Monday, 9 September 2013

Võ Phiến (1925 - 2015)

  















Võ Phiến

Tên thật: Đoàn Thế Nhơn
Bút danh khác: Tràng Thiên
(20/10/1925 Bình Định - 28/9/2015 California)
Hưởng thọ 90 tuổi
Nhà văn













Nghe đâu Trời sắp gọi ta 
Chuyện đâu có chuyện xẩy ra lạ đời!
không ta ai gọi tên Trời?

VP



























Tiểu sử

Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, bút hiệu khác: Tràng Thiên. Ông sinh ngày 20/10/1925 tại làng Trà Bình, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Cha là Đoàn Thế Cần làm giáo học, mẹ là Ngô Thị Cương.
Võ Phiến có người em ruột là Đoàn Thế Hối, sinh năm 1932, sau này ra Bắc tập kết, cũng là nhà văn bút hiệu Lê Vĩnh Hoà. Khoảng 1933, cha mẹ xuống Rạch Giá lập nghiệp đem Đoàn Thế Hối theo; Võ Phiến ở lại Bình Định, sống với bà nội, học trường làng, trung học ở Quy Nhơn. 1942 ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn.
Bài tùy bút đầu tiên tựa đề Những đêm đông viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật, ký tên Đắc Lang.
1945, Võ Phiến gia nhập bộ đội trong một thời gian ngắn, sang 1946 ra Hà Nội học trường Văn Lang; đến tháng 12/ 1946, trở về Bình Định tham gia kháng chiến, sang năm 1947 về làm thuế quan tại Gò Bồi. Năm 1948, ông kết hôn với cô Võ Thị Viễn Phố (Võ Phiến là Viễn Phố nói lái) và ông dạy học ở trường trung học bình dân Liên Khu V. Cuối năm 1954, ông ra Huế làm việc tại Nha Thông Tin ít lâu rồi xin chuyển vào Quy Nhơn, tại đây ông tự xuất bản hai tác phẩm đầu Chữ tình (1956) và Người tù (1957), gửi bài đăng trên hai tạp chí Sáng Tạo và Bách Khoa. Từ tác phẩm thứ ba Mưa đêm cuối năm (in năm 1958, tại Sàigòn), Võ Phiến bắt đầu nổi tiếng, ông xin đổi vào làm việc tại Sài Gòn, cộng tác thường xuyên với các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Khởi Hành, Mai, Tân Văn ... và trở thành một trong những cây bút chính của tờ Bách Khoa, cùng với Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh v.v... 1962, Võ Phiến lập nhà xuất bản Thời Mới.
Rời nước một tuần trước ngày 30/4/1975, một thời gian sau ông định cư tại Los Angeles, làm công chức thuế vụ.
Võ Phiến là một trong những người đầu tiên có công xây dựng nền văn học Việt Nam Hải Ngoại, chủ trương tập san Văn Học Nghệ Thuật từ 1978 đến 1979, rồi từ 1985 đến 1986. Tờ Văn Học Nghệ Thuật của Võ Phiến là nguyệt san văn học có uy tín đầu tiên tại hải ngoại, là tiền thân của tờ Văn Học mà sau này Nguyễn Mộng Giác tiếp nối. Văn Học Nghệ Thuật đã mở dầu cho một trào lưu văn học đích thực mà sau này trở thành Văn Học Việt Nam Hải Ngoại, hội tụ những cây bút cũ và mới, tạo ra một lớp người viết và người đọc tham dự vào văn chương tiếng Việt.
Từ tháng 7/1994, Võ Phiến nghỉ hưu nhưng vẫn viết, hiện ông sống tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ.
Ông là tác giả của trên dưới 30 tác phẩm gồm đủ mọi thể loại: thơ, truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tiểu luận, tạp luận, biên khảo, phê bình, dịch thuật.




Tác phẩm đã in:



Tiểu thuyết: Giã từ (Bách Khoa, Sài-gòn, 1962), Một mình (Thời Mới, 1965), Đàn ông (Thời Mới, 1966), Nguyên vẹn (Người Việt, California, 1978).



Truyện ngắn: Chữ tình (Bình Minh, Quy Nhơn, 1956), Người tù(Bình Minh, 1957), Mưa đêm cuối năm (Tự Do, Sài-gòn, 1958), Đêm xuân trăng sáng (Nguyễn Đình Vượng, 1961), Thương hoài ngàn năm(Bút Nghiên, 1962), Về một xóm quê (Thời Mới, 1965), Truyện thật ngắn (Văn Nghệ, California, 1991).



Tùy bút: Thư nhà (Thời Mới, 1962), Ảo ảnh (Thời Mới, 1967),Phù thế (Thời Mới, 1969), Đất nước quê hương (Lửa Thiêng, 1973),Thư gửi bạn (Người Việt, California, 1976), Ly hương (in chung với Lê Tất Điều, Người Việt, California, 1977), Lại thư gửi bạn (Người Việt, 1979), Quê (Văn Nghệ, 1992).



Tiểu luận: Tiểu thuyết hiện đại (bút hiệu Tràng Thiên, Thời Mới, 1963), Văn học Nga Xô hiện đại (Thời Mới, 1965). Tạp bút, ba tập (Thời Mới, 1965-66), Tạp luận (Trí Đăng, 1973), Chúng ta qua cách viết (Giao Điểm, 1973), Viết (Văn Nghệ, 1993), Đối thoại (Văn Nghệ, 1993).



Biên khảo: Văn học miền Nam tổng quan (Văn Nghệ, 1986), Văn học miền Nam, 6 tập, gồm 3 tập về truyện, 1 tập ký, 1 tập kịch - tùy bút và 1 tập thơ (Văn Nghệ, 1999).



Dịch thuật: Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà (Stéfan Zweig) (Thời Mới, 1963), Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại (André Maurois) (Thời Mới, 1964), Truyện hay các nước, 2 tập, cùng dịch với Nguyễn Minh Hoàng (Thời Mới, 1965), Ông chồng muôn thuở (Dostoïevski) (1973).



Toàn bộ tác phẩm Võ Phiến được in lại trong Võ Phiến toàn tập, 9 cuốn (Văn Nghệ, 1993).



Võ Phiến không phân biệt rõ ràng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn, giữa truyện ngắn và tùy bút. Truyện ngắn của ông thường là truyện dài viết ngắn. Có những truyện ngắn lại được ông xếp vào loại tùy bút. Cho nên việc phân chia thể loại trong tác phẩm của Võ Phiến chỉ có tính cách tương đối.



Tuy viết nhiều thể loại, nhưng sở trường của Võ Phiến là truyện ngắn, truyện dài và tạp văn (tiếng chúng tôi tạm gọi chung cho tùy bút, tạp bút và tạp luận của Võ Phiến). Thơ ông không quan trọng so với văn và ông cũng không chuyên về biên khảo phê bình.





























Tác phẩm













1
Chữ Tình 
Truyện ngắn
1956



















2
Người Tù 
Truyện ngắn  1957













3
Mưa Đêm Cuối Năm
 
Truyện ngắn 1958
( Giải thưởng Văn chương toàn quốc VNCH 1960)



















4
Đêm Xuân Trăng Sáng 
Truyện ngắn 1961


















5
Về một xóm quê 
Truyện ngắn 1965



















6
Giã từ 
Tiểu Thuyết 1962
















7
Thương Hoài Ngàn Năm 
Truyện ngắn 1962
















8
Thư Nhà 
Tùy bút 1963




















9
Tiểu Thuyết Hiện Đại 
Tiểu luận 1963

















10
Một Mình 
Tiểu Thuyết 1965

















11
Tạp Bút I-II-III 
1965

















12
Đàn Ông
Tiểu Thuyết 1966

















13
Ảo Ảnh 
Tùy bút 1967
















14
Phù Thế 
Tùy bút 1969


















15
Tạp Luận 
1973

















16
Chúng Ta Qua Cách Viết 
Tiểu luận 1973
















17
 Đất Nước Quê Hương 
Tùy bút 1973























Võ Phiến
tranh: Khánh Trường



























Sách xuất bản ở hải ngoại (Hoa Kỳ)











18
Thư Gửi Bạn 
Tùy bút 1976
















19
Ly Hương 
Tùy bút 1977 
(viết chung với Lê Tất Điều)

















20
Nguyên Vẹn 
Tiểu Thuyết 1978



















21
Lại Thư Gửi Bạn 
Tùy bút 1979


















22
Văn Học Miền Nam Tổng Quan 
Biên khảo 1986

Đặng Tiến: 
Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
















23
Tiểu Luận
1988















24
Truyện Thật Ngắn 
1991


















25
Quê 
Tùy bút 1992

















26
Đối Thoại 
Tiểu luận 1993

















27
Viết 
Tiểu luận 1993
















28
Sống và Viết 
1996

















29
Thơ Thẩn 
Thơ 1997


















30
Văn Học Miền Nam 
Biên khảo 1999
Trọn bộ 6 quyển
(Truyện 1 - Truyện 2 - Truyện 3 - Ký - Tùy bút & Kịch - Thơ)

















31
Cảm Nhận 
1999




















32
Cuối Cùng
2009


Một cốt cách ở đời (*)



Đỗ Hồng Ngọc




(Vài cảm nghĩ khi đọc Cuối Cùng của Võ Phiến, NXB Thế kỷ 21, 2009)





Cuối Cùng của Võ Phiến là sự Mộc Mạc.



Suốt một đời người đeo đẳng văn chương chữ nghĩa, chẻ sợi tóc làm tư, lặn lội vào những nẻo u uẩn ngóc ngách của lòng người, bỗng dưng cuối cùng hiện ra trước mắt một vầng sáng: Mộc Mạc.



Phải, Mộc Mạc. Đó là tựa của một bài Thơ đặt ở trang cuối cùng của cuốn Cuối Cùng, như một khép lại: Những hẹn hò từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây… Chút nắng vàng giờ đây cũng vội… (TCS). Với tôi, Cuối Cùng là bài thơ, một bài thơ Thiền. Nhiều người tưởng Võ Phiến là một nhà văn, hóa ra ông là một nhà thơ. Đọc kỹ đi rồi thấy. Có người mắt tinh đời sớm nhận ra điều đó: “Võ Phiến là thi sĩ. Mà là thi sĩ của trần gian nữa. Dù có khi anh viết bằng văn xuôi”. (Đặng Tiến).



Cuối Cùng của Võ Phiến là một tập sách trang nhã. Bìa cứng cổ điển. Nhưng bìa bọc ngoài lại là một mầu trời xanh và mây trắng với những cái bóng của Võ Phiến. Không phải hình, mà bóng. Một cái lõi, xưa cũ, cứng cáp bên trong; một cái vỏ, bay bỗng, tuyệt mù.. bên ngoài.



Trang cuối không đánh số trang của Cuối Cùng như đã nói là một bài thơ. Mộc Mạc là tên bài thơ đó. Một sự trở về. Về với mộc mạc, với chân phác. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt (TCS). Chắc vậy rồi. Với Võ Phiến, chốn về đó là xóm là làng, có con trâu, con chó, con gà, đàn cò, lũ sẻ, bà con cô bác... 



Xưa từng có xóm có làng

Bà con cô bác họ hàng gần xa

Con trâu, con chó, con gà

Đàn cò, lũ sẻ, đều là cố tri.

(Mộc Mạc)



“Đều là cô tri”. Họ thân thiết nhau quá, gần gũi nhau quá mà! Đi sao nỡ. Xa sao đành. Chẳng qua gặp thời thế thế thời thôi. Một người như Võ Phiến hẳn “chân bước đi mặt còn ngoảnh lại, từ cái mái nhà cái thềm nhà cho đến bụi cây khóm cỏ...:” (Quốc văn giáo khoa thư). Rứt sao ra.



Rồi Võ Phiến viết tiếp sau khi ngậm ngùi nhớ những “cố tri” đó của mình:



Múa may mãi chẳng ra gì

Mỗi lâu thêm một cách ly rã rời.

( Mộc Mạc)



Ra gì là ra gì? “Múa may” coi cũng được quá đó chứ! Mọi người đều nhìn nhận Võ Phiến, dù không nói ra mà ai cũng phải gật gù. Đông Hồ khen “nhất” miền Nam. Nguyễn Hiến Lê khen tùy bút sâu sắc, tự nhiên, dí dõm, đa dạng...Đặng Tiến bảo tác giả hàng đầu, Nguyễn Hưng Quốc kêu nhà văn của thế kỷ... Vậy mà múa may mãi chẳng ra gì sao? Tới bây giờ, nhớ Đêm xuân trăng sáng hay Thác đổ sau nhà của ông đọc từ hồi còn trẻ, tôi vẫn còn như nghe nhột nhột ở đùi trong…



Tuyệt vời nhất ở hai chữ: mỗi lâu. Vừa mộc mạc vừa sâu thẳm. Sao lại “mỗi lâu”? Ấy là bởi ông đã đợi chờ, đã nghe ngóng, đã mong mỏi nó “rụp rụp” cho rồi, ai dè nó cứ dùng dằng dủng dẳng, bực cả mình. Rụp rụp như cái dao phay chặt thịt mà ông từng thấy ở một người đàn ông mặc áo thun, bán hủ tíu, quơ dao múa may mấy cái rồi rụp rụp ngon lành. Đầu này nó cứ đủng đỉnh, cứ lằng nhằng. Nó càng đủng đỉnh, càng lằng nhằng ông càng bẽn lẽn vì đã có đôi lần ông làm thơ “giã biệt” gởi cho “những người ở lại’ rồi, thế mà, chính ông lại ở lại. “Quê” quá chứ phải không? Nhưngmỗi lâu rồi thì sao? Thì, khổ thay, cứ mỗi lâu nó lại thêm một cách ly, rã rời! Cách ly? Rã rời? Ông thấy hình như mọi người đâu đó đã sẵn sàng cả rồi, hồi hộp chờ đợi cả rồi, vậy mà chuyện lại không tới. Tẽn tò, tản ra, xa dần, quên lãng... ? Tự ông, ông cảm thấy “ngượng ngập vu vơ”. Ngượng ngập. Vu vơ. Văn viết không ra, chỉ có thơ mới “nói lên” được: mỗi lâu thêm một cách ly rã rời...



Thân tàn đất lạ chơi vơi
Trông lên chỉ gặp bầu trời là quen.
( Mộc Mạc)

Người ta thì gần đất xa trời, ông thì gần trời xa đất. Đất lạ, trời quen. Với người xa xứ “lạc loài đến đây” như ông thì cách ly với con trâu, con chó, con gà, đàn cò, lũ sẻ đã đành là khổ, mà cách ly với những thân tình càng khổ hơn: “Gần đây nhiều lần nghe những trao đổi tưng bừng về các hướng thơ văn cũ mới, bị không khí sôi nổi lôi cuốn mạnh, tôi xun xoe nhấp nhỏm. Bỗng chợt buồn, tặc lưỡi: Mình còn được bao nhiêu ngày tháng? Những chuyện ... như thế... trên đời... ối dào! ( Người ơi người ở dài dài, tr45)”. Mãn Giác thiền sư chẳng đã từng than “Sự trục nhãn tiền quá/ Lão đầu tùng thượng lai...” đó sao? Còn “rã rời”. Làm sao mà không rã rời cơ chứ? Có cái gì gắn với cái gì đâu. Toàn tạm bợ, lắp ráp cả đó chứ. Ngũ uẩn giai không mà! Bài thơ “Cũng Hợp” –lại Thơ- mở đầu cho cuốn Cuối Cùng, ông chẳng bảo “lắp ráp” xài chơi, lâu ngày chầy tháng thấy “cũng hợp”, cũng OK. Rồi đến một lúc nghĩ hay là ta... ở lại trần gian luôn chừng nghìn năm nữa cũng được. Để rồi giật mình: đã lắp ráp thì hẳn có lúc phải rời ra. Một câu hỏi đặt ra: Lắp ráp để chi? Để “trưa nào cũng bay” ( tr 139) chớ chi. Hoàn thành nhiệm vụ rồi thì rã. Rã rồi lại ráp không chừng. “Cả năm uẩn chúng quấy ta là thế” (Cũng Hợp). Võ Phiến hiện nguyên hình thành một... thiền sư!

Dặn lòng lòng vẫn nao nao
Ta đi mây ở, trưa nào cũng bay

Nhưng thiền sư mà có cái chuyện dặn lòng này mới lạ! Dù sao thì cũng chỉ nao nao thôi. Nao nao khác với bừng bừng. Đó là khi ông nhìn những phút “ân tình” của chim câu: “...cái đuôi con chim mái, vẹt qua một phía... “. Xong. Rồi bay. Trưa nào cũng bay. Ông thấy “nao nao”. Nao nao quá chớ. Nó đến nó đi hờ hững thản nhiên. Sao trời nỡ đọa đày nhau đến thế?(Cũng Hợp, tr 17).

*
“Cái còn lại của một cốt cách : ít ỏi quá, mong manh quá”. (Hình bóng cũ, tr 32).

Không đâu. Cái cốt cách ở đời của Võ Phiến theo tôi không ít ỏi quá, cũng chẳng mong manh quá. Nó đáng cho ta ngả mũ chào. Với một nụ cười tủm tỉm, hân hoan.



(Saigon, 2010)













Võ Phiến


Điêu khắc: Ưu Đàm


























Sách dịch

   








Hăm Bốn Giờ Trong Đời Một Người Đàn Bà 
Stefan Zweig 1963











Các Trào Lưu Lớn Của Tư Tưởng Hiện Đại 
André Maurois 1964











Truyện Hay Các Nước 1
Truyện Hay Các Nước 2
(dịch chung với Nguyễn Minh Hoàng)
1965











Ông Chồng Muôn Thuở 
Dostoievski 1973






























































Tham khảo thêm về tác giả Võ Phiến

























Võ Phiến - Chúng Ta Qua Tiếng Nói (1)



Võ Phiến







CÁI CỤ THỂ


Tiếng nói, một phương tiện

Người họa sĩ dùng màu sắc để diễn tả ý tình; nhà văn dùng ngôn ngữ. Chất liệu của hội họa khắp nơi dần dần thành đồng nhất; xưa kia, có kẻ dùng sơn mài, người dùng mực tàu, có xứ dùng sơn dầu trên bố, có xứ quẹt bút lông trên lụa v.v.; ngày nay các phương tiện riêng đều nhập làm của chung, họa sĩ nước nào cũng có thể mua cùng một loại màu để vẽ trên cùng một chất vải.




Dĩ nhiên, cùng một chất liệu không đưa đến cùng một nét vẽ: ai có cá tính nấy, dân tộc nào có tính cách riêng của dân tộc nấy. Dù sao, cái đặc thù không nằm ngay trong phương tiện diễn đạt.

Phương tiện của văn chương thì khác. Phương tiện ấy gần như không hẳn là một phương tiện.

Ngọn bút lông màu mực tàu có thể là những món thích hợp nhất để dân tộc này, chất sơn dầu để một dân tộc khác sử dụng hầu biểu hiện tâm hồn mình bằng màu sắc; hệ thống ngũ cung thích hợp cho dân tộc này, hệ thống tam cung tứ cung cho những dân tộc khác dùng biểu hiện tình ý bằng âm thanh. Đó là những phương tiện, có ít nhiều liên hệ với cá tính dân tộc. Nhưng tiếng nói thì không phải chỉ có liên hệ: Tự nó, nó đã là một công trình trong đó được biểu hiện nhiều nét đặc thù của dân tộc tính.

Dùng tiếng nói để phô diễn cảm nghĩ? — Tiếng nói của một dân tộc tự nó đã hàm ngụ lề lối cảm nghĩ của dân tộc ấy rồi. Thành thử người làm văn thơ có chỗ không giống các nghệ sĩ khác: người làm văn thơ bị hồn thiêng dân tộc đeo đuổi, ám ảnh, canh giữ, ràng buộc, qui định; mặt khác, người ấy được nó bảo vệ, dìu dắt, hướng dẫn, ngay bằng cái phương tiện sử dụng.

Viết bằng Việt ngữ là có Việt tính rồi. Hoặc ít hoặc nhiều, tự nhiên phải có.

Nghe nói hồi thế kỷ thứ XIII, Trần Cương Trung sang ta một chuyến, về Tàu kể lại trong sách Sứ Giao Châu tập đại khái rằng dân ta nói nhanh, giọng cao, giống như chim kêu, phong gọi là gió, vân gọi là mây, thủy gọi là nước, nam gọi là can đa (?), nữ gọi là can ái (con gái?) v.v...

Không biết viên sứ nhà Nguyên chú ý làm gì đến những chuyện vô vị như thế. Giữa tiếng ta và tiếng Tàu bộ không có chỗ nào khác nhau ngộ nghĩnh hơn sao?

Sau họ Trần, nhiều người nêu lên chuyện cú pháp chẳng hạn: Bên này nói “xanh trời” (thanh thiên), bên kia nói “trời xanh”, bên này nói “trời con” (thiên tử), bên kia nói “con trời”, bên này nói “nước đáy trăng hình” (thủy để nguyệt ảnh), bên kia nói “hình trăng đáy nước” v.v. Đôi bên đều có thể tự hỏi: “Không biết đầu óc những kẻ kia ra sao mà họ nói năng ngược ngạo vậy?”

Xét cách nói năng, dưới gầm trời còn lắm cái kỳ cục: Thay vì nói “Tôi thấy nó”, người Pháp bảo “Tôi nó thấy” (Je le vois); thay vì “Bà ta đang mua cuốn sách”, người Đức lại nói “Cuốn sách mua người đàn bà bây giờ” (Das Buch kauft die Frau jetzt) v.v.

Vị trí ngược ngạo của các tiếng trong câu chỉ là chuyện nhỏ nhặt trong sự dị biệt giữa các ngôn ngữ. Quái gở còn nhiều.

Chẳng hạn một số dân tộc, như người Pháp, cứ khăng khăng xếp cho kỳ được mọi sự mọi vật trên đời vào hai “giống”, hoặc cái hoặc đực: bàn (la table) thì cái mà ghế (le banc) lại đực! Người Đức, người Nga thấy sự vật có ba giống. Có những dân tộc chia ra đến hơn mười hai giống.

Lại chẳng hạn sự phân biệt bên nhiều bên ít trong tiếng Anh tiếng Pháp: Hễ muốn nói đến một sự một vật gì, trước tiên ông tây bà đầm phải biết sự vật đó thuộc phe nhiều hay phe ít; không biết điều đó, không thể nói nên lời. Bởi vì tiếng nói của họ dính liền với cái ý niệm nhiều ít: một người sẽ nói thì “parlera”, mà nhiều người sắp nói thì “parleront”. Ta bảo “cuốn vở”, người Pháp không có cách nào nói như thế được: “cahier” (không có s) bao gồm cả cuốn vở lẫn số lượng của nó. Cuốn vở Pháp không tự tách lìa ra khỏi số lượng được.

Đối với Pháp, Anh, thì một là ít, hai trở lên là nhiều. Tiếng cổ Do Thái có thời từng phân biệt: ít, cặp, và nhiều (singulier, duel, pluriel). Lại có dân tộc còn thấy phải tách số ba ra làm một hạng riêng biệt nữa (triel).

Thế rồi một sắc tộc ở vùng vịnh Hudson bên Hoa Kỳ nói tiếng eree, cho rằng sự phân biệt xa gần hết sức cốt yếu: kẻ gần nói với người xa thì “kitotèw”, kẻ xa nói với người gần lại là “kitotik”. Không để ý đến xa gần thì không sao diễn được cái ý “nói” nên lời! Cái gì mà lạ vậy?

Đối với người xứ này sự vật phải luôn luôn là đực hay cái, với người xứ nọ luôn luôn có nhiều ít phân minh, với người xứ khác luôn luôn chia ra hai hạng xa gần. Đối với chúng ta, những cái “nhảm nhí” ấy không một mảy may cần thiết.

Trên hoàn cầu có ba nghìn thứ tiếng: trong cái “thế giới ba nghìn” ấy, sự tréo cẳng ngỗng, trái nghịch nhau không biết kể sao cho hết. Vả cũng chẳng có ai biết hết để mà kể.

Vấn đề không phải là ai phải ai trái, ai hợp lý ai vô lý. Mọi ngôn ngữ đều có tính cách ước định; các từ vị được sắp xếp theo những cấu trúc khác nhau: có những cái không thấy cần thiết trong hệ thống sắp xếp này lại là cần thiết trong hệ thống khác.

Nhưng không phải trái, không phải là hết vấn đề. Các đặc điểm trong ngôn ngữ không tranh hơn thua với nhau, nhưng có một số nào đó chắc chắn có thể tiết lộ về ít nhiều xu hướng tinh thần riêng biệt của từng dân tộc. Tại sao ta sắp xếp câu nói theo lối này mà các người bạn nước láng giềng lại sắp xếp theo lối nọ? Tại sao ta chú trọng đến lãnh vực này và có một kho từ ngữ hết sức phong phú, trong khi dân tộc khác lại không quan tâm đến địa hạt ấy và lời lẽ để diễn tả rất nghèo nàn? v.v. Những chuyện ấy hẳn có ý nghĩa.

Hàng triệu triệu người trong muôn vạn năm đã kế tiếp nhau xây dựng một hệ thống ngôn ngữ, hết lớp này đến lớp khác, hết sáng kiến nọ đến tìm tòi kia, đem tất cả kinh nghiệm sinh hoạt của mình, tất cả tình cảm tư tưởng của mình ký thác vào đó: Làm sao mà một ngôn ngữ không phản ảnh nếp sống vật chất và tinh thần của dân tộc cho được. Không phải chỉ phản ảnh vào nội dung các công trình xây dựng bằng lời nói (tức các tác phẩm văn chương) mà phản ảnh ngay cả trong cấu trúc của câu nói, trong thành phần của lời nói, cũng có khi trong cách phát ra giọng nói nữa. Tức ngay trong bản thân của tiếng nói.

Alain cho rằng nhà thơ vì sử dụng ngôn ngữ cho nên được nhiều may mắn hơn nhà điêu khắc. Và không phải chỉ có người làm nghệ thuật được lợi thế, đến như nhà tư tưởng cũng nhờ vào ngôn ngữ của mình nhiều lắm. Aristote mỗi lần gặp chỗ rắc rối liền nhận thấy: “Đọc nghe không ổn.” Phải chăng hễ cứ viết thế nào mà lời lẽ sắp xếp cho thuận hợp với nhau, nghe ổn thỏa, là tự nhiên thành viết đúng? Bởi vì quy luật kết hợp của lời lẽ do cha ông truyền lại vốn bao hàm một ý nghĩa thâm trầm.(2)

Ngôn ngữ giúp thi sĩ viết hay, triết gia viết đúng: Alain có lạc quan quá chăng? Trong tiếng nói cha ông có gửi gắm sự khôn ngoan, dĩ nhiên là vậy. Nhưng ông Alain có nghĩ rằng trong đó cũng có phản ảnh cả những cái không khôn ngoan, và cả những cái trái với sự khôn ngoan? Tại sao không? Dân tộc nào dám chắc mình không có nhược điểm, ngôn ngữ nào không có những chỗ lẩm cẩm? Trong tiếng Anh, pants, trousers, breeches, shorts, slacks v.v. đều thuộc số nhiều cả. Áo số ít, quần thì số nhiều, tại sao vậy? Thật khó mà tin rằng có sự khôn ngoan lớn lao trong những chiếc quần thuộc số nhiều ấy.

Vậy trong tiếng nói có biểu lộ các sở trường mà chắc chắn cũng có cả những sở đoản của dân tộc. Kẻ nào am hiểu tường tận tiếng nói của mình thì biết được nhiều hơn là mình vẫn tưởng.

Cụ tượng, không lấy gì làm lạ 

“Kẻ nào am hiểu tường tận tiếng nói của mình”, kẻ ấy chắc chắn không phải là một người Việt Nam. Ngành ngữ học ở Âu Mỹ phát triển sớm và tiến xa hơn ở ta nhiều, thế mà câu nói về chuyện “am hiểu tường tận” của Alain còn là một lời ước ao. Còn chúng ta, xưa kia tiếng nói nôm na kẻ học thức không chịu dùng vào văn chương, nói gì đến việc nghiên cứu tìm hiểu nó? Chuyện ngữ pháp, văn pháp, văn phạm, mẹo tiếng Nam v.v. chẳng qua là những chuyện mới bắt chước theo... kiểu Tây cả.

Dù mới tìm hiểu không lâu đã có người nhận thấy tiếng nói của chúng ta có những đặc điểm lý thú.

Hơn ba mươi năm trước (3) , cụ Dương Quảng Hàm để ý thấy tiếng Nam giàu về các từ ngữ cụ tượng, nghèo về các từ ngữ trừu tượng, nhất là các từ ngữ thuộc phạm vi triết học và khoa học. Cụ Dương nhận xét: “Điều đó không lấy gì làm lạ, vì xưa kia các cụ chưa hề nghiên cứu đến các vấn đề triết học và các khoa học chuyên môn, nên chưa tìm tiếng, đặt tiếng để diễn đạt các tư tưởng ấy.” (4) 

Cũng vấn đề từ ngữ cụ tượng ấy, về sau nhiều người khác (các ông Hoài Thanh, Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong v.v.) tiếp tục nêu ra những khía cạnh mới.

Một vài trường hợp thường được đưa ra làm thí dụ: Về cái ý mà người Pháp diễn tả bằng một tiếng “porter”, chúng ta dùng bao nhiêu là tiếng khác nhau: ẵm, bồng, đeo, đội, mang, xách, vác, bưng, bê, bế, khuân, chở, nách, cõng, gánh, quảy, khênh, địu...; về cái ý “trốn”, chúng ta phô diễn bằng bao nhiêu là tiếng khác nhau: dọt, tránh, lỉnh, lánh, lẻn, cút, xước, de, lặn, dù, xéo ...; về cái ý “la”, chúng ta có bao nhiêu là tiếng: hét, tru, kêu, thét, quát, gào, réo, rú, rống, ré, rít, reo v.v...

Thấy vậy mà bảo rằng tiếng Việt phong phú, các thứ tiếng khác nghèo nàn thì e không ổn, thì gặp rắc rối ngay. Bởi vì có những trường hợp khác người Việt dùng ít tiếng mà người Anh người Pháp lại diễn ra bằng nhiều tiếng khác nhau. Việt bảo “nói”, Anh, Pháp phân biệt ra: say, speak, lecture, talk, tell, address, chatter, gossip, converse, discourse v.v., hay parler, dire, bavarder, s’adresser v.v.; Việt chỉ gọi là “thịt”, Anh lại phân biệt ra meat với flesh, Pháp gọi tách riêng viande với chair v.v...

Khi người khác có ít tiếng mà Việt có nhiều, khi người khác có nhiều mà Việt lại chỉ có ít tiếng, những cái tưởng chừng mâu thuẫn ấy thực ra chỉ do một nguyên nhân: là Anh Pháp sở trường về cái trừu tượng, còn Việt Nam thì thiên về cái cụ thể. Người Việt Nam nói đội, vác, cõng... là vẽ ra nhiều hình ảnh khác nhau mô tả những điệu bộ, cử chỉ, cách thế khác nhau: hoặc mang một vật trên đầu, hoặc mang vật ấy trên vai, hoặc mang vật ấy trên lưng v.v...; nhưng người Việt Nam không rút ra được từ bao nhiêu động tác khác nhau ấy một khái niệm chung là: nhấc một vật lên. Người Việt phân biệt ra nhiều dạng thức cụ thể khác nhau, còn Anh Pháp thì từ nhiều dạng thức linh tinh họ rút ra một ý niệm chung. Do đó trong những trường hợp này họ dùng ít tiếng mà Việt dùng nhiều. Trái lại, cũng chính vì lý do ấy mà ở trường hợp các tiếng nói, và tiếng thịt, Việt với Anh Pháp lại khác nhau. Giữa talk với speak, với tell v.v., giữa viande với chair, không có sự khác biệt về dạng thể, chỉ có sự khác biệt về ý nghĩa. Ấy, chính sự phân biệt về những ý niệm trừu tượng ấy là chỗ yếu của Việt Nam, chúng ta không để ý đến, chúng ta bỏ qua!

Một bên chú trọng đến dạng thái nên sử dụng nhiều tiếng để chỉ thị những dạng thái cụ thể khác nhau; một bên chú trọng đến ý niệm nên có nhiều tiếng để chỉ thị những ý niệm trừu tượng khác nhau. Và ở những trường hợp vừa dẫn trên đây không hề có vấn đề triết học, khoa học chuyên môn nào cả; tự dưng chúng ta thiên về cái cụ tượng trong khi có những dân tộc khác thiên về cái trừu tượng vậy thôi.

Lẽ nào “điều đó không lấy gì làm lạ”?

“Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.”

Nước sông Hoàng Hà trong câu thơ Tàu tha hồ có thể đáo Nam Hải, đáo Bắc Hải, đáo Đông Hải v.v..., tiếng đáo vẫn thích hợp như thường.

Nếu có một con sông như thế chảy trong câu thơ Việt thì mỗi sự đổi hướng của nó sẽ gây chuyện phiền toái hơn: “Chảy ra bể Bắc, chảy vào bể Nam, chảy xuống bể Đông v.v.”, phải nói vậy mới nghe được.

Ngồi tại Sài Gòn, một người nói tiếng Việt có thể khiến bạn bè bật cười vì những lỗi lầm như: “Tôi vừa ra Chợ Lớn, vào Sài Gòn, xuống Lăng Cha Cả, lên Cần Thơ v.v.” Kẻ xài tiếng Tây tiếng Mỹ không gặp những rắc rối ấy.

Kể ra người Việt cũng có thể nói: đi Sài Gòn, đi Cần Thơ, đi Chợ Lớn v.v., không cần chỉ rõ phương hướng di chuyển, cũng như người Pháp nói “aller à”, người Mỹ nói “go to”... tứ phương vậy. Nhưng thường thường người Việt thông thạo lại không chịu cách nói dễ dãi ấy.

Kẻ nói ra, vào, lên, xuống, mô tả rõ ràng, cụ thể sự di chuyển. Còn dùng tiếng à, tiếng to lại chứng tỏ một khả năng trừu tượng, rút ra một ý niệm chung ngụ trong những tiếng chỉ chiều hướng khác nhau.

Ở đây cũng chẳng có vấn đề triết học, khoa học chuyên môn gì ráo. Chúng ta như từng có trong đầu một hình ảnh quá cụ thể về sự di chuyển trong không gian, vậy thôi.

Lẽ nào “điều ấy lại không lấy gì làm lạ”?

Gọi bằng em

Lại nữa, khi người Pháp nói: “Elle est belle”, chúng ta không biết dịch ra làm sao cho phải. “Cô ấy đẹp” chăng? Không chắc đâu. Elle là cô ấy, cũng có thể là bà ấy, là bà cụ ấy, là dì ấy, thím ấy, chị ấy, nàng ấy, mợ ấy v.v.

Tiếng elle của Pháp thuộc một tự loại mà chúng ta có người gọi là nhân vật đại danh từ, có người gọi là ngôi tự. Trong Pháp ngữ mỗi ngôi chỉ có một vài tiếng để chỉ chung các nhân vật thuộc số ít, và một tiếng chỉ các nhân vật số nhiều. Trong Việt ngữ mỗi ngôi dùng không biết bao nhiêu là tiếng khác nhau.

Đại danh từ là tiếng thay thế cho danh tự, nhưng chúng ta lại không muốn cho danh tự bị thay thế. Một tiếng “vous” thay thế tất cả mọi danh từ ở ngôi thứ hai trong Pháp ngữ. Ở ta thì không hề có một tiếng nào được phép đại diện rộng rãi như vậy; chúng ta vẫn xưng hô phân biệt: anh, ông, chị, bà, quí ngài, các cháu, cô, dượng, v.v.

Ở đây lại có vấn đề tiếng cụ tượng nữa.

Trong những cô, bác, ông, anh, v.v. nọ, mỗi người có hai tư cách: một là cái tư cách của nhân vật có liên hệ thân thuộc, có quan hệ tôn ti với ta; một nữa là cái tư cách của kẻ đối thoại với ta. Trong tư cách sau này, họ bình đẳng với nhau, họ là “vous” như nhau.

Nhưng để gọi “vous”, phải vận dụng óc trừu tượng để rút ra từ bao nhiêu nhân vật khác nhau nọ một tư cách giống nhau. Chúng ta không làm công việc ấy trong khi nói năng.

Đến đây chợt nhớ Hồ Dzếnh. Ông từng có mấy câu buồn bã:
(...) Con người tôi gọi bằng em
Nhớ tôi nhưng đã thành duyên lâu rồi
Mộng tàn nước chảy mây trôi
Tôi lui hồn lại nhưng đời đã xa (...)

Hồ Dzếnh chỉ có một nửa dòng máu Việt Nam trong người nhưng ông đã thấm thía sâu xa cái ngôn ngữ của quê ngoại.

Con người được gọi bằng em, tất nhiên đó không phải là một người em. Và “gọi bằng em” là một cái gì quan trọng, là một giá trị tình cảm không nói sao cho xiết. Thoạt tiên ắt gọi là cô, mãi sau bao vất vả mới gọi nhau được bằng tên (hoặc Loan, hoặc Phượng, hoặc Thúy, hoặc Thoa...), rồi mới được gọi bằng em. Tiến từng cung bực thân yêu, mặn nồng. Từng cung bực rung động khác nhau nơi người nói và kẻ nghe. Không sao?
Lần đầu tiên gọi nhau bằng anh, bằng em, bằng cưng, bằng mình, lần đầu tiên tự xưng bằng anh bằng em, ôi chao! sung sướng đến rùng mình, rợn cả người, đê mê tâm thần, máu bốc lên đỏ cả mặt mày, xúc động mạnh từ thể xác đến tâm hồn chứ phải chơi đâu. Vì thế ở đời thỉnh thoảng vẫn có kẻ chưa được hưởng tình thân với người đẹp nhưng cũng đánh liều gọi tiếng “em” để ăn gian một khoái cảm. Khi gọi em, tự cái tiếng gọi nó đem tức thì đến cho mình một cảm xúc. Tức thì. Cho nên “con người tôi gọi bằng em”: Khỏi cần nói người ấy với tôi quan hệ như thế nào. Biết tôi gọi ra sao, thế là đủ. Tiếng gọi sao mà huyền diệu. Khác với tiếng you biết chừng nào!

Do đó từ Hồ Dzếnh lại nghĩ sang hoàn cảnh hôn nhân dị chủng, đến những cặp vợ chồng gọi nhau bằng you. Vợ thì có đấy nhưng không có “em”, chồng thì có đấy mà mình không xưng “em” được: mỗi một ngày biết bao lần thiệt thòi, mất mát. Mơ tưởng đến cái tiếng “em” không bao giờ được gọi được xưng, ối trời! Thì vẫn là người ấy, nhưng gọi “you” thì còn đâu tình cảm nữa; gọi thế là rốc cạn em đi, là làm rỗng cả em mất rồi. Ngôi thứ hai! cái “ngôi” sao mà vô vị. Ngôi này ngôi nọ, thảy đều là ý niệm, là sự bịa đặt của lý trí. Tư cách người đối thoại, cái tư cách gì mà chung chung, mà nhạt nhẽo thế? So sánh làm sao được với “em”, vốn chỉ thị một đối tượng cụ thể trong một quan hệ nồng nàn.

Người Việt Nam không xưng hô với các ngôi, với những tư cách trừu tượng; chúng ta nói với những con người cụ thể, nói về những con người cụ thể. Bởi vì mỗi tiếng xưng hô chỉ thị một nhân vật cụ thể cho nên mỗi tiếng phát khởi một tình cảm rõ ràng: yêu đương, trìu mến, hận thù, tôn kính, khinh khi v.v... Tiếng xưng hô dính liền với một hình ảnh cụ thể, cho nên trong tiếng xưng hô có một chứa đựng tình cảm tương ứng với hình ảnh ấy.

Xưng người như vậy mà tự xưng mình cũng vậy: hoặc cháu, hoặc tôi, hoặc tao, hoặc mỗ, hoặc ta, hoặc thằng này, hoặc kẻ hèn này v.v.: mình tự trình diện dưới những tư thế, dạng vẻ khác nhau, khi ôn nhu khép nép lúc dõng dạc oai vệ... “Này, cho mày biết: trêu vào bà, bà cho tan xác đấy nhá!” Cái ngôi thứ nhất trong tiếng “bà” vụt lớn lên, dữ tợn không ngờ. Giả sử vẫn người ấy vừa mới thỏ thẻ em em anh anh với chồng thì ta thấy ngay cái hiệu quả của ma lực ngôn ngữ cụ thể thật là kỳ diệu: “Còn em đâu nữa mà bà đấy thôi”. Từ một hình ảnh ngoan hiền thoắt cái biến sang một hình ảnh đanh ác. Đại danh tự như “je”, như “I”..., những cái trừu tượng ấy không dựng lên hình ảnh nào hết.

Khi dân tộc ta bắt đầu tiếp xúc với dân tộc Trung Hoa thì trình độ văn hóa ta thấp hơn văn hóa họ, xã hội ta tổ chức kém xã hội họ. Người Tàu đã đưa vào ta một số kỹ thuật mới, tất nhiên cũng đưa sang ta cả những từ ngữ mới liên quan với kỹ thuật ấy. Cũng như thế, ta học được của người Tàu nhiều điều về tổ chức chính trị từ cơ sở lên đến trung ương, và đồng thời ta mượn luôn của họ những từ ngữ thuộc sinh hoạt chính trị: xã, thôn, hương, lý, triều đình, quan, dân v.v. Ta học của họ nhiều kiến thức và đồng thời cũng nhiều từ ngữ về triết học, tôn giáo, y thuật: âm, dương, liêm, sỉ, thiện, ác, tạng, phủ, hư, thực v.v.

Tuyệt đại đa số những tiếng chỉ về tư tưởng, học thuật, về sinh hoạt chính trị, kinh tế v.v. là những tiếng mượn của người Tàu, và cũng là những tiếng trừu tượng. Như thế không lạ.

Nhưng cái lạ là có những chuyện không liên quan gì đến học thuật, tư tưởng, chính trị v.v., những chuyện mà trước khi gặp người Tàu đầu tiên dân tộc ta vẫn làm, vẫn nói đến, thế mà ở những chuyện ấy các dân tộc khác có những lối nói chứng tỏ một óc trừu tượng, trong khi lối nói của chúng ta biểu lộ một khuynh hướng thích cái cụ thể.

Trong trường hợp các tiếng ẵm, bồng, khuân, vác, trốn, lỉnh, hò, hét, la, kêu v.v., cũng như trong trường hợp ra, vào, lên, xuống..., cũng lại như trong trường hợp xưng hô về ngôi nọ ngôi kia, chúng ta thấy có một thiên năng về cái cụ tượng hiển hiện trong Việt ngữ ngay từ trước khi có sự can thiệp của ảnh hưởng Hoa ngữ. Chúng ta đâu có chờ đợi đến lúc gặp mặt người Tàu mới quyết định lối xưng hô trong khi trò chuyện?

Tiếng nói của cảm quan

Nhiếp ảnh gia Mỹ đưa máy ảnh lên và nhắc: “Cheese!” để khách hàng cười cho tươi. Người khách hàng Việt Nam không cần phát âm cái tiếng có ý nghĩa xa lạ với niềm hân hoan như thế. Chúng ta chỉ cần mở miệng nói: “Cười”, thế là nụ cười đã nở ngay trên môi.

Chúng ta không thể nói “ngậm” mà hở miệng, nói “nhăn răng” mà khép mồm giấu răng giấu lợi được. Chúng ta không nói để gọi tên một động tác, mà nói để biểu diễn luôn cả cái động tác ấy cho người khác thấy hiển hiện trước mắt. Khi nói “khạc” thì ta khạc, nói “nhổ” thì mồm ta nhổ, nói “hút” thì ta hút vào, nói “phun” thì ta phun ra, nói “nuốt”, nói “ọe”, nói “hả” v.v. đều thế cả. Lắm khi thật ngộ nghĩnh: Nói cười “ha hả” thì miệng ta mở toang mà bảo cười “mỉm” thì miệng ta lại ngậm hàm tiếu! Nói rằng cửa “mở” thì miệng cũng mở theo, mà bảo cửa “khép” tức thì môi người cũng khép lại. Trông theo miệng người Anh người Pháp lúc phát âm ra các tiếng rire, sourire, open, close, ouvrir, fermer v.v., đâu có thế? Cách nói của Việt Nam trong nhiều trường hợp không phải chỉ là phát ra một ký hiệu âm thanh. Mà là biểu diễn cả một dạng thể.

Người Việt Nam khi phát âm thì miệng mồm biểu diễn sự việc mà cái âm của tiếng nói tự nó cũng mô tả sự vật nữa.

Chúng ta thường khen trong Truyện Kiều có nhiều câu thơ mà âm thanh có giá trị mô tả cao. Chẳng hạn: “Vó câu khập khễnh, bánh xe gập ghềnh”. Hai tiếng “khập khễnh” và “gập ghềnh” tự nó diễn tả tình trạng con đường rõ ràng hơn bất cứ cách định nghĩa nào tìm thấy trong tự điển.

Tất nhiên một câu thơ như thế chứng tỏ thiên tài rực rỡ của Nguyễn Du, nhưng phải nhận rằng cái tài ấy đã nương cậy rất nhiều vào thiên năng đặc biệt của dân tộc, tôi muốn nói đến đặc điểm của Việt ngữ. Thật vậy, trong cuộc sống hàng ngày, những kẻ không có năng khiếu nào về thi ca cũng sử dụng những tiếng có giá trị mô tả rất tinh. Chẳng hạn:
“Thằng nhỏ trông lí la lí lắc, khó thương quá.

Ông ấy đi đứng sao mà ưỡn à ưỡn ẹo, không nghiêm chỉnh tí nào.

Lạ thật, bà nọ đẫy đà mà sanh ra con cái đứa nào cũng loắt choắt v.v.”

Không cần ai giải nghĩa những chữ lí la lí lắc, ưỡn à ưỡn ẹo, loắt choắt; cứ nghe tiếng nói phát ra là chúng ta đã hình dung được những dạng thái ngụ trong ấy rồi.

Ông Đàm Quang Hậu (5) đã chú ý đến khả năng gợi tả của các âm trong Việt ngữ. Tóe, xòe, loe, toe, toét, loét, khoe...: âm oe đọc lên gợi ra hình ảnh một cái gì mở rộng. Eo, teo, quắt queo, cheo leo, lèo khèo v.v.: âm eo diễn tả cái gì thắt lại. Khi đọc âm ong thì môi phải cong miệng phải phồng; cho nên các tiếng quả bóng, cái lọng, cái nong, chiếc vòng v.v. đều ngụ ý cong và phồng. Khi đọc âm oi thì phải hắt hơi ra; cho nên các tiếng thòi (ra), lòi (ra), cái ngòi, cái vòi, nhoi (lên) v.v. đều ngụ ý ngoi ra. Các tiếng quát, quạt, quất, quật, quăng, quẳng v.v. đều hàm ý cứng cỏi, không phải là không liên quan với phụ âm nổ qu. Các tiếng mềm mại, mịn, mượt, mướt, mơn mởn, mỡ v.v. đều hàm ý mềm, không phải là không liên hệ với phụ âm lỏng m.

Cũng về trường hợp các âm, hai ông Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (6) nghĩ rằng Tàu có 214 bộ trong phép viết, hoặc giả ta cũng có một số vần gốc làm căn bản cho phép nói chăng? mỗi vần biểu thị một khái niệm gì đó. Chẳng hạn vần ắt trong các tiếng cắt, chặt, gặt, ngắt, vặt, xắt v.v.

Ở đây có chỗ cần lưu ý: là mối liên hệ giữa các chữ cùng một bộ trong Hoa ngữ căn cứ trên một sự phân loại theo lý trí, còn mối liên hệ giữa các tiếng cùng âm của Việt ngữ lại căn cứ trên cảm nhận của giác quan. Các chữ ngôn , luận, ngữ, nghị cùng có bộ ngôn; đó là kết quả một suy luận về các ý nghĩa trừu tượng của chúng. Trong khi ấy tròn, lon, hòn v.v. mà đồng âm với nhau là kết quả của sự gần nhau về dạng thái những gì cụ thể do cảm quan ghi nhận.

Ông Phan Văn Hùm lại chú ý đến các thanh: “Vì giọng hỏi là một giọng gãy, nhưng mà còn dịu, nên chi những tiếng nào nó đã ghi là có nghĩa nhẹ, hoặc ngắn, hoặc nhỏ, hoặc dễ v.v. Còn giọng ngã, vì gãy mà chìm, nói phải ráng đưa hơi từ trong ngực ra, nên chi những tiếng nào nó đã ghi là có nghĩa nặng, hoặc dài, hoặc lớn, hoặc khó, hoặc bền v.v.” (7). Do lẽ ấy, ông Phan bảo hai chữ mỏng mảnh không thể có dấu ngã được; còn những chữ nặng trĩu, dài nhẵng, phải đánh dấu ngã.

Cũng về các thanh, hai ông Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê cảm thấy giọng ngang có ý ngang ngang chưa quyết định; giọng sắc có ý mạnh mẽ, gắng sức; giọng nặng có ý nặng nhọc, chìm hẳn xuống.

Còn ông Maurice Durand, thì nghiên cứu tỉ mỉ, công phu về khả năng gợi tả của tiếng Việt, cả các âm cũng như các thanh (8).

Để nói về loại tiếng nọ, ông M. Durand dùng một tự ngữ mà chúng ta có kẻ dịch là cảm từ, có người dịch là tiếng biểu cảm.

Cái thực lạ: ở khắp nơi, tiếng nói chẳng qua là những dấu hiệu ước định để biểu ý; ở ta nó lại có giá trị biểu cảm.

Đành rằng trong ngôn ngữ các dân tộc khác có loại nghĩ thanh từ (onomatopée) bắt chước thiên nhiên, nhưng số tiếng ấy chẳng có là bao, và “bắt chước” là chuyện quá thô sơ so với lối gợi tả của tiếng biểu cảm trong Việt ngữ. Gần chúng ta như người Tàu người Ấn, xa chúng ta như bên Âu bên Phi, cho đến nay chưa nghe nói có dân tộc nào dùng nhiều tiếng biểu cảm như ta.

Thiên hạ nói là phát ra những tín hiệu bằng âm thanh; còn chúng ta nói là gợi lại tiếng động, là vẽ ra hình tượng, là truyền cho nhau những cảm giác sống động. Chúng ta nói, kẻ tiếp nhận không phải chỉ hiểu ý nghĩa, mà còn cảm được nội dung của điều phát biểu, mường tượng ra hình ảnh những sự vật được đề cập. Nói bằngViệt ngữ tức là mô tả một cách cụ thể bằng âm thanh.

Có lần học giả Granet nhặt trong tiếng Trung Hoa được ba trang lớn tiếng đôi (như quan quan, yêu yêu, hoàng hoàng, âm âm v.v.) ông lấy làm thích thú về những điệp ngữ ấy lắm. Ông cho rằng những cặp chữ đôi ấy gợi lên cái gì cụ thể như những bức họa bằng lời (comme de véritables peintures vocales).

Granet có lý: Khi ta nói chậm, chậm có thể mang một nghĩa ước định. Nhưng khi ta nói chầm chậm, thì âm thanh của tiếng nói mô tả động tác, khả năng tác động của từ ngữ ấy vượt ra ngoài ý nghĩa ước định. Tiếng điệp ngữ quả là có giá trị minh họa. Và những bức họa tài tình như thế chồng chất đầy nghẹt cả kho ngôn ngữ Việt Nam. Nếu sưu tầm, chúng ta không phải chỉ có ba trang giấy mà là trùng trùng điệp điệp, bởi vì gần như mọi tĩnh từ trong Việt ngữ đều có thể biến thành tiếng đôi: Trong Truyện Kiều có mấy câu mà chúng ta ai nấy đều biết:

“Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối gành bắc ngang
Sè sè nấm đất bên đàng
Rầu rầu ngọn có nửa vàng nửa xanh”.

Cụ Nguyễn Du làm thơ, nghe mà ham! Dám chắc thi sĩ mọi quốc gia trên thế giới đều ao ước được sử dụng một thứ tiếng có nhiều điệp ngữ biểu cảm như tiếng Việt.

Làm thơ mà biểu cảm được là hay; nói lời nói thường mà cũng biểu cảm được thì thật là tuyệt vời. Có ai mở miệng nói mà không muốn truyền thẳng cảm xúc của mình cho người nghe; nhưng mấy ai muốn mà được? Từ cái cảm xúc trong lòng, cái hình ảnh trong trí, cho đến những ký hiệu dùng để diễn tả, sự cách biệt quá xa. Nói bằng ký hiệu làm nghèo hẳn cảm xúc, nghèo hẳn cái nội dung được nói đến.

Dường như A. Daudet có viết đâu đó về tình cảnh bất lực thảm thương của người văn sĩ: điều hắn ôm ấp trong lòng thật linh động, phong phú, nhưng tác phẩm hắn viết ra chẳng diễn tả được bao nhiêu; giống như con sứa ngoài khơi Địa Trung Hải đẹp đẽ chừng ấy mà giạt vào bờ nó teo tóp lại, vớt lên chỉ còn tí xíu trên tay!

Nói bằng tiếng “biểu cảm” là cách nói lạ lùng nhất, là chộp con sứa ngay giữa bể khơi, là “truyền thần” được những hình ảnh, cảm xúc: lí la lí lắc, loắt choắt, ưỡn ẹo, nao nao, sè sè v.v., đó không phải là thực tại, là sự sống được trực tiếp “truyền thần” lại bằng âm thanh sao?

Nói bằng tiếng biểu cảm cũng lại là cách nói thật tài tình. Là làm nghệ thuật.

Tiếng biểu cảm khác với tiếng ước định cũng như bức vẽ khác với chữ viết. Ghép ba mẫu tự c, â, y — ba dấu hiệu ước định — để làm thành một chữ vô hồn, thật xa với việc vẽ ra bức tranh cây để gửi vào đó sự rung động của mình.

Thành thử viết chữ và dùng tiếng ước định, ai cũng làm được; còn vẽ tranh và đặt ra tiếng biểu cảm là chuyện khó khăn hơn nhiều, chỉ có những hạng nghệ sĩ mới làm nổi. Theo Đoàn Phú Tứ, phải nghệ sĩ như trẻ con, như quần chúng quê mùa dốt nát. Và, dĩ nhiên, như Đoàn Phú Tứ nữa: bài ‘Màu thời gian’ là một biểu diễn xuất sắc về cái khả năng gợi tả của Việt ngữ.

Cũng như ở mọi ngành nghệ thuật khác, người nghệ sĩ nói tiếng nói biểu cảm phải có những cảm giác tươi tắn. Đời sống cảm quan phong phú, cái trực giác làm bật ra những âm thanh thích hợp tương ứng với những cảm giác nọ không phải sở trường của hạng trí thức vùi đầu vào sách vở (9). Tiếng nói đặc biệt của chúng ta không phải là công trình của lý trí mà là của cảm quan. Nó là kết quả của một đời sống thiên về những cảm quan tươi tắn, mạnh mẽ, dồi dào; nó nói thẳng với cảm quan.

Thế giới của cảm quan là cái thế giới hữu hình, khả xúc, khả giác, cụ tượng. Là cái thế giới của tiếng nói kỳ diệu của chúng ta.

(Còn tiếp)

1. Tiểu luận này được viết dần, đăng trên các tạp chí Thời Tập và Văn ở Sài Gòn trong các năm 1973–75. Biến cố tháng 4-75 làm gián đoạn, tác giả ra đi không mang được tài liệu theo để tiếp tục công việc. Mười ba năm sau — tháng 7-1988 — các ý kiến cũ được trình bày trong một hội nghị ở Adelaide (Úc châu); và đoạn kết của bài nói chuyện hôm ấy được dùng để tạm kết thúc loạt bài này. Toàn thiên tiểu luận đã được in vào cuốn Tiểu luận, do nhà Văn Nghệ xuất bản tại Hoa Kỳ cuối năm 1988. 
2. “Bien écrire n’est-ce pas développer selon l’affinité des mots, qui enferme science profonde?” (Alain, Préliminaire à l’esthétique).
3. Bài này được viết vào năm 1973. 
4. Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu in lần thứ 10, năm 1968, trang 407. 
5. Danh từ chuyên khoa trong Việt ngữ , Huế, 1958. 
6. Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Đại học Huế, 1963.
7. Dẫn theo Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, sđd, trang 115. 
8. ‘Les mots impressifs en Vietnamien’, trong Bulletin de la société des études indochinoises, bộ mới, tập XXXVI, số 1, 1961. 
9. Đoàn Phú Tứ, bài ‘Âm thanh’ trong tạp chí Thanh Nghị, số 14, ra ngày 1-6-1942. 











































































Tìm hiểu thế giới nhân vật của Võ Phiến

Nguyễn Mộng Giác

Nguồn: Văn Học số 19 

Nhân dịp tái bản tập TRUYỆN NGẮN I của Võ Phiến





"Ngót hai mươi năm trời rồi, gần như hồi nào anh cũng phải cầm vũ khí trong tay: anh né viên đạn của bên này, tránh viên đạn của bên kia, đỡ ngọn roi của bên nọ... và anh cũng lại đánh trả nữa. Và nét mặt anh thì lúc nào tuồng như cũng rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc.



Vậy mà những hoạt động của anh đã làm ra tình hình của xứ sở. Ở Hoa Thịnh Đốn, ở Mạc Tư Khoa, ở Bắc Kinh, Tân Đề Ly, Vọng Các, Ba Lê... ở khắp các nơi trên thế giới người ta theo dõi anh, bàn tán về anh. Người ta đem anh ra so sánh với người dân Ðức ở Bá Linh, người dân Lào ở Vạn Tượng... người ta dòm ngó, dò xét cử chỉ của anh, cân nhắc, đánh giá sự can đảm của anh, tài nghệ của anh. Xung quanh hành động anh chắc chắn có những cuộc mặc cả, những trù hoạch bố trí, những mưu mô âm thầm giữa nước này nước nọ. Và cũng có cả những lời hô hào, cổ võ, những tuyên bố lớn tiếng về nhiều vấn đề quan trọng, lý tưởng cao đẹp."
(Thư Nhà)



Đấy, cuộc đời của Bốn Thôi. nhân vật tiêu biểu nhất của Võ Phiến. Người nông dân cục mịch có nét mặt buồn hiu lạnh lẽo. thiếu hẳn sự vồ vập mãnh liệt. nhưng trong lòng, chất chứa không biết bao nhiêu khát vọng tội nghiệp. Người nông dân ấy không có cái bề ngoài coi được. Anh xấu trai, nghèo nàn, chậm chạp, vụng về. Thú vui độc nhất cho cả một kiếp đời dài là trưa trưa, tìm một chỗ dừng chân thật tịch mịch, nghếch mũi lên không mơ màng mằn mò nhổ từng sợi lông mũi. Bao nhièu người đàn bà ghé tạm, cùng anh đi chung một đoạn đường. Họ đã bỏ đi vội. Anh không oán, không trách. Anh đều đặn, cần mẫn thăm nom lo lắng cho gia đình nhà vợ cũ, trong khi vẫn âm thầm quờ quạng tìm lấy một chút tình thân mới. Anh đi tìm hoài, lòng xao động khắc khoải, hồn lo âu hối hả mà nét mặt vẫn "rầu rầu, nguội lạnh như người ngoại cuộc". Thế mới kỳ! Trừ chị Lộc chịu khó ở lại với anh, chịu khó lấy dầu rái âu yếm quét vào các vết nứt tê thấp trên bàn chân anh (vết nứt chai lại lành hẳn nhưng cái chết của chị để lại một vết nứt còn sâu còn thảm trên cuộc đời anh hơn nhiều) còn những người vợ khác tò mò mà đến, rồi lặng lẽ bí mật bỏ đi. Nếu không có chị đàn bà góa ham ăn thịt ếch lỡ mồm lỡ miệng, không ai biết anh mang chứng bất lực về sinh lý. Bấy giờ người ta mới hiểu anh, thương hại cho anh, mới hiểu thái độ nôn nả chạy đôn chạy đáo đi tìm những hình bóng đàn bà quanh quất, với nét mặt ơ hờ. Tâm lý học gọi anh là một kẻ ẩn ức. Anh bất thường. Cuộc đời đáng lẽ chảy xuôi theo một dòng, từ ngọn suối cao đổ xuống sông dài xuôi êm ra bể, đột nhiên bị chặn lại. Nước uất - Mặt nước lặng nhưng dưới đáy sâu cuồn cuộn biết bao sóng xoáy, vung phá, xói lở. Chính nguồn sóng nội tại ấy hướng dẫn cuộc đời Bốn Thôi, giúp anh kiên nhẫn liên tục chạy theo cái bóng hạnh phúc phất phơ đâu đó, khéo léo né viên đạn bên này, tránh ngọn roi bên kia. Sóng ngầm sai khiến anh, xúi giục anh. Vẫn với nét mặt rầu rầu, anh vâng theo. Người đọc theo dõi cuộc đời Bốn Thôi lấy làm ngạc nhiên. Nhưng quanh anh còn có cả một thế giới. Một tiểu thế giới "đặc biệt" chẳng khác nào tiểu thế giới của Don Camillo.



Bốn Thôi có nhiều bạn, người nào cũng có nét mặt "rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc" nhưng bên trong, sâu tận hố thẳm của tiềm thức mù mịt, luôn luôn có nguồn sóng bạo tàn thúc giục, réo gọi.



Đó là tiếng sóng dậy ở nơi xa, rất xa, ám ảnh nhân vật chính trong truyện Lỡ làng:



"Hồi còn nhỏ, nằm ngủ với mẹ, nhiều đêm thức giấc giữa khuya, y nghe tiếng vịt cựa trong chuồng, kêu lít chít nho nhỏ. Và nghe tiếng ì ầm, y ngạc nhiên hết sức. Làm sao nghe được tiếng sóng? Nhà y ở chân núi, cách bể ít ra cũng mười lăm cây số, làm sao y nghe được tiếng sóng vỗ giữa đêm khuya yên tịch không có tý gió? Không biết. Y rụt rè e ngại sẽ lay mẹ dậy hỏi: Cái gì đó mẹ? Mẹ y bảo: Ðộng trời rồi. Sóng dậy đó con ạ."



Ðó là tiếng thét "Ải ải, quan hầu nhập yết nhập yết" của người ông trong Về một xóm quê, tự dưng mà nổi lên, bùng vỡ cơn giận cùng nỗi sợ hãi không gian trống trải vắng vẻ cứ bám riết lấy đời sống ông già, không chịu cho ông bay bổng như ý. Và cũng giống như Bốn Thôi, người ông thét lên "ải ải" với một gương mặt rầu rầu bình thản:



"Giọng thét dồn dập đầy nộ khí vang lên trong một ngôi nhà vắng lặng, bỗng dưng phát lên rồi bỗng dưng dứt hẳn, làm cho chung quanh tưng hửng sững sờ. Chúng tôi lại càng thấy cảnh nhà vắng vẻ và trống trải thêm. Có khi một lát sau nghe tiếng guốc lẹp kẹp của ông tôi bước xuống. Tôi rụt rè ngửng đầu lên thì thấy nét mặt ông tôi lại bình thản, đôi khi có một vẻ lạnh tanh ngao ngán, chẳng còn đâu là dấu vết của cái nộ khí bừng lên trong giọng hát vừa rồi."
(Về một xóm quê).



Âm thanh cuồng nộ huyền bí ấy đã từng khiến Bốn Thôi không ngớt khổ công trì chí chạy theo đám vợ con để tìm hơi ấm gia đình, rồi cũng chính âm thanh ấy đẩy Trần Kỳ Vỹ chạy theo cái rạo rực xác thịt tưởng tượng (Người Tù), xúi ông Bốn Tản bỏ nhà ân nhân chạy theo lũ cháu bơ vơ (Lẽ Sống). Giữa khung cảnh lạnh lẽo xơ xác, nghèo khó trơ trọi, những người bạn cũ! Bốn Thôi mang bộ mặt lạnh lùng rầu rầu. Ngưởi ta tưởng họ hiền lành, chất phác. Hoặc như một từ ngữ địa phương nơi quê hương Bốn Thôi, người ta tưởng họ "thàng". Không - Đừng lầm. Họ đều dữ. Họ đều bạo. Nguy hiểm hơn nữa, họ dữ, bạo một cách bất ngờ, vào những lúc không đề phòng, với nét mặt thản nhiên. Họ bạo tàn theo một lối không giống ai. Như Bốn Thôi đã làm.



"Cứ mỗi lần nào có da khô ở gan bàn chân, anh lại lựa những lúc ngồi gần vợ để tước xé mảnh da ra. Anh gây đau đớn cho mình, kinh hãi cho người vợ. Và anh thưởng thức một thứ sung sướng tinh quái. Những tiếng kêu bối rối "Á! Ghê quá. Ái. Dễ sợ chưa" phá vỡ sự cô đơn. Và kiếp nhân sinh lại có một thứ ý vị kỳ quặc nữa."
(Thu Nhà).



Người mẹ vợ ông Ba Thê phá vỡ cô đơn và mối thù hận bằng cách truyền thụ tất cả phong thái cư xử con nhà dòng dõi cho đứa con gái nhỏ là vợ ông Ba Thê (Giã Từ). Toàn dồn tất cả phẫn nộ bất mãn lên trên mấy tấm danh thiếp bắt đầu bằng hai chữ "cher ami" của cha.
(Giã Từ).



Dù là cậu bé hay ông già luống tuổi, dù là người đàn bà tàn tật hay cô gái mười sáu dậy thì, họ có một lối tàn bạo riêng. Tàn bạo lặng lẽ. Như một hình thức khổ dâm. Người ta bảo Bốn Thôi bị bất lực sinh lý. Bảo Trần Kỳ Vỹ, Bốn Tản, Ba Thê, Bái Công, Ba Càng Cua, Sáu Ty v.v... là những nhân vật kỳ quặt, bất thường. Đời họ không xuôi dòng. Cuộc sống của họ như sóng ngầm. Lặng lẽ, bất trắc, quá khích, hiu hắt đến ngao ngán.


Chẳng những đời sống nội tâm của họ mất quân bình, mà cả đến gương mặt của họ, cử chỉ hành động của họ cũng mất cả cân đối. Không có nhân vật nào của Võ Phiến có một gương mặt bình thường, “coi được". Hoặc đôi mắt lộ quá. Hoặc cái đầu hói quá. Hoặc gò má cao quá. Hoặc bộ răng hô quá. Thân hình ốm yếu quá. Nước da tái quá. Nếu họ đủ ăn mập mạp, thì cách ăn mặc lại dơ dáy cẩu thả quá. Nếu ăn mặc đàng hoàng thì lối nói, lối cười, lối chắp, lối nuốt thô tục quá. Nếu không thô tục thì lại tủn mủn chi li quá, mất cả vẻ hào hoa phóng khoáng. Cả đến cô Hạnh hiền thục, nàng tiên chờn vờn mê hoặc trong truyện Tâm Hồn, tuy khuôn mặt bầu bĩnh, mắt sáng đa tình, mỗi khi làm duyên thường cắn môi dưới, e lệ cúi đầu, vẫn cứ có "màu da tai tái và cái trán hơi dồ".

Trời hỡi! Vì sao đám bạn bè của Bốn Thôi phải bị đày đọa truân chuyên như vậy? Qua mười lăm năm lưu lạc, Vương Thúy Kiều vẫn còn quá đẹp và dù đời sống có trôi nổi bập bềnh, vẫn có một góc nhỏ trong tâm hồn mà nàng còn nguyên vẹn là nàng, góc nhỏ của niềm hy vọng. Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng. Của tin còn một chút này làm ghi. Trong góc nhỏ quý giá ấy.. Thúy Kiều ăn nói mạnh dạn, đi đứng đàng hoàng, ăn nói tự tin. Bạn bè của Bốn Thôi không được như vậy. Họ hẩm hiu hơn nhiều, quá nhiều.

Họ ít nói. Hoặc cuộc sống của họ phẳng lặng, vô vị quá, không có gì vĩ đại, quan trọng để nói ra. Cả trong tình yêu, "chàng và "nàng" chỉ nói cộc lốc, nói gióng một.

"- Nóng nực quá.
Một lát sau, tôi hỏi tiếp:
- Tới lâu chưa ?
Cô ta vẫn cúi đầu, gác cằm lên đầu gối :
- Vừa tới.
- Ði một mình ?
Cô ta mỉm cười không trả lời. Tôi lại hỏi :
- Trọ ở gần đây, phải không ?
- Tại sao biết ?
- Không lẽ đi xa mà không có nón ?
- Giỏi !"

(Ðêm Trăng - Phù Thế)

Hoặc họ bị tước đoạt quyền lên tiếng. Họ bị nghẹn, âm thanh dồn nơi cuống lưỡi. Do đó mà đám bạn bè của Bốn Thôi chỉ ậm ừ khó hiểu. Họ nhìn nhau, trong lặng lẽ, người nọ thấy người kia chẳng khác nào những hình bóng múa may, cử động kỳ dị vô nghĩa như trên một cuốn-phim-nói bị hỏng âm thanh. Chính bằng cái nhìn lo ngại, đầy sự sợ hãi ấy mà Toàn đã quan sát các “cher ami" của cha trong Giã Từ. Toàn thấy người “bạn hữu thân ái "nào của ông Ba Thê cũng có điệu bộ lố lăng, ti tiện. Ði lóm thóm, cười nham nhở. Huơ tay múa chân vô nghĩa. Giống y các hình nộm cử động do tài điều khiển của một tay làm trò xiếc hạng tồi.

Thành thử nhân vật Võ Phiến lặng lẽ âm thầm, đi đứng ngại ngùng. Không được nói, họ chỉ còn biết "nhìn". Không đủ lòng tự tin tối thiểu của Thúy Kiều, đám bạn của Bốn Thôi đành phải "nhìn lấm lét". Không có chút gì thái quá nếu chúng ta bảo nhân vật của Võ Phiến, những người bè bạn của Bốn Thôi đã dồn tất cả sinh lực vào thị giác. Họ lặng lẽ, vụng về. Họ rụt rè, do dự. Nhưng mắt họ luôn mở lớn. Gan lì thì họ nhìn lom lom như kẻ trước mình là thức ăn hợp khẩu hay một hiện tượng lạ mắt. Rụt rè thì họ nhìn lấm lét trong nỗi lo sợ bị bắt gặp. Nếu muốn tìm một điểm “nhất dĩ quán chi "cho toàn thể văn nghiệp Võ Phiến, thì điểm nhất quán ấy là cái nhìn xoi mói của nhân vật.

Võ Phiến đã từng đổi thay khung cảnh và điều kiện sinh hoạt của nhân vật. Trước tập Giã Từ, chúng ta gặp những người nông dân nghèo khổ bệnh hoạn ở một miền trơ trọi xơ xác của Trung Việt, miền đất bị bỏ quên của Thượng đế, gần bên sườn núi cằn cỗi và cách xa bờ biển động. Sau tập Giã Từ, nhân vật của Võ Phiến là những chàng công chức cạo giấy các nha sở thủ đô, bi chìm trong cuộc sống huyên náo vô tình.

Thái độ, quan niệm trước cuộc đời của ông cũng đổi thay. Trước, ông dùng giọng châm biếm mai mỉa. Sau, ông băn khoăn trầm tư. Sự thay đổi quan niệm nhân sinh đưa đến đổi thay của bút pháp: từ truyện kể, Võ Phiến chuyển sang đoản văn (Ảo Ảnh, Phù thế). Duy chỉ có cái nhìn của nhân vật là bất biến.

Từ ban đầu, ông đã thất vọng về cái tầm thường của hình hài con người. Chỉ trừ có đôi mắt:

"Thực tình vừa nghĩ tới cặp mắt hôm nọ, tôi thấy còn một cảm tình đặc biệt với cặp sinh vật bé bỏng, rụt rè và tha thiết ấy - nhưng hôm nay tiếp xúc với con người tầm thường của hắn thì hết cả."
(Dung - Bách Khoa số 11).

Ðôi mắt tách ra khỏi thân thể của nhân vật, trở thành một "cặp sinh vật bé bỏng, rụt rè và tha thiết "- Cái nhìn trở thành độc lập, sống đời sống riêng. Vì thế bạn bè của Bốn Thôi đối đãi với nhau, giao tiếp với nhau không bằng lời nói, mà bằng những cái nhìn, khi len lén, khi dớn dác, thiếu hẳn lòng tự tin. - Ngay trong tình vợ chồng, nhân vật vẫn nhìn nhau với tất cả e ngại, rụt rè:

"- Sắp xong rồi.

Nhà tôi mỉm cười không nói. Như thế tự nhiên lại xác nhận cảm tưởng của tôi là hiển nhiên. Tôi lắng nghe lại cái dư vang của ba tiếng tôi vừa thốt ra, và lấy làm ngạc nhiên. Thoạt tiên, nó có cái giọng reo vui, thế mà sau khi tôi để ý đến sự yên lặng xác nhận của nhà tôi thì ba tiếng "sắp xong rồi" lại như có giọng phân vân nghi vấn. Có gì đâu. Công việc giật vải bạch bạch sắp xong rồi, tôi sắp được đi dạo dưới trăng, chuyện giản dị rõ ràng như thế, có gì mà tôi phải nêu lên chờ một sự xác nhận mới vững lòng.

Tôi mỉm cười về sự e ngại ngộ nghĩnh của mình. Lần này, đến lược nhà tôi lén nhìn tôi ngờ vực. "
(Lẽ Sống).

Ðôi mắt người chồng đưa về phía vợ vờ vịt thản nhiên nhưng thật ra là rình rập nghi nan, và đôi mắt của người vợ nhìn chồng cũng hồ nghi lén lút. Liên hệ giữa người với người thành ra khó khăn. Ngay cả cách tự mình nhìn mình, chàng công chức tên Thảo tự nhìn chân dung của mình qua cuộc phiêu lưu tình ái vặt, một chiều mưa đạp xe đạp từ Huế về Dương Nỗ, cũng có nhiều điểm khác thường, khó khăn quá! Mặt mày nhăn nhíu đến khổ sở. Và quả nhiên, cuộc sống méo mó, biến dạng:

"Mà không những chỉ nhìn thấy târn trạng mình. Thảo như còn đang trông thấy bao quát được cả cuộc đời mình, từ những chi tiết vô nghĩa như những món thuốc ngừa cảm mà anh sẽ đòi uống đêm nay, sự săn sóc chộn rộn của Liên xung quanh anh đêm nay, cho đến cảnh sống bao nhiêu năm đã trôi qua, và bao nhiêu năm sắp đến. Anh trông thấy tất cả như thế, vẫn thản nhiên và hơi khinh bỉ như là chứng kiến cuộc đời của ai đâu xa lạ, và trong trí anh cũng nghĩ rằng đáng lẽ đó không phải là cuộc đời anh."
(Tâm Hồn).

Kẻ nhìn đi ngơ ngác hoảng hốt. Kẻ nhìn lại nghi ngờ theo dõi. Bạn bè quê mùa của Bốn Thôi không ngớt làm cho cuộc đời mình trở thành bất trắc gian lao bằng cái nhìn của nhau. Rồi bẵng đi gần mười năm, những biến đổi của thời thế chồng chất. Thế sự điên đảo. Lớp này tản cư về thành. Lớp kia kẻ chết kẻ lên núi. Thế lực này vừa ngã xuống, thì cũng vươn lên một thế lực khác. Một buổi chiều đẹp trời nhìn mây ngũ sắc biến đổi trên nền trời phía sau làng xóm quê cha, nhân vật chính của truyện Về một xóm quê liên tưởng đến kiếp phù vân. Mười năm sau. những người bạn thị thành của Bốn Thôi ăn mặc khác, ở nhà cửa khác, bận tâm với những vấn đề khác. Nhưng họ cứ ngay ngáy bất an trước cái nhìn của nhau:

- Có gi đâu! Chỉ nhìn thôi, kẻ khác đã khiến ta bất an. Xã hội mỗi ngày mỗi đông đảo, sự gặp gỡ tiếp xúc đụng chạm với đồng loại mỗi ngày mỗi nhiều, mỗi chặt chẽ. Ai nấy luôn luôn bất an."
(Lúc dùng chân. Phù Thế)

Cô gái xa lạ suýt bị hai người lính cỡi xe gắn máy tông ở một ngã tư. Cô ta rùng mình. nhưng chỉ dám liếc mắt nhìn xiêng xuống chiếc bánh xe hung hăng để trách móc. Vì sao vậy? Cô sợ cái nhìn của kẻ khác. Một nữ sinh định leo lên một chiếc xe lam đã chật, thất vọng trụt xuống đứng bên đường, đưa tay che miệng khẽ ho. Cô bé đâu có ho thật. Giả vờ đấy! Cô bé cố làm một cái gì, bất cứ cái gì, để che giấu cảm giác khó chịu, vì cô bé biết khách trên xe lam đang chú ý nhìn mình. Như vậy thì tia nhìn của chốn thị thành này đan thành chiếc lưới lớn, chụp lên cuộc đời ta, bó chặt thân thể ta. Cô gái ở ngã tư đèn xanh đèn đỏ, cô bé hụt chuyến xe lam, hai người bạn nhỏ thị thành của Bốn Thôi, họ cũng cùng chung một nỗi khổ tâm với người bạn lớn quê mùa chất phát. Cuối cùng, vào một đêm trăng, nhân vật của Võ Phiến khám phá được lối thoát: hãy xa hẳn mọi liên hệ ràng buộc của người, và trở về với cái cô độc lạnh lẽo mà an toàn của vô tri:

"Ủa? Khu phố của chàng đây sao? Nó đấy ư? Quanh năm chàng quen thấy nó hừng hực, nhễ nhại, nó say mê thiết tha, nó chán chường phờ phạc. Đêm nay, nó vụt lột cởi hết mọi tình người: Gỗ đá còn trơ gỗ đá thôi, xi măng, hắc ín, ngói, vôi... hiện nguyên hình. Và chàng cảm thấy an lành thoải mái bên cạnh vật vô tri. "
(Lúc dừng chân - Phù Thế)

Cuộc đời các nhân vật Võ Phiến sao mà lạnh lẽo, tội nghiệp. Họ không được quyền đẹp đẽ. Không được quyền ăn nói vung vít. Nhất là không được quyền tự tín. Tìm những từ ngữ cho họ, ta chỉ thấy: mon men, ngại ngùng, lấm lét, dớn dác, rầu rĩ, thấp thỏm. Và lạc loài, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào.

Bốn Thôi và tất cả bạn bè của anh luôn luôn "rầu rầu nguội lạnh như một người ngoại cuộc lạnh lẽo dửng dưng, rụt rè lỏm thỏm như những người khách trọ. Họ trải qua hơn mười lăm năm lưu lạc, và cũng đã nếm bao nhiêu nỗi nhục nhằn đoạn trường chẳng thua gì Vương Thúy Kiều. Họ không tìm được vườn Thúy rồi từ đó về sau chỉ biết:

Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với ai.

Hãy trở lại con đường lưu lạc của họ từ đầu. Tiếng sấm động ì ầm ở một nơi xa thật xa trong kỷ niệm nhân vật chính của truyện Lỡ làng báo hiệu các biến động dồn dập của tiếng sấm huyền bí ấy. Lớn lên, cặu bị ném vào cơn lốc của cách mạng. Bạn bè của Bốn Thôi cũng vậy, ngỡ ngàng chưa quen với vận hội mới. Cách mạng có nhiều điều mới lạ quá.

“Cô Bốn tôi chạy về mách với bà tôi nửa kiêu hãnh nửa ngượng ngùng rằng cô đã hóa thành bà quân sự rồi. Chao ôi! Thực là mầu nhiệm. Nếu không có cách mạng đố ai biết được dượng Bốn tôi có tài thao lược để đảm nhiệm chức ủy viên ngoại giao. Cứ thế mỗi làng đều có đủ ủy viên văn hóa, ủy viên xã hội...".
(Về một xóm quê)

Suốt chín năm dồn dập biến cố, tình tiết rói rắm, thế sự thăng trầm đến nỗi ai nấy đều bi quay cuồng điên đảo. Họ không hiểu mình đang làm gì, gào thét đập phá trong lúc bên tai không ngớt oang oang các từ ngữ lớn. Nhưng vào những lúc tĩnh lặng, một mình nhìn lại chính mình, họ giật mình. Giữa bộ máy lý trí đồ sộ, họ thấy cái phức tạp huyền nhiệm của tình cảm. Giữa những mơ ước phi thường, họ mon men tìm lại nét đẹp bình dị. Những xúc động vụn vặt, những mơ mộng yếu mềm ấy đủ làm cho người chiến sĩ Cộng Sản tên Lung lạc loài.

"Y nhớ mùi thơm cay cay nồng nồng trên ngực áo Cúc. Cúc mà y đã ôm trong tay, đã xô y ra, nhưng nhất định sẽ là của y nếu y không bị bắt sau lần gặp gỡ thứ ba. Y băn khoăn tự hỏi: y đã đến chở Cúc với cái tâm trạng của kẻ đến chờ phương tiện để thỏa mãn một nhu cầu, còn Cúc đến với y với ý nghĩ gì? Thân thể của Cúc có lúc mềm yếu đi vì rung động hay vì phục tùng nhiệm vụ? Dù sao thì ở Cúc cũng có cái gì phức tạp hơn những ý nghĩ hăm hở và đơn giản của Lung lúc ấy, ý nghĩ cộc lốc như một nhu cầu... Trên mười đầu ngón tay của Lung như còn cái cảm giác trơn trơn êm dịu của lúc áp trên lần áo lụa. Y nghĩ đến sự đau khổ của Ngọc, đến sự lầm lộn tình cờ, đến con kiến len lỏi trên cánh tay Cúc, giữa những sợi lông vàng óng ánh... Sao đến lúc này y mới thấy tha thiết đến cuộc sống tầm thường, đến những tình cờ, những chi tiết nhỏ nhặt của cuộc đời đến thế "
(Mưa đêm cuối năm)

Nhân vật của Võ Phiến, trong suốt thời kháng chiến, chứng nghiệm được ý nghĩa của những cái vụn vặt, tầm thường, tình cờ, bình dị. Chứng nghiệm được ý nghĩa của cuộc sống, và quyền được sống với những cái vụn vặt, tình cờ, bình thường. Họ thức giấc, nên trở thành kẻ nguy hiểm cho chế độ. Nhiều người bị sỉ nhục, bi bêu giễu, bị tù tội. Nhiều người bị khai trừ - Họ thành kẻ lạ, kẻ ở trọ.

Kịp đến khi hiệp định Genève được ký kết, họ thở phào mừng rỡ, vội vã lén lút trốn vào vùng quốc gia kiểm soát. Họ tự nhận là "những người thiện chí", từ anh chàng Thông mặc bộ đồ bà ba mầu xám tro, ông già Đỗ Mạnh Kỳ mặc quần đen vải tám và cái áo xa tanh đen rất cũ đã thủng ở cùi chỏ, cho đến ông già Hoàng Gia Lộc vận quần sọt ka ki vàng và sơ mi vải ta nhuộm đà, Phùng Văn Nước mặc pyjama cũ do người bạn làm bồi tặng lại (xem truyện Lỡ Làng). Họ tưởng đi gặp được “anh em". tìm được hoàn cảnh lý tưởng để "làm việc với nhau." Ăn nhờ, ở đậu, họ vẫn hăng hái bàn soạn kế hoạch, kiểm soát sơ đồ tổ chức, từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc. Nhưng một lần nữa, những "người thiện chí" mau chóng thấy mình là kẻ "lỡ làng" . Một người trong đám bạn bè của Bốn Thôi đã tự thú:

"Còn tôi, tôi không thể kể lại những rối ren trong tám chín năm của tôi cho ông tư nghe được. Thái độ hưởng lạc vô tư thản nhiên của ông ta, thái độ hờ hững đó như một cách lăng mạ nặng nề tàn nhẫn. Lúc đó tôi mới thấy rằng trong cái xã hội xao động dữ dội này vẫn còn có những chỗ lặng yên một cách ghê sợ phũ phàng, tôi thấy rằng mình đã bị đày đi xa cảnh thái bình an lạc và lạc mất đường về "
(Thác đổ sau nhà)

Và một lần nữa, đám nhân vật tội nghiệp của Võ Phiến trở thành người khách trọ - Họ tiếp tục mon men, lấm lét, dáo dác, rầu rĩ. Tiếp tục thấp thỏm. Tiếp tục lạc loài. Cái nhìn kẻ khác tiếp tục tra khảo họ, úp chụp lên đời họ. Thất vọng làm mờ đôi mắt họ. Họ chỉ biết nhìn hau háu để tìm đề tài chế diễu, hài hước. Họ nhắm mắt để trầm tư, hoặc chỉ dám lặng lẽ đối diện với cung trăng. "thao thức tay đôi trong vắng vẻ, đối diện im lìm không nồng nàn "(Phù Thế) cứ thế tiếp tục, tiếp tục, một ngày qua, một ngày khác... đến lúc: “Nước mưa thấm vào đất, âm thầm len lỏi qua nhiều lớp đất, như một cái phin vĩ đại, cuối cùng đến mặt áo quan. Nó dừng lại một chút, lưỡng lự, ngập ngừng, thăm dò. Nhưng áo quan đã mục: nó được phép. Bèn có những giọt nhỏ xuống: một giọt bên phải, một giọt bên trái, một giọt. Thôi. Đúng rồi! Ðúng vừa nơi trước kia vốn là trái tim của chàng. Chàng tê buốt cả người, rồi tinh thần tỉnh táo như vừa mới tiếp nhận sinh khí. Đã lâu. mòn mỏi đợi chờ, mới lại được tiếp xúc với một chút lọt từ trên kia xuống, một chút trần gian."
(Giọt cà phê. Ảo ảnh)

Nhưng đã quá muộn rồi! Chút trần gian mòn mỏi chờ đợi ấy, không thể ở kiếp này cho Bốn Thôi và đám bạn bè của anh, "Tiểu thế giới" của Bốn Thôi, sao mà buồn quá đỗi!


Nguyễn Mộng Giác




















Võ Phiến
Điệu nhạc thầm và Truyện thật ngắn


Đặng Tiến


Tác phẩm mới nhất của Võ Phiến Truyện thật ngắn 1 có tựa đề thoạt tiên, có vẻ là một lối chơi chữ, một thoáng nghịch ngợm mà ta thường thấy ở nhiều tác giả tên tuổi, đặc biệt ở Võ Phiến. Đã có nhiều sách mang tên “truyện ngắn” hay “Truyện Ngắn”, nhưng dường như chưa có chuyện nào là Truyện thật ngắn. Gọi như thế cho nôm na, lại khỏi trùng lặp, như ở nông thôn ngày xưa người ta đặt tên con kỳ quặc để tránh phạm tên các bậc tiền bối hay trưởng thượng. Chưa kể, chính Võ Phiến cũng đã cho in hai tập Truyện ngắn trong toàn tập tác phẩm2.

Thứ đến, Truyện thật ngắn quả có ngắn thật. Mấy truyện đầu chỉ độ dăm sáu trang khổ nhỏ in chữ lớn; về sau, truyện dài ra, có khi tới mươi lăm trang, đến độ tác giả phát hoảng, vội vội vàng vàng “kính mong lượng thứ” – lại là một cách nghịch ngợm khác. Truyện thật ngắn được in sau 19 tác phẩm viết trong nước và 5 tác phẩm viết ở nước ngoài từ 1975. Từ Lại thư gửi bạn (1979) đến nay, bên cạnh cuốn Văn học miền Nam (1987) là sách khảo luận, thì Võ Phiến không xuất bản sáng tác mới, mà Truyện thật ngắn lại được viết rất nhanh trong hai tháng, từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1991. Dù viết nhanh,Truyện thật ngắn nhất định phải được tích luỹ từ lâu nên rất hàm súc, sắc bén và thi vị, tổng hợp được mọi hương sắc trong nghệ thuật Võ Phiến.

Mười hai truyện thật ngắn kể lại một vài kỷ niệm tầm thường, những cảnh những người bắt gặp ở quê nhà, nối dài ra nước ngoài. Mỗi truyện, trong lối viết thâm trầm của Võ Phiến, đều có giá trị nghệ thuật và nhân đạo cao, và tự tại. Mỗi truyện là một hứng thú của người viết, một lạc thú cho người đọc, nhưng mười hai truyện kết hợp lại thành một chuỗi cườm nhất quán, được cấu trúc chặt chẽ và hài hoà, gián tiếp nói lên kinh nghiệm sáng tạo của nhà văn, dưới nhiều khía cạnh: tương quan giữa tác giả và tác phẩm, với nhân vật, với đạo lý, dư luận, và ngoại cảnh. Kinh nghiệm thì bao giờ cũng riêng tư, nhưng trong Truyện thật ngắn – dù được gói ghém kín đáo và từ tốn – đã vươn lên mức điển hình. Có lẽ nhờ lối ẩn dụ mà sự điển hình có tầm khái quát sâu hơn, rộng hơn, vì mông lung hơn những hồi ký sáng tác có tính cách lý thuyết, từ Nhất Linh đến Nguyên Hồng, Tô Hoài... 

Võ Phiến là một nhà văn cần kiệm, một đức tính hiếm hoi ngày nay. Làm nghề văn chương, đã cần thì khó kiệm. Viết nhiều ắt phải lắm lời, thậm chí nhiều điều; Võ Phiến rộng rãi trong lời nói – có người cho là dài dòng – hào phóng trong ý tưởng, mà lại kiệm ước chi li trong tâm sự, trong kinh nghiệm sáng tác.

Với độc giả, Võ Phiến vừa gần mà lại vừa xa. Vì gần, ông được nhiều người yêu mến; vì xa, ông được cảm nhận không đúng mà cũng không sai. Chính điều này đưa tới nỗi cô đơn của người cầm bút và những nét buồn bã thoáng gặp trong Truyện thật ngắn.

Bài này chủ tâm nhấn mạnh vào một nét khu biệt trong Truyện thật ngắn, là tâm sự nhà văn trong sáng tác.

Trong truyện đầu tiên Cô áo đen, người kể truyện – tạm gọi là tác giả – gợi lại cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, trong phòng đợi một bệnh viện, với một cô gái xa lạ. Ngay từ phút đầu tiên, anh đã cảm nhận tia mắt của tình yêu song phương “ Bước vào phòng, đầu tiên mắt phóng đúng vào khuôn mặt cô ta. Cô ta nghe có người vào quay nhìn, tia mắt hướng đúng vào mặt chàng. Không ai có dấu hiệu bối rối. Nàng “tự nhiên ” nhìn qua chậu cây... chàng “tự nhiên” chọn một chỗ ngồi...

(...) Tóm lại chàng thấy cô ta hoàn toàn hợp với mình. Và điều quan trọng hơn là chàng cảm thấy mình cũng hợp với cô ta. Càng lúc chàng càng biết chắc chắn... Cái tiếng cười lích khích... Cái ánh mắt... cái vỗ tay nghịch ngợm lên đùi con bạn, v.v... chàng biết chắc chắn đều là... của chàng cả. Cô nàng kéo tay con bạn... chàng biết chắc chắn cũng là vì chàng nữa... Ngây ngất không tả được.

Chàng không lầm về mình: chàng đã mê tít. Còn cô nàng thì chàng thấy rõ như ban ngày: cũng mê tít. Riêng gì chàng thấy ? Mấy người trong phòng đều biết cả (...) Hai người mê nhau, chiếc ghế dưới mông, cái lá trên cành cây kiểng cũng biết nữa là...

(...) Hơn năm tháng rồi, lâu lâu chàng lại thấy hiển hiện cô gái mặc chiếc áo đen có in hai chữ Boy London (...) Và chàng cảm thấy cực mạnh cái tình yêu đang thành hình mà không kịp thành hình...

Hơn năm tháng rồi, cứ lâu lâu, cô gái Boy London lại hiện về làm xao động chàng không ngờ...

Hơn năm tháng, tình cảm còn nguyên đó, tươi rói” (tr. 12 đến 15).

Tình yêu ở đây dĩ nhiên chỉ xảy ra trong tưởng tượng, nhưng nó thật trong ý thức quả quyết của nhà văn. Tôi cố tình gạch dưới niềm tin chủ quan chắc nịch đó: nội dung một tác phẩm là những tình cảm, tư tưởng chủ quan của tác giả; nó có giá trị đến đâu là ở chỗ tác giả rung cảm thành thật đến đâu, và có khả năng ngôn ngữ đến đâu để biểu hiện. Chuyện thơ văn, hội hoạ đại khái đều như thế.

Một tác phẩm nghệ thuật, trước tiên, là tiếng thầm của tác giả. Anh là độc giả, anh chỉ là người nghe ké, nghe lén. Võ Phiến tế nhị và lễ độ, không bao giờ nói thế. Ông nói khác: văn chương giống như những đình đám tốn kém để khoe khoang “ Thì cũng như một cách thuê lỗ tai người ta vậy mà, thấy không?”(tr. 112). Dù phải bỏ tiền ra mua sách, mua báo, anh vẫn chỉ là người nghe ké, và cần biết giới hạn thẩm quyền – về luận lý và luân lý – ở mức đó. Dù sau này anh có gán cho văn nghệ một thiên chức cao cả nào đi nữa, thì anh vẫn nhón gót trên nấc thang của người ngoại cuộc. Khi kể lại Một buổi sáng giữa đồng, và “cái hôn phần nào hoang dại...những cái hôn tiền sử” đã bám sâu vào ký ức, người kể thắc mắc:

“Lẽ nào sau bao nhiêu dâu bể động trời, nào cách mạng, nào kháng chiến, sau hàng triệu mạng người, hàng triệu tấn bom, lại có thể sục sạo vạch tìm dấu vết một khoảnh khắc cỏn con của một buổi mai giữa cánh đồng vô danh...

Ngoài ra còn có lý do khác không nên kể: là câu chuyện một khoảnh khắc nọ trong nhận thức của tôi có giá trị ra sao?” (tr. 106)

Nghệ thuật làm bằng những “lý do không nên kể”. Ngược lại, những lý do nên kể thì lịch sử đã kể rồi, kể đi kể lại, bắt người ta nghe, bắt người ta học, đôi khi vừa kể vừa xỉa xói, tra tấn hành hạ và hành quyết. Còn văn chương “là một buổi mai giữa cánh đồng vô danh” – hoặc một buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao. Đại khái.

“Mỗi tuổi già là một lời tự thú”. Malraux đã trầm tư như thế trong La condition humaine. “ Ngày xưa tôi có lần kể cuộc phiêu lưu của một người không nhận ra giọng nói của mình vừa được ghi âm, vì anh ta nghe lần đầu qua lỗ tai chứ không phải qua cổ họng: và, vì chỉ cổ họng mới chuyển đến chúng ta giọng nói từ nội giới, tôi gọi cuốn sách ấy là Thân phận làm người”. Malraux giải thích như vậy về sau này, trong Les voix du silence – Tiếng nói của im lặng. Niềm hoang mang siêu hình của nhân vật Malraux hay nỗi hân hoan đón đợi tình yêu trong Truyện thật ngắn đều là cách tiếp cận cuộc sống chủ quan trong mỗi ý thức cá nhân, qua giọng nói trong cổ họng. Nhân vật của Nhất Linh cũng có lần lắng nghe tiếng mình nói, khi mở đầu Đôi bạn:

“ – Trời muốn trở rét...

Nói xong và nghe tiếng mình nói, Trúc nhớ lại rằng câu ấy chàng đã thốt ra nhiều lần, năm nào cũng vậy. Sự rung động êm ái và hiu hắt buồn trước cơn gió lạnh đầu tiên khiến vẻ mặt Trúc trở nên dịu dàng, và thoáng trong một giây chàng sống lại hết cả những ngày mới trở rét trong đời.

Ở ngoài, như ý mong ước của Trúc, trời bỗng nắng to...

Tuy đã cuối tháng chín, nhưng đối với Trúc cứ lúc nào trời đổi gió heo may mới thực là lúc bắt đầu mùa thu ”.

Tác phẩm văn nghệ bắt nguồn từ một tiếng thầm. Mùa thu trong Đôi bạn là tâm cảnh của Trúc, của Nhất Linh, một tiếp xúc chủ quan với cuộc sống. Chính Nhất Linh đã tâm sự trong lời tựa: “ Để qua cái phút trống rỗng không tránh được lúc bắt đầu viết, theo thói quen tôi viết liều một câu, bất cứ câu gì vụt hiện ra trong trí:

– Trời muốn trở rét..

Rồi tôi ngồi yên lặng tự bắt buộc phải nhớ lại, gần như sống hẳn lại, cái thời kỳ...” .

“ – Trời muốn trở rét...”, cái câu viết liều ấy chính là tiếng thầm trong cổ họng Nhất Linh. Trong Cô áo đen, Võ Phiến đẩy sự chủ quan xa hơn, để tạo ra biểu tượng. Để bắt gặp tiếng nói âm trầm trong cổ họng, ta cần lắng nghe điệu nhạc thầm trong câu văn, trong cấu trúc ngữ âm của nó, trong đoạn trích ở trên: “ Hơn năm tháng rồi, lâu lâu chàng lại thấy... Hơn năm tháng rồi, cứ lâu lâu... Hơn năm tháng..”

Và đây là những tiết điệu khơi dòng cho khúc nhạc thầm Cô áo đen:

“Hôm đó, giữa trưa, chàng đang ngồi thẩn thơ nhìn ra vườn thì chợt thấy trên cỏ có những con bọ trắng nhảy lưng tưng. Ban đầu ít thưa thớt. Thoắt cái, bọ ở đâu vụt ào tới, nhảy tưng bừng. Lát sau mới biết là mưa đá...” Chúng ta cần đọc cao giọng, đọc đi đọc lại cho nhập tâm câu văn chuyển hoá, biến nhịp điệu thành khúc nhạc thầm của nội tâm, nhiên hậu mới nghe thấy cơn đắm say tư lự của tác giả trong một thực tại sống thành ảo giác. Vì vậy đến cuối truyện, ngôn ngữ chỉ còn vọng lại những âm hao, mơ hồ, xa vắng, như một lời kinh "ái bất dị không, không bất dị ái... Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế”. Khúc nhạc thầm ngân lên, loang ra, loãng đi, lắng xuống, sâu dần, tắt ngấm. Im lặng bỗng trở thành hình sắc, nở ra, tràn đầy. Nghệ thuật là phút ái ân lơ lửng giữa đầy vơi, mộng thực. Ái tức thị không không tức thị ái.

Cô áo đen không tuổi, không tên, dĩ nhiên là không quá khứ, không tương lai. Gặp nhau tại chốn vô danh, gọi tắt là phòng A. Đặc biệt là vô chủng tộc: “Cô nàng không phải dân da trắng”. Chỉ có “da cô trắng như sáp, như ngà”, “vóc người hơi cao lớn hơn vóc trung bình của gái Việt Nam, nhưng hoàn toàn hợp với chàng”. Nàng chỉ xuất hiện trong giây phút mà tạo ra “cái tình tức tưởi (...) như trái tim vua Lê Chiêu Thống không chịu tan rã, cứ đỏ hoài dưới mộ. Kỳ cục” (tr.12-13). Tác phẩm văn nghệ bao giờ cũng dựa vào một bối cảnh, nhưng cốt lõi của văn nghệ là phi địa lý, phi lịch sử, phi xã hội, là khối u uẩn trầm tích trong người sáng tác.

Truyện thứ hai tả một người bạn cũ, quen biết sơ giao tại Sài Gòn, 1986 gặp lại tại Mỹ. Cuộc sống già nua, lạc lõng, thừa thãi đưa con người đến chỗ hời hợt phù phiếm. Liệu văn chương có Làm một cái gì nổi chăng? Truyện mang nặng tâm tình tác giả hơn là kinh nghiệm. Truyện thứ ba, Bố khỉ, là mối tương quan giữa nhà văn và nhân vật mình hư cấu nên, nhưng dần dà trở thành một ám ảnh hiện ra bằng xương bằng thịt. Trong một chừng mực nào đó, nhân vật tiểu thuyết thực hơn người thực chung quanh chúng ta. Truyện Em đây liên hệ người viết với đề tài: “khi thì một tứ thơ, khi thì một cốt truyện, khi thì một ý kiến, một mẩu tư tưởng, một đề tài khảo luận... Chúng ở đâu nảy ra bất ngờ... Một khi đã xuất hiện, chúng nó cứ đeo lấy ông. “Em đây. Em đây”. Chúng nó bám riết lấy ông, léo nhéo quấy quả hăm mấy năm trời rồi”. Nhà văn Trà Sơn nhận thức được rằng những lao động cần mẫn gian nan, những tâm huyết của văn học rồi cũng phù du : “Để làm gì vậy? Vài ba chục năm sau còn có ai xem sách nữa không? Có còn cái gọi là văn chương nữa không?”(tr. 34). Nghe qua thì thấy bi quan, mà có lẽ sự thật còn phũ phàng hơn. Nói gì đến “vài ba chục năm sau”, ngay từ bây giờ, còn mấy người đọc văn chương? họ đọc cái gì, đọc ra sao, đọc để làm gì? Cứ nhìn vào những “bạn đọc”, “văn hữu”, bằng hữu chung quanh, ngay từ bây giờ là đã ngán ngẫm. Viết là cắn răng mà viết, vậy thôi, đừng chờ đợi gì ở độc giả. Ông viết, mà người ta tha cho ông là may, là mừng khúm, là “ông viết hoài, viết hoài. Mái tóc ông.. . Biết đến bao giờ” (tr. 34). Viết hoài, là viết mãi; là viết để hoài cố, viết để hoài công. Truyện Đêm đêm mô tả đời sống hàng ngày của nhà văn, tương quan với thực tế, bạn bè, nhà cửa vợ con, “hai đứa ngổn ngang hai kiểu khác nhau”(tr. 42); trong nhà có cái vô trật tự khơi cảm hứng sáng tạo, có cái trật tự làm con người lãnh cảm, tê liệt, “lạc hướng”. Trong Tôi nhiều đứa, mỗi nhà văn có khả năng đa hoá nhân cách mình, dự phóng thành nhiều kiểu sống khác nhau, có khi mâu thuẫn và đối nghịch. Nguyễn Du là Thuý Kiều, Từ Hải, mà cũng là Tú Bà, Sở Khanh, mà vẫn là không phải. Mỗi tác giả là những mảnh vụn của nhân loại; và chắp vá những mảnh vụn ấy làm thành tác phẩm. Truyện thứ bảy, Thằng bé nói về ảnh hưởng của tuổi thơ trong tác phẩm. Chúng ta đều biết thế giới Võ Phiến rất ít trẻ con, vì trong bản thân Võ Phiến đã có một cậu bé không kịp lớn. Những đoạn văn hay của Võ Phiến từ trước tới nay, thường là những hoài niệm:

“Ờ, tiếng cu gáy... hồi nhỏ... ngày còn ở với ngoại... Tiếng cu gáy bao giờ cũng nhắc nhở, cũng gợi lại thời xưa, kỷ niệm cũ. Dù nó ở gần – ngay ở chỗ cuốí vườn đây thôi – nó vẫn u hoài, vẫn hướng về cái xa, về dĩ vãng. Con chim cu, nó nên là con chim vô hình. Nó nên có tiếng mà không có hình. Nó không nên ở đâu mà ở mọi nơi, không ở thời nào mà ở mọi thời, vô định” (tr. 60). Chiến tranh, lịch sử và đời sống tân tiến đã bứt chúng ta ra khỏi tuổi thơ; ngay ở quê nhà đã vậy. Huống hồ là khi lênh đênh trôi giạt ở nước ngoài. Tuổi thơ là một chủ đề thường xuyên trong tác phẩm Võ Phiến, và bây giờ, ông đau đớn ghi nhận:

“Thành thật mà nói, từ lâu moa không nghĩ tới, không nhớ gì về tuổi thơ. Nhất là thơ mộng. Sau bao nhiêu biến đổi trong đời, moa (và cả toa, tất cả chúng ta) xa cách tuổi thơ hơn một kiếp luân hồi. Giữa chúng ta bây giờ với thời thơ ấu cơ hồ không có chút liên hệ gì (giữa kiếp này và kiếp trước còn có liên hệ nhân quả). Những hoa với mộng, nghe quái đản, không hiểu nổi nữa” (tr. 61). Con người lưu lạc ngay trên quê hương, trong nếp sống, nếp suy nghĩ; và ở hải ngoại, thảm kịch càng thê thiết hơn, nhất là ở nhà văn mà quá khứ là một phương tiện, chất liệu sáng tác. Ba truyện tiếp theo, Thực chất, Con chim,Bạn đời diễn tả thế giới riêng tư, thầm kín của nhà văn, từ những khát vọng nhỏ nhen đến những phân tích tinh tế: tác phẩm, trong chừng mực nào đó là phần nhân cách mà tác giả che giấu, né tránh, hay không muốn phô bày, hay, tự mình không ý thức, nhưng không nhất thiết phải từ khước, dồn nén. Do đó, nói đến ẩn ức theo lối phân tâm học thì thô thiển. Ba truyện này nhẹ nhàng, rộng thoáng và tư tưởng tác giả không đậm nét. Võ Phiến dường như muốn dưỡng tâm người đọc và tránh cảm giác luận đề cho nên ở những điểm tâm lý mà ông sở trường phân tích, ông cũng chỉ chấm phá phơn phớt, dành chủ tâm cho hai truyện cuối.

Buổi sáng giữa đồng hoài niệm một cuộc tình hồi đầu kháng chiến chống Pháp, ở thôn quê, rạt rào xúc cảm và thi vị, rồi bị cản trở. Tác giả muốn nói lên phần riêng tư của nhà văn sâu lắng trong tác phẩm, Câu chuyện một khoảnh khắc, đã nói ở trên. Truyện cuối, Ông Năm Chéo, mang luận đề rõ rệt: giá trị đạo lý xã hội của tác phẩm. Ông Năm Chéo tên thật là Chiểu đọc trại – Nguyễn Đình Chiểu, là ông già mù mà người kể chuyện thường gặp tại một quán nước Chợ Lớn. Vì tuổi tác và mù loà, ông sống trung thành với đạo đức cổ: trai thời trung hiếu, gái thời tiết hạnh, và cho rằng “đời xưa hơn đời bây giờ”. Như ông Năm Chuột của Phan Khôi, ông Năm Chéo ném vào tâm địa con người những phê phán sắc cạnh làm xốn xang người nghe. Từ đó tác giả suy nghĩ về những giá trị đạo lý xoay chiều theo cuộc sống. “Đáng tiếc, hồi đó tôi hậm hực với ông làm chi. Bây giờ tôi đang sống lạc thời thế, lạc hoàn cảnh, sống hoàn toàn lạc lỏng.

Nghĩ cho cùng, ngay cả trước kia, trước xa, thật xa, tôi đã là kẻ thua thiệt so với ông Năm Chéo. Có đáng gì mà nghinh với ông! Ông Năm, kể từ ông Năm về trước, sống ở đời không phải mất công chọn lựa: cứ trung hiếu tiết nghĩa tiến thẳng một đường. Về sau, khi đời này không bằng đời xưa nữa thì sự sống bắt đầu vất vả: mỗi một bước đường một chọn lựa, một bối rối (...) Về sau mỗi người có trăm cách chọn sai so với cơ hội chọn đúng” (tr. 122-123).Từ đó Võ Phiến đã ngậm ngùi cho rằng “ văn nghệ nó cũng lớ quớ như chiếc roi của người mù. Không biết nên hướng về đâu, không biết kết thúc thế nào. Nhiều cái do dự, khốn khó ra mặt” (câu chót).

Trong Truyện thật ngắn lối mỉa mai như vậy dù cay đắng vẫn dịu dàng, không mấy khi cay độc, như là tác giả đã xa rời trần luỵ đang tự tình từ một thế giới khác. Tác phẩm dù rất ngắn cũng có tầm quan trọng đặc biệt: một mặt nó trẻ trung mới lạ – khả năng làm mới tài năng mình ở các tác giả Việt Nam không nhiều lắm đâu, nhất là ở địa vị và hoàn cảnh Võ Phiến. Mặt khác nó vẫn tổng hợp được những giá trị hằng hữu của tác giả về mặt tư tưởng lẫn nghệ thuật. Cuối cùng qua Truyện thật ngắn, Võ Phiến đã có những đóng góp quý giá vào những suy nghĩ về văn học của Việt Nam, vốn nghèo nàn, nông cạn và đơn điệu.

Người đọc có thể không cần chú ý đến những ý tưởng về thẩm mỹ này, đọc chỉ để mua vui, vẫn có thể thích thú khi đọc Truyện thật ngắn vì lối hành văn linh động, khi thân mật, khi kiểu cách, lúc nào cũng tinh vi, như khi tả những tiếng guốc trong ký ức:

“Guốc có tiếng guốc do dự, có tiếng guốc sấn sướt hăm hở, có tiếng guốc nghịch ngợm láu táu nhanh nhẩu, có tiếng guốc ngần ngại dò la, có cả những tiếng guốc của yêu đương: tiếng guốc đầy tình cảm dịu dàng... Tôi lắng tai bắt từ không gian những tín hiểu âm thanh tràn đầy xúc động”.

Chúng ta cầu mong thật nhiều người, trong và ngoài nước bắt được những tín hiệu của Võ Phiến qua Truyện thật ngắn.


ĐẶNG TIẾN
20.10.1991 
ngày sinh nhật bạn hiền




1 Truyện thật ngắn, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 10881 Oak Street, STANTON CA 90680, Hoa Kỳ 1991, 123 trang ; 6 US$, có bán tại một số hiệu sách Paris.
2 Nhà xuất bản Văn Nghệ, California, nt. 































Võ Phiến: 
Nhà Tạp Luận


Nguyễn Hưng Quốc





Võ Phiến



Nếu tôi không lầm, “tạp luận” là chữ của Võ Phiến. Trước, người ta gọi là “tạp trở”, sau, khi tác phẩm của Lỗ Tấn được đọc và dịch nhiều, người ta gọi là “tạp văn”. Chữ “tạp văn” sau này rất phổ biến ở miền Bắc trong khi ở miền Nam chữ “tạp ghi” xuất hiện và có lúc khá thịnh hành. Tôi liều gắn chữ “nhà” trước chữ “tạp luận” để chỉ một khía cạnh khác trong con người và sự nghiệp của Võ Phiến, một khía cạnh độc đáo và quan trọng song, không hiểu vì sao, dường như ít được chú ý và không được đánh giá đúng mức, mặc dù người ta vẫn đọc, hơn nữa, vẫn thích đọc tạp luận của ông.[1]



Gọi là tạp luận nhưng các bài “luận” của Võ Phiến không hề “tạp” chút nào cả. Chúng khác hẳn các bài hài đàm, nhàn đàm của Tản Đà, hoặc các bài tạp văn của Ngô Tất Tố trước đây, chẳng hạn. Chúng cũng không giống tạp văn của Lỗ Tấn. Trong tạp luận của Võ Phiến, tính chất “luận” rất rõ, nổi bật hẳn lên, một thứ lý luận chặt chẽ, vững vàng, không nhằm kích động mà chỉ nhằm thuyết phục. Chúng không phải là một thứ “vũ khí chiến đấu” nhanh, nhẹ, gọn mà chỉ là những nỗ lực tìm kiếm sự thật. Thực chất những cái Võ Phiến gọi là tạp luận là tiểu luận. Nhưng tại sao ông lại không gọi là tiểu luận? Tôi ngờ, ở đây, Võ Phiến có chút thiên vị. Thứ nhất, ông thiên vị cái dài: trong khi “Tiểu thuyết hiện đại và Chúng ta”, qua cách viết được gọi là tiểu luận thì các bài viết khác, ngắn hơn, ông gộp chung lại thành tạp luận. Thứ hai, ông thiên vị những gì trực tiếp liên quan đến văn học: những bài viết về thể thơ, câu thơ, về chiều dài, chiều rộng của tiểu thuyết... được gọi là tạp bút trong khi những bài viết về cộng sản và quốc gia, về tuổi trẻ và cách mạng, về người Mỹ và người Việt tị nạn... thì ông gọi là tạp luận; “Yêu và đọc” được gọi là tạp bút trong khi chỉ yêu thôi, “Cách yêu mỗi thời” và “Lối yêu hôm nay” thì lại được gọi là tạp luận. Chữ “tạp luận”, bởi vậy, với Võ Phiến, là những bài tiểu luận với hai đặc điểm nổi bật: một là ngắn, hai là về những đề tài không phải văn học.



Tuy viết về những đề tài không phải văn học, hoặc về chính trị, về xã hội, hoặc về văn hoá nói chung, chất văn học trong các bài tạp luận của Võ Phiến rất đậm đà. Nếu muốn tìm các bài văn nghị luận hoàn chỉnh theo nghĩa trường ốc của Võ Phiến để làm mẫu cho học trò không chừng chúng ta phải tìm trong Tạp luận chứ không phải là trong Tiểu luận hay trong Tạp bút. Giọng văn trong Tiểu luận và Tạp bút thường linh động, nhẹ nhàng và dí dỏm. Giọng văn trong Tạp luận, ngoài những đặc điểm ấy, còn gọn, sắc, có lúc đanh thép, có lúc sôi nổi, có lúc nghẹn ngào, và bao giờ cũng thiết tha: phần lớn những vấn đề được ông bàn luận không phải là các ý niệm trừu tượng, xa xôi mà là những cái có ảnh hưởng trực tiếp, thậm chí tàn khốc đến số phận của từng người. Ông phân trần:



khi mình là dân một nước đã trải qua bao nhiêu năm khói lửa, rồi lại trông thấy trước mặt một viễn tượng đầy máu me, khi ấy nói về kẻ gây thảm hoạ thật khó giữ lòng bình thản để nói lời tao nhã (TP: 25).



Tôi ngờ là, ở miền Nam, trước năm 1975, không phải chỉ trong giới cầm bút mà cả trong giới chính khách nữa, ít có ai hiểu cộng sản một cách sâu sắc và chính xác như là Võ Phiến. Võ Phiến phân tích mối quan hệ giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc gia một cách tinh tường:



Trên lý thuyết, cộng sản chỉ kêu gọi sự liên kết vì quyền lợi giai cấp chứ không hề khuyến khích những tình cảm lưu luyến đối với nước nhà. Nhưng thực tế, trong khi hành động, để đạt mục tiêu của mình, cộng sản không quên lợi dụng tinh thần quốc gia của quần chúng. [...] Cách mạng thành công ở Trung Hoa, ở Cuba, ở Bắc Việt v.v... đều không do thợ thuyền chống tư bản, mà do dân tộc chống ngoại thuộc. [...] Như vậy, trong một hoàn cảnh nào đó, cộng sản không hề chê bai tinh thần quốc gia. [...] Thế mà vào một giai đoạn khác họ lại xem danh nghĩa quốc gia là một sỉ nhục để văng vào mặt nhau. [...]. Có gì đâu: tinh thần quốc gia chống lại áp bức từ bên ngoài đến, lúc sự áp bức ấy do tư bản thì cộng sản cổ võ tinh thần quốc gia, lúc sự áp bức ấy do chính cộng sản thì cộng sản phỉ báng tinh thần quốc gia. Thế thôi. Để ý mà nghe, nơi nào có cộng sản léo nhéo kêu gọi tinh thần dân tộc, quốc gia v.v... nơi ấy họ đang giành giật ảnh hưởng với đế quốc; nơi nào có tiếng cộng sản lao xao kết tội tinh thần quốc gia, nơi ấy các nước anh em đang thống trị nhau, không sai (TP: 39-40).



Chính Võ Phiến, chứ không phải ai khác, đã nhận ra cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai miền Nam, Bắc không phải chỉ bắt đầu từ khi Mặt trận giải phóng Miền Nam được hình thành vào năm 1958 hay ra mắt vào năm 1960. Ông lý luận:

Mặt trận này, mặt trận nọ..., đó là những bằng chứng đã có tên gọi. Chờ cho cộng sản đặt tên rõ ràng các hoạt động của họ mới chịu cho rằng họ hoạt động tức là nghĩ tệ cho họ nhiều quá. Họ đâu có chậm chạp như vậy? Trước những hoạt động có tên gọi đã từng xảy ra nhiều hoạt động không tên gọi, và trước cả các hoạt động không tên là những toan tính xếp đặt kỹ càng (TP: 15).

Với cách nhìn như vậy, Võ Phiến phát hiện cuộc chiến tranh Nam-Bắc đã thực sự được chuẩn bị ngay từ năm 1954. Ngay sau khi hiệp định đình chiến vừa được ký kết, ngay lúc chính quyền quốc gia cơ hồ không biết hay không thể làm gì khác hơn cái việc đùm túm kéo nhau vào Nam, cộng sản đã tích cực chuẩn bị cho cuộc chiến tranh mới rồi. Những sự chuẩn bị ấy, theo sự phân tích của Võ Phiến, bao gồm các việc: (i) Chôn giấu vũ khí; (ii) Cho một số cán bộ đảng viên ở lại Miền Nam để tiếp tục hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau; (iii) Dỗ dành gây cảm tình với dân chúng; ai không thể dỗ dành được thì thủ tiêu vì sợ tố giác cán bộ nằm vùng của họ; (iv) Tạo ra thật nhiều liên hệ tình cảm giữa dân chúng Miền Nam và cán bộ tập kết ra Bắc bằng các cách: hoặc mỗi gia đình đều có kẻ đi người ở; hoặc lo cưới vợ thật gấp cho cán bộ và bộ đội trước khi rút họ ra Bắc.

Biện pháp thứ tư cực kỳ thâm độc: Những cô vợ trẻ ấy, cùng với gia đình, họ hàng của họ tự nhiên hướng về Bắc, theo bóng người thân yêu, rất dễ dàng trở thành nội tuyến cho cộng sản: hoặc vì bị nghi ngờ, họ đâm bất mãn và cuối cùng thành đối lập với chính quyền Miền Nam; hoặc vì phải chứa chấp người thân hoặc người thân của người thân từ Miền Bắc lén lút trở về, họ dần dần nhập hẳn vào hàng ngũ của cộng sản.

Võ Phiến kết luận:

Gây được cơ sở quần chúng, vận động được sự đóng góp số lương thực tiền bạc cần thiết để nuôi quân rồi, bấy giờ các lực lượng vũ trang tại chỗ bắt đầu được thành lập, các lực lượng vũ trang ngoài Bắc kéo vào. Sau đó mới có cái Mặt trận giải phóng ra đời.

Như vậy, cuộc chiến hiện nay không hề khởi đầu từ những bất mãn chống một chế độ độc tài gia đình trị, không hề khởi đầu từ sau việc chính quyền Sài Gòn từ chối cuộc tổng tuyển cử 1956, không hề khởi đầu từ ngày khai sanh mặt trận nọ mặt trận kia.

Cuộc chiến này xuất hiện ngay từ những cuộc liên hoan chia tay giữa kẻ ở người đi trong thời hạn 300 ngày tập kết, những cuộc liên hoan có hát có múa, có bánh trái tiệc tùng... Nó xuất hiện ngay từ những đám cưới vội vã sau ngày đình chiến, những đám cưới lắm khi tổ chức tập thể, do trưởng cơ quan, trưởng đơn vị chủ toạ. Nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến này không phải là những kẻ ngã gục vào 1958, 1959, mà là những cô gái tức khắc biến thành goá bụa từ 1954 (TP: 18).

Nhờ hiểu rõ bản chất của cộng sản, Võ Phiến có nhiều phán đoán, thậm chí tiên đoán sáng suốt đến đáng kinh ngạc: Năm 1968, khi hội nghị Paris vừa nhóm họp, giữa lúc mọi người xôn xao về chuyện đình chiến và cãi cọ với nhau về kế hoạch hậu chiến, Võ Phiến cảnh giác: 

cuộc chiến tranh mới đang bắt đầu (TP: 14). Giữa lúc những người được coi là có viễn kiến nhất của thời đại tuyên bố ồn ào là với hội nghị Paris, cuộc đấu tranh quân sự đang chuyển hướng thành cuộc đấu tranh chính trị, Võ Phiến báo động: cuộc chiến tranh trước mắt vẫn là một cuộc chiến tranh quân sự (TP: 14 & 22-3). Giữa lúc phần lớn người Việt miền Nam đang hy vọng vào sự trợ giúp tích cực của Mỹ và của các quốc gia Tây phương, Võ Phiến lên tiếng: sự trợ giúp ấy rất có nguy cơ mỏi mệt và thực sự đã bắt đầu mỏi mệt (TP: 27 & 36). Giữa lúc phần lớn đang tin tưởng vào sức mạnh và sự khôn ngoan của Mỹ, Võ Phiến nhắc nhở: trên các bàn hội nghị với cộng sản, Mỹ rất thường bị lừa, và trên thực tế, Mỹ đã bị lừa khi chấp nhận sự hiện diện của Mặt trận giải phóng Miền Nam tại bàn hội nghị (TP: 33-34 & 66).


Tiên tri, tiên giác nhất là ngay từ 1968, Võ Phiến đã linh cảm là miền Nam sẽ mất. Trong bài “Bắt trẻ đồng xanh” viết vào tháng 10.1968, Võ Phiến tiên đoán hai khả năng sẽ xảy ra: một, đến một lúc nào đó, Miền Nam sẽ không chịu nổi những cuộc tấn công từ bên ngoài và những sự hỗn loạn, chống phá từ bên trong, cộng sản sẽ tiến thẳng đến tận mũi Cà Mau; hai, trong trường hợp may mắn, tại Miền Nam và cả tại các quốc gia đồng minh xuất hiện những nhà chính trị và những tướng lãnh thật giỏi, thật có lòng - Võ Phiến gọi là “thật chì” - cộng sản sẽ lại điều đình và chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh khác, nghĩa là, ngay cả trong trường hợp may mắn nhất đó, chiến tranh cũng vẫn dây dưa kéo dài mãi (TP: 28). Trong bài “Tiếng cú” viết sau đó một tháng, Võ Phiến cho cái trường hợp may mắn nhất đó khó mà xảy ra: chiến tranh càng kéo dài, thế bất lợi càng nghiêng về Miền Nam. Tâm lý thích bình yên của dân chúng sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới cầm quyền tại các quốc gia đồng minh khiến họ tìm cách kết thúc chiến tranh thật sớm. Nếu không kết thúc được sớm, họ sẽ bỏ cuộc, mặc cho Miền Nam đối diện với cả khối cộng sản đằng đằng sát khí. Ông tự hỏi:

Vậy chúng ta bị xô đẩy tới thảm hoạ thật sao? Trời quang mây tạnh, lẽ đâu chúng ta chìm tàu trước con mắt thoả mãn của những người chung quanh?.

Rồi ông tự trả lời, một cách đầy cay đắng:

Có những quốc gia nhỏ bé đành mất tự do trong cảnh thanh bình của thế giới. Để cứu vãn cái ảo tưởng thanh bình của thế giới. Người ta vẫn hạ dê để tế thần, có khi tế bằng cả mạng người để cầu mong tránh cho tập thể những ôn dịch tai ương (TP: 67).

Dám nhìn nhận tất cả những sự thật ấy, theo tôi, là một thái độ dũng cảm. Đã nhìn nhận những sự thật ấy mà vẫn tiếp tục cầm bút lên án cộng sản, tranh đấu cho tự do và dân chủ càng là một thái độ dũng cảm. Hơn nữa, nên chú ý đến thời điểm 1968. Đó là năm được mở đầu bằng biến cố Mậu Thân: cộng sản tấn công thẳng vào tận các đô thị lớn của Miền Nam. Ranh giới giữa cái gọi là hậu phương và tiền tuyến nhạt mờ dần, hay nói như Võ Phiến, từ hậu phương ra tiền tuyến chỉ tốn có ba đồng xe lam (TP: 33). Không có ai, dù ở bất cứ đâu, còn có thể có cảm giác an toàn được nữa. Cộng sản có thể đột nhập vào Toà đại sứ Mỹ ngay giữa trung tâm Sài Gòn, huống hồ các tư gia, đặc biệt tư gia của những người cầm bút, thường nằm giữa các khu lao động ngổn ngang, nghèo khó, có khi sát ngay bên cạnh nhà một đảng viên cộng sản nằm vùng. Cộng sản đã tấn công đợt một rồi đợt hai, không có gì bảo đảm là cộng sản sẽ không tấn công vào Sài Gòn đợt ba, đợt bốn... Trong hoàn cảnh ấy, Võ Phiến vẫn công nhiên vạch trần âm mưu của cộng sản, tố cáo những sự độc tài và tàn bạo của cộng sản, để mong thức tỉnh những người có trách nhiệm thoát ra khỏi thái độ nguỵ tín, tự dối mình, hầu có một sách lược đúng đắn hơn, hữu hiệu hơn. Tôi cho đó là một sự dũng cảm. Chưa hết. Nên nhớ hai bài tiểu luận “Viết trong tiếng súng” và “Tác phẩm lớn, tác phẩm nhỏ” của Võ Phiến cũng được viết vào năm 1968: ở bài trên, Võ Phiến phá vỡ huyền thoại về sứ mệnh của người cầm bút, hoài nghi mọi sự dấn thân của những người cầm bút;[2] ở bài dưới, ông quan niệm một tác phẩm lớn phải được hình thành từ những bận tâm lớn, những bận tâm siêu hình và xa vời.[3] Nghĩ như thế, tin như thế, nhưng trong suốt năm 1968, ông lại viết rất nhiều bài về chính trị, về xã hội, về những bận tâm rất gần và không chừng, so với nhân loại, cũng là những bận tâm rất nhỏ. Võ Phiến, đứng trước bão tố của thời cuộc, cuối cùng, đã chọn làm một công dân hơn là một nghệ sĩ. Ở một khía cạnh và với một mức độ nào đó, có thể coi đó là một sự lựa chọn dũng cảm.

Dũng cảm và bao dung. Một thứ bao dung nhuốm màu nhẫn nhục. Trong lúc đem hết tâm huyết ra viết bài để vạch trần những âm mưu thâm độc của cộng sản, để báo động về nguy cơ thất bại ê chề trước mắt, nhìn quanh, Võ Phiến thấy gì? Ông chỉ thấy sự ngây thơ và khờ khạo của các chính khách (TP: 22-23). Ông chỉ thấy sự mệt mỏi, muốn rút lui để được yên thân của chính phủ Mỹ (TP: 66). Ông chỉ thấy sự hờ hững của người đọc: số lượng sách bán được càng ngày càng giảm. “Kịch ít ai đọc. Thơ ít ai mua. Rồi truyện cũng mất dần độc giả” (TP: 97). Cuối cùng, ông chỉ thấy một tình thế oái oăm trong giới sáng tác: trong lúc cuộc chiến ngày một leo thang, sự thù ghét đối với chế độ cộng sản của những người cầm bút lại ngày một nguôi ngoai, hậu quả là những tác phẩm xuất phát từ cảm hứng chính trị và có tinh thần “chiến đấu” cao ít hẳn đi (TP: 81-83). Đối với cái thấy thứ nhất, Võ Phiến không giấu được sự chua chát, đôi khi, phẫn nộ. Điều đó dễ hiểu: sự ngây thơ và khờ khạo của các chính khách có thể mang lại hậu quả khốc liệt cho đất nước. Còn đối với những cái thấy sau, mặc dù xót xa, Võ Phiến không một lời trách móc. Ông chấp nhận những sự thật phũ phàng ấy như những quy luật của cuộc đời và tìm cách lý giải, tra vấn nguyên nhân. Chẳng hạn, đối với thái độ muốn phủi tay của chính phủ Mỹ, ông cho đó chỉ là mặt trái tự nhiên của một chế độ dân chủ: trong một chế độ dân chủ, chính quyền bị quần chúng chi phối rất nặng. “Tình hình càng căng thẳng, không khí càng ngột ngạt vì đe doạ, quần chúng càng có tâm trạng lo ngại, càng yêu mê yêu mệt hoà bình, càng thích những lời trấn an từ cửa miệng các chính khách, và mỗi khi sử dụng lá phiếu thì càng chọn lựa kỹ càng cho được đúng cái ông yêu hoà bình nhất” (TP: 65). Nên trách cứ ai? Trách chính quyền ư? Một người cầm quyền trong một chế độ dân chủ, thật ra, khó mà làm được điều gì khác, trừ việc thoả mãn nguyện vọng của đám đông. Trách cái đám đông ấy ư? Nhưng nhân danh cái gì để trách họ? Trong bài “Kẻ ác người thiện” (TP: 49-55), Võ Phiến phân tích tính chất tương đối của cái gọi là lòng nhân đạo: nó tuỳ thuộc vào chỗ đứng, vào cách nhìn của từng người, từng hoàn cảnh. Chấp nhận sự tương đối đó, người ta sẽ bao dung hơn. Sự bao dung của Võ Phiến một phần xuất phát từ đó chăng?

Có điều chắc chắn là chính sự bao dung ấy làm cho Võ Phiến trở thành một trong vài người cầm bút hiếm hoi tại Việt Nam trước và kể cả sau 1975 nữa thấm nhuần tinh thần dân chủ một cách sâu sắc. Cho đến tận bây giờ, ở hải ngoại, hiếm gì kẻ vừa cầm bút tranh đấu vừa quát nạt đồng nghiệp với lý do là những đồng nghiệp ấy không nổi lửa trên trang sách như mình. Không nổi lửa như mình tức là vô trách nhiệm, nếu không muốn nói, là tay sai của Việt cộng. Từ sự kiêu căng và độc đoán, thoắt một cái, người ta trở thành hèn hạ: vu khống. Khuôn mặt của một số khá lớn của các “chiến sĩ văn hoá” ở hải ngoại nhiều khi trông lem luốc một phần là vì thế. Võ Phiến thì khác. Năm 1968, 1969, lúc cuộc chiến tranh đang độ ác liệt, lúc Võ Phiến đang viết những bài tạp luận chính trị hừng hực tâm huyết, nhìn thái độ hờ hững của lớp nhà văn trẻ đối với vấn đề cộng sản, ông lo lắng: 

“Sự hững hờ trong tâm lý, tư tưởng, làm sao có thể đi đôi với những hành động ác liệt ngoài mặt trận?” (TP: 82). Nhưng không phải vì lo lắng mà ông thành bất công. Ông nhận thức được chính lớp người trẻ tuổi ấy mới là những kẻ “gánh chịu phần thiệt thòi nhất của chiến tranh” (TP: 83). 

Ông chỉ ngạc nhiên: tại sao có hiện tượng nghịch lý ấy? Theo ông, cái nghịch lý ấy té ra lại rất giản dị: lớp trẻ không hề sống dưới chế độ cộng sản làm sao họ có thể thù ghét cộng sản được? Họ chỉ bắt gặp khái niệm chủ nghĩa cộng sản trên các trang sách: người ta có thể thích hay không thích, tin hay không tin chứ không ai có thể thù ghét một khái niệm trừu tượng trong sách vở cả. Họ chỉ đối diện với những bộ đội Bắc Việt ngoài chiến trường: trước mặt họ là những địch thủ cụ thể chứ không phải là một chế độ, cũng không phải là một chủ nghĩa.

Thái độ bao dung ấy làm cho Võ Phiến bình tĩnh phân tích vấn đề, từ đó, phát hiện ra nhiều điều, ngỡ giản dị, thế nhưng trước ông, chưa ai thấy bao giờ. Ví dụ xu hướng chống cộng trong văn học Việt Nam. Theo Võ Phiến, xu hướng chống cộng chỉ xuất hiện và thành cao trào trong nửa sau thập niên 50 và nửa đầu thập niên 60 mà thôi. Trước đó: không có. Sau đó: nhạt nhoà dần. Xu hướng ấy hình thành bởi những người đã ít nhiều sống hoặc đã từng cộng tác với cộng sản trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Sau 1954, từ miền Bắc hoặc từ các vùng kháng chiến cũ, họ đổ dồn vào Sài Gòn. Khác nhau về tuổi tác, khác nhau về quan điểm thẩm mỹ, tất cả những người ấy lại có ít nhất hai điểm chung: một, kinh nghiệm ê chề về sự tàn bạo và khắc nghiệt của cộng sản; hai, nhiệt tình chống lại cộng sản đến cùng. Chính họ, bằng tâm huyết và tài năng văn học lỗi lạc, đã lôi cuốn quần chúng, tạo thành một phong trào chống cộng sôi nổi. Võ Phiến nhấn mạnh: “Chống cộng trở nên đặc trưng của một lớp người ấy, của một thời kỳ văn học ấy” (TP: 88). Nhấn mạnh như thế là để chuẩn bị đi đến một nhận định khác:

lớp người ấy đến với miền Nam chứ không phải ở tại miền Nam, đối với miền Nam là khách chứ không phải là chủ, tới sống ở miền Nam mà mang nơi mình cái kinh nghiệm sống từ một hoàn cảnh khác, cái tâm trạng bất bình đối với một chế độ ở nơi khác (TP: 86).

Hậu quả:

Thành ra lớp người của năm 1954 hoá bơ vơ; bơ vơ với nét tâm lý chống cộng giữa một xã hội không cộng sản, bơ vơ giữa các thế hệ trước họ và thế hệ sau họ. Họ là lớp người của cuộc chọn lựa chỉ xảy ra một lần trong lịch sử. Họ quyết định sự chọn lựa và ý thức sâu xa về quyết định của mình, họ đưa ý thức ấy vào văn chương. Nhưng sau cuộc chọn lựa, trở lại cuộc sống bình thường, bên nào chỉ biết chuyện bên ấy: tâm trạng của họ, tâm trạng mang từ bên kia về bên này, hoá lỗi thời. Không những chỉ có Bão thời đại ra đời muộn, mà bộ trường giang tiểu thuyết Khu rừng lau của Doãn Quốc Sỹ cũng không hưởng được sự chú ý xứng đáng với giá trị của nó (TP: 89).

Những luận điểm này không chừng vẫn còn có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nền văn học Việt Nam tại hải ngoại từ năm 1975 đến nay.

Phát hiện ra mối quan hệ sâu xa giữa tâm lý con người và hoàn cảnh lịch sử, Võ Phiến đồng thời cũng phát hiện ra một đặc điểm nổi bật trong sinh hoạt văn học Miền Nam: nó không được phân chia theo trường phái mà chủ yếu theo tuổi tác. Mỗi lứa tuổi có một kinh nghiệm khác nhau, do đó, có cách ứng xử khác nhau. Lớp trưởng thành trước 1945 ít quan tâm đến chính trị, ngược lại, lớp trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, những người, nói theo Võ Phiến, “đã bị cuộc cách mạng 1945 phá trinh về tinh thần” (TP: 111), thường không có ám ảnh nào khác ngoài chính trị. Lớp trưởng thành sau 1954 lại khác. Đó là một thế hệ mất niềm tin, một thế hệ hoang mang. Cả luận điểm này nữa, nó cũng có thể giúp lý giải những khác biệt trong giới cầm bút ở hải ngoại đấy chứ?

Những người cầm bút bị phân hoá đến như thế. Mức độ phân hoá trong giới độc giả cũng nặng nề không kém. Trước 1945, Việt Nam tương đối thuần nhất. Tương đối thuần nhất về chế độ chính trị: Pháp thuộc; về tâm lý: khát khao độc lập; về văn hoá: ngả theo Tây phương, chủ yếu là Pháp. Mức độ Âu hoá còn yếu nên trong văn học đường ranh giữa các trường phái chỉ mờ mờ nhạt nhạt. Trong sự thuần nhất dù một cách tương đối ấy, dễ hiểu tại sao một số tác giả, như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Nhất Linh, Nguyễn Tuân... dễ dàng gặp tri âm tri kỷ trong cả nước. Sau 1945, tính chất thuần nhất ấy không còn. Đời sống mỗi người bị chính trị hoá rõ rệt. Những sự bất đồng mỗi ngày một gay gắt. Cách cảm thụ văn học cũng chịu ảnh hưởng theo: mỗi tác giả chỉ có thể hy vọng tìm thấy sự đồng điệu ở một số người.

Cũng với một thái độ bao dung và sáng suốt như thế, Võ Phiến phân tích sắc sảo ý nghĩa các cuộc bầu cử tại Mỹ và các phong trào của giới trẻ tại Tây phương những năm cuối thập niên 60. Những bài “Người hiền của quần chúng”, “Tuổi trẻ như một giai cấp”, “Tuổi trẻ như một phát giác” hoặc “Tuổi trẻ và cách mạng” trong tập Tạp luận, tôi đoán, Võ Phiến viết không mấy khó khăn. Tài liệu nhiều, ông chỉ cần đọc, chọn lựa và tổng hợp. Tài hoa của Võ Phiến ở đây là: ông chọn được những ý kiến mới mẻ, chính xác và sâu sắc nhất. Ông thấy được nhiều điều, ngay ở Tây phương, mãi đến nửa sau thập niên 70, người ta mới tự giác hoàn toàn: ý nghĩa của thân xác, của ngoại hình và của tuổi trẻ. Nhưng điều tôi thú vị nhất ở Võ Phiến chính là cái thái độ tỉnh táo của ông: chắc chắn là ông không đồng ý với những sự phá phách của giới trẻ trong thập niên 60. Năm 1968, Võ Phiến 43 tuổi, lứa tuổi, ở Việt Nam, nhiều người cho là đã khá già, tôi không tin là ông có thể thông cảm nổi tâm trạng của những thanh niên 18, 20 tuổi ở châu Âu, châu Mỹ, những quốc gia lúc ấy ông chưa đến bao giờ. Có điều, không thông cảm, không đồng ý, nhưng ông cũng không lên án họ một cách độc đoán và cao ngạo như nhiều bậc “trưởng thượng” từng làm. Ông hiểu được một sự thật: 

“Chiều hướng văn minh kỹ thuật nó khiến ra như thế” (TP: 134). 

Có lẽ nhờ cách nhìn, cách nghĩ như thế mà những bài viết về những đề tài rất ư thời sự, sau hơn ba mươi năm, vẫn mang lại cho người đọc những cảm giác thú vị. Riêng tôi, đọc các bài viết ấy của Võ Phiến, tôi cứ hay liên tưởng đến các bài phân tích của những học giả được coi là hậu hiện đại (postmodernists) gần đây, đặc biệt là Featherstone.[4]

Căn cứ vào tuỳ bút của Võ Phiến, nhiều người đã nói đến lòng hoài cựu của Võ Phiến. Tạp luận của Võ Phiến hé mở thêm một khía cạnh khác: Võ Phiến chỉ hoài cựu nhưng không hề thủ cựu. Ông luyến tiếc cái cũ, những cái đang phôi pha dần trong cuộc sống song ông cũng chấp nhận cả những cái mới, ngay cả những cái mới ông chưa yêu, không yêu được, chỉ vì lý do giản dị: đó là quy luật tiến hoá tự nhiên của lịch sử, của xã hội. Sự chấp nhận của ông nhiều khi đầy nhẫn nhục, một cách tội nghiệp, như sự chấp nhận cái thế yếu, cái nguy cơ thảm bại của Miền Nam, cái hờ hững của độc giả Miền Nam đối với văn học nói chung. Văn tạp luận của ông, do đó, thường buồn hiu hắt. Chút dí dỏm trong giọng văn, trong cách dùng từ, thỉnh thoảng loé lên, đâu đó, gợi lên một ấn tượng chua cay, đọc, thấy se cả lòng.


Dĩ nhiên không phải bao giờ sự chấp nhận tiến hoá cũng gây nên cảm giác ngậm ngùi. Sự nhạt nhoà của cá tính địa phương (TP: 193-212) không làm Võ Phiến ngậm ngùi. Sự biến mất của hình ảnh người nông dân trong văn học (TP: 213-223) không làm Võ Phiến ngậm ngùi. Những sự thay đổi trong tình yêu và cách nhìn tình yêu (TP: 247-263) cũng không làm Võ Phiến ngậm ngùi. Trái lại. Chúng chỉ làm cho ông hiểu rõ hơn, từ đó, quyết tâm hơn trong việc giũ bỏ cái cũ và đi tiếp con đường hiện đại hoá ngòi bút của mình. Ông trêu chọc những người hoài cổ:

Con người thật trung hậu. Mất thôn quê, ta luyến tiếc không nguôi. Thỉnh thoảng trong chúng ta lại có kẻ giật mình chép miệng than thở: “Đã lâu, không thấy ai vẽ bức tranh quê, kể chuyện con trâu nhỉ! Nhớ quá. Anh em, nào, thử nói lên một chút gì về dân quê đi chứ!”.

Than thở, giục giã như thế, chỉ tỏ dạ trung thành, chứ còn trong chuyện sáng tác văn nghệ cái gì làm được ta làm ngay, việc gì phải hô hào đôn đốc “anh em”!. (TP: 222-3).

Thái độ chấp nhận hoàn cảnh và quy luật tiến hoá càng nổi rõ khi Võ Phiến định cư tại Mỹ vào năm 1975. Giữa lúc bao nhiêu người ngoái cổ ngóng về cố hương, trở thành những “chàng Cù Lần” như trong thơ Cao Tần,[5] thành những “ông Khó tính” như trong tuỳ bút Nguyễn Bá Trạc,[6] Võ Phiến, trong một lá Thư gửi bạn, viết:

Dù sao, lá thư của bạn cho thấy một triệu chứng đáng mừng: là bạn đã tạm quên mình mà chú ý đến xung quanh. Trước, bạn toàn nêu ra những chuyện buồn bã, nhớ mong, ray rứt trong cảnh xa nhà xa nước, những băn khoăn về tin tức xứ sở v.v..., bạn chỉ những quay đầu về dĩ vãng và cố hương. Bây giờ hình như bạn có một cố gắng tìm hiểu người Mỹ, đất Mỹ, xã hội Mỹ. Phải thế, bạn ạ. Cuộc sống hiện tại và mai sau ở nơi đây là chuyện phải chấp nhận, là cả một khó khăn phải lo liệu, không thể làm ngơ mãi được (LT: 10).

Đọc Thư gửi bạn, in năm 1976,[7] một năm sau khi Võ Phiến đến Mỹ và đặc biệt, Lại thư gửi bạn, [8] tác phẩm được Võ Phiến viết trong hai năm 1977 và 1978, xuất bản năm 1979, chúng ta không thể không kinh ngạc trước những hiểu biết và nhận xét của ông về nơi ông mới định cư. Ông có óc tò mò kỳ lạ: ở đâu ông cũng truy lùng những đặc điểm nổi bật ở đó, chẳng hạn, ý nghĩa của các địa danh, lịch sử thành lập của các thành phố, các loại cây cỏ, hay chi tiết hơn, trong thành phố ấy có bao nhiêu nhà thờ, bao nhiêu người già cả. Chính ở những vùng đất xa lạ ấy, khả năng quan sát vốn tinh tế của Võ Phiến càng được phát huy triệt để. Ông rình rập cách sống, cách làm việc, cách giao tiếp của người Mỹ để mong khám phá ra cá tính của họ. Theo ông, họ vừa hiền lành lại vừa hung tợn, vừa tốt bụng lại vừa ích kỷ, vừa dễ làm quen lại vừa khó thân, vừa cực kỳ duy vật lại vừa rất ư duy tâm, vừa thích đi nhà thờ lại vừa thích làm những chuyện bậy bạ, v.v... nghĩa là, nói tóm, họ hoàn toàn khác “chúng ta”. Nếu chỉ dừng lại ở những nhận định đại loại như vậy, Võ Phiến chẳng còn là Võ Phiến: vô số người Việt định cư tại Mỹ cũng thấy như thế và chỉ thấy như thế. Võ Phiến đi xa hơn: theo ông, những sự khác biệt ấy không phải do thiên bẩm mà chỉ do điều kiện lịch sử và hoàn cảnh xã hội tại Mỹ. Ví dụ về cái gọi là sự bạc tình của Mỹ, ông viết:

con người sinh ra tại xứ này không tự họ bạc tình. Bạc tình không phải là bản chất tiên thiên của người xứ này. Gái Mỹ ngày nay không đeo, nhưng gái Mỹ đầu thế kỷ trước đeo cứng, chung tình kinh khủng. Vậy thủ phạm không phải là giống dân Mỹ (giống nào?); thủ phạm là xã hội Mỹ (LT: 58).

Xã hội Mỹ là gì? Đó chỉ là một xã hội kỹ nghệ, một xã hội của khoa học kỹ thuật, của tốc độ, của văn minh, thế thôi. Do đó, nhân danh cái nhìn từ một xã hội nông nghiệp lạc hậu như ở Việt Nam hoặc Trung Hoa để lên án Mỹ là điều không thực tế. Võ Phiến nhắc nhở: 

“Bạn mắng họ mà chi? Vì ai biết mai kia chúng ta rồi sẽ biến đổi ra sao trên đất nước này?” (LT: 59).

Năm 1969, lúc còn ở Việt Nam, trong bài “Nhàn và nhã” (TU1: 48-52), Võ Phiến, theo chân Lâm Ngữ Đường, so sánh cách hưởng nhàn của Đông phương và của Tây phương: trong khi người Đông phương, chủ yếu là người Trung Hoa và người Việt Nam thừa nhàn một cách thanh nhã như uống trà, thưởng hoa, đánh cờ, chăm nom cây kiểng..., người Tây phương, ngược lại, thừa nhàn một cách rộn ràng, quần quật, đẫm mồ hôi: đá banh, phóng xe, bơi thuyền, nhảy nhót hò hét... Cách so sánh như thế ẩn đằng sau chút gì như kỳ thị: thứ nhàn thanh nhã cao hơn thứ nhàn tất tả; và một chút gì như tiếc nuối, như hoài cổ:

Hùng hục đuổi theo chiều hướng văn minh Tây phương, chắc chắn rồi chúng ta cũng sẽ chộp được cái quyền nhàn du. Tha hồ hí hửng. Bấy giờ chỉ thiếu có cái cốt cách thanh nhã để thừa nhàn, thế thôi (TU1: 51-2).

Sau này, qua Mỹ, quan niệm của Võ Phiến có chút thay đổi. Thứ nhất, ông hoài nghi cách lý giải của Lâm Ngữ Đường cho sự hiếu nhàn gắn liền với bản tính đặc biệt của dân tộc:

tôi muốn nói nhỏ với bạn điều này: Bạn để ý mà xem, dường như các bạn Da Đỏ lắm người chịu sống cái đạo lè phè lắm. Mà chắc chắn không phải là vì đọc sách Lâm Ngữ Đường đâu nhé (LT: 29).

Thứ hai, ông không còn vẻ gì là ngậm ngùi khi tống tiễn cái nhàn nhã truyền thống cả. Ông chấp nhận cách hưởng nhàn mới - dù trên lý thuyết

Ông Lâm Ngữ Đường nói đến bản tính đặc biệt của một dân tộc... Tôi thích những cái ấy. Tôi chỉ hơi ngán cái trường hợp nó chỉ là đặc điểm của một trình độ chậm tiến, và sẽ bị bắt buộc biến mất trong cái xu hướng xã hội ngày nay. Nếu có thế triết gia bất đắc chí sẽ còn khổ sở dài dài, vì sinh bất phùng thời, tị nạn bất phùng xứ (LT: 30).

Cố gắng hội nhập song Võ Phiến không hề có chút ảo tưởng nào về việc hội nhập của mình, đặc biệt với tư cách là một nghệ sĩ, một người cầm bút. Vấn đề không phải chỉ ở ngôn ngữ: các hoạ sĩ, các nhạc sĩ vốn không bị trở ngại ngôn ngữ, vẫn khó mà hội nhập được hoàn toàn. Cũng không phải do người Mỹ kỳ thị. Ngược lại, người Mỹ thường cởi mở và ít thành kiến: họ chào đón âm nhạc Phi châu một cách nồng nhiệt. Vậy mà, Võ Phiến để ý, hầu như chưa có một văn nghệ sĩ Á châu nào gây sóng gây gió được ở Mỹ, chưa có một trào lưu, một khuynh hướng văn nghệ có gốc gác từ châu Á nào làm sôi động sinh hoạt văn nghệ Hoa Kỳ. Mà, Võ Phiến nhắc nhở: người Nhật, người Hoa, người Đại Hàn... đã di cư qua Mỹ từ lâu, sống ở đó đã nhiều thế hệ, đã “hội nhập” hẳn vào xã hội và cả lịch sử nước Mỹ, đã gặt hái được nhiều thành công rực rỡ về kinh tế, về khoa học, về kỹ thuật. Võ Phiến ghi nhận:

Sang đây từ tháng 5.75, chúng ta có những ca sĩ tiếng tăm, những nhạc sĩ tài năng; những người ấy đã cố mở “một con đường máu” vào xã hội Mỹ. Hai năm rưỡi sau, những cố gắng ấy đã tỏ ra vô hiệu: người Việt rốt cuộc chỉ hát cho người Việt nghe mà thôi (LT: 85-6).

Hai mươi năm sau: tình hình vẫn không có gì thay đổi! Võ Phiến tiên đoán: còn lâu lắm. Ông viết: “Nhà khoa học là người của lý trí, không cần “hợp” với ai cả, nhà khoa học Á châu tha hồ thành công ở Âu Mỹ. Còn các nghệ sĩ đi đến đâu cũng khệ nệ cái tâm hồn theo đến đó” (LT: 88). Mà cái tâm hồn của người Mỹ gốc Á và của người Mỹ gốc Âu thì khác nhau xa. “Một cuộc “hội nhập” chừng mấy nghìn năm thì đủ xoá cách biệt ấy?”, Võ Phiến tự hỏi (LT: 86).

Lại thư gửi bạn là tác phẩm phác hoạ diện mạo của người Mỹ, của xã hội Mỹ, nhưng điểm riêng tôi thấy tâm đắc nhất lại là những phát hiện của Võ Phiến về... người Việt Nam, đặc biệt, cái cười và cái liếc của người Việt Nam. Người Việt Nam, so với người Tây phương, rõ ràng là hay cười và hay liếc. Cái liếc của người Việt Nam dù được các văn nghệ sĩ khai thác tận tình trong thơ và trong tiểu thuyết song dường như trước Võ Phiến chưa ai phân tích và cũng chưa ai phát hiện ra điều này:

Liếc là một hình thức trong sinh hoạt ái tình Việt Nam [...] cái liếc không hẳn chỉ để “biểu lộ” tình yêu, chỉ là một phương cách tỏ tình; nó cũng là một cách sống ái tình đấy. [...] nói về cường độ cảm xúc, tôi không dám chắc giữa liếc, với vuốt ve hôn hít bên nào đem đến những cảm xúc mạnh hơn đấy nhé. Một người đàn bà đã nhớ mãi một cái liếc ngang đến bốn mươi năm, nếu trời cho bà còn sức khoẻ, không có gì ngăn cản bà tiếp tục nhớ nó thêm mười năm, mười lăm năm nữa. Liệu mấy ai nhớ một cái hôn đến nửa thế kỷ? (LT: 38, 41 & 42).

Võ Phiến nhắc đến những cái liếc giữa Kim Trọng và Thuý Kiều, giữa Từ Hải và Thuý Kiều, những cái liếc trong bài “Tình già” của Phan Khôi, trong thơ Vũ Hoàng Chương, trong truyện Hoàng Ngọc Tuấn làm cho cách lý giải của ông thêm nhiều lý thú, không những chỉ giúp chúng ta hiểu thêm một nét độc đáo trong cá tính của dân tộc mà còn hiểu thêm một nét đẹp trong tác phẩm văn học.

Riêng cái cười thì được nhiều người chú ý hơn, chủ yếu là vì nó bị Nguyễn Văn Vĩnh chê: “Người Nam ta có tật là cái gì cũng cười. Hay cũng cười, dở cũng cười, phải cũng cười, trái cũng cười. Hì một tiếng mọi việc đều hết nghiêm trang”. Võ Phiến không bị cái mặc cảm tự ti dân tộc day dứt như Nguyễn Văn Vĩnh nên có cái nhìn hợp lý hơn và cũng tinh tế hơn: với người Việt Nam - và có lẽ, với khá nhiều người Á đông khác nữa - cái cười, cũng như cái liếc, là một thứ ngôn ngữ. Có thể gọi đó là thứ ngôn ngữ nhân thể (body language):

Qua nụ cười, chúng ta nói với nhau nhiều lắm. Có khi là bày tỏ sự thông cảm, chia xẻ nhau một ý xót thương; có khi là khen mừng; có khi là trách móc; có khi muốn diễn tả một ý tưởng mệt mỏi chán chường [...]; lại cũng có khi là biểu lộ cay đắng; có khi khác cười là thách đố, hăm doạ, là khinh bỉ nhau v.v... (LT: 47).

Những phát hiện có vẻ nho nhỏ như thế rải rác khá nhiều trong Lại thư gửi bạn cũng như trong tạp luận của Võ Phiến nói chung. Nói là nho nhỏ song ý nghĩa của chúng nhiều khi lại to lớn bất ngờ: chúng làm sáng lên một góc cạnh nào đó trong tâm tình một thế hệ, trong ý thức một thời đại, trong phong cách một dân tộc. Chúng giống như cái đáy nước trong Truyện Kiều, dưới mắt Thúc Sinh: Long lanh đáy nước in trời. Qua tạp luận của Võ Phiến, chúng ta cũng thấy trời thấy mây thấy giông thấy bão. Tạp luận của Võ Phiến là cái phần ý thức lắng đọng, cái phần tự giác sâu thẳm của xã hội Việt Nam, lịch sử Việt Nam trong thời kỳ đầy giông bão vừa qua.


Tác giả: Nguyễn Hưng Quốc
December 17, 2012




























Võ Phiến những năm 1960




Về mỗi tác giả, người đọc và cả "nhà phê bình" vẫn thường có thái độ tổng quát hóa, như Nhất Linh là tác giả Đoạn Tuyệt, Nguyên Sa chỉ là nhà thơ tình yêu, Thanh Tâm Tuyền nhà thơ tự do, Võ Phiến (sanh năm 1925) là nhà văn "chẻ sợi tóc làm tư", v.v. Tuy nhiên, một sự nghiệp văn chương trong thực tế không thể chỉ là một hào quang cũng không thể đóng nhãn, đóng hộp. Văn chương và con người của một tác giả nếu sự nghiệp lâu dài về thời gian, đều có những thay đổi, những thăng trầm, biến động, nếu không như lửa với nước thì cũng như những tiếng sóng. Thanh Nam và Lê Tất Điều chẳng hạn sau khi ra khỏi nước đã có những tác phẩm khác biệt hẳn những gì họ đã xuất bản trước 1975. Tìm cho ra cái động trong một sự nghiệp đòi hỏi nhiều công phu, tuy nhiên việc điều nghiên từng tác phẩm đặt trong khung cảnh thời gian, cũng có thể giúp hiểu biết hơn về tác giả đó. Trong chương này, chúng tôi xin thu hẹp vào một giai đoạn viết của Võ Phiến, với những tác phẩm của ông xuất bản trong suốt thập niên 1960.



Miền nam vĩ tuyến thứ 17 sau 1954 vốn quen với hai luồng văn học từ hai thủ đô văn nghệ, một mới, Sài Gòn và một cũ, Hà Nội, đã ngạc nhiên đón nhận một nhà văn từ miền Trung là miền đến lúc ấy vẫn nổi tiếng về thơ hơn là văn: nhà văn Võ Phiến gây chú ý ngay từ những tập truyện ngắn đầu tay xuất bản ở Qui Nhơn vào đầu nửa cuối thập niên 1950: Chữ Tình xuất bản năm 1956 và Người Tù một năm sau đó. Lúc đó ông cộng tác thường xuyên với tạp chí văn chương Mùa Lúa Mới ở Huế và gửi bài đăng trên Bách Khoa và Sáng Tạo ở Sài Gòn. Hai tập truyện ngắn Chữ Tình và Người Tù ra đời hợp không khí chính trị những năm đầu của nền đệ nhất cộng hòa, về văn chương không có mới lạ, có thể nói bình thường, hơi quê, văn theo tiêu chuẩn chung, chưa đặc sắc.



Không khí văn chương trong các "tác phẩm" xuất bản sau ngày chia đôi đất nước là của thời kháng chiến chống Pháp trước đó, không khí đấu tranh chính trị, tâm tình người dân yêu nước, cuộc sống khó khăn. Võ Phiến từng sống và tham gia cuộc kháng chiến đó, ở liên khu V, nhưng ông cũng đã từng ly khai và bị tù tội vì bất đồng quan điểm. Một nền cộng hòa dân chủ mới được thiết lập ở miền nam. Trong bầu không khí chính trị mới, văn chương Võ Phiến, cũng như của Đỗ Tấn, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ,..., những con người từng theo kháng chiến, đã gặp cả ba yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa"! Văn chương đó đã góp phần xây dựng chính trị miền đất mới trong giai đoạn đắp nền của thời đệ nhất cộng hòa.



Tác phẩm của Võ Phiến đã đáp ứng những chờ đợi của con người thời đó. Những đấu tranh chính trị với cộng sản, những nhân vật như đồng chí Thọ, cán bộ Lung, Hạnh, Dung, v.v. Những chuyện xảy ra ở Bình Định và liên khu V, đã cũng như ở các liên khu kháng chiến khác. Đấu tranh con người và chính trị là một! Con người trong Chữ Tình và Người Tù là những con người bị thời cuộc lôi kéo và "con tạo" cán nát. Những con người sống trong tù hãm, tâm hồn muốn được bình thường đã phải bị động, xô đẩy theo phe, phải có thái độ. Lê Nọ giết người, Huỳnh Thiện Thủ già nua vụng dại như con trẻ, Linh mơ mộng được in sách, Hoè có vẻ hơn những con người trong nhà tù nhưng lại bị tình yêu vây hãm và vẫn phải bám sự sống còn. Võ Phiến đã cho người đọc thấy sự ưu thời mẫn thế của ông!



Các truyện trong hai tập đầu Võ Phiến lấy đề tài và chất liệu trong những biến cố chính trị xã hội tác giả từng sống qua, chứng kiến, kể cả việc đấu tố, lao tù. Từng thủ thế, từng "biết" sống với một kẻ thù cực kỳ nguy hiểm, khi đặt bút viết, Võ Phiến đã cho thấy có một cái nhìn thông suốt, có "bùa chú" đàng hoàng. Những cảnh đời quá khứ gần, những nhân vật và tình tiết được đào sâu, tỉ mỉ và nhà văn thường lộ nụ cười hóm hỉnh, tỏ lộ một số đặc điểm của địa phương, rất địa phương, một địa phương "mới" cho văn học Việt Nam cho đến đó. Các tác phẩm sau này của Võ Phiến sẽ xác nhận thêm địa phương tính này của ông với đủ chi tiết và cách nhìn. Đặc điểm này ông liên tục bận tâm, qua mỗi lời nói, nhân vật và khung cảnh câu chuyện, và qua nhiều tác phẩm nếu không muốn nói là hầu hết.



Vì an sinh của miền Nam cộng hòa, nơi tập hợp mới là những viên gạch không thể thiếu trong hoàn cảnh. Nhiều biến cố dồn dập đến từ miền Bắc như Cải cách ruộng đất, như vụ án Nhân văn giai phẩm (3-1956, nhưng 1-1960 mới xử) xuất từ chiến dịch Trăm hoa đua nở ở Trung quốc, và cả từ thế giới như biến cố tân bí thư đảng Liên xô Khruschev tố khổ Staline, rồi dân chúng Budapest (Hung Gia Lợi) theo làn gió "xét lại" nổi dậy tháng 10-1956 bị chiến xa Liên xô đè bẹp một tháng sau đó: bức màn sắt buông xuống một phần nhân loại. Quách Thoại giương cao ngọn cờ dân chủ :



"Đến lúc phải tỉnh thức



(...) Hỡi các lực lượng dân chủ

Chúng ta phải gây lại sức mạnh hùng cường

Vì độc tài thì vô lượng

Âm mưu, lý thuyết, tổ chức, thủ đoạn

Hành động thì dã man vô lường

Ôi chao! đau thương không thể tưởng

Hỡi các lực lượng dân chủ

Hãy thận trọng đoàn kết và dũng mãnh bước lên đường"
(Hỡi Các Lực Lượng Dân Chủ) 

Doãn Quốc Sỹ thì dứt khoát vai trò của người trí thức, đề cao dân tộc tính và tình người khi còn có thể. Tháng 10-1956, tạp chí Sáng Tạo ra mắt. Trong bài “Sài Gòn, Thủ Đô Văn Hóa” mở đầu, Mai Thảo đã mạnh mẽ lên tiếng: "Sài Gòn, thủ đô văn hóa Việt Nam. Không phải là một danh từ, một câu nói suông nhạt. (...) Sài Gòn đã đứng vào vị trí, đã nhận nhiệm vụ mình, sau khi Hà Nội đã từ bỏ nhiệm vụ của Hà Nội. Lửa văn hóa vượt tuyến đã sáng lên ở đây hôm nay. Sự tê liệt, sự hủy diệt, sự đổ ngã một nơi nào đẩy những sức sống trẻ mạnh về Sài Gòn, hợp làm một với những sức sống trẻ, mạnh sẵn có. Thành phố hòn ngọc của châu Á, tinh hoa của đất nước - đã chứa đựng cái sắc thái của một mảnh đất màu, trên đó đua nở những cỏ hoa tươi tốt của một mùa văn hóa, mà những thành tích, kết quả cụ thể đang được thu lượm dần dần, đang được sắp thành biểu đồ hệ thống" (Sáng Tạo, 1, 10-1956, tr. 1 &2). Khẳng định của Mai Thảo là một diễn dịch khác của một cơ cấu xã hội và chính trị bị-động, phải đối phó tức thời với kẻ thù. Đảng Cần Lao được tổ chức như cơ cấu của kẻ thù, đòi hỏi hy sinh và một lòng, một mục đích. Với những phương tiện tương đương. Sáng Tạo không đi ra ngoài quỹ đạo đó! (Về lý thuyết và hoàn cảnh chính trị lúc bấy giờ, tổ chức đảng phái như đảng Cần Lao là đúng ).

Như Mai Thảo đã viết, "những cỏ hoa tươi tốt của một mùa văn hóa (...) thành tích, kết quả đang được thu lượm dần dần, đang được sắp thành biểu đồ hệ thống", trong đó có Võ Phiến với Chữ Tình, Người Tù rồi Mưa Đêm Cuối Năm. Tập Mưa Đêm Cuối Năm do nhà Tự Do xuất bản ở Sài Gòn năm 1958, được giải thưởng Văn chương toàn quốc 1959-1960 đã xác định vị trí của ông đối với người đọc lúc bấy giờ.

Miền Nam đến cuối thập niên 50 đã có được những cơ cấu chính trị và xã hội nền tảng của một chế độ dân sự hiện đại. Nhưng từ năm 1960, đã bắt đầu có những tiếng nói khác nhịp với chính quyền. Nhóm Caravelle (4-1960), rồi đảo chính ngày 11-11-1960, rồi hai phi công thả bom dinh Độc lập 2-1962, những nỗ lực chính trị của một số người của chế độ muốn cứu nền đệ nhất cộng hòa không kết quả, bàn cờ domino khiến "đồng minh" Hoa Kỳ thiếu kiên nhẫn muốn đi nước cờ theo ý mình, bèn cấu kết đưa đến đảo chính 1-11-1963, rồi chỉnh lý, biểu dương chính trị, tôn giáo, v.v. Miền Nam bốc lửa, nếp thanh bình tương đối của thời ngưng chiến sau 1954 dần mất. Nhà văn cũng như bao người dân khác, bị thời cuộc xáo trộn, phải đối phó. Sinh hoạt văn hóa cũng bị biến cố thời thế ảnh hưởng, và ảnh hưởng nặng nề. Những Sáng Tạo, Hiện Đại, Thể Kỷ Hai Mươi, ... đề xướng văn nghệ "hôm nay" thì sau 1960, những tạp chí Văn Nghệ, Văn Học, Nghệ Thuật, Văn, v.v. đã "hiện đại" mạnh mẽ hơn! Rồi sự góp mặt của một thế hệ nhà văn trẻ hơn như Lê Tất Điều (Khởi Hành, 1961), Nguyễn Đình Toàn (Chị Em Hải, 1961), Dương Nghiễm Mậu (Cũng Đành, Gia Tài Người Mẹ, xuất bản cùng năm 1963). Người hiểu biết sẽ thấy khi chế độ đệ nhất cộng hòa bị lật đổ, chống Cộng sẽ hết còn dễ dàng. Và một tuổi trẻ năng động trong hành trình trí thức và tâm cảm, nhiều khắc khoải, ưu tư, nhưng họ lại có thể không cùng kinh nghiệm kháng chiến hay chống Cộng.

Vẫn tiếp tục chống độc tài, áp bức nhưng khởi từ cuộc sống mới của thập niên 60, Võ Phiến sẽ đi sâu vào những phân tích tâm lý và con người phổ quát qua con người của quê hương Bình Định của ông. Năm 1959, ông vào ở hẳn Sài Gòn, xuất bản Đêm Xuân Trăng Sáng, Giã Từ, Thương Hoài Ngàn Năm, Thư Nhà, v.v.

Đến Đêm Xuân Trăng Sáng, xuất bản năm 1961, tập truyện ngắn đồ sộ về số trang (370 trang, sau tách thành hai cuốn ĐXTS và Về Một Xóm Quê khi tái bản), Võ Phiến được người đọc nhìn như một tác giả điêu luyện, có tính chất "thời đại" với những phân tích tâm hồn và quan sát con người rất tinh tế. Nhân vật của ông thêm sức mạnh và "bản lĩnh"! Đêm Xuân Trăng Sáng gồm 8 truyện ngắn Lẽ Sống, Tâm Hồn, Anh Em, Đêm Xuân Trăng Sáng, Thị Thành, Thác Đổ Sau Nhà, Về Một Xóm Quê, Tuổi Thơ Đã Mất đến với người đọc như một đảm bảo văn tài của tác giả Võ Phiến. Nhìn chung, qua các truyện ngắn này, Võ Phiến chứng tỏ tài quan sát và phân tích tâm lý con người, tận cùng sâu thẳm của con người, tài xây dựng nhân vật vừa điển hình vừa đặc thù. Các nhân vật sống động với bề mặt diện mạo cử chỉ và bề sâu tâm tình xúc tích. Họ là những người dân quê, là những ông phó lý, chủ tịch Liên Việt, những quân nhân hay ông tướng Hùng Sơn hoang đường.

Võ Phiến, một cây viết mới và "khác", ông chẻ sợi tóc làm tư, viết những chuyện như "cái chạy loanh quanh của một con kiến vàng trên cái tay đầy những sợi lông măng của nàng", hay truyện một anh cán bộ bị "phục viện" vì sốt rét ngã nước. Nằm một chỗ tình cờ anh nhìn thấy một hạt thóc vương vãi đã nẩy mầm và cái lá non nhỏ đã nhú đang bay phe phẩy. Trong truyện Băn Khoăn, con người kháng chiến cũ ngồi ôn lại "quãng đời đầy buồn thảm, gớm ghiếc" vừa qua đó của mình. Nơi kháng chiến, những cán bộ ở rừng như Lung (MĐCN) đạo đức khả nghi, đời sống sinh lý quá phóng túng, bất thường. Thác Đổ Sau Nhà là một kết cuộc tự nhiên của Hạnh bỏ chồng vì anh đã bị vong thân chỉ nghĩ đến lợi dụng! Đêm Xuân Trăng Sáng là một tập truyện ngắn đúng nghĩa, xúc tích về bề dày, về nghệ thuật viết của tác giả. Cái tinh tế từ ba tập truyện đã xuất bản nay thành cay chua tàn nhẫn hơn. Chủ nghĩa hoài nghi trở nên thường trực hơn qua các dòng chữ. Như S.A. Kierkegard từng sống vớị ám ảnh trọn đời theo đuổi, Võ Phiến không muốn tin để khỏi mất mát, cứ hoài nghi để tiến xa trí thức, nhất là chống những sự thật chủ quan đóng khuôn. Con người hiện hữu là cái cớ để tương phản, đau khổ và lo âu tự do hoành hành. Cứ bi quan thì sẽ khỏi bị cuộc đời chơi phổng tay trên. Võ Phiến, con người từng nếm mùi tù cộng sản, từng nếm những tranh luận hơn thua liên hệ đến sự sống còn mà không là những tranh luận trí thức suông! Võ Phiến đã nhìn thấy rõ tâm hồn của con người, ít ra là qua những nhân vật quen thuộc của ông, ông đã thấy cả những bế tắc và phức tạp của cuộc đời. Nhân vật Thảo chẳng hạn ngoại tình thường trực dù luôn tự kết án là "Bậy! Bậy vô số!".

Tâm sự tha hương bắt đầu rõ nét. "Tôi muốn kể chuyện dâu bể của xóm tôi. Nhưng quả rằng xóm quê tôi tầm thường chẳng phải là nơi linh địa. Cho đến những điền dâu bể cũng tầm thường nhạt nhẽo, chẳng thành chuyện ra hồn. Chỉ nghe một cái gì buồn rả rích từng giọt từng giọt của trận mưa dai dẳng kéo dài, kéo dài qua ... qua cái gì? Qua suốt mười mấy năm dài chưa dứt sao? (VMXQ. Một số truyện ngắn trong tập này như Anh Em, Tuổi Thơ Đã Mất đưa người đọc vào một thế giới hoang đường rùng rợn. Trong Tuổi Thơ Đã Mất, nhân vật Bành mới bốn mươi hai tuổi đời đã khoác hình dong già nua mà lại đầy mặc cảm ám ảnh về sự héo hắt của mình. Con ma quấy rầy đeo đuổi có thể là chính ông ta, ma sẽ cho ông lại xúc giác và sống lại dĩ vãng với người yêu và tuổi thơ. Truyện Anh Em gây khiếp hãi về một thế giới hoang đường mơ hồ, qua một ngôi nhà ma và thời buổi chiến tranh, trong khung cảnh tình cảm anh em họ. Ma quỷ đến quấy nhiễu gia đình người chú đang gặp vận đen, khiến quên cả lo cho con cái. Con ma phải chăng vẫn tiếp tục khấy phá tâm sự nhân vật "tôi" như "một bàn tay thóc mách từ dĩ vãng đưa về", dai dẳng, qua cái cảm giác "rêm rêm" "như còn rung đến da thịt" và trong trí tưởng, "hình ảnh một cổ tay trắng tròn" của em Hạnh?

Giã Từ (1962) là truyện dài đầu tay của Võ Phiến. Nhân vật "tôi" muốn dứt khoát với quá khứ, đã chôn sâu quá khứ trong lòng đất quê hương, thị xã Qui-Nhơn, để bỏ đi đến một nơi thật xa làm lại cuộc đời. Một bữa tiệc chia tay, có nhiều người bạn và có ông Ba Thê Đồng Thời. Câu chuyện xoay quanh ông Ba Thê Đồng Thời, gia đình với vợ ông ta, hai thằng con tên Toàn và Phong và đứa con gái tên Loan. Ba Thê Đồng Thời choán hết chỗ. Ông này cũng như ông bác Đại Cuộc cùng giỏi nói dai nói nhiều, từng hoạt động cho phía bên kia. "Tôi" ẩn khuất nhưng đẩy đưa câu chuyện. Giã từ quê hương, "tôi" đi lính vì Loan, người yêu, đi làm cứu thương, ra chốn trận mạc, lại gặp Toàn con ông Ba Thê Đồng Thời về sau chết trận. Rồi các con ông Ba Thê Đồng Thời mỗi người một ngả, Loan bồng con theo chồng tập kết, vợ Toàn chắp nối với một hàng binh Lê-dương, Phong làm kẻ cướp giật. "Tôi" hóa ra trơ trọi, trở về sống với những người già cũ quen xưa: ông bác già và (lại) vợ chồng Ba Thê Đồng Thời, suốt ngày cứ rỉ rả chuyện quê nhà và cuộc đời. Ông bác Đại Cuộc về già hay lẫn, vui như trẻ nít, quên cả quá khứ. Chị Toàn biệt tăm bên Áo quê chồng - "thêm một người nữa trong bọn dứt khoát giã từ quá khứ"."Tôi nhìn từng vết thương trên cây cối, từng dấu tích tàn phá sửa đổi trong vườn cố đoán ra những hoạt động xảy ra trong những năm tôi vắng mặt, lòng bùi ngùi". "Tôi" chán họ, những kẻ cũ già hoặc "bỏ đi", muốn sống một giai đoạn mới, thoát khỏi "thời buổi bây giờ"! "Quá khứ của chúng tôi gầy đi nhiều quá" Thôi đành phải giã từ! "Tôi tưởng như mình cũng đang cúi hôn trên cái dĩ vãng gồm toàn những chuyện đau lòng ngớ ngẩn. Vừa hôn vừa ngạc nhiên không hiểu tại sao mình làm như thế". Năm 1959, Võ Phiến cũng đã giã từ Qui Nhơn vào sống ở thủ đô.

Thương Hoài Ngàn Năm (1962) gồm 3 truyện ngắn với khung cảnh làng quê An Quí : Thương Hoài Ngàn Năm, Viết Thư Buổi Trưa, Đến Khi Ma Chết. Chuyện những con người bình thường, tầm thường là khác, nhưng họ sống những thảm kịch lớn và những đời sống nội tâm sôi nổi. Thương Hoài Ngàn Năm kể chuyện yêu đương không bình thường của Bạch, có lẽ vì nàng là đứa con thật của ông bà Nghĩa trong khi ba cô chị của nàng là con do lang chạ của bà mẹ với ông lý trưởng. Viết Thư Buổi Trưa là chuyện tình sôi nỗi qua thư từ hơn là qua gặp gỡ. Đến Khi Ma Chết thì chính con ma chuông cũng muốn yên mà không được, sau khi đã quyết theo vợ chồng Hải Thọ lên chốn thị thành để quấy phá trả thù.

Ở những năm đầu thập niên 60 này, Võ Phiến đã thành công bắt người đọc theo ông vào những ngõ ngoắt của nội tâm con người, những chỗ u ẩn nhất. Bằng những chi tiết cuộc đời, những mảng tâm linh huyền hoặc. Bằng khả năng biểu tỏ những cảm thức của mình trước sự vật và biến cố. Bằng tính bi quan như cố hữu của mình. Bằng cách đả động đa phần đến những khía cạnh hoặc sự việc tiêu cực, tầm thường.

Thư Nhà (1963) gồm những chuyện mà "hình ảnh những nhân vật rầu rĩ lố lăng, không hứa hẹn một vinh dự gì cho chỗ quê hương (LTN), nhưng thêm một lần tác giả trải bầy tình yêu quê hương làng An Quí của ông cũng như thị xã Qui Nhơn hình thù như "hình quả tim rất xinh" - nơi ông trãi qua tuổi học sinh. Truyện thứ nhất, Ngày Xuân Êm Đềm, tả đời sống ở thị xã Qui nhơn, chuyện những người láng giềng thân thiết. Những tình cảm quê mùa nhưng tha thiết, hội nhập. Một cuộc sống địa phương, ngày nay khó tìm thấy. "Nghe kỹ mà xem. Vui biết chừng nào, tiếng nước rụng từng giọt rả rích". Đến Thư Nhà là chuyện Qui Nhơn và Sài Gòn : dĩ vãng, cũ, xưa. Ở trong ni lạc lõng nhớ ngoài tê xa lắc, qua những lá thư trao đổi, lòng yêu quê hương làng mạc thắm thiết, đã đi mà không xa vì xa mà chưa chắc đã "lẫm liệt"!

Lại Thư Nhà đặc sắc hơn cả, "mắm cua chua" được dùng làm đầu câu chuyện để tác giả viết về quê hương Bình Định, xoay quanh anh nông dân Bốn Thôi người xấu trai nhưng có đến sáu đời vợ trong đó bốn bà bỏ nhà trốn đi vì ông bất lực về sinh lý. Chị Lộc người vợ thứ hai có tài làm mắm cua chua, chị chịu đựng cảnh có chồng như không, nhưng chị chết sớm vì mụn nhọt độc trên mặt. Người vợ cuối thì chịu ở chung nhưng ngoại tình và có con với người khác. Tác giả tả chị Lộc "Trên thân người nở nang ấy, mọi hình nét đều có vẻ rộng rãi, dịu dàng. Ngững tầm mắt lên một thân người như thế người ta cảm thấy một cảm tưởng yên ổn trong tâm trí. Mặc dù khoảng ngực của chị có thể mở rộng và đầy, người nhìn thấy không hề bị khích động mà chỉ cảm thấy một thích thú thoải mái như là nghỉ ngơi. Trong âm thanh của tiếng nói, trong cái ngước mặt chậm chạp mà chắc chắn không ngập ngừng có một vẻ gì vừa hiền dịu vừa nhẫn nại, vừa vững chải vừa ổn định...

Một người nữ dịu dàng hiền lành hiếm hoi, có thể đem lại hạnh phúc cho bất cứ người đàn ông nào, thương chồng dù bất lực, khiến anh Bốn Thôi "lần hồi tin cậy ở cuộc sống". Tình vợ chồng - dù sao đi nữa- càng rõ nét hơn khi chị Lộc chết , anh Bốn Thôi đã đêm hôm khuya khoắc vác cuốc đi thăm nước ngoài đồng, nhìn con đom đóm bay lập lòe rồi "gõ ngón tay vào cán cuốc kêu loong coong" mà hát ngêu ngao nho nhỏ một mình hiu quạnh - anh là người vẫn hay lẫn trốn cô đơn với thói vặt lông mũi như một cách "lặng lẽ tự xóa mình", cũng là lúc anh có thể mơ mộng triền miên.

Rồi chiến tranh, anh Bốn Thôi tầm thường trở thành biểu tượng. "Trong đời anh đã trầy lên trật xuống, nhục nhã nhiều phen vì vợ con, rốt cuộc là để gầy ra cái tập thể nhỏ bé trong đó anh cảm thấy yên tâm không cần biết đến cuộc sống mênh mông. Thế rồi mãi anh ta vẫn không được yên. Ngót hai mươi năm trời rồi, gần như hồi nào anh cũng cầm vũ khí trong tay; anh né viên đạn của bên này, tránh viên đạn của bên kia, đỡ ngọn roi của bên nọ... và anh cũng lại đánh trả nữa. Và nét mặt anh thì lúc nào tuồng như cũng rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc..." Trời, làm sao anh Bốn Thôi ở ngoài cuộc chiến được, một cuộc chiến tranh ác ôn, mà ác ôn nhất vẫn là ở chốn nhà quê! "Vậy mà hoạt động của anh đã làm ra tình hình của xứ sở (...) Ở khắp các nơi trên thế giới, người ta theo dõi anh, bàn tán về anh...". Đáng chớ, vì Bốn Thôi chiến đấu và bị thương. Võ Phiến mỉa mai cay độc thời đại của ông, cuộc sống của ông: "Mà như vậy mới phải chứ, việc anh làm là nằm trong khuôn khổ cuộc tranh chấp giữa những lý thuyết lớn lao và cao đẹp mà (...) Thời kỳ này quan trọng. Công việc của những người như Bốn Thôi có ảnh hưởng tới mai sau. Nói một cách văn hoa, anh ta đang làm lịch sử đấy chứ; lâu nay anh ta vẫn rầu rầu làm ra lịch sử với một vẻ hững hờ, nhẫn nại". Võ Phiến tiếc rẻ một người Nho học như ông tú Từ Lâm uống cà phê theo cách uống trà: "Trông hai bên Đông Tây gặp nhau tình cờ ở nơi cái già nua lẩm cẩm, ở những ngày tàn rất tiêu điều của ông tú Từ Lâm, người ta nghĩ thà rằng nó đừng gặp gỡ nhau lại hơn". Một Khổng Ất Kỷ (Lỗ Tấn) Việt Nam tàn lụi với thời thế, ở đường cùng, hành cử tồi tệ đến đáng thương hại! Võ Phiến còn đi xa hơn nữa, nghi ngờ cả cuộc đời, đạo lý, thấy Bốn Thôi phải nuôi lũ con ngoại tình của bà vợ thứ sáu, ông phán "Không hẳn là vui vẻ sung sướng", và khi thấy vợ Bốn Thôi đi ăn hàng nhưng chối là đi xin nước bún về cho con: "Kỳ thực ai cũng biết chị đã mất rất nhiều tiền lúc vào lò bún, mà không phải để uống nước cho khỏe. Bởi nước bún chẳng ai bán bao giờ".

Đấy là thế giới của "bà tôi", của kỷ niệm, của thế giới lờ mờ của dĩ vãng, của thế giới "mọi lần". Tập Thư Nhà chấm dứt trong bi quan, chậm chán, có cười thì cũng đắng cay: "Chiều vẫn còn mưa nữa trời. Những con én chiều bay lẻ đã lặn mất vào bóng tối". Đêm, bóng tối, cũng như mưa, những cơn mưa dài ngắn, được Võ Phiến liên tục dùng đến khi viết cũng như những ám ảnh và tâm sự của kẻ tha hương bàng bạc trong nhiều tác phẩm của ông. Thôn làng An Quí và thị xã Qui nhơn, những nơi tác giả đã sống, trải dài trong nhiều tác phẩm của ông, truyện, tiểu thuyết cũng như tạp bút.

Cho đến khi Võ Phiến xuất bản Thư Nhà, miền Nam thanh bình, Võ Phiến bằng lòng với chế độ chính trị và xã hội, do đó ông hăng say về văn hóa, làm văn chương, đưa vào tác phẩm mình "một" sứ mạng văn chương nào đó; tuy nhiên không ồn ào như các nhà văn nghệ thuộc nhóm Sáng Tạo và Quan Điểm! Từ đầu thập niên 60, Võ Phiến đã chứng tỏ văn chương trưởng thành, tinh tế và điêu luyện. Và cũng từ thời gian này, ông nghiên cứu các trào lưu văn nghệ hiện đại mới ở các nước Âu Mỹ, cả Nga Sô; ông viết Tiểu Thuyết Hiện Đại (1963) và dịch nhiều tác phẩm hiện đại trong số có truyện của S. Sweig, .. với bút hiệu Tràng Thiên cũng như mở nhà xuất bản Thời Mới. Và người đọc chứng kiến một Võ Phiến mới, rõ nét hơn. Nếu tìm ảnh hưởng của việc nghiên cứu này vào nghệ thuật viết của ông thì chỉ thấy ông phân tích tâm lý kỹ hơn, quá kỹ là khác và bi quan dai dẵng hơn. Cò thể nói khó tìm thấy những tâm tình, cảnh vật và nhân vật hiện sinh trong tác phẩm của ông, khác với nhiều nhà văn đồng thời. Lối tả tỉ mỉ "lẩm cẩm" những vật tầm thường có thể hiểu như lối tả của Jean-Paul Sartre trong Buồn Nôn (La Nausée), thật ra gần với tâm tính con người Bình Định của ông hơn! Ông có bi quan, lạnh lùng nhưng thực chất tha thiết, có hậu, không như nhiều nhà văn theo khuynh hướng "tiểu thuyết mới" hay hiện sinh. Những năm cuối thập niên 60, Võ Phiến có hai ám ảnh: một văn chương và một thời đại. Về văn chương, ông ngưng viết truyện ngắn, xoay qua viết tùy bút hoặc nặng tùy bút như Ảo Ảnh, Phù Thế, Thư Nhà. Về thế sự, ông viết những nhận định về xã hội, văn hóa mà ông gọi là "tạp bút" (Tạp Bút 1,2,3).

Một Mình (1965) là tiểu thuyết được viết vào năm 1963 nhưng xuất bản 2 năm sau, được coi như đánh dấu quặt văn nghiệp Võ Phiến. Khung cảnh địa lý Sài Gòn thay vì làng An Quí và thị xã Qui Nhơn quen thuộc, và không khí tiểu thuyết nặng nề khó thở như cuộc sống của Hữu, nhân vật chính. Con người trở thành đối tượng của ngòi bút Võ Phiến. Một con người cuộc đời tầm thường công chức nhưng sống xa lạ một phần như anh chàng Grégoire Samsa trong Métamorphose của F. Kafka, phần khác như anh chàng A. Roquentin trong La Nausée của Jean-Paul Sartre và Meursault trong L'étranger của Albert Camus. Những cử động tầm thường của mỗi ngày trong công sở, những đợt xếp mới xếp cũ. Mỗi cử chỉ, mỗi đồ vật được Hữu gán cho đủ mọi lý luận và quan sát, nhất là từ những người đàn bà của đời chàng như Yến, Thúy Mẫn, Cúc, những người yêu công khai và lén lút, như Quỳnh, người vợ, như Châu, "cô bé", con ông ký Ngà, người bạn già, mà chàng yêu, cứ tưởng hết yêu rồi có lúc thấy như hãy còn yêu, như Nga, gái đĩ. Con người cuối cùng ra là bất khả cảm thông, kẻ này là "địa ngục" cho kẻ kia. Với Nga, Hữu "loay hoay vô ích" tìm cách "xông vào cuộc sống của kẻ khác. Dù nỗ lực thế nào chàng vẫn loanh quanh bên ngoài, trong sự lạnh nhạt. May lắm, là trong một thái độ lạnh nhạt ôn tồn, phải chăng, như của Nga đối với chàng (...) Nàng vẫn dễ dãi, buông thả, tử tế - mà dửng dưng, hờ hững, lãnh đạm, bất khả xâm phạm, bất khả kích động. Nàng vẫn cứ nguyên vẹn (...) nguyên vẹn mãi như nàng là khoảng không". Nhưng hình như trong trí tưởng, khi tâm hồn Hữu hạnh phúc, hân hoan thì chàng cũng đã cảm nghiệm rõ sự cảm thông "giữa chàng và người và cảnh xung quanh có một cảm thông tin cậy, có một hòa đồng khắng khít". Những giây phút ấy không nhiều, nhất khi chàng đã ra đời và bắt đầu bệnh hoạn, yếu đuối. "... bây giờ thì chàng tha hồ quấy động... vẫn không có tiếng vang dội nào. Lạnh lùng, im ỉm. Giữa chàng và bên ngoài, và người chung quanh, chỉ còn có những liên hệ vụ lợi, thực tế, cần thiết". Nhiều đồ vật ngày nhỏ, hột mụn nặn được ở vành tai, vết thẹo nơi xương bả vai cô đĩ, v.v. với Hữu, đều là "những kỷ niệm thân thiết lạ lùng"! Chàng, một con người quen "lặng lẽ chuẩn bị chu đáo", quen "thiết tha đeo dính vào cuộc sống, không chịu lỏng tay buông rời"! Một mình và cái tôi đáng sợ như câu nói của Jean Cau mà tác giả trích ở đầu tiểu thuyết : "Je suis seul et j'ai peur de moi. De moi! De moi!".

Đến giai đoạn cuối của thập niên 60, thời của trực diện, có các tạp chíĐất Nước (11-1967), Tin Văn (6-1966), Đối Diện (7-1969), Trình Bày, Vấn Đề, Tiếng Nói, v.v. Nguy cơ đang đến với miền Nam khi chiến tranh đang lún sâu vào bế tắc và thất bại với một đồng minh ngày càng lộ thâm ý dùng miền Nam như một con cờ tráo bán. Võ Phiến chuyển sang viết nhiều tạp bút và tùy bút nghiêng hẳn về chính trị và cộng tác với đài Mẹ Việt Nam. Xã hội đang thay đổi nhiều, văn hóa đang mất giá trị, Võ Phiến phải lên tiếng. Nhà văn và giới trí thức hoang mang, bối rối trong một cuộc sống buồn vì chiến tranh triền miên không lối thoát, không khí buồn thảm của những cái chết, người dân ở thôn quê phải bỏ làng mạc chạy lên đô thị hoặc vào các trại tị nạn. Rồi đồng đô la của đồng minh tràn ngập xã hội miền Nam khiến đời sống và văn hóa phải đảo lộn, xáo trộn. Không lối thoát, mất tự tin. Thảm kịch của con người trí thức đứng trước con đường một chiều, không U-turn, cũng không thể chạy trốn thực tại, sai trái với "thiên chức" của mình.

Đàn Ông (1966): Thế giới đàn ông qua những người đàn bà Lê, Thục. Thường trực bị "sự đè nặng của cá tính đàn ông lên cuộc đời mình", chị Lê bỏ Qui Nhơn theo chồng tên Khảo, vào sống ở Sài Gòn, rồi có thai với nhân tình, rồi cặp với nhân ngãi khác. Chị luôn bị đàn ông ám ảnh; những cử chỉ thân mật hay một chi tiết nhỏ nhặt trên thân thể một người đàn ông cũng làm cho chị lo trước một chân trời mới và định mệnh của mình. Biết phải mất cuộc sống tự chủ nhưng lại thích bị khuất phục, thu hút. Cuối cùng vì quá tin cậy và thụ động trước số mệnh, vả lại thường bị dĩ vãng ám ảnh, chị rơi vào tay "vụng về" của ông tú Từ Lâm người làng chị cũng tìm vào đô thành. Chị bị ông làm "chuyện không đẹp, đáng giận" như bao đàn ông khác cuối cùng đều đi đến đó, nhưng ông tú già và dở, "không có gì cả, không có được chút gì... Sự cố gắng thất bại, cố gắng để tạo một mối liên quan gần gũi thực sự với kẻ khác". Thục, bạn giang hồ của chị Lê thì khác, vì đàn ông, Thục tự tử nhiều lần, tự tử như xúc máy vì sau mỗi lần, nàng như sống lại. "Đàn ông có thất bại chăng chỉ là sự nghiệp đổ vỡ, danh dự lem luốc: bề ngoài cả. Còn họ (đàn bà), mỗi lần họ thất bại là mỗi lần con người họ bị tổn thương, tâm hồn họ ê chề đau đớn; thân xác họ bị xúc phạm tới chỗ kín đáo nhất, thâm thiết nhất, trọn vẹn hồn và xác họ bị mất mát". Thân phận đấy chăng?

Ảo Ảnh (1967) gồm 7 bản văn được tác giả gọi là "đoản văn". Xem Sách lướt qua cuộc đời của một thi sĩ già với những chi tiết tầm thường của cuộc đời như mất người yêu, bút chiến nhưng tác giả đã ngừng lại lâu ở nơi "an tâm" của nhà thơ bên tủ sách. Khắc khoải trong một không gian lạnh lẽo nhưng có những cái mờ nhạt nhất của sự sống, gây phấn khởi nơi con người . "Giã từ cái dạ non của mẹ để ra ngoài đời, con người vẫn luôn luôn mơ hồ nhớ về cái quê hương nguyên thủy của mình, nơi mình đã trải qua một thời cô đơn trong ấp ủ ấm áp. Một nghệ sĩ già, thỉnh thoảng ngắm nghía mấy nhúm tóc bạc óng ánh như cước của mình, cần được ngắm nghía trong khung cảnh an toàn như thế chứ. Một nghệ sĩ già không vợ, không con, không còn cha mẹ, không còn liên hệ nào với làng quê của mình nữa. Một nghệ sĩ già sau ba mươi năm vất vả với nghững cảm nghĩ của chính mình, những đòi hỏi của kỹ thuật thể hiện, những khen chê của đời... Gian phòng, hãy tối lại một chút cho gần với cái ấm cúng trong lòng mẹ thủa nào...".

Người Chồng Bất Thường vì hình như thừa hưởng tính của tổ tiên hay nghen tương quá độ, ghen có thể vũ phu khiến gia đình tan vỡ. Thảm kịch qua người vợ, bỏ chồng xong lại thấy cuộc đời mình mất ổn định. "Những cái tát ấy làm cho tôi thấy trên đời có một ý chí xác quyết không phân vân. Ngày nào còn sống bên chàng, bên cạnh sự hung tợn dữ dội lôi cuốn của chàng tôi có cảm tưởng thế giới quanh tôi có vẻ vững vàng ổn cố. Bao giờ chàng cũng đi quá mức một chút, thật đáng tiếc. Phải chi chàng đừng chém, đừng có ý định giết tôi, tôi sẽ vui lòng ở mãi với chàng". Vì "Sự đe dọa của một ý chí, không đáng lo hãi bằng sự đe dọa của trống rỗng, của cái khoảng không, không chiều hướng, không ý chí trước mặt mình". Võ Phiến đã hiểu tâm lý những bà vợ bị chồng đánh nhưng vẫn vui sống bên cạnh! Truyện Cái Còn Lại là một đào sâu quá khứ và vô thức, để tìm thấy và nhận chân những cái vụn vặt rườm rà tạo thành sự sống và nó thường nằm lẫn lộn đâu đó tưởng đã khuất trong khi có thể là ngọn đèn vàng cạch tầm thường, khuất lấp trong cái thường nhật vô danh như thế, vẫn sáng đâu đó nơi chàng suốt ba mươi năm". Nhưng tác giả đang triết lý "vụn" bỗng vội vàng nói đến những chuyện quan trọng của đời người : "Bây giờ là ba mươi năm sau ... bây giờ mẹ chàng đã qua đời trên mười lăm năm, tóc trên đầu chàng, mười phần bạc đến bảy tám... sau khi chàng có người vợ thứ hai, người này gian díu với một thằng bạn khiến chàng nhúng tay vào một vụ sát nhân". Năm Ba Lá Thư là những lá thư tình được hờ hững đọc lại, như cuộc đời buồn bã, không ý nghĩa. Truyện Ế Ị đưa người đọc đến với thế giới âm thanh lạc lõng một buổi trưa trong xóm nơi đô thị vốn ồn ào. Đó là tiếng rao mơ hồ, "giọng của một người xẩm, trong trẻo... Nó cất lên giữa khu phố như tiếng con chiền chiện ngoài đồng nọ. Cả hai đều làm cho trời thêm xanh, nắng thêm sáng, mây bạc phiêu phiêu thêm cao". Tiếng rao khiến anh công chức tên Đỗ cảm động và đồng thời nhớ đến sự thoải mái tươi mát của làng quê xưa, quá khứ đang "tiếp tục sống trong lòng hiện tại". Nhưng theo tác giả, "chờ đợi tiếng rao ngân nga nọ, như là đang vuốt ve một ảo tưởng thanh bình". Truyện Hội An khoác vẻ vừa nghiên cứu vừa triết lý, cũng là một khởi điểm để con người lắng nghe tiếng thở dài của thời gian và những xao xuyến của thời đại. Đoản văn cuối, Giọt Cà Phê, gây nơi người đọc nhiều cảm xúc tột cùng. Chỗ ngồi nhìn phin cà phê nhỏ giọt là "chỗ u cốc ẩn cư tư tưởng của người đô thị". Và những giọt cà phê "rụng chậm" như là cái cớ để "chàng" nhớ dĩ vãng và cả những điều "nhảm nhí". Marcel Proust "đi tìm lại thời gian đã mất" khởi từ mẩu bánh quả bàng (madeleine) thời tuổi nhỏ. "Chàng" ở đây, từ những giọt cà phê chảy chậm nhớ lại những kỷ niệm, cả cuộc đời và cậu Bảy nghệ sĩ hay "nói" Vân Tiên, khiến chàng dù không sợ chạm trán với cái chết đã đi đến kết luận không thể "ghét bỏ cuộc đời này (...) Đó là chỗ nhược căn bản của con người (...) Mai sau khi chàng đã nằm kỹ dưới ba tất đất, áo quan lâu ngày - dù là thứ áo quan tốt của cửa tiệm danh tiếng bên kia lề đường - sẽ mục rã, chàng nằm yên tiếc rằng từ ngày chàng rời mặt đất sự chuyển biến trong thân thể chỉ xảy ra có một chiều, ngày mai mềm đến hai môi, ngày kia sập mất cái mũi... Cứ thế. Chán quá đi mất. Suốt mùa khô ráo thời gian dài bất tận, không có bình minh, hoàng hôn, không có đêm ngày, không có gì nhắc nhở đến cuộc sống trên kia. Thế nhưng khi mùa mưa đến thì khác. Nước mưa thấm vào đất, âm thầm len lỏi qua nhiều lớp đất, như qua một cái phin vĩ đại. Cuối cùng đến mặt áo quan, nó dừng một chút, lưỡng lự, ngập ngừng, thăm dò. Nhưng áo quan đã mục: nó được phép. Bèn có những giọt nhỏ xuống: một giọt bên phải, một giọt bên trái, một giọt... Thôi, đúng rồi! đúng vào cái nơi trước kia vốn là trái tim của chàng". Ý thức sáng suốt lẫn với hoang mang đau đớn của thân phận làm người. Như vậy ở cuối tập Ảo Ảnh, Võ Phiến tỏ lộ lòng tha thiết yêu thương con người, vì tình yêu đó mà ông đã không bỏ qua những chi tiết dù nhỏ nhặt của cuộc đời, những kỷ niệm dù kỳ quặc của kiếp người. Giọt cà phê mà lại soi sáng thấy rõ cái kiếp người!

Với Phù Thế (1969), Võ Phiến đi sâu chuyện thế sự và thể văn tùy bút mà xa lần thể truyện ngắn hay tiểu thuyết thông thường. Những đoản văn xen lẫn những suy tư miên man về những vấn đề hôm nay, về cuộc đời bị động, mơ tỉnh trộn lẫn với quá khứ và những hy vọng, chờ đợi cho ngày mai. Trong Một Ngày Để Tùy Nghi là suy nghĩ từ những tiếng động của chiến tranh và mưa rơi không dứt. Lúc Dừng Nghỉ khởi từ cuộc đời quay cuồng cũng phố xá ồ ào và chiến tranh, đưa tư duy đến những quan hệ với người khác, quan hệ như một ám ảnh thường trực. Một Chỗ Thật Tịch Mịch cần đến để lắng nghe cuộc đời đang tàn tạ, cái tàn tạ cũng là để dĩ vãng vùng lên, để những khắc khoải của tâm hồn day dứt. Thao thức trong vắng vẻ, một trực diện với mình "không nồng nàn". Không tha nhân, mà vật thì vô tri, xa vời!

Nụ cười dí dỏm, lối nói duyên dáng và con mắt tinh tế chính trị của nhà văn Võ Phiến buổi đầu văn chương, đến đầu thập niên 60 đã biến thành cay chua một cách sáng suốt và hài hước hậu ý giáo dục như Socrate ngày xưa khi bị chế độ xử án đã dám "làm hỏng" thanh thiếu niên. Sáng suốt nhìn thẳng, nói thẳng, đối đầu với vấn đề trước mặt, đi tới cùng tinh túy của sự thật. Từ châm chọc, bông lơn đưa đến bi quan tột độ chuyện thế sự, nhưng mà một bi quan có văn hóa, thâm trầm, không lộ liễu. Năm 1968, sau vụ tấn công tết Mậu Thân, ông viết hai bài tạp bút gây chú ý : Bắt Trẻ Đồng Xanh cảnh cáo hiểm họa kẻ thù vì nhu cầu chiến tranh sẽ bắt cóc trẻ con trong Nam đưa ra Bắc huấn luyện rồi gửi trả về chiến trường miền Nam. Bài Tiếng Cú cảnh giác cách giải quyết chiến tranh của miền Nam sẽ đến từ áp lực và công luận mệt mỏi. Cộng sản với Võ Phiến là một ám ảnh đời, một kinh nghiệm sống chết của riêng ông và vì thế ông biết là thảm họa chung.

Võ Phiến muốn thuyết phục bằng lý luận và chi tiết của sự việc hơn là bằng tuyên truyền và khẩu hiệu của các chính trị gia. Thâm trầm, tinh tế nhưng bi quan và hoài nghi thường trực, đồng thời đôi khi cũng từ bi, khoan dung với kẻ thấp và khinh miệt, uy dũng, lãnh cảm với kẻ cao. Và đến một lúc nào đó không thể đồng lõa với chính quyền - ông là một công chức cao cấp, ông đã lên tiếng : ngày 5-3-1969, cùng một trăm văn nghệ sĩ khác, ông đã ký kiến nghị yêu cầu chính phủ bãi bỏ chế độ kiểm duyệt đối với ngành xuất bản. Hậu quả ông đã bị bãi chức chánh-sự-vụ ở bộ Thông Tin. Võ Phiến, một nhà văn không tai tiếng, cần mẫn với văn chương, một công chức gần trọn đời, một giám khảo các Giải thưởng văn nghệ toàn quốc và hội viên Hội đồng văn hóa giáo dục trước và sau đó. Lên tiếng vì Võ Phiến nghi ngờ cái tuyệt đối, tuyệt mỹ. Cái đẹp đối với ông là những cái bình thường. Võ Phiến tiêu biểu cho con người bất mãn, với những kẻ tàn độc trong kháng chiến, trong cuộc sống; tóm, ông bất mãn với thực tại. Anh Bốn Thôi tầm thường, xấu trai, bất lực sinh lý, chỉ mong có được một cuộc sống bình thường mà không được, anh không theo thời, cuối cùng anh vẫn bị lôi kéo, cho nhập cuộc, nhập phe! Thao thức, ước vọng, hay Võ Phiến góp tiếng nói trách nhiệm của mình! Trong một hoàn cảnh bi đát, đã trễ!

Đọc Võ Phiến không dễ, vì đọc ông không phải để cho qua thì giờ. Đọc xong thường người đọc bàng hoàng, nghi ngờ, có thể ý thức mệt mỏi, lo hơn, dằn vặt hơn: những cuộc đời quê mùa, những kẻ bình thường nhưng sao phải khốn cùng, khắc khoải? Nhân vật của Võ Phiến là những con người cục mịch, quê mùa, với những cái tên gợi hình như chị Bốn Chìa Vôi, anh Bốn Thôi, Ba Càng Cua, Ấm Sứt, Hai Mỏ Gẫy, Tư Huệ Héo, gợi cảm như ông tú Từ Lâm, anh Nam Hà, Thập Tam,... Họ, nhiều người nét mặt "rầu rầu, nguội lạnh như một người ngoại cuộc", một rầu rầu bình thản hoặc rầu rầu vì lạc loài, phải sống âm thầm nhưng tâm hồn thì sôi sục đây khắc khoải, khát vọng thường cũng rất bình thường, có khi là một nỗi cô đơn hiu hắt, có khi là những mất quân bình đáng thương hại. Họ sống cho kỳ vọng của mẹ cha hoặc sống vì người khác. Võ Phiến không dựng những nhân vật lạc quan hoặc có cuộc sống hạnh phúc từ đầu đến cuối. Không chiến tranh thì cũng ai đó trong gia đình dòng họ xóm làng làm rối cuộc đời lặng lẽ. Mà cái lặng lẽ này cũng đầy nghi ngờ vì ngầm chứa những oán thù, nợ nần, truân chuyên... chỉ đợi lúc bùng vỡ. Làm người dân thường như những nông dân của Võ Phiến cũng không dễ, mà những nông dân cục mịch đó cũng ngày càng biến dạng trong văn chương Việt Nam và ở ngoài đời họ cũng đô thị hóa tại chỗ với TV, ca nhạc, vật dụng thường nhật và y phục. Nhưng tâm hồn họ ? Trong tình cảnh lưu vong của nhiều người Việt hiện nay, nhất là lưu vong dứt khoát không ỡm ờ, đọc chuyện nông dân của Võ Phiến lại càng thấm thía hơn, một thâm thía trong bất lực, như một dĩ vãng đã quá tầm tay với!

Cái bi quan của Võ Phiến, cái không khí buồn tột cùng hay bất lực trong tác phẩm ông, như đã lây đến thế hệ viết văn trẻ hơn ông như Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Ngọc Tuấn, Trần Thị NgH., v.v. Ở hải ngoại sau 1975, Võ Phiến sẽ đẩy cái bi quan khi nhẹ khi mạnh thời trong nước thành một loại bi quan bi đát, ông cười cợt cả số mệnh mà hình như ông cũng ở trong cái đối tượng cười cợt đó. Và bảo thủ như chưa từng! Ở đường cùng, tối tăm, bơ vơ, bức tường đã chắn, như thân phận thật sự "lưu dày". Quá đau khổ chăng, tuyệt vọng chăng ?

Phải chi Võ Phiến tiếp tục dùng tài điêu luyện tâm linh và bén nhậy để viết về con người hôm nay ở những năm cuối một thế kỷ, khi mà âm khí nặng nề và tâm linh thể hiện dưới nhiều hình thức và ảnh hưởng nhiều đến người Việt nhất là ở hải ngoại! Những chị Lộc, chị Lê, Hữu, Khảo, anh Bốn Thôi, ông tú Từ Lâm, ... cũng nhiều mà những Trần Hùng, Trần Kỳ Vỹ, Phùng Văn Nước, Hoàng Gia Lộc, bác Đại Cuộc, ... cũng không thiếu! Nhưng đa số nay mặc đồ lớn, thắt cà-vạt, lái xe hơi, mà nếu có lâm vào tình trạng như chị Lộc cũng đã có trả lời sẵn của ... xã hội ! Võ Phiến là một nhân chứng của thời ông và là một nhân chứng can đảm và bi quan. v.v../.



9-9-1998

























Nguyễn Thị Hải Hà:
Các nhân vật nữ của Võ Phiến
http://www.gio-o.com/Chung/NguyenThiHaiHaVoPhien.htm







Luân Hoán: 
Võ Phiến, cuối cùng tôi được gặp


Lê Thanh Thái, Lê Ngộ Châu, Võ Phiến, Nguyễn Hiến Lê, Vũ Hạnh
(Ban biên tập tạp chí Bách Khoa)





































Bài viết về Võ Phiến



(Ngọc Lan)

(Đặng Tiến)

(Đặng Tiến)


(Trần Văn Nam)

(Nguyễn Hưng Quốc)

(Kiều Phong)

(Nguyễn Vy Khanh)

(Bùi Vĩnh Phúc)

(Kiều Phong)


(Kiều Phong)


(tienve.org)

(Nguyễn Hưng Quốc)

(Nguyễn Hưng Quốc)





(Nguyễn Mộng Giác)

(Nguyễn Tà Cúc)

(Trần Yên Hòa)

(Mặc Lâm, RFA)

(Mặc Lâm, RFA)











































Vợ chồng nhà văn Võ Phiến & vợ chồng nhà văn Hoàng Ngọc Biên














Hoàng Ngọc Biên, Võ Phiến, Nguyễn Quỳnh (sau lưng VP)



















Võ Phiến, Đào Hiếu, Nguyễn Mộng Giác














Lữ Quỳnh, Nguyễn Mộng Giác, Trúc chi, Võ Phiến












Võ Phiến & Doãn Quốc Sỹ














Thủ bút Võ Phiến











































Và đã quên hết chuyện ...nhân gian




























MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.