giờ, Nhiều khi thấy ta là thác đổ, tỉnh ra có khi còn  nghe. 
Thật bất ngờ, nghe hát trong hoàn cảnh mà có Hồng Nhung hay Khánh Ly cất tiếng cũng không cách gì truyền cảm được như em gái lái xe Uber đang vượt cầu Bình Triệu. 
Đời ta có khi là đốm lửa,  Một hôm nhóm trong vườn khuya . Vườn khuya đóa hoa nào mới nở, Đời ta có ai vừa qua...
Tiếng hát cứa vào chính đời tôi, chìm đắm trong  cái mênh mang bất định của mọi ly tan...   
Đời ta hết mang điều mới lạ, Tôi đã sống rất ơ hờ, Lòng tôi có đôi lần khép cửa, Rồi bên vết  thương tôi quì, Vì em  đã mang lời khấn nhỏ... Bỏ tôi đứng  bên đời kia....
7
Xuống xe, chúng tôi đi ngay vào tư gia nơi gia đình quàn nhục thể anh Thân. Mất hồn, tôi không nói được một lời cám ơn em gái  đã hát nhạc Trịnh, chẳng nói gì đến cái thói đĩ miệng mà bình thường thì tôi đã cao giọng khen em tài sắc. Mà thôi, tôi chẳng lòng dạ nào, tình thế nó thế, xin tha thứ cho nhau nhé.
Phạm Nguyên Trường đã có mặt trong cái rạp dã chiến dựng tạm trước cửa chung cư Thanh Đa. Bạn bè quen mặt nhiều, nhưng tôi nhìn mà không thấy, đến viếng anh mà đầu óc tê dại cứ như để tang phần nào cho chính mình. Lát sau, Ban Vận Động Văn Đoàn Độc Lập mang một vòng hoa tới viếng. Có  anh Nguyên Ngọc từ Hội An, Thái Kế Toại và Phạm Xuân Nguyên ... từ Hà Nội. Và trong miền Nam thì rất  đông, nào chị Kim Cúc, các anh Nguyên Duy, Huy Đức, Hoàng Dzũng... rồi Trương Văn Dân và vợ, Trần Hải Hạc và Việt Linh, các bạn trẻ  Bùi Chát, Lý Đợi...Chúng tôi lên nhà thắp hương cho anh. Thấy tôi, chị Dạ Ngân ôm lấy, nghẹn ngào: ‘’Thật là khủng khiếp!’’, âm thanh nát bấy lòng.
Vâng, thật là khủng khiếp! Cho tất cả chúng ta.
Tôi thầm nghĩ, anh không đau đớn bệnh tật gì, không phiền hà người  thân, và lên đường như thế là điều nhiều người mơ ước. Nghĩ thế, nhưng sao tôi vẫn cứ trạnh lòng, nhất là khi bắt tay con trai anh từ Hung mới về để tang cha. Lại văng vẳng lời anh kể về dự định tháng 5 này sẽ cùng chị đi thăm con cháu, và còn rủ tôi, qua chơi  nhé, Budapest đẹp vô cùng. Nước mắt tôi ứa ra. Phải rồi, tôi thuộc dòng mau nước mắt, cớ gì cứ phải chất chứa nó ở trong lòng cơ chứ!
8
Thắp hương cho anh Thân xong, tôi vội về, tránh cái mủi lòng của bạn bè trước những giọt nước mắt mà tôi chẳng còn cầm giữ kiểu một đấng nam nhi lòng lim dạ sắt. Về  bờ sông bên kia nơi tôi cư trú, chưa thấy Phan Nguyên, chắc anh còn bận bịu đưa đón cậu con trai. Tôi ra ngồi trên cái kè ven chung cư, cạnh quán cà phê có cái tên thơ mộng là Cõi Ta. Nước nay chảy xuôi, lục bình ít so với ban sáng, và trên trời mây kết thành những sợi mỏng mảnh lửng lơ đùa cợt với gió chiều. Ngoảnh lại, anh Thân ơi,  mây trắng vẫn bay. Thôi, xin anh quàng tay ra sau nắm một sợi mây chiều để êm ả trôi về thiên thu. 
Nhướng mắt nhìn xuống, tôi cố tìm một đoá lục bình để thầm tặng anh Thân.  Và có lẽ  là phép lạ chăng, tôi nhìn ra được một  cụm hoa tím dập dềnh trên sóng nước.
Anh Thân, trước khi ta chia tay tôi xin được nói những  điều mình chưa bao giờ nói với nhau thuở sinh tiền. Trong một trại viết văn ở Hải Phòng hơn 20 năm về trước, anh từng dặn một nhà văn trẻ, nhà văn  phải... đi thẳng. Nhưng đi đâu? Về đâu? Anh cho phép tôi  thêm thắt chút ý riêng cho rõ nghĩa. Đi là đi đến tương lai, một  tương lai con người sống cho ra sống, với nhân phẫm và những giá trị đích thực của nhân loại. Còn về đâu? Là quay về những truyền thống dựng nước giữ nước tốt đẹp của ông cha ta, xoay lưng lại  những  tuồng tích đấu đá, những nhát mã tấu chém trộm, những cú đâm sau lưng...khiến xã hội  chúng ta đang quay về thời bạo lực lên ngôi, lọc lừa chia rẽ, để rồi sẽ ‘’ tiến lên’’ một thời đồ đểu không  đảo ngược được! Nhà văn đi thẳng, như anh đã từng đi, với lương tri, với trí tuệ, với những  giá trị bất khả tư nghì để góp tay xây dựng một xã hội con người vì con người, làm người với nhau, và vì nhau. Đây hẳn là tất yếu  cho sự sống còn  của dân tộc chúng ta đang lún chân vào một thời hoảng loạn và cứ từng ngày kiệt cạn sinh khí. 
Đi thẳng, và muốn đi thẳng như thế,  thiết tưởng nhà văn phải thẳng người  mà đi. Như anh từng đi  trong đời văn một người viết trí tuệ, dũng lược, và không vì bất cứ gì mà vong thân, tha hóa. 
Anh Thân, cám ơn anh. 
Quebec 27/03/2017









Hà Nội, trong mắt một người mù

Cuốn phim  ‘’Hà Nội trong mắt ai’’ (HNTMA) của đạo diễn Trần Văn Thủy bắt đầu bằng tiếng ghi-ta một nhạc sĩ mù.  Kính đen sụp xuống mũi, nhạc sĩ gảy đàn như thể cố nhìn cho ra Hà Nội. Mắt người  mù chắc chỉ có màu đục của bóng đêm, và ai đó đã ở HN vào năm 82, thuở cuốn phim ra đời, chắc hẳn đều biết khi đêm về lác đác hai vệ đường chỉ  lờ mờ hiu hắt ánh đèn dầu những hàng thuốc lá thuốc lào bán lẻ. Vâng, năm 82 dân ta còn ăn độn bobo, phố phường chỉ toàn xe đạp, nào có đâu  xe gắn máy rú rít quanh bờ hồ, và rồi nay, thời đúpV-tê-U thì nào Lexus, nào Mercedes...chạy vòng vòng ngạo nghễ. Vâng, năm 82, do ông Nguyễn Khắc Viện mời, tôi được xem HNTMA ở nhà xuất bản Ngoại Văn trên phố Trần Hưng Đạo. Ông ngồi cạnh, im lặng,  khắc khổ, đầu hơi cúi xuống. Tôi thì không lòng dạ nào đi dạo tìm hơi hướng cô tổ thơ nôm Hồ Xuân Hương, hay viếng Nghi Tàm thăm nơi bà huyện Thanh Quan từng cư ngụ, và cũng chẳng  hề biết mộ phần của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm  cũng đâu đây trong vùng sóng nước Dâm Đàm, tên xưa ta gọi Tây hồ. Hà Nội thời đó với tôi là Hà Nội đói khó, xác xơ, nghi kị đến mức ai nói gì cũng thì thào, và có cái thói quay lại xem sau lưng có ai  nghe thấy mình không. Là Hà Nội lắm mưu đồ phe phái, nhan nhản nghị quyết, và đầy khẩu hiệu viết bằng sơn đỏ trên những mành tường vôi long lở.  Là Hà Nội chập chững trong vòng dây những giáo điều cứng ngắc, tự trói mình và kéo luôn cả dân tộc sa vào một vũng lầy phản lại tiến hóa...Lắng đọng lại trong tâm trí tôi chỉ có tiếng trống Đăng Văn thời nhà Lê có nhắc lại  trong HNTMA. Nếu ngày nay trống có hàng trăm chiếc, dân đến đánh hẳn  đánh đến thủng mặt trống, âm vang vang truyền đến hàng chục đời. Ông Viện [i] ngậm tăm, hình như có thở dài. Rồi ông thủng thỉnh bảo, người làm phim cốt yếu nói đến hai chữ Tâm và Dân, mục đích nhắc nhủ lời Nguyễn Trãi cho những người cầm cân nẩy mực đời nay.  
Nhưng thời đó tôi không hề biết Thủy gặp khó khăn,  nghệ thuật anh ‘’ ám chỉ’’  và ‘’ ẩn dụ’’, khiến  những  kẻ có tật ắt phải giật mình. Tôi có cảm tình, nhưng sau bao nhiêu truân chuyên lưu lạc riêng tư, tôi không  có dịp biết gì thêm về anh. Phải đến khi anh sang Mỹ, và các bạn tôi là Hoàng Khởi Phong và Cao Xuân Huy in ‘’ Nếu đi hết biển’’  năm 2003  và phát hành DVD ‘’ Chuyện tử tế ‘’  năm 2007 [ii], thì tôi mới ‘’ hiểu ‘’ được Thủy phần nào.  Tôi nói với Phong là ‘’chơi được!’’. Phong cười ‘’quá được đi ấy chứ! ‘’ và khi đó tôi mới nhờ Phong liên lạc với Thủy. Thế là đến 2013 tôi lò mò đến thăm anh. Vui. Và rất thẳng thắn. Kể  về Huy, cậu em rể hụt của tôi, Thủy nhắc đoạn anh chuyện với Huy về Hoàng Sa  và phát cáu quát ‘’ Mày biết và sống  mà không kể lại thì ai kể nào?’’. Nay Huy đã thành người  thiên cổ, tôi xin chép lời anh kể lại trong  ‘’ Nếu đi hết biển ‘’:
...Những kỷ niệm về chiến trận,...về tù đày thì nhiều, nhiều lắm. Nhưng điều đáng nhớ nhất lại không phải ở chuyện đánh trận hay chuyện tù đày, mà lại là chuyện không bảo vệ được lãnh thổ, anh ạ. Tết năm 74, tiểu đoàn tôi  đang ứng chiến ở Phú Bài, Huế, thì Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa....Tiểu đoàn tôi  là lực lượng trù bị của Quân đoàn, được lệnh chuẩn bị ra đánh lấy lại Hoàng Sa...Gì chứ đánh nhau để bảo toàn lãnh thổ,  lính tráng tụi tui thằng nào cũng háo hức, tuy biết  đi là chết nhưng đánh nhau để giành lại đất nước, từ quan đến lính chúng tôi thằng nào cũng hăm hở. Nhưng ngay lúc đó, mặt trận trong nội địa miền Trung cũng nở rộ, những cuộc  tấn công lớn của những đơn vị Bắc Việt đã cầm chân chúng tôi, chúng tôi không có lệnh xuất quân đến Hoàng Sa. Tin tức, hình ảnh ...làm chúng tôi thấy nhục. Nhục chứ anh, địa danh nào trong tay Miền Bắc hay Miền Nam thì cũng là của người Việt Nam. Hoàng Sa bị Trung Cộng chiếm mà không lấy lại, tôi nghĩ, miền Bắc và cả miền Nam đều có tội với tổ tiên, với cha ông.... Ông cha ta  chèo thuyền giong buồm mà vẫn bảo vệ được những hòn đào nhỏ xíu ở tít tận mù khơi. Vậy mà bây giờ, quân đội của hai miền tự nhận là thiện chiến nhất nhì thế giới  lại bỏ mặc  một phần lãnh thổ lọt vào tay ngoại bang. Tôi hỏi anh chứ, chính anh, anh có thấy nhục không? Một trăm năm, một nghìn năm, hay đến tận bao giờ chúng ta mới lấy lại được Hoàng Sa ?... Đã mất, hay sẽ còn mất thêm?
Buổi trưa qua đi, một thoắt. Chúng tôi ngồi với nhau, cứ thế, và bóng chiều xuống dần, nhẫn nhục, chần chừ nhưng không khác được. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện, nhưng  rồi  thế sự du du nại lão hà,  cuối cùng vẫn là chuyện tay  gỡ tóc đã bạc màu mà lòng thì khắc khoải chưa làm thế nào kéo lại được bóng dáng một mùa xuân. Ai cũng có một cách thế riêng. Tôi lan man nói về Bờ Kia, một tiểu thuyết tôi cưu mang  hai, ba năm nay nhưng chưa thực hiện được. Tôi thắc mắc đặt những tra vấn chưa thể giải đáp, bắt văn chương còng lưng mang gánh  nợ đời...Thủy  khoát tay, giọng đanh lạ ‘’ Việc đ...  gì mà phải hư cấu, cứ bám lấy  hiện thực, bao nhiêu chuyện tai nghe mắt thấy  còn vượt  hư cấu xa...’’ Tôi đáp, rất bản năng ‘’ Ai có dao dùng dao, ai có súng dùng súng, ai không dao không súng mà chỉ có cái miệng  thì nhe răng ra cắn...   Và nhổ nước bọt ‘’.
Dĩ nhiên, đó là một phản ứng hời hợt. Lẽ ra tôi phải nói HNTMA dẫu là phim ‘’tài liệu‘’  nhưng có cấu trúc thì đã là hư cấu, và chính phần hư cấu là phần hồn của tác phẩm. Giống như  viết bút ký, nào đâu chỉ người thật việc thật. Và dưới ánh sáng văn chương XHCN, người tốt việc tốt. Chạm vào đến thể chất tâm linh trong con người khiến họ cảm thông chia sẻ, làm sao một  tác phẩm nghệ thuật tránh được hư cấu, cách nói đơn giản là khả năng tưởng tượng  một  thứ hiện thực nối dài của cái thấy được, cái nghe được, cái sờ được để cho người đọc cảm được...Nhưng thôi, ngắn ngày ngắn giờ, chúng ta  không nên mất thời gian vào chuyện tào lao chi tướng. Tôi kể Thủy nghe  chuyện hôm trước tôi đến nhà xuất bản Tri Thức, đề nghị (đùa thôi) là Hà Nội ta nên lập ra  Liên Hiệp những người tử tế, và phần tôi, tôi sẽ đề cử Thủy làm Chủ Tịch. Tôi nhủ trong lòng, Thủy này là một tay hảo hán, thứ động vật quí hiếm ngày càng mai một.
Bây giờ cho tôi nhắc lại một hư cấu. Trong tiểu thuyết Đất Trời, ngày  nhà họ Nguyễn ở Nhị Khê bị tru di tam tộc, quạ ở đâu bay về đậu đầy Đông Đô, kêu quàng quạc từ sớm tinh mơ. Đến chiều, người người lũ lượt kéo nhau đi xem hành hình. Hàng hàng lớp lớp, họ bước về phía Ô Quan Chưởng. Có một người cao ngều nghệu, vượt những người khác một cái đầu, nhìn  thì  hóa ra Nguyễn Trãi, kẻ đã thắng hung tàn bằng phép Tâm công. Họ đi, lát sau thì ai cũng như ai, cao bằng nhau cả. Lại nhìn lại, thấy Nguyễn Trãi vẫn bước trong đám người, nhưng hai tay ôm đầu đã bị chém, máu loang lổ mặt đường  ...
Đó là hư cấu cho thời đầu nhà Lê khi ta vừa giành lại non sông từ tay người Minh. Còn đời nay.  Bây giờ đám người vẫn bước trong lòng Hà Nội giữa tiếng rú rít của xe gắn máy và xe hơi chạy vòng bờ hồ. Nay, họ thấp hẳn xuống. Nhìn lại, ai cũng ôm đầu trong tay, cắm cúi đi. Những người mất đầu đó không biết về đâu, nhưng máu từ  thân thể họ thì  lênh láng thành dòng trôi về phía cầu Long Biên bắc ngang sông Hồng. Dòng sông đó nước màu đỏ, ứng vào tên gọi con sông từ xa xưa, đỏ chẳng phải chỉ vì  phù sa...
Hư cấu như vừa bịa có thật, và là của một Hà Nội nhìn qua mắt người  không còn, hay không muốn còn, thị giác.

_________________________________















Trở về







Danh Sách Tác Giả

Chân Dung Văn Nghệ Sĩ
Emprunt Empreinte






MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.