Thursday, 9 October 2014

Vương Trí Nhàn

















Vương Trí Nhàn
(15/11/1942 - .......) Hà Nội
Nhà phê bình, nghiên cứu văn hóa, văn học



















Tiểu sử

Ông sinh ngày 15 tháng 11 năm 1942 tại Hà Nội. Quê quán của ông là xã Đông Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm, hệ 3 năm vào năm 1964, sau đó gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến đầu năm 1979. Trong quân đội ông có nhiệm vụ chính là dạy học và về sau làm báo. Ông từng giáp mặt với thực tế chiến trường như B5, B4.

Các bài viết của ông xuất hiện trên báo Văn Nghệ từ tháng 3 năm 1965, sau đó ông viết đều đều trên các báo Văn Nghệ, Văn Nghệ quân đội. Từ 1985 trở đi, bài của ông còn xuất hiện trên Thể thao văn hóa, Tuổi trẻ chủ nhật, Kiến thức ngày nay v.v. cùng với các bài nghiên cứu dài thì được in trên tạp chí Văn học. Ông có một số bài viết về một số vấn đề, một số tác giả văn học chiến tranh và có dự định sẽ trở lại với đề tài này, khi về hưu.

Đầu năm 1968, ông chuyển về công tác ở tạp chí Văn Nghệ Quân đội. Tới đầu 1979 ông sang công tác cho Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Đây là những cơ quan người sáng tác đông hơn người nghiên cứu phê bình. Việc này có ảnh hưởng quyết định đến những đề tài những tác giả mà ông quan tâm cũng như ảnh hưởng tới cách viết của ông. Năm 1977, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Ông học tiếng Nga từ đầu thập niên 1970, ông có một số bài dịch từ tài liệu tiếng Nga về một số tác phẩm văn học, cũng như biên soạn một tập sách mang tên Sổ tay truyện ngắn dựa vào tài liệu tiếng Nga. Năm 1990, khi đang học tại trường viết văn Gorki của Nga, dù chưa gặp nhưng qua các tác phẩm, ông đã có nhận xét nổi tiếng: về "khuôn mặt nhàu nát vì đau khổ" của Nguyễn Huy Thiệp.

Lúc đầu ông chỉ tập trung về mảng văn học đương đại cho đến đầu thập niên 1980, ông có ý thức dần dần trở lại với văn học sử, nhất là giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20 và đã viết một số bài nghiên cứu về các nhà văn tiền chiến (Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng v.v.) và đang bổ sung tập hợp thành sách.

Tới đầu thập niên 1990, trước các hiện tượng văn học quen thuộc, ông lại muốn ngả sang cách tiếp cận văn hoá học. Ban đêm ông tự học thêm về lịch sử, dân tộc học, xã hội học, v.v.








Tác phẩm





 
Sổ tay truyện ngắn
(Sưu tầm, biên soạn, dịch, Tác phẩm mới 1980, in lại 1998)




Bước đầu đến với văn học
(tiểu luận phê bình, Tác phẩm mới 1986)




Một số nhà văn VN hôm nay với Hà Nội
(kể chuyện đời sống văn học, Hà Nội, 1986)




Những kiếp hoa dại
(chân dung và phiếm luận văn học, Hội Nhà văn, 1993, in lại 1994)




Cánh bướm và đóa hướng dương
(tiểu luận phê bình, Hải Phòng, 1999)













Nhận xét


Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã nhận xét về ông: Trong số những cây bút phê bình lý luận Việt Nam hiện đại, Vương Trí Nhàn là một người từ mấy chục năm nay đã tạo được một giọng điệu riêng khó lẫn. Ông không phải là người tiếp cận thật sâu một vấn đề gì đó và triển khai nó đến tận cùng, mà thường vấn đề gì cũng lướt qua một cách nhẹ nhàng, nhưng lại có những nhận xét khá thâm thúy.


Nhà văn Ngô Thảo, người tự khẳng định rằng mình thân với ông Vương Trí Nhàn, sau khi đọc bài "Tri thức hiện đại: Không được tạo dịch nói xấu người Việt" đã nhận xét Vương Trí Nhàn trong bài "Phải nghiêm cẩn khi bàn đến tính cách của cả dân tộc !" như sau: "Người ta nói, anh Vương Trí Nhàn từ một nhà phê bình văn học trở thành một nhà nghiên cứu văn hóa. Tôi rất nghi ngờ tính khoa học những loạt bài đó.""Anh Nhàn là người ham học hỏi, đọc rất nhiều, nhưng cái kiến thức và cái tư tưởng của anh Nhàn, tôi rất nghi ngờ. Đó là khoảng cách của một người chủ trương phê phán thị trường, nhưng chính mình lại chìm ngập trong thị trường""Nói ngay như trong cái Hội Nhà văn bé tý, có rất nhiều người dù đã quá tuổi về hưu, lẽ ra phải về để nhường chỗ cho lớp trẻ, thế nhưng vẫn cứ tha thiết xin ở lại, bấu víu lấy nó... Ông Nhàn vẫn tha thiết xin ở lại Nhà Xuất bản. Vì nếu không ở lại, không ai cho ông ấy giới thiệu sách cả."

Tuy nhiên do bị sự phản đối chê cười của dư luận, bài báo của ông Thảo đã phải gỡ xuống và bài phỏng vấn của Sơn Khê với Vương Trí Nhàn "Tri thức hiện đại: Không được tạo "dịch nói xấu người Việt"" cũng đã bị xóa trống trơn sau có mấy ngày mà không có lời giải thích lý do.
















Các tác phẩm dịch




 



  Tham khảo thêm về tác giả Vương Trí Nhàn
Báo điện tử VietNamNet. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2015.


 Báo điện tử Tiền Phong. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2015.












 Vương Trí Nhàn



NGUYỄN DU

NHƯ MỘT THI SĨ





LỜI GIỚI THIỆU. Trong số những cây bút phê bình lý luận Việt Nam hiện đại, Vương Trí Nhàn là một người từ mấy chục năm nay đã tạo được một giọng điệu riêng khó lẫn. Ông không phải là người tiếp cận thật sâu một vấn đề gì đó và triển khai nó đến tận cùng, mà thường vấn đề gì cũng lướt qua một cách nhẹ nhàng, nhưng lại có những nhận xét khá thâm thúy. Cách đây hơn 40 năm, qua thơ chữ Hán Nguyễn Du, tôi đã từng cố gắng gợi ý với bạn đọc hình ảnh một con người trằn trọc suy tưởng - đối lập với con người hành động của loại nhà nho tế thế nói chung - nhằm tìm cho mình lời giải về mọi băn khoăn, hoài nghi mà cuộc đời trầm thống thường xuyên đặt ra như muôn nghìn dấu hỏi, giằng xé tâm can mình (xin xem Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán trên mạng Gió-o tháng 4-2006). Triển khai ý tưởng trên, ở một khía cạnh mới, Vương Trí Nhàn trong bài viết này đã nâng vấn đề con người suy nghĩ của Nguyễn Du lên bình diện một con người đi tìm sự tự do, mở rộng tầm vóc mình trong không-thời gian, thông qua sự đối diện với sách vở, cuộc đời và lịch sử, mà thơ chính là phương cách tốt nhất để nhà thơ thể hiện sự tự do của mình, cũng là cái ý thức tự giác về lý do tồn tại của chính mình. Nhờ đó thơ ông đã sống mãi với đời, luôn luôn lấp lánh trong đó một chủ nghĩa nhân đạo vượt lên khỏi màu sắc “thương” là lẽ thường tình của thế nhân, mà mang màu sắc “hiểu”, mặt khác còn đặt ra cho người đọc những vấn đề có tính nhân loại, điều hiếm gặp trong thơ văn truyền thống Việt Nam. Là người tâm đắc với những kiến giải nói trên, xin mượn diễn đàn Gió-0 đưa bạn đọc đến thẳng với bài viết vốn không dài của nhà phê bình, để sau khi thưởng lãm, bạn đọc tự giành cho mình quyền phán xét.

Hà Nội 11-4-2006

Nguyễn Huệ Chi




 Lý do để sống  

“Trong  tư thế  xếp bằng trên chiếu  trải giữa nền đất , ông ngồi  trước một ấm nước  chè xanh và một ngọn đèn vặn nhỏ bằng hạt đậu. Lúc này ông không hề để  mắt  ngó qua đến sách vở, cũng chả hút thuốc vặt, mà chỉ  so vai lại , thu cả hai bàn tay vào lòng  như một người suốt cả đời luôn  cảm thấy rét , hai con mắt  lim dim nhìn xuống chiếu  đang nghĩ”.

Mở đầu  một bài viết  về Nam Cao, Nguyễn Minh Châu từng vẽ ra hình ảnh tác giả Chí Phèo như vậy. Đoạn văn thật đã bắt trúng cái thần của  con người, và giúp người ta hình dung cách làm việc kiểu tư duy nghệ thuật của Nam Cao.

Nhưng tôi ngờ rằng, trước Nam Cao khá lâu - tính ra có đến già một thế kỷ - ,  có một người nữa còn thích hợp hơn với cái cảnh ngồi giữa  màn đêm  nghĩ ngợi sự đời, người đó là Nguyễn Du.

Dù là lúc sống thanh bần giữa mảnh đất Nghi Xuân quê hương, hay khi  chạy loạn dạt xuống Thái Bình; khi làm chức quan cai bạ ở Quảng Bình, hay khi giữa đường đi sứ, dừng lại  ở những Hồ Nam, Hàng Châu, An Huy,  Sơn Đông xa lạ mấy  đi nữa, thì ông vẫn thường một mình một bóng như vậy. Và cái tư thế ngồi nghĩ trong đêm đó  gợi cho chúng ta thấy hình ảnh  một loại nghệ sĩ xưa nay hiếm, song lại đáng được coi là cái phần tự hào của  nền văn học dân tộc. 

Do sống trong một đất nước có lắm gian nan nên phần lớn người nghệ sĩ trong xã hội Việt Nam trước tiên là những người hành động . Chẳng phải đến  nửa cuối thế kỷ XX , với tư cách là những công dân  tham gia hai  cuộc chiến tranh liên tiếp  các văn thi sĩ mới  tự nguyện sống theo cái tâm niệm  “Thà một cây chông trừ giặc Mỹ/Hơn ngàn trang giấy luận văn chương“. Mà ngay trong các thế kỷ trước, con người  hành động cũng chiếm một phần lớn trong số những người làm thơ có tên trong lịch sử . Nguyễn Trãi  tồn tại trước hết như một người tham gia  cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, sau đó là một quan chức trong vương triều Lê. Không kể cái tên Quân trung từ mệnh tập  đã nói rõ  ý nghĩa những bài văn  của ông, mà ngay những  nét tâm tình bộc lộ trong  thơ,  xa gần cũng có liên quan đến trách nhiệm công dân mà ông tự nguyện đảm nhận. Nguyễn Công Trứ mải miết làm bằng được các công việc được Minh Mạng, Thiệu Trị giao phó. Nguyễn Đình Chiểu sử dụng thơ văn để dạy đạo đức cho mọi người  mà cũng là kêu gọi mọi người cầm gươm  đánh giặc. Đặt bên cạnh những tiếng nói sôi nổi  đó  thì Nguyễn Du có vẻ hơi “lạc đội hình“: Là con người của những suy tư, ông mải nghĩ hơn mải sống, đúng hơn với ông, nghĩ là hình thức tốt đẹp nhất của sự sống . Nghĩ bằng thơ , cố nhiên. Một câu thơ có vẻ bâng quơ khi tả hoa sen: Hoa để tặng người mình sợ (Hoa dĩ tặng sở uý)  cứ gợi nhớ, bởi có cái gì đó vượt ra ngoài lối thơ đèm đẹp thông thường để hứa hẹn với người ta rằng ở đây sẽ có những suy nghĩ thâm trầm về sự đời.

Khi đã như vậy, chỉ có thơ mang lại cho ông  niềm vui và ý muốn làm việc, nó cũng là lý do để ông sống trên đời này. Không thấy nói trong khi làm quan ông có được chính tích gì đáng kể. Có vẻ như ông là một vị quan khá xoàng. Ngoài thơ, gần như ông chỉ còn là con người thừa , con người vô dụng.





  Cuộc tìm tòi của chính mình
   và về chính mình  
Tâm lý ổn định vốn là một đặc điểm thường thấy ở những con người hành động .  Chẳng hạn như  Nguyễn Trãi. Lý tưởng ở ông  rõ ràng. Niềm tin của ông  mạnh mẽ. Nhiều bài thơ của ông có cái tên ngôn chí. Mà  chí  với người xưa không chỉ  đơn giản là lòng quyết tâm, ý muốn  thực hiện bằng được một việc gì đó, như ngày nay chúng ta vẫn hiểu. Trong phạm vi đạo nho, thực ra nó có một nghĩa cụ thể: khao khát muốn làm cái gì đó cho đời và nhất là  sống đúng theo những chỉ dẫn của thánh hiền.Trước khi là nhà thơ, người xưa vốn không quên mình là nhà nho, và trước khi hành động, họ được giáo dục theo một lý tưởng  chặt chẽ .
Bản thân Nguyễn Du từng biết đến cái thứ chí đó. Tráng sĩ đầu bạc bùi ngùi ngẩng nhìn trời / hùng tâm  sinh kế mờ mịt cả hai  (Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên / Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên) (1) . Cái hùng tâm theo  nghĩa cổ điển đã từng là một trong hai mối quan tâm lớn của đời ông.  Thế nhưng nhìn chung  đời Nguyễn Du  thì thấy ngay thực tế là cái tráng khí đó  ngày càng phai nhạt và một trong những đặc điểm làm nên chỗ khác của cả tập thơ chữ Hán của ông so với các nhà nho chính hiệu: ở  đây  không có bài nào được gọi là ngôn chí  cả. Ông vẫn  mê mải đọc sách,  đọc bất cứ lúc nào có thể được:  
        ở chốn tha  hương thường  soi gương xem vẻ mặt
        Thì giờ đi trên đường gió bụi , một nửa là đọc sách  
     ( Tha hương nhan trạng  tần khai kính -- khách lộ trần ai bán độc thư )
Song cái nghĩa quân thân mà những người như Nguyễn Trãi tự nguyện mang nặng trên vai , ông không san sẻ . Tự ông trút nó đi tự lúc nào , trút  đi để chuốc lấy những  băn khoăn lớn hơn  nặng nề hơn và khó xác định hơn  -- băn khoăn sống  sao cho ra một con người . 
       --  Cảm động thay lúc cùng đường vẫn được trăng đến thăm
          (Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến )
       --  Tóc bạc rồi dù có hùng tâm  cũng ngồi than thở suông mà thôi
           (Bạch phát hùng tâm không đốt ta )
       -- Ngọn cỏ bồng lìa gốc trước luồng gió tây thổi mạnh
          Không biết cuối cùng sẽ bay đến nơi đâu
          ( Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp 
          Tất cánh phiêu lưu hà xứ quy )
Những câu thơ trên đều trích trong Thanh Hiên thi tập. Từ những bài thơ làm trong mười năm  gió bụi  này,  người ta đã thấy cảm giác bao trùm  trong Nguyễn Du  là bất lực và vô vọng. Trong khi  các nhà thơ chủ trương thi ngôn chí  cùng là  văn dĩ tải đạo  thường khuyên con người ta phải sống như thế này, phải cảm nhận đời sống theo kiểu kia - và sản phẩm thơ ở đây giống như  những câu  trả lời - thì Nguyễn Du hầu như  triền miên sống trong băn khoăn; ông không tìm ra ý nghĩa cuộc đời. Từ đấy,  động cơ chi phối thơ ông về sau sẽ là cuộc tìm tòi của chính mình và về chính mình. Thơ nhiều khi hiện ra như  những lời cật vấn, những câu hỏi siêu hình, trừu tượng, nó làm cho những gì  ông viết ra  có cái giọng khác đời, còn  ông  thì đạt tới tầm vóc của một kẻ sống hết tầm người, sống để đối diện với những vấn đề của cả nhân loại .
Và ,  trong thâm tâm , Nguyễn Du biết điều đó .   
           Bất tri tam bách dư niên hậu
           Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Mấy câu thơ ấy thuộc loại được nhắc nhở nhiều nhất mỗi khi nói tới Nguyễn Du. Nhiều người chỉ thấy đấy là lúc ông thương cảm cho số phận của mình. Nhưng tôi tưởng ở đây còn có một cái gì khác, một niềm riêng tây  nằm ở mãi trong tiềm thức nhà thơ. Trước một tài năng bị  nhiều thiệt thòi (phần lớn thơ Tiểu Thanh đã bị đốt) ông hình dung ngay ra tương lai của mình và chỉ nói tới một tiếng khóc. Nhưng đằng sau chữ khóc ở đây phải  chăng còn có  chữ biết ? Bởi người ta chỉ khóc về những người mà người ta biết và cảm phục. Thành thử,  có thể chính Nguyễn Du  chưa cảm nhận  đầy đủ, song ở ông đã ẩn sẵn cái ý thức sâu xa về sự có mặt của mình trong tương lai, một cách ở lại với lịch sử. Trong một  hoàn cảnh mà xã hội cứ muốn kéo người ta xuống - chế độ phong kiến  vốn nổi tiếng  với những ràng buộc kiểu đó , trước hết là ràng buộc về tư tưởng -, có thể nói đây là một sự vượt ngoài thông lệ.


Từ lối  gián cách cần thiết
 tới một sự giải phóng  
Một phần đáng kể thơ chữ Hán  của Nguyễn Du là thơ đi sứ. Đi sứ thời tác giả Truyện kiều sống là gì? Là rơi vào đơn độc, là xa gia đình và môi trường quen thuộc hàng năm liền, là cắt đứt mọị giao thiệp cảm tính hàng ngày để phải đóng vai người đại diện cho đất nước ở một xứ sở xa lạ Có nhớ lại hoàn cảnh địa lý và phương tiện đi lại, nhớ lại tình trạng tâm lý phổ  biến của con người  hai trăm năm trước, mới hiểu tại sao với người xưa, việc đi sứ lại trở nên đáng sợ như vậy.  Nhưng với những con người đã tự khẳng định thì đây lại là một cơ hội. Cơ hội dứt bỏ cái mè nheo phiền phức hàng ngày. Cơ hội lùi ra xa để nhìn mọi chuyện. Cơ hội vượt lên cái đời sống trần trần ai cũng thấy để sống với một đời sống bao quát hơn mà cũng là tinh tuý hơn.
Nguyễn Du chính là một người khai thác những cuộc đi sứ theo ý nghĩa ấy và đây là điều bộc lộ khá  rõ trong thơ đến mức không giấu được  ai. Ngay từ lần xuất bản đầu tiên 1958, những người chuẩn bị  cho việc in thơ chữ Hán Nguyễn Du là Bùi Kỷ, Phan Võ,  Nguyễn Khắc Hanh đã nhận xét:  khi ở trong nước, “Nguyễn Du thường  than thở  là  tiếu đề tuẫn tục  nghĩa là phải chiều theo đời cả tiếng cười tiếng khóc cũng không được tự do, nhưng lúc này là lúc ở nước ngoài, cười tha hồ cười, khóc tha hồ khóc, Nguyễn Du muốn nói ra cho sướng miệng hả lòng cho nên văn khí trong phần này xem ra khảng khái hùng tráng “(2). Nguyễn Lộc trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX cũng  cho rằng trong lúc đi sứ , nhà thơ  mới “ có thể nói điều mình muốn nói” (3). Quả thật trong việc  đi sứ - để dùng lại thuật ngữ  của khoa nghiên cứu văn học ngày nay - Nguyễn Du có dịp sử dụng sự gián cách để lạ hoá đời sống. Những tiềm năng trong ông được đánh thức. Những ràng buộc quen thuộc bị gạt bỏ, ông như tìm tới một bậc tự do mới cho sự suy nghĩ của mình. Người nghệ sĩ trong ông vượt lên như tưởng như không bị một giới hạn nào ngăn cản. Hai chữ  cổ kim vốn đã xuất hiện trong Nam trung tạp ngâm giờ đây lại luôn luôn  thấy lặp lại trong Bắc hành tạp lục. Chưa bao giờ trong thơ Việt nam - tôi muốn nói cả thơ hiện đại - có một hồn thơ đi xa rộng trong không gian thời gian như Nguyễn Du. Giá như được sống trong thế giới hôm nay, ông sẽ thích cái lý luận về thời gian lớn của nhà triết học Nga M.M. Bakhtin. 
Đi cụ thể hơn vào cuộc  Bắc hành của người từng viết Kiều. Trong khi  thơ đi sứ của nhiều người khác chỉ tồn tại trong hình thức thù tạc tầm thường hoặc những cuộc đấu trí mang tính cách giai thoại , hoặc cùng lắm là những bài thơ sụt sịt nhớ vợ nhớ con và mong sớm gặp lại gia đình - thì với Nguyễn Du, tình hình có phần ngược lại. Ông sống với con người và cảnh vật xứ người một cách hết lòng, không chỉ suy nghĩ về hiện tại mà còn thường xuyên trở lại với quá khứ; không chỉ xót xa với  hoàn cảnh khốn khổ của những người dân thường như ông già hát rong ở Thái Bình , hoặc bốn  mẹ con một người hành khất (là những bài thơ được  các nhà nghiên cứu dành cho sự ưu ái đặc biệt ) mà còn đặt mình vào tình thế của những nhân vật kỳ vĩ,  hội tụ những vấn đề lớn của đời sống,  như Khuất Nguyên, Kinh Kha, Tô Tần, Nhạc Phi, Tần Cối để nghĩ về những vấn đề khá trừu tượng. Một đặc điểm của lịch sử Trung Hoa là ở đó có nhiều nhân vật đa dạng. Tôi trung vua hiền có, mà kẻ gian giảo xảo quyệt cũng rất nhiều, cái gì ở đây dường như cũng cực đoan cũng quá đáng. Lịch sử lại sớm được ghi chép thành những khuôn mẫu, đồng thời mở ngỏ khả năng để người đời sau đánh giá lại. Như nhiều nhà nho Việt Nam, Nguyễn Du  đã sớm được tiếp xúc các mẫu người đã ổn định đó qua sách vở . Ông không bằng lòng với cách giải thích thông thường. Trước đối tượng nào ông cũng nghĩ và buộc mọi người cùng nghĩ với mình - Bậc thánh vì danh hay vì thực nào ai biết  (Thánh nhân danh thực hữu  thuỳ tri?);  Xưa nay ai là người có thể phá bỏ sự mê  này  (Kim cổ thuỳ năng phá thử mê ?); Hồn ơi hồn ơi hồn làm thế nào? (Hồn hề, hồn hề, nại hồn hà ?)... Những câu hỏi như vậy luôn luôn được đặt ra. Lịch sử với ông không còn là cái tất yếu không thể cưỡng lại mà là cái lẽ ra nên khác và luôn luôn có thể khác.
Nhiều người đã nói tới việc Nguyễn Du  dùng những nhân vật lịch sử Trung Hoa để liên hệ tới hoàn cảnh của mình , tương tự  như việc ông dùng  cốt truyện mượn từ Thanh Tâm tài nhân câu chuyện vè mấy  chị em Kiều để miêu tả xã hội Việt Nam. Nhưng có lẽ ở đây còn có thể nói tới một cái gì xa rộng  hơn : những câu  thơ hay nhất ở đây dường như đã chạm tới những vấn đề của nhân loại. Trong một nhận xét tạt ngang , nhà nghiên cứu Phan Ngọc  có lần nói rằng văn hoá Việt Nam có phần nhẹ chất nhân loại mà nặng chất dân tộc -, và đó là một nhận xét đúng. Bởi vậy,  một khi  thơ chữ Hán, bằng con đường riêng của mình, góp phần vào việc bổ sung cho cái mặt thiếu sót đó, chúng  ta lại càng thấy trân trọng! Cũng như cái chất siêu hình mà các sáng tác của Nguyễn Du đạt tới không phải là một điều đáng xấu hổ, như một ít nhà nghiên cứu nghĩ ,  mà thực ra  đáng tự hào. Ở nước nào cũng vậy,  người ta thường vẫn  ghi nhận phẩm chất đó như  là một dấu hiệu chứng tỏ một nền  thơ  đã trưởng thành .


Cảm thông và thức tỉnh  
Xưa nay nói đến Nguyễn Du , mọi người nghĩ ngay tới Truyện Kiều. Trong một cuốn sách tập hợp các bài viết về Nguyễn Du in ra gần đây (4), phần viết về Truyện Kiều lên tới  815 trang trong khi phần viết về thơ chữ Hán chỉ vẻn vẹn có 128 trang. Tiếp tục làm cuộc thống kê thuần tuý số lượng thế này, người ta thấy ở sự cảm thụ của các cây bút nghệ sĩ như  Hoài Thanh, Xuân Diệu lẫn những chuyên gia như Nguyễn Lộc, tỷ lệ cũng là tương tự.  Giáo trình của Nguyễn Lộc dành số trang viết về Kiều năm lần lớn hơn số trang viết về thơ chữ Hán.
Trong hoàn cảnh ấy thì một số  nhận xét viết trong Lời nói đầu bộ Nguyễn Du toàn tập gần đây là một sự đính chính cần thiết. Theo như Mai Quốc Liên, người viết Lời nói đầu này,  thì  đừng vì đã có Truyện Kiều mà ra lòng rẻ rúng thơ chữ Hán. Bên cạnh Kiều phần thơ này cũng là một toà lâu đài sang trọng . Tỉ mỉ ra còn phải nói  “Truyện Kiều là diễn âm , lỡ tay  mà thành kiệt tác, còn thơ  chữ Hán  mới đích là sáng tác và  nên xem nó là  phát ngôn viên chính thức của Nguyễn Du” (5). Nói cách khác, nếu ở Truyện Kiều người ta mới  thấy tấm lòng và  tài năng, thì tới thơ chữ Hán, người ta thấy được cả tầm vóc, bản lĩnh Nguyễn Du. 
Trong phạm vi tìm hiểu còn nông cạn của mình, tôi cũng có cảm tưởng  như Mai Quốc Liên và muốn nói rõ hơn cái phần tâm huyết do đó là cái phần chân dung của Nguyễn Du trong thơ chữ Hán bằng cách thử làm một cuộc đối chiếu:
Kiều được nâng niu do giá trị của tác phẩm đã đành, nhưng còn xuất phát từ hai khía cạnh làm nên truyền thống cảm thụ của nhiều thế hệ người đọc ở ta:  một  là dễ  nao lòng trước những gì đau xót gợi ra thái độ cảm thương và  hai là coi trọng cái đẹp cảm tính hơn là cái đẹp lý tính.
Không phải ngẫu nhiên, nói về Kiều, nhiều người nghĩ ngay đến tiếng khóc. Xuân Diệu bảo đó là tiếng khóc vĩ đại.Trong số những bí mật cần được  lý giải về khả năng phổ biến của Truyện Kiều , đấy chính là yếu tố thứ nhất. Song phải thấy ngay rằng sự cảm thương (hay rộng hơn là cảm thông) nói ở đây là hồn nhiên tự nhiên. Nguyễn Lộc khi phân tích nhân vật chính của Đoạn trường tân thanh nhiều lần dùng đến hai chữ ý thức,  bao gồm từ “ý thức về cuộc sống “cho tới “ý thức làm người”, và  riêng với  đoạn cuối tác phẩm thì cho rằng nàng Kiều thuộc loại tuyệt vời ý thức (6). Bởi lẽ với nhiều người chúng ta, Kiều là một con người lý tưởng, nên sự tôn vinh như thế thật dễ hiểu.  Ta muốn dành cho Kiều mọi thứ tốt đẹp. Nhưng tôi tưởng nếu xem  ý thức như  một sự thấu hiểu có vận dụng đến sự xét đoán phân tích thì làm sao có thể nói là  Kiều đạt tới  cái trình độ  cần thiết ấy cho được ?!
Thử nghĩ lại mà xem , chẳng phải nghĩ tới Kiều là người ta nghĩ đến những lầm lẫn của nàng? Trước chuyện gia đình bị vu oan, nàng không bao giờ thử ngồi suy xét xem đầu đuôi mọi chuyện thế nào , vì đâu đến nông nỗi đó, mà chưa chi đã nghĩ ngay đến chuyện bán mình chuộc cha. Cũng vậy  nhìn chung cả cuộc đời Kiều, cái phần hấp dẫn nhất là tình, nhưng đó là  thứ tình thiếu sự hướng dẫn của lý trí.  Ma đưa lối quỷ đưa đường / lại tìm những lối đoạn trường mà đi, khi khái quát vậy, Nguyễn Du quả đã bắt trúng cái thần của nhân vật và ông đã diễn tả Kiều theo cái cách đó bằng tất cả tài năng kỳ diệu của mình. Chẳng phải là với nhiều người chúng ta , những đoạn Kiều gần gũi nhất là những đoạn buồn: Là đoạn khái quát cuộc đời Đạm Tiên.  Là đoạn Kiều trao  duyên lại cho em. Là đoạn Kiều nhớ nhà  ? 
Những vấn đề tư tưởng ấy lại thấm cả vào mỹ cảm và  nghệ thuật.  Xét về vẻ đẹp thì quả thật Truyện Kiều là một cái gì chín đầy rực rỡ. Nhưng phải nói thêm, ngay trong việc vận dụng thể lục bát,  cái đẹp ở đây nhiều khi đã như lạ lùng ma quái. Trong Văn chương Truyện Kiều in lần đầu  năm 1945,  Nguyễn Bách Khoa tức Trương Tửu từng có sự cảm thụ  tinh tường nét đặc sắc này của tác phẩm(7). Ghê gớm thay là cái điệu thơ lục bát nó triền miên  cuốn người ta theo cái tâm hồn sầu thảm và làm lan toả mãi mối  cảm thương  trước một hoàn cảnh bất lực. Với việc đưa lục bát lên đến tuyệt đỉnh,  Truyện Kiều an ủi chúng ta nhưng cũng giữ chúng ta trong một sự cam chịu không cưỡng lại nổi . 
Ở chỗ 3.254 câu Kiều dừng lại, thì thơ chữ Hán bắt đầu. Mấy chữ tuyệt vời ý thức,  mà Nguyễn Lộc nói, nên dành cho thơ chữ Hán. Giọng thương cảm vẫn còn, nhưng nó chỉ giúp vào việc làm tăng hiệu quả của cái phần suy nghĩ  chỉ có ở những người thông thạo sách vở. Cảm quan hoài nghi kín đáo nhưng bàng bạc khắp nơi, một thứ hoài nghi lành mạnh. Lời kêu gọi toát lên từ những dòng thơ  Phản chiêu hồn, Độc Tiểu thanh ký: Hãy nhìn rộng ra cả thế giới . Hãy biết đến  những gì ở ngoài mình, ở ngoài xứ sở của mình nữa.  Khóc một chút thôi rồi hãy lau  nước mắt mà nhìn vào sự thực... Cố nhiên, vốn xa lạ với thứ thơ  thuyết giáo dạy dỗ mọi người, Nguyễn  Du không nói những câu bắt đầu bằng chữ hãy ấy với người đọc, song chính là từ các câu thơ  người đọc nhận  ra những gì mà tác giả tha thiết. Thậm chí ngay cả khi Nguyễn Du thú nhận sự bất lực rơi vào tuyệt vọng thì thơ ông vẫn có khả năng thúc đẩy sự suy nghĩ trong ta và kéo chúng ta về phía ánh sáng của trí tuệ .   
Vẻ đẹp trong thơ vốn có nhiều sắc thái khác nhau. Trong Kiều có vẻ đẹp của Long lanh đáy nước in trời/Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng lại có vẻ đẹp của những câu thơ đơn giản kiểu như Mai sau dù có bao giờ . Song ở Kiều loại thứ nhất nhiều hơn. Còn loại thứ hai thì phải đến thơ chữ Hán mới thật là có một sự trình diện liên tục:   Ngoài cửa sổ hoa cúc vàng tươi tốt có thể ăn được (Song ngoại hoàng hoa tú khả xan) - Hoa để tặng người mình sợ (Hoa dĩ tặng sở uý ) - Lúc càng điên càng đẹp  (Tối điên cuồng xứ tối phong lưu.)...,  Nhìn chung lại,  nếu Kiều khai thác mối cảm thông giữa người với  người , thì thơ chữ Hán chọn cách tác động của sự thức tỉnh. Kiều an ủi  ta, còn thơ chữ Hán làm phiền ta, buộc ta phải đặt lại nhiều vấn đề của đời sống. Kiều là  du xuân, là  tiếng khóc nhớ nhà, là cảnh đầy ải không rõ nguyên nhân tại sao. Thơ chữ Hán là những chuyến đi xa đơn độc, là con người đối diện với sách vở, với thời gian và lịch sử. Kiều gợi không khí của những ngày ê chề buồn bã, mộng thực lẫn lộn. Thơ chữ Hán là những đêm không ngủ suy xét sự đời. Người làm thơ trong Kiều thủ thỉ tâm sự vỗ về bạn đọc. Người làm thơ trong thơ chữ Hán đòi hỏi chất vấn chúng ta, buộc  chúng ta đối mặt với  cuộc làm người vất vả mà thú vị. Nhưng chính vì vậy thơ chữ Hán là sản phẩm của sự trưởng thành. Chủ nghĩa nhân đạo thường  được hiểu một cách giản dị : chia sẻ với  nỗi đau khổ của con người . Tóm lại là một chữ thương. Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du đã đi gần tới một thứ chủ nghĩa nhân đạo khác - chủ  nghĩa nhân đạo của sự hiểu.  Đó là  một quan niệm chỉ  trong thời hiện đại mới được nẩy nở đầy đặn. Và  nó lại cũng chính là thứ chủ nghĩa nhân đạo cần cho chúng ta hôm nay hơn cả. Chữ tâm  đối với Nguyễn Du lúc này không còn là một thứ sụt sùi thương cảm, để che giấu sự bất lực;  tâm đã biến thành cái hích đầu tiên buộc đầu óc chúng ta làm việc, bước đầu tiên để giúp  con người sống đúng tầm người.


    Tiếng rền của núi
Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh từng  thử đếm và thấy trong 65 bài ở Thanh Hiên thi tập có đến mười bảy lần  lần nhắc đến mái đầu bạc.Tiếp tục lối thống kê ấy, người ta có thể nhận ra nhiều chi tiết cho thấy sự già dặn ở  con người Nguyễn Du. Trong thơ ông  người ta gặp những ngày lạnh hơn những ngày nóng,  gặp mùa thu mùa đông nhiều hơn mùa xuân mùa hè, gặp ánh trăng gợi những ý tưởng hư vô xa xôi nhiều hơn mặt trời thôi thúc người ta chen cạnh với đời. 
Những đêm không ngủ  của Nguyễn Du mà phần trên đã nói cũng phụ hoạ thêm cho cảm giác đó  :
         --  Suốt đêm nghĩ ngợi thao thức không ngủ
             Văng vẳng nghe tiếng sáo trong ánh trăng suông   
 (Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ - Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung)
         -- Đêm khuya , băn khoăn một mình đối bóng
           Nằm trên  giường nghe mưa tầm tã mà sốt ruột
     (Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh --- Mãn sàng trệ vũ bất kham thinh)
Không chỉ già trước tuổi, Nguyễn Du còn hiện ra như một  người thâm trầm lặng lẽ sống nhiều với nội tâm. Ta có thể đoán hàng ngày, có vẻ như ông là người ít nói ngại nói. Người ta có lúc đã nghĩ nhầm về ông. Một nhà nghiên cứu tả ông như “một kẻ tuỳ thời, ích kỷ, nhút nhát thích an nhàn, mơ giàu sang, sợ biến cố và tranh đấu”(8).
Chỉ có thơ chiêu tuyết cho ông. Một bài như Phản chiêu hồn cho thấy một cách nghĩ  quyết liệt hiếm có: 
        -- Thành quách vẫn như cũ nhưng nhân dân đã khác rồi     
          (Thành quách do thị nhân dân phi )
       -- Đời sau ai ai cũng là Thượng quan
          Mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La
         (Hậu thế  nhân nhân giai  Thượng quan
          Đại địa xứ xứ  giai Mịch La )
Thượng quan là  kẻ chuyên môn gièm pha . Còn Mịch La là  tên con sông Khuất Nguyên  tới trẫm mình. Ai cũng là Thượng quan, đâu cũng Mịch La, nghĩa là cuộc đời này hỏng hết rồi ! Trong thơ  xưa  nói chung ít khi thấy  một lối nói đến kiệt cùng chi lý, nói trăm phần trăm, nói không chừa một  chỗ nào để lùi . Lỗi phạm quy của Nguyễn Du là cố ý !
Nên để ý thêm là dưới con mắt của các sử gia từng viết Đại nam chính biên liệt truyện, thì Nguyễn Du là người ngạo nghễ tự phụ(9). Thời phong kiến, những người có chính kiến riêng, tức là những người trẻ trung tươi mới trong cách nghĩ, thường bị ghép cho cái  tội  đáng ghét ấy. Nguyễn Du cũng ở trong số này chăng?  
Ta vốn có tính yêu núi. Trong bài Tiềm sơn đạo trung in trong Bắc hành tạp lục,  vụt lên một câu thơ  lạ vậy. Trong  nguyên văn chữ Hán  Túc hữu ái sơn tích, chữ tích có nghĩa là một thứ thói tật, một thói quen đã bền chắc như là một sự nghiện ngập , và muốn cho chính xác phải dịch thành  Ta vốn nghiện núi. Tôi cho rằng đây là một trong  số những câu thơ đáng nhớ vì  có ý nghĩa thông báo về tác giả. Hoá ra Nguyễn Du không phải chỉ là cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia; mà hình ảnh gợi đúng về ông phải  là những ngọn núi, núi  đơn độc, núi  vượt lên trên sự bằng phẳng. Và thơ Nguyễn Du  là một thứ tiếng rền của núi ! 
Liệu có thể  nói cái phần bên trong rắn rỏi khoẻ mạnh lão thực mới là phần  chính trong con người ông? Nếu thế thì  còn
có thể nói là ông trẻ trung mãi mãi  ./.

Vương Trí Nhàn
© 2006 gio-o

------
(1) Thơ  trích trong bài đều lấy từ Thơ chữ Hán Nguyễn Du do Lê Thước Trương Chính biên soạn. Nxb. Văn học, Hà
Nội, 1965.
(2) Dẫn theo Hoài Thanh Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán, 1960. Chính Hoài Thanh  sau khi dẫn đã
viết thêm “Nhận xét này rất đúng“.
(3) Sách đã dẫn trên, bản của Nxb. Đại học và trung  học chuyên nghiệp, 1978; tr. 43.
(4) Nguyễn Du - Về tác giả và tác phẩm. Trịnh Bá Đĩnh biên soạn . Nxb. Giáo dục, bản in 2003.
(5) Dẫn theo  bản in lại trong sách Nguyễn Du - Về tác giả và tác phẩm;  tr. 120.
(6) Nguyễn Lộc , Sđd ; tr. 98.
(7) In lại trong Nguyễn Bách Khoa  Khoa học văn chương. Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn và giới thiệu.  Nxb.Văn hoá
thông tin, 2003.
(8) Ý của Nguyễn Bách Khoa, Trương Chính dẫn lại trong Lời giới thiệu Thơ chữ Hán Nguyễn Du; tr. 30.
(9) Dẫn theo Nguyễn Lộc, Sđd; tr .17.























































MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.