Thursday, 17 July 2014

Viên Linh












http://phannguyenartist.blogspot.com/ 




Viên Linh

Tên thật: Nguyễn Nam
 (1938 - .........) Hà Nam 
Nhà thơ, Nhà văn, Nhà báo

 Chủ trương Tạp chí Thời Tập
 Chủ Tịch Văn Bút Hải Ngoại 1993-1997
 Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Tạp chí Khởi Hành















"Ở đây sầu đã tan tành
Người đi chưa đủ về quanh chiếu ngồi"
Viên Linh

VI.2017
California









Tiểu sử:


 
Nhà văn Viên Linh tên thật là Nguyễn Nam, sinh ngày 20-1-1938 tại Hà Nam. Ông quê ở Đồng Văn, Phủ Lý.
Tác phẩm đầu tiên được trả nhuận bút ông viết năm 14 tuổi, đăng trên Nhật báo Tiếng Dân Hà Nội. 

Ông di cư vào Nam năm 1954, và trưởng thành tại Sài Gòn. 
Viên Linh sống bằng nghề làm báo,viết văn từ thập niên 60, là tổng thư ký Tòa soạn nhiều tuần báo chuyên về văn học nghệ thuật như Kịch Ảnh, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Hồng, Thời Tập.... và cũng là tác giả của gần hai mươi tựa sách trước 1975. 
Viên Linh đoạt Giải nhất Giải Văn chương Toàn quốc VNCH năm 1974 với tác phẩm Gió Thấp.

Ông là một tên tuổi của Văn học miền Nam từ những năm 60, 70 thế kỷ trước.

Hiện sống và làm việc tại Hoa Kỳ.

 


















Tác phẩm đã xuất bản:











1
Hóa Thân
thơ, 1964

Lục Bát Viên Linh
Tuệ sỹ
 https://gdptvietnam.org/tue-si-luc-bat-vien-linh.gdpt















2
Thị Trấn Miền Đông
truyện, 1966

Tây Phố là một thị trấn nhỏ nằm ven quốc lộ số Một, về mé biển, thuộc miền đông cao nguyên Trung phần. Thị trấn lưa thưa khoảng gần một trăm nóc nhà, phần lớn là nhà gỗ lợp ngói, kiểu cổ xếp sau những hàng cây. Liên trở về đó vào tháng Mười, trong những ngày mùa mưa đang tàn ....

 http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11912&rb=08









3
Cảnh Tượng Đêm Nay
1966





4
Một Chỗ Nào Khác
1967








5
  Cuối Cùng Em Đã Đến
1978







6
Cánh Cửa Đêm Thâu
1969








7
Chiều Hôm Gió Cuốn
1969







8
Cuối Trời Hôn Mê
1969






 
9
Mã Lộ

truyện dài, 1969










10
Một Mùa Mê Hoặc












11
Tình nước mặn

truyện dài, 1972
 http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=12095&rb=08










12
Hạ đỏ có chàng tới hỏi

truyện, 1973








13
Lòng gương ý lược

truyện, 1973








14
Tới nơi em ở

truyện, 1973








15
Gió thấp

1974








16
Thuỷ Mộ Quan

thơ, 1982









17
Chiêu niệm văn chương

biên khảo, 2000











18
Tâm Sử ca
Nxb Khởi Hành,Thơ,2013


















Thơ Viên Linh







Mộng du


Chiều rơi với mốc ưu tư
 Tay xương đá mặn thân gù núi cao
 Trong tôi niên cổ rì rào
 Hồn không phách nhẹ mộng nào trôi qua


Năm năm mòn mỏi quê nhà
 Thời gian nổi bóng còn ta đứng chờ
 Tay dài viễn mộng quanh co
 Canh thâu bóng đợi bây giờ bóng đi


Ngủ còn quên khép đôi mi
 Xương da những bọt phân ly tiếp dài
 Sáng rồi tắt bóng tương lai
 Thôi xong tuổi trẻ thôi hoài mộng em.

(Hóa Thân)










Cúc Hoa


Ngồi ôm gối hạc canh dài
 Sáng hung ta thấy bụi ngoài xác khô
 Ðứng ôm vóc hạc gầy gò
 Quanh ta bỗng lẫn sương mù nghìn năm.

(Hóa Thân)










Dương thế


Thôi em cõi đó ưu phiền
 Anh xin thân thể kiếm miền truy hoan
 Ngón này chỉ lạc nhân gian
 Luân lưu kiếp mọn còn tham dục đời


Kiếp về trả lại thân ôi
 Ðêm nay hóa tượng thành ngôi đứng chờ
 Tượng này lệ nhỏ tay thưa
 Sầu tôi dương thế còn chưa đủ buồn.

(Hóa Thân)










Dấu tích


Lệ tôi dấu tích tôi mòn
 Lên cao tiếng biển xưa dồn ngón tay
 Xuống rồi quẹo ngả nào đây
 Quán thưa buồn tạt bụi đầy ghế con
 Ra rồi dốc đá chon von
 Trông trường giang rộng nghĩ còn quanh co
 Thôi qua con lộ sương mù
 Hồn im nghe chiếc xe đò về không.

(Hóa Thân)










Ký ức



Bẵng đi từng ấy năm
 Bây giờ trông lại mặt
 Về đây nằm khóc than


Thôi em ơi hạnh phúc
 Thôi thời gian lỗi lầm
 Sống ngoài hai mươi tuổi
 Ðêm đêm mơ hồi xuân


Tay vót mòn nến đỏ
 Da kéo dần nếp nhăn
 Ðêm coi sao mù mịt
 Khi không vùng cười khan


Bẵng đi từng ấy năm
 Ðời chờ dài rét mướt
 Coi xe về nhớ em
 Càng nghĩ càng thương tiếc.

(Hóa Thân)










Những lời vĩnh biệt của nàng

Tôi ngỏ lời chào tất cả anh em
 Rồi trở về đêm đi rất muộn màng
 Một người con gái đứng trông thành phố
 Sợi tóc dài rơi xuống cánh tay
 Tôi cúi lượm ngậm ngang môi rồi khóc
 Làm con chim tha cọng rác khô
 Rũ cánh tay về hiên ngói xám
 Ðêm muộn màng đêm hãy xót thương
 Tôi đi trên những bước chân buồn
 Qua tuổi đời rồi qua một bến kia
 Bóng cây xếp hàng coi cột điện
 Trong lòng khô từng miếng sắt non
 Mẫu than tro kẹt trong kẽ tay gầy nọ
 Là mặt trời cô đơn chết giữa hàng cây
 Ðốm thuốc lập lòe trên đôi môi buồn nọ
 Là lời ca em tôi vẫn kiếm tìm
 Mây xuống thấp cây còn những tăm hương
 Trời rã thành bụi tàn rơi lặng lẽ

Rồi lụi dần trong đó cùng em.

(Hóa Thân)










Tư tưởng


Tôi ngồi quán nhỏ
 Ngóng tầu đi qua
 Bến xe ngựa cũ
 Nằm dài biên khu


Cây sầu chín đỏ
 Dăm ngành trơ vơ
 Trăm năm rét mướt
 Ngày trôi ơ hờ


Nhớ chăng nhớ chăng
 Xưa kia buồn thế
 Nói chi bây giờ


Tôi ngồi quán nhỏ
 Con tàu băng qua
 Tiếng chân ngựa gõ
 Xong rồi êm ru.

(Hóa Thân)










Một nhánh sông


Chiều về trên một nhánh sông
 Bên tôi con nước đỏ lòng quanh co
 Nước loang dưới đáy trời dò
 Buồn tôi thánh thót trên lò nhân sinh.
 Tôi sôi bộ ngực ái tình
 Tan thân địa ngục biến hình dương gian
 Tôi tan vồi vội tôi tan
 Bay trên cái sống mối hàn âm ty
 Củi tôi đây củi tứ chi
 Ðốt lên sưởi ấm từng khuya với người
 Chiều về trong một cánh dơi
 Bên tôi bóng xám bay trời âm u
 Mắt vàng khép muộn trời thu
 Hồn tôi chập choạng cái mù nẻo xa
 Tôi nghiêng một bóng chiều già
 Soi trong tâm trí ngôi nhà tịch liêu
 Tôi yêu vồi vội tôi yêu
 Ôm chưa đầy ngực bấy nhiêu mộng tàn
 Chiều về thân ngại truy hoan
 Nghe trên giá sách bụi vàng dâm thư
 Ðêm nay ngọn lửa chần chờ
 Bên tôi trời đất từ từ quên quên

(Thủy Mộ Quan)








Cõi đời tôi


Chiều nay tôi tỉnh hay mê
 Ở đây hay đó mới về hay đi
 Ðời nay tôi lỡ xuân thì
 Soi gương lệch mặt khác gì nhân gian.
 Mưa gieo theo mái buồn vàng
 Nhân sinh những bóng điêu tàn nghiêng nghiêng.
 Chiều nay tôi đó ưu phiền
 Ngón tay dài ngắn đất liền biển khơi
Sống tôi này chết như tôi
 Thịt xương của quỉ xui đời gian tham.
 Mưa gieo, trăm giọt xô đàn
 Xuân thu cuồn cuộn tiếng hàn kêu lên.
 Giờ đây hình thẳng bóng nghiêng
 Ban đêm tránh sáng ngày kiêng mặt trời
 Ở đời địa phủ cho tôi
 Về đâu kẻ lạ, đứng ngồi loanh quanh.
 Mưa gieo tâm trí tan tành
Chiều nay con thú soi hình tưởng ai.

(Thủy Mộ Quan)
























Tham khảo thêm về nhà văn Viên Linh















Lục Bát Viên Linh
Tuệ Sỹ


Từ thủa bình minh ấy, khi biển Đông vừa tàn cuộc khói sương, những đợt sóng vỗ bờ, xô nắng mai lên bãi cát, ghi dấu phế hưng của một thời lãng mạn bi hùng; có đoàn người lần theo duyên hải, định hướng chân trời, đâu là phương sinh nhai cho tròn cõi nhân sinh. Không biết tự bao giờ, là thiên mệnh, hay là huyền sử, tôi đọc thơ và yêu thơ từ những chuyện lãng du. Người đi, từng bước để lại phương trời quá khứ, ghi vết tích trên từng dấu chân, để rồi sóng biển xóa nhòa. Ký ức thành mộng tưởng.

Khi mà ký ức còn bị vùi lấp trong những lớp bụi mù phố thị, eo xèo tiếng vọng từ hí trường giả dối, lãi nhãi trên những giá trị phù hoa không thực chất; ngôn ngữ nguyên sơ, tiếng khóc từ khi lọt lòng Mẹ, chỉ là âm vang của ma quỷ tranh nhau trong bóng tối. Ta hay người, bỗng chốc lạc loài trong lòng đất Mẹ. Chợt đồng vọng tiếng ru đâu đó, giai điệu u trầm ấp ủ đàn con từ những ngày dựng nước. Đàn con ra đi theo những lớp phong ba của lịch sử quay cuồng, anh em như những người khách lạ, nhìn nhau mà không biết ai đến từ phương nào. Hình đã đổi khác, mà tâm tư cũng thành cách biệt. Chợt nhận ra một nửa hồn mình khi nghe tiếng khóc của người.

Tôi đi tìm tiếng khóc còn hồn nhiên, để nghe truyện kể bắt đầu từ những hạt mưa trên đỉnh Trường sơn, đổ xuống bình nguyên mà vào Đông hải. Tiếng khóc chào đời hồn nhiên, bởi tình yêu của Mẹ trong điệu ru sáu tám. Một mai, tiếng khóc trong cõi nhân sinh nhuộm máu quân thù để viết thiên lịch sử quan phương, để xóa nhòa huyền sử, thì trong nguyên ngôn, trong tiếng khóc ban đầu, vẫn là khúc hòa âm của huyền sử được viết bằng thơ. Nghe huyền sử, được kể bằng thơ, để yêu mình và yêu người, để còn nghe đồng vọng tình yêu của Mẹ, từ lòng Đất Mẹ. Mai sau dù có bao giờ… Mai sau, khi ta đi đến cuối, hay gần đến cuối, những đoạn đường khổ lụy lưu đày trong cõi nhân sinh này, đã đơn độc giữa toàn anh em mà như khách lạ này, lúc ấy biết đâu ta cũng tình cờ muốn nhẫm đọc những câu thơ như vầy:

Sinh ở đâu mà giạt bốn phương
Trăm con cười nói tiếng trăm giòng
Ngày mai nếu trở về quê cũ
Hy vọng ta còn tiếng khóc chung.
(Thủy mộ quan 78)

Lời thơ như nửa hận, nửa yêu. Yêu và hận, từ một chân tình diệu vợi:

Tình ta một mối tình câm
Nói ra im lặng, âm thầm tiếng vang.
(Thủy mộ quan, Ngoại vực).

Buồn vui, yêu hận, loanh quanh trong một kiếp người, của một đời lãng tử, lênh đênh qua mấy ngọn hải triều, để nghe trong ta, một thời xa xưa, Lưu Nguyễn lạc lối đào nguyên mà vẫn mơ màng phố thị, hành trang chỉ là một gói hoài niệm trong bóng điện đường, những chuyến xe đò khuya tạnh:

Đêm sâu giữa lũng bò vàng
Điện lu phố nghiệp xe dàn bến không.
(Hóa thân, Kinh cầu nguyện)

Đâu đây, nghe như truyền thuyết của một cuộc lữ hành bất định và bất tận. Từ đó ta nghe da diết một vần thơ, điệu ru huyền sử, huyền thoại về những người con theo Mẹ lên rừng và theo Cha xuống biển:

Nước tôi huyền sử chẳng hoang đường
Lưu Nguyễn rời non mỗi rạng đông
Về kiếm người thân người mất dấu
Nhà xưa tìm đến thấy dâu xanh.
(Thủy mộ quan, 82)


Thế giới thơ – cõi thơ, và thế giới thực của người làm thơ, không là một, và cũng không là hai. Buồn vui với chính mình, với tình đời và tình người, người làm thơ trong khoảnh khắc tan biến vào một thế giới hoang liêu. Đêm dài với ngọn đèn lu; ánh điện đường với bến xe trống vắng. Có thể là như thế. Chỉ trong khoảnh khắc chìm đắm, và tan biến. Tan biến trong thơ để tính thể tồn tại của ta phơi bày như lãng tử bị ném vào một cuộc lãng du vô định và bất tận. Rồi tan biến trong đám người trong các ngõ hẻm, trên hè phố, để vật lộn với nhân sinh, khắc khoải với ngày mai tồn tại hay không tồn tại, với những lợi đắc hay thất, vinh hay nhục, với những viên đạn lạc loài, với những mảnh vỡ bom, mìn, bên vệ đường, trên đê ruộng.

Anh, trong thế giới hiện thực ấy, hằng ngày vẫn phải giao tiếp mọi người, những con người mà “gót danh lợi bùn pha sắc xám”. Bận tâm với số lượng tăng giảm của những tờ nhật trình, với những lời khen chê, những chuyện thị phi phù phiếm, với các giải thưởng. Thế giới thực mà không thực. Thi sỹ, tự trong tính thể, cũng chỉ là một hữu thể tại thế, một mảnh đời được ném ra đó để phải tự mình sáng tạo nên giá trị của sự sống. Ta từ đâu đến? Mọi người đi tìm câu trả lời trong các tôn giáo, triết học. Tín đồ tôn giáo tìm thấy câu trả lời cho định mệnh tồn tại của mình từ tượng Thánh trang nghiêm trên bệ thờ, với những vòng hào quang rực rỡ và tinh sạch, thánh thiện. Sinh viên triết học tìm câu trả lời từ các giáo sư đạo mạo trên bục giảng nghiêm túc của Đại học. Thi sỹ đi tìm câu trả lời từ những rác rưởi của đời sống thường nhật – mà các nhà mô phạm văn hóa gọi là đời sống hiện thực. Những giá trị nhân sinh được thẩm định là cao thượng, thánh thiện, vinh quang, để dành cho các nhà văn hóa quan phương trong các dinh thự cao sang. Giá trị nhân sinh tồn tại nơi thi sỹ chỉ là những mảnh vụn bị bỏ quên. Ưu tư, khắc khoải, hoang vu, sầu muộn, ưu phiền, những từ ngữ chất đầy bóng tối não nùng trong các vần thơ, như là biểu hiệu thái độ ươn hèn, khiếp nhược, trong trường cạnh tranh sinh tồn; là những từ ngữ có nội hàm đen tối trong các pho từ điển triết học. Chất liệu phế thải trong đống rác là những thứ đáng lợm giọng của nhà phú hộ; nhưng là dưỡng chất tồn tại của những người cùng khổ. Chúng hàm giá trị dinh dưỡng không hề nhượng bộ các thứ cao lương mỹ vị khi được tiêu hóa bởi dạ dày của hạng cùng đinh. Thi sỹ tiêu hóa trong thơ mọi thứ hạ liệt thấp kém, những thứ xấu xa vô nghĩa trong đời thường thành những giá trị vĩnh cửu; thành những thực phẩm dinh dưỡng tất yếu cho tính thể tồn tại của nhân sinh. Vậy thì, nhà thơ ấy từ đâu đến?

Nhớ tôi, tiền kiếp rưng rưng
Dài tay địa phủ ôm lưng kẻ nào
(Hóa thân, Tôi)

Từ một tiền kiếp xa xôi nào đó, nơi mà định mệnh nhân sinh được tẩm ướt bằng nước mắt. Những giọt lệ bi thương, hay đấy là những giọt sương long lanh trên ngọn cỏ, đẹp vô chừng thoáng chốc trong ánh ban mai?

Hay từ cõi địa ngục u tối cùng với những thân phận bị đày đọa; ở đó ta có những người thân quen, những bằng hữu chân tình, yêu nhau mà cũng hận nhau, bởi “vì chàng thân thiếp lẻ loi, vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi một mình”?

Phân thân hóa kiếp này thôi
Hồ xa cố thổ chân dời nẻo em
Ba trăm cửa ngục người quen
Lên đây phố rộng đời chen bước hờ.
(Hóa thân, Địa phủ)

Tôi đến từ một thế giới khác anh. Từ một thế giới thần tiên bị lưu đày, bước đi vô cảm trong thế giới xa lạ này; rồi nghe hơi thở từ thơ, – từ thơ anh hay từ Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, từ tiếng khóc oán hận của cung nữ hay từ giọt lệ tình yêu của người chinh phụ, chợt thấy viên đá cuội lăn lóc bên vệ đường cũng chất nặng tình đời, yêu và hận.

Hóa trang làm nhà triết học, tôi dẫm bước lần theo từng gác sách mấy tầng thư viện, thập thò trong các giảng đường mênh mông. Rồi máng áo nhà mô phạm, tôi lang thang trên các vỉa hè, với một nhà thơ, thật như điên mà cũng dường như tỉnh. Chợt bắt gặp anh, ở đâu đó – cứ nói là trong quán lú từ một ngõ hẻm lầy lội; anh trong phong vận thanh lịch hào hoa của thanh niên Hà nội. Tôi chợt tưởng, đâu là tính thể của thơ? Một nửa thế kỷ sau, tôi gặp lại anh, không trực diện, mà trong những câu hỏi:

Ai biết trời cao có mấy chân
Mây bao nhiêu cánh ngục bao hầm
Biển bao nhiêu sóng triều bao nước
Đông Hải bao lâu lại cát lầm?
(Thủy mộ quan, 81)

Người mà đã trải qua bao nhiêu thăng trầm, vinh nhục, qua bao nhiêu sóng gió trường đời, có thể không còn hỏi thơ là gì, đời là gì nữa. Dù vậy, trong trí óc tôi vẫn mập mờ ám ảnh về một hình ảnh, về một cuộc đời hay cõi thơ xa xăm; hình ảnh Nguyễn Gia Thiều mà anh dẫn về như lạc lõng giữa hiên ga tàu hỏa Sàigòn.

Anh nói:

Nguyễn Gia Thiều đêm qua mang áo tơi và mũ nỉ đen về ngồi chơi ở hiên ga Sàigòn, tôi có thấy. Bấy giờ chuyến tàu nhám và khô sắp sửa khởi hành, khói nước và tiếng động, lời chào, một con dơi ngoài cột điện, một đồng hào rớt trong chiếc cốc thủy tinh xanh. Người nói thì thầm như hơi gió trong toa miệng các lỗ thủng, một tiếng ầm của vỏ xe rập ngoài đường.

(Hóa thân, Nói thêm về Nguyễn Gia Thiều)

Đó là thơ hay là câu chuyện kể thường thấy trên các trang nhật báo? Thật khó phân định cái gì thực, cái gì hư, trong thơ và ngoài thơ. Vẫn câu hỏi, thơ là gì, nhưng được nói sảng, một cách tự nhiên hay vô tình, thành câu hỏi, tại sao lại Nguyễn Gia Thiều?


Con người vương giả ấy ngồi trên nhung lụa mà khóc cho thân phận bọt bèo, cho sự đời hư ảo. Thơ của ông vẫn là cái phong vận hào hoa, nỗi hiu hắt trong bóng tối của lầu son gác tía. Rồi một mai lịch sử thiên di, ai đã dẫn ông lang thang giữa chợ đời bát nháo? Thơ dù đi giữa phố chợ ồn ào, lăn lóc trong những ngõ tối lầy lội, nhớp nhúa, vẫn không mất đi cái cốt cách thần tiên, bởi như “Bờ cõi dựng xuân xanh em còn đó, chốn Đào nguyên anh khoác áo khinh cừu” (Bùi Giáng). Vẫn còn đó, một cõi thơ, và hồn thơ, nâng niu tâm tình của một dân tộc, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, qua những trận lũ tàn khốc của lịch sử.

Nguyễn Gia Thiều “mang áo tơi và mũ nỉ đen về chơi ở hiên ga Saigon”, hay “ngồi xe một mình khi về Lăng Cha Cả”, thì cũng y như những vần thơ lục bát thanh tao chen lẫn giữa những đoạn văn thuật sự. Có thể chăng, do bởi tình cờ của lịch sử, hay do tính chất huyền thoại hoang đường văn minh tiến bộ, mà Nguyễn Gia Thiều lại hội ngộ Rimbaud? Nguyễn Gia Thiều, nhân cách trong lớp áo thượng lưu, bỗng nổi hứng xúi dục cô gái bị ruồng rẫy nổi loạn, “bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.” Rimbaud, cậu học sinh con nhà dân dã, nổi thịnh nộ, đứng dậy chống lại trật tự văn minh, “je suis armé contre la justice”. Một cuộc tương phùng điên đảo, thế nhưng, trong cách nghĩ nào đó, trong một cảm thức thi ca và thời đại như thế nào đó, đấy có thể mường tượng như là hình ảnh, hay ấn tượng một thời thi ca, của miền Nam.

Thơ lục bát của Viên Linh, bên ngoài khoác y trang nho nhã của Cụ Ôn Như; dịu dàng như, “Biển nằm dỗ mộng thùy dương” (Hóa thân, Ký thác); nhưng bên trong lại cưu mang tâm tình nổi loạn của Rimbaud. Anh không nổi loạn để chống lại trật tự đã sắp đặt sẵn ở đó, mà nổi loạn chống lại cái định mệnh đam mê trong chính mình.

Chống lại chính ta, chống lại những xúc cảm bồng bột trong ta, nhà thơ vẫn không thể vượt qua khỏi cái bóng định mệnh của mình. Ở nơi thơ, là một góc nhìn của thế giới, và thời đại; từ đó, để ta nhìn xuyên qua, và nhìn sâu vào, tính thể của tồn tại. Thời đại như bóng câu, đến rồi đi; cái còn đọng lại như là tồn tại của bóng mờ quá khứ.

Ngồi trông cổ tích bay vèo
Muông đi thú lại rừng treo mối sầu


Ngồi trông tóc trắng từng giờ
Chân nhang bụi mọc ta thờ một ta.
(Hóa thân, Bản thân)

Không phải là bóng mờ đơn độc từ nhân cách của nhà thơ. Tính thể tồn tại được ném vào trong dòng chảy thời gian, như Kiều bị ném vào “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”; nhà thơ bị ném vào cuộc nhân sinh, âm thầm ghi dấu phong ba của thời đại.

Thời đại chúng tôi, một phương trời khói lửa, một dân tộc quằn quại nhưng vẫn không mất đi khí phách anh hùng từ thời dựng nước. Khí phách ấy tìm đâu đây trong những lời thơ xót xa thân phận?

Phận nào xác ấy cô liêu
Chim đêm rủ tóc ngồi kêu đường về
(Hóa thân, Buôn Hô)

Từ đây khổ kiếp u hoài
Một tôi ngắn phận cho dài thế gian
(Hóa thân, Tôi II)

Ai có thể biết ngọn cỏ dại tàn úa bên vệ đường vẫn mang trong nó cả một trời thu?

Một lớp thanh niên cùng trang lứa lên đường theo tiếng gọi Núi Sông. Nhà thơ cũng bồn chồn, nửa đêm khoác áo ra đi. Vẫn âm vang câu hỏi nghìn đời, sống và chết, ai còn, ai mất? Bởi những kẻ ra đi không bao giờ trở lại. Bức tranh vân cẩu của thế hệ ấy, của thời đại ấy, cõi nhân sinh ấy, là gì?


Ngõ con bụi đỏ trăm ngày mẹ mang
Xương khô gót chị kinh hoàng
Kẻng khuya đồn lẻ đêm vàng mấy anh.
(Hóa thân, Cõi nhân sinh)

Vậy, phải chăng sinh ra để làm thơ, là một định mệnh? Thời đại và nhân sinh là những trận cuồng phong trên mặt biển, mà từ đáy sâu hun hút, nghìn đời vẫn âm thầm chuyển tải nguyên ngôn của tính thể tồn tại. Ai có thể đào bỏ đi đáy biển, để cho mặt biển nổi sóng? Gạt bỏ đi những lớp phồn hoa của thời đại, dứt đi những sóng gió, bi thương và hùng tráng của một thời, nhà thơ bước đi không ngừng nghỉ, cho dù bị hắt hủi bởi cát bụi từ ngựa xe dồn dập trên đường, đi tìm bóng dáng chân thực của ta và thế giới của quanh ta. Nguyễn Du, trước sau vẫn là bóng mờ bên dòng lịch sử, với câu hỏi trải dài từ thủa hoang sơ: “Trăm năm trong cõi người ta.”

Cõi người ta, như một thung lũng trong bóng tối đêm sau, cho đàn bò ngơ ngác.

Cõi người ta, thành phố điện mờ, mà người bị đẩy vào đó như bởi định mệnh mù quáng, luôn luôn chuẩn bị để lên đường, cho cuộc lữ hành vô định, loanh quanh trên những bến xe hoang vắng.

Đâu là thi ca của một phương trời trong một thời đại lịch sử?

Đêm sâu giữa lũng bò vàng
Điện lu phố nghiệp xe dàn bến không.
(Hóa thân, Kinh cầu nguyện)

Thơ – thơ của anh, và của những người cùng thế hệ của anh, vẫn là một góc nhìn, để từ đó ta nhìn vào thế giới, mà sử tính huyền sử bị xóa mờ để được viết lại thành lịch sử.

Cuối thu, Canh dần, 2010.















Viên Linh – Nhà văn Duyên Anh, chọc trời khuấy nước

Duyên Anh (1935–1997)
Nhà văn nhà báo Duyên Anh (1935-1997) là khuôn mặt khó vẽ nhất trong những chân dung văn nghệ sĩ nổi tiếng sau 1954 tại miền Nam. Cuộc sống và cái chết của cây bút nòng cốt của tuần báo Con Ong gây nhiều xung đột, hành trình văn chương của tác giả Hoa Thiên Lý (tác phẩm đầu tay, Sài Gòn) tạo nhiều mâu thuẫn, trong khi ấy, ông là nhà văn có nhiều tác phẩm xuất bản nhất (trên 50 nhan đề sách trước 75), là người có nhiều độc giả nhất, và mặt khác, là cây bút gây nhiều thảo luận nhất trong các giới. Con người ấy lại là chủ nhiệm một tờ báo thiếu niên, tờ Tuổi Ngọc, viết truyện cho lớp choai choai: Tuổi Mười Ba (1969), Dzũng Đa Kao (1966), Ngày Xưa Còn Bé (1968), và viết về thế giới hè phố, những nhân vật bị coi là côn đồ, du đãng; đến khi ra hải ngoại, 1983, lại trở thành tác giả của những vấn đề thời thế, viết về cộng sản, về chế độ cầm quyền trong nước: Một Người Tên Là Trần Văn Bá (1985), Một Người Nga Tại Sài Gòn (1985), Nhà Tù (1987), Trại Tập Trung (1988), và cuốn hồi ký văn nghệ Nhìn Lại Những Bến Bờ (1988). Viết về Duyên Anh cũng giống như đụng vào một bày ong, chạm vào một tổ kiến, mà con ong cái kiến ấy lại chính là các tác phẩm của ông. Nhiều vô kể và ồn ào vô kể. Tháng 2, 2012 này là ngày giỗ thứ 15 của tác giả Điệu Ru Nước Mắt (1965), tôi sẽ viết về ông như viết về một đồng nghiệp, một người bạn, qua vài kỷ niệm riêng tư.
Duyên Anh tên khai sinh là Vũ Mộng Long, người Thái Bình, sinh ngày 16.8.1935, năm 1954 bỏ gia đình lớn, di cư vào Sài gòn một mình, sinh sống trong ngành thông tin thuộc bộ thông tin. Khi gần 30 tuổi anh mới xuất bản tác phẩm đầu tay nhan đề Hoa Thiên Lý. Hôm ấy nhân đến thăm một người bạn làm báo cư ngụ ở khu Bùi Viện, gần ngã tư Cống Quỳnh, Nguyễn Cư Trinh, đang đi xăm xăm tôi bị chận lại trên hành lang và tác giả Duyên Anh tặng tôi cuốn sách của anh. Đó là lần đầu chúng tôi gặp nhau. Trước đó khoảng năm bảy năm, anh sống ở Trảng Lớn, Tây Ninh, như anh kể chi tiết trong cuốn hồi ký: “Tôi dẫn cô Hiên đi trên hương lộ đi ra thị xã Tây Ninh (…) Cô Hiên và tôi đang sống và bây giờ là 1956 (…) Tôi ở Trảng Lớn hơi lâu rồi. Giữa tôi và sinh hoạt văn nghệ, báo chí Sài Gòn hoàn toàn xa lạ. Văn nghệ ví như đất thánh. Mà tôi, kẻ ngoại đạo. Tôi ôm mộng trở thành nhà văn cũng giống những kẻ tưởng mình sẽ câu được trăng sao in hình trên mặt nước” (Nhìn Lại Những Bến Bờ, 202- 203).
Tuy viết thế mà chỉ ít lâu sau, chàng trẻ tuổi đột ngột bỏ cô Hiên, vì muốn một cuộc sống bay bổng hơn một cảnh đời bình dị. Không rõ hư hay thật, cuốn hồi ký kể lại chuyện Vũ Mộng Long đang ôm đàn hát (đàn của ty thông tin Trảng Lớn), thì một ông thầy bán thuốc sán lãi chạy xe ngang qua. Nghe tiếng hát chàng, ông ta vào làm quen, rủ chàng hãy đi theo ông ta, dùng tiếng hát mưu sinh đây đó, sống cuộc đời tự do nay đây mai đó, hơn là chôn chân ở một xóm quê. Nghe lời rủ quyến, chàng bỏ cô thôn nữ đi theo tay bán thuốc dạo. Nhưng chỉ hơn 4 tháng sau, hai người chia tay vì sứ mệnh: ông bán thuốc chính là một nhân vật đảng phái quốc gia ở miền Trung, bị mật vụ của ông Ngô Đình Diệm truy nã, đang đi kết hợp lại các đồng chí chống Diệm và chống cộng sản, còn Vũ Mộng Long trở về Sài Gòn, quyết đi vào văn nghệ. Trong đoạn hồi ký này, xuất bản vào năm 1988, Duyên Anh đã vô tình báo trước cái chết thảm của mình vào chín năm sau. Vốn là trên bước đường bán thuốc dạo (kéo dài bốn tháng 13 ngày), hai thầy trò đàm đạo đủ chuyện nhân sinh, triết lý, đạo đức, chính trị, và một hôm thày bảo trò: “Mày mâu thuẫn với chính mày. Mày sẽ trở thành con người tổng hợp trí nhớ, trí tuệ, trí khôn và trí ngu. Rốt cuộc, mày là đứa đối địa, nghịch thiên, chung thân bất mãn, chồng chất oan khiên. Mày sẽ giống Nễ Hành [một tay thuyết pháp trong truyện Tàu] không chết bởi tay Tào Tháo, Lưu Biểu, mà bị bêu nhục bởi đám vô lại Hoàng Tổ” (Nhìn Lại Những Bến Bờ, 222).
Tám chín năm sau, trong khi đang đi trong khu tiệm sách Tú Quỳnh trên đường Bolsa, Quận Cam, Duyên Anh bị đánh bởi một bàn tay sắt. Theo lời của một họa sĩ nhân chứng ngồi trong tiệm ăn Ngân Đình gần đó, Duyên Anh đang đi, có hai kẻ từ phía sau tiến đến gần, lên tiếng gọi. Duyên Anh ngoái cổ lại xem là ai, thì một bàn tay sắt vung lên, đánh một cái gọn vào thái dương anh. Chỉ một cái, rồi người đó và kẻ đồng hành đi thẳng ra đường Bolsa, khuất sau một góc nhà về phía đường Bushard, biến mất. Duyên Anh bất tỉnh, được đưa vào bệnh viện. Vì định cư ở Pháp, anh không có bảo hiểm sức khỏe ở Mỹ, nên được đưa lên máy bay về Pháp. Cú đánh đã khiến nạn nhân tê liệt nửa người, sau này phải tập viết bằng tay trái. Anh từ trần ngày 6 tháng 2.1997 tại Paris. Vụ ám hại Duyên Anh đã tốn nhiều giấy mực, và nước bọt, khi dư luận đặt các giả thuyết ai muốn giết nhà văn? Việt cộng, tư thù cá nhân, hay một tổ chức kêu gọi kháng chiến, như câu văn có linh anh viết từ nhiều năm trước, viết ở trên: “Mày sẽ giống Nễ Hành, chết bởi tay Hoàng Tổ.”
Văn chương của một tác giả nhà nghề, viết cách gì đi nữa cũng hàm chứa tâm thức và thái độ đối với cuộc sống. Riêng về Duyên Anh, người viết bài này còn nghĩ rằng văn thơ anh là vũ khí của anh. Một hai năm sau cuộc đảo chính 1.11.63, hai tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, lúc ấy đang là nghị sĩ Thượng Viện, xuất bản nhật báo Công Luận, Duyên Anh phụ trách trang trong, có mang tôi vào làm việc một thời gian, trong khi tôi đang viết truyện dài đăng báo từng kỳ nhan đề Cuối Cùng Em Đã Đến cho báo này. Anh cũng nói với ông Tướng Đính để một mục cho Mai Thảo, lấy tên là “Nhận Đường.” Đến giờ giao bài, Mai Thảo không viết được, chúng tôi bàn nhau và thỏa thuận hôm đó tôi phải viết thế, nhưng không ký tên, làm như bài đó do Mai Thảo viết. Sau này mục “Nhận Đường” xuất hiện hàng tuần trên tờ tuần báo Khởi Hành do tôi làm thư ký tòa soạn. Tháng nào đi cắt tóc ở đường Gia Long, Duyên Anh cũng kéo tôi đi cùng, nói đủ thứ chuyện đời.
Thân Duyên Anh từ niên thiếu có nhà thơ Vũ Băng Đình, giám đốc báo chí phủ tổng thống, hiện là chàng duy nhất còn sống trong tám chàng nhà quê tỉnh Lúa (Thái Bình), năm 1950 rủ nhau dinh tê vào Hà Nội. Băng Đình làm bài thơ có đoạn như sau về bạn: “Duyên Anh văn sĩ Vũ Mộng Long/ Bút sắt vườn hoang lúc thẳng cong/ Chúng bẩn ông tha hồ viết nhảm/ Lâu đài công lý ngụ lâu không (“Thái Bình Bát Mẻ,” Khởi Hành hải ngoại, 2011). Mấy chữ “lâu đài công lý” ngoài nghĩa bóng, còn nghĩa thật: nhà Duyên Anh tại Sài Gòn là một tòa biệt thự khá sang có sân có vườn ngay trên đường Công Lý, là con đường xe hơi cắm cờ quốc gia qua lại mỗi khi đưa đón quốc khách giữa phi trường Tân Sơn Nhất và Dinh Độc Lập.
Để kết thúc bài viết nhớ bạn ngắn ngủi này, mời độc giả đọc một đoạn thơ của chính tác giả cuốn truyện Nặng Nợ Giang Hồ:”
“Tôi khôn lớn ở Sài gòn
Biết thấm nỗi buồn sau mỗi cơn chính biến
Chưa hề đi lính
Nhưng bạn thân chết trận dần mòn …
Em ơi chiều ba mươi tháng tư
Tâm hồn tôi chít mảnh khăn sô
Tôi đứng giữa hoàng hôn nào đó
Như ngày xửa ngày xưa bé nhỏ
Đếm xác người chết đói ngổn ngang
Ôi xác ngày xưa
Hôm nay súng ngắn súng dài mũ sắt quân trang
Nằm rên rỉ dưới dép râu cộng sản …
Tôi đã đến vùng Orange County
Của Hiệp chúng quốc Hoa kỳ
Và cần thiết thơ tôi tuyên chiến
(…)
Thứ thơ văn tô móng tay khi dân tộc đói nhăn răng
Thơ văn nhầy nhụa môi son
Vênh vang trưng diện …
(…)
Tôi làm thơ không gióng trống phất cờ
Tôi làm thơ vì công bằng lẽ phải
Thơ nâng niu nỗi khổ mủ sưng
Thơ vuốt ve niềm hiu quạnh quê hương …
Thơ tôi sẽ tiết kiệm giùm nước mắt
Sẽ lãi gấp trăm trương mục nụ cười…”

(“Nhân Danh Tất Cả Những Gì Tôi Biết”)

 
(Khởi Hành, số tháng 5 & 6, 2012. Đăng lại với sự đồng ý của tác giả)
 


































Nv Viên Linh & Phan Nguyên














Trở về






















MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều qua.