Sunday, 26 February 2017

Đặng Thế Phong (1918 - 1942)


















Đặng Thế Phong

(1918 - 1942)

Nhạc sĩ









Đặng Thế Phong (1918 – 1942) là nhạc sĩ thuộc thế hệ tiên phong của tân nhạc Việt Nam, một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cho giai đoạn âm nhạc tiền chiến. Ông mất năm 24 tuổi và chỉ để lại ba nhạc phẩm: "Đêm thu", "Con thuyền không bến" và "Giọt mưa thu".






Tiểu sử

Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Cha ông là Đặng Hiển Thế, thông phán Sở Trước bạ Nam Định.

Vì cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure) tại trường trung học Saint Thomas d'Aquin. Ông lên Hà Nội vẽ cho một số tờ báo và học với tư cách dự thính tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École supérieure des Beaux-Arts) tới năm 1939. Thời gian ông học ở đây đã để lại một giai thoại. Trong một kỳ thi, Đặng Thế Phong vẽ bức tranh cảnh một thân cây cụt. Giáo sư, họa sĩ người Pháp Tardieu chấm bài, khen ngợi nhưng nói rằng: E Đặng Thế Phong sẽ không sống lâu được!

Cuộc đời Đặng Thế Phong rất long đong, lận đận. Ông phải sống lang bạt và trải qua nhiều nghề. Tháng 2 năm 1941, Đặng Thế Phong lang thang vào Sài Gòn rồi sang Campuchia. Tại Nam Vang, ông có mở một lớp dạy nhạc và đến tháng 8 năm 1941 ông trở lại Hà Nội.






Sự nghiệp âm nhạc của Đặng Thế Phong chỉ có ba nhạc phẩm và đều rất nổi tiếng là: Đêm thu ca khúc viết cho lửa trại của học sinh Hà Nội 1940, Con thuyền không bến hoàn chỉnh tại Nam Vang, trình diễn lần đầu tại rạp Olympia, Hà Nội năm 1941 và Giọt mưa thu 1942. Nhạc phẩm cuối cùng Giọt mưa thu được ông viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh. Ban đầu bản nhạc mang tên Vạn cổ sầu, nhưng theo ý một vài người bạn, ông đặt lại là Giọt mưa thu cho bớt sầu thảm hơn.

Cả ba ca khúc của ông đều viết về mùa thu và hai trong số đó Con thuyền không bến Giọt mưa thu được xếp vào những tác phẩm bất hủ của tân nhạc Việt Nam. Giọt mưa thu cũng là cảm hứng cho nhạc sĩ Hoàng Dương sáng tác bài Tiếc thu nổi tiếng. Nhiều ý kiến cho rằng Trịnh Công Sơn đã ảnh hưởng bởi Giọt mưa thu khi viết ca khúc đầu tay Ướt mi.

Nhận xét của Phạm Duy, các sáng tác của Đặng Thế Phong là những bài hát khởi đầu cho dòng "nhạc thu" Việt Nam, được tiếp nối xuất sắc bởi Văn CaoĐoàn Chuẩn. Theo Doãn Mẫn, Đặng Thế Phong và Lê Thương là hai nhạc sĩ tiền chiến có sáng tác sâu đậm hồn dân tộc nhất: "Đặng Thế Phong là người hết sức tài hoa. Ông chơi được rất nhiều nhạc cụ. Ông sáng tác Giọt mưa thu, Con thuyền không bến từ khi còn rất trẻ. Đáng tiếc, ông mất quá sớm. Có thể nói sự ra đi của ông là một tổn thất lớn đối với bạn bè và cho cả những người yêu mến âm nhạc Việt Nam."

Đặng Thế Phong được xem như một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của thời kỳ tiền chiến. Ông mất năm 24 tuổi vì bệnh lao trên một căn gác số 9 phố Hàng Đồng, Nam Định năm 1942.



Tham khảo



Tiểu sử của Đặng Thế Phong in trong ấn bản Con thuyền không bến do nhà xuất bản Tinh Hoa phát hành tại Sài Gòn vào năm 1964:

"Đặng Thế Phong sinh năm 1918, thứ nam của cụ Đặng Hiển Thể, thông phán Sở Trước Bạ thành phố Nam Định, là con thứ hai của một gia đình có sáu anh em, hai trai bốn gái. Cha mất sớm, gia đình thiếu thốn, anh phải bỏ dở học vấn khi đang học lớp 2ème année P.S. Anh có lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật với tư cách bàng thính viên. Anh vẽ tranh cho báo Học Sinh (chủ bút là Phạm Cao Củng) như truyện bằng tranh Hoàng Tử Sọ Dừa, Giặc Cờ Đen để lấy tiền ăn học. Mùa xuân năm 1941 anh có đi Sài Gòn rồi Nam Vang. Ở Nam Vang anh có mở một lớp dạy nhạc. Đến mùa thu 1941 anh lại trở về Hà Nội. Lúc sinh thời Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo nên cuộc sống của anh thật là khổ cực, chật vật. Ngoài tài sáng tác, anh còn là một ca sĩ, tuy chưa hẳn được là ténor nhưng giọng hát khá cao, đã nhiều lần ra sân khấu mà lần đầu tiên anh hát bài Con thuyền không bến tại rạp chiếu bóng Olympia, phố Hàng Da Hà Nội năm 1940. Đến đầu 1942 thì anh từ giã cõi đời tại nhà, trên một căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng vì bệnh lao, hưởng dương 24 tuổi."



Những sáng tác khác

Theo Phạm Duy thì Đặng Thế Phong có sáng tác một ca khúc nữa là Sáng rừng.
Trong một bài viết của nhạc sĩ Trương Quang Lục thì Đặng Thế Phong có những sáng tác: Con thuyền không bến, Giọt mưa thu, Đêm thu, Sáng trăng, Sáng trong rừng, Sầm sơn...
Báo Tiền phong số ra ngày 11 tháng 1 năm 2006 đăng tư liệu về một nhạc phẩm mới tìm thấy của ông: Gắng bước lên chùa, lời của nhà văn trinh thám Phạm Cao Củng.









Đêm Thu

Thái Thanh


Ngọc Lan















Con Thuyền Không Bến
Bảo Yên


Thái Thanh


Lan Ngọc















Giọt Mưa Thu
Thái Thanh


Lê Thu


Hà Thanh





















Những bóng hồng trong thơ nhạc - Đặng Thế Phong: “Dương thế bao la sầu...”


Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, Đặng Thế Phong là một trường hợp đặc biệt. Ông là một trong rất ít nhạc sĩ tiên phong của thời kỳ tân nhạc còn phôi thai, chết rất trẻ nhưng kịp để lại cho đời 3 ca khúc bất hủ.

Người viết có may mắn được gặp gỡ hai người biết khá rõ về cuộc đời Đặng Thế Phong. Đó là nhạc sĩ Lê Hoàng Long, tác giả ca khúc Gợi giấc mơ xưa (hiện sống tại TP.HCM) và nhà văn Phạm Cao Củng (gặp cách đây khoảng 10 năm, khi ông từ Mỹ về thăm quê hương, qua sự giới thiệu của họa sĩ Mạc Chánh Hòa). Theo nhà văn Phạm Cao Củng thì Đặng Thế Phong là một chàng trai rất đẹp, đàn hay hát giỏi, thích hóa trang thành thiếu nữ trong những vở kịch ngắn. Anh diễn rất đạt nên ai cũng yêu thích, nhất là phái nữ.

Nhạc sĩ Lê Hoàng Long thì khẳng định người yêu của Đặng Thế Phong tên Tuyết. Tuyết không đẹp nhưng có duyên. Cô là con gái một chủ tiệm buôn bán “gối màn chăn drap” ở chợ Sắt (Nam Định). Vốn tính nhút nhát, Đặng Thế Phong nghĩ mãi cũng không biết làm cách nào để “tiếp cận” người đẹp. Cuối cùng, anh vờ làm khách hàng vô hỏi giá rồi... nhét vội vào tay nàng một lá thư. Chẳng biết nội dung bức thư đầu tiên này mùi mẫn như thế nào mà sau đó cô Tuyết đã cự tuyệt một anh thông phán trẻ làm việc ở Tòa Đốc lý Nam Định, khi anh này dạm hỏi.

Thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng

Trước khi quen và yêu Tuyết, Đặng Thế Phong đã sáng tác ca khúc đầu tay Đêm thu trong một đêm cắm trại của Hướng đạo sinh (1940). Ca từ của bản nhạc rất trong trẻo, lạc quan... Còn bản Con thuyền không bến thì được sáng tác ở Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) khi tình yêu giữa nhạc sĩ và cô Tuyết đang độ chín mùi.

Một hôm, ông cùng một nhóm bạn văn nghệ sĩ lên Bắc Giang chơi, nhân đó họ tổ chức một đêm đi thuyền trên sông Thương. Cùng lúc đó, chàng nhận được tin Tuyết ngã bệnh nơi quê nhà. Lòng dạ bồn chồn, xót xa, Đặng Thế Phong ôm đàn bước vào khoang thuyền, bỏ mặc các bạn đang đùa vui. Khi đêm sắp tàn thì bản nhạc hoàn tất với những lời ai oán não nùng gửi về... chân mây: “Đêm nay thu sang cùng heo may. Đêm nay sương lam mờ chân mây... như nhớ thương ai chùng tơ lòng...”, rồi “... Nhớ khi chiều sương cùng ai trắc ẩn tấm lòng. Biết bao buồn thương, thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng...”.

Sớm hôm sau, Đặng Thế Phong tức tốc trở về Hà Nội, người đầu tiên được nghe chính tác giả hát ca khúc này là người yêu của ông. Cô Tuyết hết sức cảm động. Chưa hết, chỉ ít lâu sau, Con thuyền không bến ra mắt khán giả thủ đô tại Nhà hát Lớn Hà Nội qua tiếng hát của nữ ca sĩ Vũ Thị Hiển. Từ Nam Định, cô Tuyết đã bỏ hẳn một ngày chợ để lên Hà Nội, ngồi cạnh Đặng Thế Phong, ngay ở hàng ghế đầu để nghe bài hát “người ấy làm riêng cho mình”. Hạnh phúc còn nhân đôi bởi chỉ khoảng một tuần sau, tại rạp Olympia (phố Hàng Da, Hà Nội), cô Tuyết còn được chứng kiến người mình yêu tự đệm đàn, tự hát ca khúc này mà ánh mắt luôn trìu mến hướng về chỗ cô ngồi, trong tiếng hoan hô nhiệt liệt của khán giả.

Trời thu gieo buồn lây

Sau khi từ Bắc Giang về, Đặng Thế Phong đã nhuốm bệnh. Thời đó, bệnh lao là một bệnh nan y và luôn bị những người chung quanh xa lánh.

Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ở tỉnh không đủ điều kiện chữa trị, Đặng Thế Phong phải chuyển lên Hà Nội, sống chung với ông chú họ Nguyễn Trường Thọ trong một căn gác ở làng hoa Ngọc Hà (ngoại ô Hà Nội). Tuy vậy, tình trạng vẫn không khá hơn chút nào. Gia cảnh nghèo nàn, tiền bạc phải vay mượn để chữa trị, cuộc sống kham khổ làm cho tình cảnh của nhạc sĩ càng thêm nghiệt ngã... Cô Tuyết vì phải phụ giúp gia đình chuyện buôn bán ở thành Nam nên vài hôm mới lên Hà Nội chăm sóc người yêu rồi lại tất tả quay về.

Tháng 7 mưa ngâu. Cảnh buồn tê tái. Đặng Thế Phong nhớ Tuyết quay quắt... Nhạc hứng tuôn trào, chàng gượng ngồi dậy, ôm đàn và viết nên khúc nhạc buồn da diết: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...”. Bản nhạc được chàng đặt tên là Vạn cổ sầu. Bạn bè góp ý nhạc thì hay nhưng cái tựa bi thảm quá. Cuối cùng, tên bản nhạc được đổi thành Giọt mưa thu.

Cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi, Đặng Thế Phong nhờ ông Thọ đưa về Nam Định. Từ đấy cho đến lúc Đặng Thế Phong lìa đời, cô Tuyết lúc nào cũng túc trực bên giường bệnh để chăm sóc ông, khiến những người quen biết đều xót xa thương cảm cho một mối tình vô vọng lẫn nể phục tính cách cao thượng chung thủy của Tuyết.

Tang lễ của chàng nhạc sĩ 24 tuổi ấy được rất nhiều thanh niên nam nữ của thành Nam tham dự. Ngoài việc đưa tiễn một người con tài hoa nổi tiếng của quê hương, họ còn muốn chia sẻ và tỏ lòng trân trọng đến với cô thiếu nữ mặc áo đại tang đi sau linh cữu của chàng (việc này được phép của cả hai gia đình).


Hà Đình Nguyên









Sáng Rừng
Tác giả: Đặng Thế Phong



Sáng tới rồi ! 
Khắp đất trời đã tưng bừng ánh vàng 
Vừng đông chân trời vừa ló … 
Núi suối rừng 
Ðã thay màu thắm lẫy lừng huy hoàng 
và sương thêm màu mơ màng … 

Chim líu lo mừng sáng 
Hoa lá như dịu dàng 
Bình minh vừa mang theo sắc hương … 
Mây trắng bay từng đàn 
Man mác trên nền trời 
Ðầm đìa làn cỏ xanh láng lai sương rơi … 

Tâm hồn ai không tha thiết cảnh rừng tuyệt vời 
Và thấy trái tim thêm nồng nàn 
Tràn lấn biết bao tình yêu đời … 

Xao xuyến cây, làn gió 
Lay lá lay rộn ràng 
Lòng người cùng xôn xao với bao ánh dương 

















Đặng Thế Phong - sống và chết trước khi thời cơ đến (phần 1)
Jason GibbsViết cho BBC Tiếng Việt

28 tháng 2 2017



Đặng Thế Phong có hai mảnh đời khác nhau. Cuộc đời của ông khi bố ông còn sống, và cái thời kỳ sau khi bố ông mất độ năm 1935.

Khi bố ông còn sống gia đình của ông được hưởng cuộc sống ổn định, khá giả của một công chức của sở Trước Bạ Nam Định. Gia đình họ Đặng ở nhà số 9 Hàng Đồng là trung tâm thành phố Nam Định. Vì vậy, ông Đặng Hiển Thế, bố của Đặng Thế Phong, cho con mình được học tại các trường uy tín nhất xứ Nam Định là Trường Thành Chung (tức là École primaire superieure franco-indigène de Nam-Dinh) và trường dòng L'École St. Thomas D'Aquin. Khi bố ông mất cuộc đời của ông vào bước ngoặt mới.

Nhiều nhạc sĩ Việt nổi tiếng xưa đều bị mồ côi cha sớm giống Đặng Thế Phong bao gồm Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Trần Tiến. Không biết như vậy cũng là nguyên cớ giúp các nhạc sĩ theo nghề xướng ca vô loại, là không bị bố bắt phải học kiếm bằng và lên chức. Với Đặng Thế Phong cũng như Phạm Duy thì tình thế này đã giúp hai người nổi máu giang hồ xách đàn ra đi.

Thời thanh niên của Đặng Thế Phong là rất "thanh niên." Nhà văn Phạm Cao Củng kể rằng nhạc sĩ Phong thích bơi lội và từng đi trẩy Hội Chùa Hương. Phạm Cao Củng kể về lúc hai anh em ngủ trong chùa Ngoài ngắm ánh trăng. Một điều chắc chăn nữa là Đặng Thế Phong là hướng đạo sinh hay đi cắm trại. Trong khoảng thời gian ấy Đặng Thế Phong cũng hay lên Hải Phòng ở với Phạm Cao Củng và làm quen với hai anh em Hoàng Kim Quí và Hoàng Phú (tức hai nhạc sĩ Hoàng Quý và Tô Vũ).

Giống một số nhạc sĩ tiền phong lúc bây giờ như Phạm Duy, Văn Cao, Nguyễn Đình Phúc và Nguyễn Đức Toàn, Đặng Thế Phong học hội họa một thời tại L'École Supérieure des Beaux-Arts de l'Indochine (Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương). So với các nhạc sĩ được nhắc đến ở trên, Đặng Thế Phong là một người anh, một người đi trước. Có nghĩa là phải cố tìm cách mưu sinh trong thời gian này khi mà tân nhạc chưa có cơ sở để giúp đỡ một người nhạc trẻ kiếm sống bằng con đường nghệ thuật của mình.

Các nguồn chính (primary source) về cuộc đời Đặng Thế Phong cũng hiếm, nhưng một giai đoạn của đời ông được chứng minh bằng tư liệu là thời ông làm cho báo Học Sinh ("pour la jeunesse scolaire") do Phạm Cao Củng thành lập. Học sinh là những trang phụ lục của Tiểu Thuyết Nhật Báo dành cho giới trẻ được xuất bản từ 5 tháng 5 1939. Vì cảnh nghèo Đặng Thế Phong phải bỏ dở học hành ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật để kiếm sống. Ông được cái may là được tựa vào một người anh kết nghĩa Phạm Cao Củng và ông cũng đã cho nhạc sĩ này làm cho tờ báo mình.

Tên Đặng Thế Phong xuất hiện trong số báo đầu tiên trong mục quảng cáo "những bài hát của nhạc sỹ trẻ tuổi Đặng Thế Phong đặt ra riêng cho các em nhỏ Học Sinh." Tôi cho lời đó chứng minh rằng Đặng Thế Phong là một người có kinh nghiệm tổ chức và dạy nhạc cho các em hướng đạo sinh, dạy các bài ca Pháp với lời Việt, và đã bắt đầu sáng tác ca khúc cho lứa tuổi ấy.

Ngày 22 tháng 6 1939 bài ca "Sáng trong rừng" của Đặng Thế Phong được đăng trên trang Học Sinh. Bài ca này được "riêng tặng các bạn 'Hương đạo sinh' và Sói con'." Lời ca "Sáng trong rừng" tỏ ra nhiều xúc cảm và đắm mê bởi cảnh đẹp rực rỡ của bình minh - "Tâm hồn ai không say đắm cảnh rừng tuyệt với." Ông soạn một giai điệu có tính vui của hành khúc kèn lệnh, nhưng cũng có nét buồn của điệu rê / D thứ.

Bài ca "Sáng trăng" được đăng trên báo Học Sinh ngày 24 tháng 8 1939. Theo nhịp "gai et rythmé" (vui vẻ và nhịp nhàng) Đặng Thế Phong soạn một ca khúc ngắn theo điệu re / D trưởng. Giai điệu này cũng có tính kèn lệnh dễ cho thiếu niên hát. Lời ca của "Sáng trăng" khuyến khích các em hướng đạo sinh vui lên để đỡ buồn nhớ khi cắm trại xa nhà.

Kèm theo các sinh hoạt tòa soạn, báo Học Sinh cũng tổ chức những buổi văn nghệ. Trên trang 13 của số báo ngày 23 tháng 11 1939 có một tấm ảnh với Ban Kịch Học Sinh vừa biểu diễn ở Chợ Phiên Thanh Niên ở Hà Nội hai hôm 18 và 19 tháng 11 1939. Trong tấm ảnh ấy có ba người lớn và bẩy em học sinh. Bên trái là "anh Đặng Thế Phong đứng đầu ban âm nhạc." Còn hai người lớn khác thực hiện dàn cảnh cho ban kịch là "chị Nga" (tức Phạm Thị Trường, vợ của của Phạm Cao Củng) và Vũ Đức Toa (một nhà văn cũng có tên bút Muỗi Sài Gòn). Có bốn người trai trẻ cầm các nhạc cụ như phong cầm, banjo, ghi ta và violon. (Một chi tiết thú vị là người đứng trước chị Nga và cầm cây đàn banjo là Hà Đình Thau sau này được biết đến với tên bút Từ Linh là bạn thân của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Người thiếu nhiên đứng bên cạnh Đặng Thế Phong và cầm kèn phong cầm tên là Hà Đình Kim, chắc là anh của Hà Đình Thau).

Báo Học Sinh không đăng nhiều thông tin về âm nhạc của ban nhạc thiếu niên này biểu diễn. Chỉ có một chi tiết là "hai em Nguyễn Bá Lộ và Hà Đình Thau đã rập ra cùng các bạn hát bài "Quay quanh, quay quanh", hòa với kèn accordéon, rất vui, như dục [giục] hết thẩy các người xem cùng đứng giậy, giắt tay nhau, ca hát và quay tròn..." Bài "Quay quanh" không biết có phải là một tác phẩm của Đặng Thế Phong sáng tác hay là một bài tây đặt lời Việt?

Tấm ảnh này chứng tỏ thêm một điều quan trọng là năm đó Đặng Thế Phong là một người nhạc sĩ có đủ trình độ để tổ chức và diễn tập một đội âm nhạc. Ông phải dạy bốn nhạc cụ cho bốn học sinh trẻ. Và trong tấm ảnh ta cũng được gặp một thanh niên đúng 20 tuổi, cao, khỏe, đẹp trai và ăn mặc lịch sự.

Từ 26 tháng 10 báo Học Sinh bắt đầu quảng cáo một bài ca mới của Đặng Thế Phong. "Đêm thu" mới được đăng trên trang Học Sinh ngày 28 tháng 12 1939 trong số báo đặc biệt dành cho "các em gái." Lời ca của bài ca này cũng vẽ cảnh đẹp của thiên nhiên như "Sáng trong rừng." Buổi sáng thì xôn xao đầy hy vọng của một ngày mới, song ban đêm thì lại "im như mắc buồn." Khác với các bài ca hướng đạo sinh ngắn, "Đêm thu" là một bài ca trọn vẹn mà cũng chuyển điệu từ sol / G thứ sang sol / G trưởng. Các nghệ sĩ biểu diễn bài ca này từ xưa đến nay hay hát đoạn điệu thứ theo nhịp chậm rồi hát đoạn trưởng nhanh hơn. Nhưng, thực ra khi ghi bài "Đêm thu" trên trang báo Học Sinh nhạc sĩ đặt ra nhịp "tempo di valse moderato" nghĩa là toàn bài ca nên biểu diễn theo nhịp valse vừa.

Khi đăng trên trang báo, "Đêm thu" đề tên hai tác giả -- "âm nhạc của Đặng Thế Phong" và "lời ca của Hoàng Thái." Hoàng Thái là ai vậy? Vai tháng sau Hoàng Thái cũng viết một bài giới thiệu mục mới của Đặng Thế Phong trên báo đầu năm 1940, như vậy Hoàng Thái là một người làm việc với báo Học Sinh. Trong Hồi Ký, thì Phạm Cao Củng cho rằng Nguyễn Trường Thọ, người chú họ của nhạc sĩ "là người đã đặt lời nhiều bản nhạc Đặng Thế Phong." Hoàng Thái có phải là Nguyễn Trường Thọ? Hay có thể Hoàng Thái chính là Phạm Cao Củng là người viết lời cho bài ca "Gắng lên chùa" mà được in trên trang tờ báo Tin Mới năm 1940.

Trong quyển Hồi ký một đời người (1993), Phạm Cao Lũy đã trích dẫn những lời kể của Nguyễn Trường Thọ về thời gian đó. Ông Thọ nói rằng lời ca của "Con thuyền không bến" được viết khi hai chú cháu ở chung trong một nhà tranh tại trại hàng hoa Ngoc Hà.'' Ông Thọ hồi tưởng rằng ông viết những lời này do một "tình cảm nặng nề" của một mối tình đầu. Nguyễn Trường Thọ cũng cho rằng lời ca của bài "Vạn cổ sầu" (được phổ biến với tên "Giọt mưa thu") là của Đặng Thế Phong loạn lời với ông Thọ góp ý một ít.

Công việc chính của Đặng Thế Phong ở báo Học Sinh sau một thời gian là vẽ tranh minh họa và tranh chuyện ký. Từ tháng 9 1939 các tranh của ông được xuất hiện trên trang báo với nhiều tên bút khác nhau như Phg, Levent (tiếng Pháp là cơn gió - tức phong), thephong, Tổng Phệ, và Khải Phong. Ông làm minh họa cho các tranh chuyện nhiều kỳ như Giặc cờ đen, Tấm Cám, và Cảnh Lâm, hồ sám (một chuyện mạo hiểm như Tarzan). Từ tháng 6 1940 thì nhiều kỳ của các tranh chuyện được ký tên Bình Phong. Không biết đây có phải là Đặng Thế Phong và họa sĩ Tạ Thúc Bình làm chung. Từ 12 tháng 9 1940 thì Tạ Thúc Bình thành người họa sĩ chính của báo Học Sinh và Đặng Thế Phong vẽ tranh ít hơn.

Nhạc sĩ Hoàng Trọng, một người đồng hương của Đặng Thế Phong, đã kể cho tôi nghe rằng Đặng Thế Phong với Bùi Công Kỳ đã mở ra một "nhà hàng vẽ" ở Nam Định độ năm 1940. Thực ra Đặng Thế Phong phải làm nghệ thuật thương mại như một thợ vẽ tranh. Nhưng nói như thế không có nghĩa là ông thiếu tài năng hội họa. Học ở trường mỹ thuật thì ông biết luật phối cảnh, biết cách in đá. Làm tranh chuyện ông cũng phải biết phát triển các nhân vật. Nếu chưa phải là xuất sắc thì nghệ thuật vẽ của Đặng Thế Phong phải coi là chuyên nghiệp.

Ông Jason Gibbs có bằng tiến sĩ về Lý thuyết và Sáng tác âm nhạc từ Đại học Pittsburgh, chuyên nghiên cứu âm nhạc Việt Nam. Bài viết gửi BBC được ông viết trực tiếp bằng tiếng Việt, mở đầu loạt bài sẽ đăng về các gương mặt nhạc sĩ Việt Nam.






Đặng Thế Phong - sống và chết trước khi thời cơ đến (phần 2)
Jason GibbsViết cho BBC Tiếng Việt


Đầu năm 1940 Đặng Thế Phong soạn một mục giảng dạy những điều cơ sở về nhạc lý như cái gam, các nốt, khoa, trường độ, v.v.

Như vậy Đặng Thế Phong có một trình độ âm nhạc Tây phương rất vững chắc. Các bài hát được chép ra rất đúng, và các nốt giai điệu hợp với luật hòa âm nhạc tây phương. Chắc người nhạc sĩ đã được đào tạo rất tốt ở trường dòng (và rất có thể Đặng Thế Phong từng theo đạo Thiên Chúa - em út của nhạc sĩ, Đặng Thanh Kim, là tín đồ Công giáo). Ngoài tài năng và nền học thức, Đặng Thế Phong cũng giữ một niềm đắm mê âm nhạc. Theo ký ức của Nguyễn Trường Thọ thì "Phong thích ôm cây lục huyền cầm nghêu ngao hát suốt ngày." Đặng Thế say mê âm nhạc đến hơi thở cuối cùng. Lúc lâm chung, ông xin em út của mình ca và đàn bài "Serenade" của Schubert cho mình nghe.

Báo Trung Bắc tân văn của 22 tháng 12 1940 có bài phê bình kịch Cái Vạ của Vũ Trọng Can biểu diễn hôm 16 tháng 12 tại rạp Olympia nói đến sự tham gia của một ca sĩ tên Thế Phong. Số cuối cùng của báo Học Sinh xuất bản 14 tháng 1 1941 báo cáo các thành viên của một báo mới có tên Chiếu bóng. Tên Thế Phong có mặt trong tòa soạn. Không biết tờ báo ấy có bao giờ xuất bản, nhưng ít lâu sau Đặng Thế Phong đã đi vào Nam để cố kiếm sống bằng cách dạy âm nhạc và vẽ pa-nô cho rạp chiếu bóng ở Nam Vang.


Tôi chưa thấy tư liệu nào nói ông mắc bệnh lao từ lúc nào, nhưng chính bệnh nhân Đặng Thế Phong là hình ảnh được trao cho chúng ta. Nhạc sĩ / họa sĩ Nguyễn Đình Phúc đến hội Trí Tri nghe ông hát và kể đến "một thanh niên, mặt xanh lướt như được nạn bằng sáp, đang vừa đệm ghita, vừa hát… Cái mặt sáp ong đã xanh lại càng xanh trắng bệch ra. Đặng Thế Phong ôm ngực ho, một cơn ho rũ rượi." Đến xem Đặng Thế Phong ở rạp Olympia Nguyễn Ngọc Oánh cũng nhắc đến một "hình ảnh ... đã cho tôi một ấn tượng không quên về nghệ sĩ tài ba ấy trong hoàn cảnh nghiệt ngã của lịch sử." Đặng Thế Phong qua đời ngày 2 tháng 8 1942 ở Nam Định, chết non như một Franz Schubert của Việt Nam.

Nghệ sĩ tài hoa mệnh yểu Đặng Thế Phong để lại ba ca khúc vượt thời gian là "Con thuyền không bến," "Giọt mưa thu" và "Đêm thu." Với thêm ba ca khúc được nhắc đến ở trên thì tổng kết thì ông từng sáng tối thiểu là 6 ca khúc. Tôi biết đến thêm hai ba ca khúc khác nữa. Phạm Duy bàn đến bài ca "Sáng rừng" (khác với "Sáng trong rừng) trong những bài ông viết về lịch sử nhạc tiền chiến trong tạp chí Văn Học năm 1985. Tôi cũng có thêm thông tin về các bài ca "Đồ Sơn" (theo một bài viết của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo, một người khi còn trẻ cũng gửi bài viết cho tạp chí Học Sinh) và "Sầm Sơn (theo tư liệu Lê Hoàng Long).

Khi còn sống "Con thuyền không bến" và "Giọt mưa thu," hai kiệt tác của Đặng Thế Phong, chưa được phổ biến rộng rãi. Nhưng ít lâu sau hai bài ca này được nổi như cồn và thành quen thuộc đối với giới yêu nhạc cải cách. Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam hiếm có bài ca được thu thanh, biểu diễn và phát thanh nhiều như hai tác phẩm ấy. Mặc dù đã chưa được thu thanh hay in làm bản nhạc, nhiều người từng sống những năm Đại Chiến thứ II (1941-1945) đều nhắc đến hai bài ca này trong hồi ký và khi trả lời phỏng vấn. Chắc chúng được dần dã phổ biến nhờ việc ghi chép vào các quyển sổ và nhờ chuyển miệng.

Nhạc sĩ Vân Đông nhắc trong hồi ký Một trên gọi, một cuộc đời và tình yêu âm nhạc rằng ban nhạc của mình ở Quảng Ngãi từng hát bài ca ấy lúc bấy giờ. Giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Đình Hòa nhắc các bạn bè trẻ Hà Nội hát "Con thuyền không bến" với nhau. Nhạc sĩ Văn Ký cũng kể rằng nhóm âm nhạc của mình cũng biểu diễn "Giọt mưa thu" ở Thanh Hóa. Giáo sư nha khoa Nguyễn Thành Nguyên kể cho tôi nghe rằng khi sang Nhật du học lúc bấy giờ các nữ du học sinh cũng hát "Giọt mưa thu." Nghĩa là hai bài hát của Đặng Thế Phong đã đi vào đời sống của thế hệ đó rất nhanh.

Mồng 3 tháng 9 1946, vài tháng trước kháng chiến bùng nổ, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tổ chức một buổi nhạc "để tiếp đón thính giả ngoại quốc." Buổi biểu diễn này có vai trò ngoại giao - các vị lãnh sự nước Anh, Mỹ, Trung Quốc và một số sĩ quan Pháp đến nghe. Mục đích của buổi này là trình bày tinh hoa của nền nhạc Việt để đất nước và dân tộc của mình được công nhận và tôn trọng. Chương trình của buổi biểu diễn được chia ra thành ba phần. Một phần là nhạc truyền thống Việt Nam (nhạc Huế). Trong phần thứ hai một dàn nhạc biểu diễn nhạc cổ điển tây phương trình bày một thể loại nhạc quen thuộc cho người nước ngoại đến nghe. Người Việt có khả năng chơi nhạc cổ điển cũng chứng minh rằng người Việt được am hiểu một thể loại nhạc quốc tế được coi như là đỉnh cao của âm nhạc nhân loại. Phần thứ ba gồm ba ca khúc của tác giả Việt sáng tác. Dưới sự điều khiển của Đinh Ngọc Liên, ban nhạc Vệ Quốc Đoàn và giọng hát vợ ông là nghệ sĩ Bùi Thị Thái thính giả nước ngoại được nghe bài "Thiên Thai" của Văn Cao và hai bài "Con thuyền không bến" và "Giọt mưa thu" của Đặng Thế Phong.

Một điều tất nhiên là trong dịp này họ không thể thể hiện những tác phẩm "diệt thù," "phan thây uống máu" cho khách nước ngoại. Nhưng dù thế nữa ba ca khúc ấy được coi như sự gặp gỡ hài hòa của hai nền âm nhạc tây phương và Việt Nam. Các ca khúc của Văn Cao và Đặng Thế Phong lấy cảm hứng từ nhạc xứ Việt và được viết và trình bày theo phương pháp tây phương. Bài "Một buổi hòa nhạc tưng bừng" đăng trên báo Cứu Quốc ngày 5 tháng 9 1946 kết luận rằng các tác phẩm mới này "làm cho mọi người say sưa và đặt nhiều tin tưởng vào tương lai âm nhạc Việt Nam."

Những năm đầu kháng chiến chống Pháp ca khúc của Đặng Thế Phong còn rất phổ biến rộng rãi và được hát như bình thường. Nhưng ít năm sau, lập trường văn hóa trong vùng khánh chiến thay đổi. Trong hồi ký Chuyện mình chuyện đời, nhạc sĩ / họa sĩ Nguyễn Đình Phúc có kể đến một nữ ca sĩ hát bài "Giọt mưa thu" với tiếng ghi ta "phóng khoáng và bay bướm" của nhạc sĩ Bùi Công Kỳ đệm đàn theo. (Bùi Công Kỳ được đề tên là người viết lời trên bản "Giọt mưa thu" của Hoàng Mai Lưu xuất bản năm 1946). Nhưng trong chương sau của hồi ký ông, khi Nguyễn Đình Phúc lên chức làm "cán bộ lãnh đạo của nhà nước" thì ông lại cấm cô ấy hát "Giọt mưa thu" nữa.

Việc cấm nhạc Đặng Thế Phong ở nước Việt Nam xã hội chủ nghiã đã kéo dài độ 40 năm đến 1989. Bị cấm không có nghĩa là biến đi.

Việc cấm nhạc Đặng Thế Phong ở nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã kéo dài độ 40 năm đến 1989. Bị cấm không có nghĩa là biến đi. Nhiều người Việt đã giữ các bài ca ấy trong lòng mình - kể cả giữ lại cho tinh thần chiến đấu. Năm 1966 ở Vĩnh Linh, Nguyễn Đình Phúc lúc biểu diễn phục vụ lính chiến kể rằng các "anh giải phóng quân" cứ yêu cầu những bài ca lãng mạn xưa như "Con thuyền không bến." Chính trị viên quân đội bảo "các nghệ sĩ cứ hát" vì "chất dân gian và âm hưởng nhạc Việt Nam" trong các bài ca sẽ làm các người lính hăng hái chiến đấu. Hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh cũng kể về giá trị của một bài ca như "Giọt mưa thu" đối với một nhà văn của phe cũ như Nguyễn Tuân. Ông kể rằng có một lúc nhà văn này "vừa uống vừa khóc, vừa hát đi hát lại" bài ca "Giọt mưa thu." Bị phê phán là hát "khóc nhân tình" thì Nguyễn Tuân bác bỏ nói "mình buồn cho những kiếp người chịu oan khuất, buồn cho đời."

Ở xứ Việt dưới Pháp quyền rồi sau 1954 ở nước Việt Nam Cộng Hòa thì nhạc Đặng Thế Phong lại được tha hồ phổ biến. Ba bài "Con thuyền không bến," "Đêm thu," và "Giọt mưa thu" được phát thanh nhiều. "Đêm thu" và "Giọt mưa thu" được nhà xuất bản Tinh Hoa in từ năm 1949. Ca sĩ Minh Trang đã thu "Con thuyền không bến" cho hãng đĩa Polyphon, Châu Kỳ thu "Đêm thu" cho hãng Philips, Văn Lý thu "Giọt mưa thu" cho hãng Oria.

Các bài ca Đặng Thế Phong cũng được phát thanh và thu đĩa băng nhiều ở miền nam thời nước Việt Nam Cộng Hòa. Nhà xuất bản Diên Hồng in lại hai bài "Giọt mưa thu" và "Con thuyền không bến." Nghe ca sĩ Thanh Thúy hát "Giọt mưa thu" đã thành một nguồn cảm hứng cho Trịnh Công Sơn sáng tác bài ca "Ướt mi." Trong thời kỳ này bài tiểu sử đầu tiên về nhạc sĩ Đặng Thế Phong xuất hiện. Trên bìa sau của "Giọt mưa thu" (ẩn phẩm Diên Hồng năm 1964), Lê Hoàng Long cho lên một tấm ảnh một số chi tiết về đời nhạc sĩ mà ông trích từ tập 2 của của cuốn Nhạc sỹ Danh tiếng Hiện đại (hình như không xuất bản?).

Sau khi nước Việt được thống nhất thì các bài hát Đặng Thế Phong bị cấm toàn quốc. Ngày 15 tháng 10 năm 1989 Cục Văn hóa và Múa bắt đầu cấp phép cho các bài ca xưa được phép lưu hành. Ba bài ca của Đặng Thế Phong nằm trong đợt cấp phép lưu hành đầu tiên này. Thực ra quần chúng đã đi phía trước pháp luật. Tết 1988, Nhà hát Tuổi Trẻ ở Hà Nội cho biểu diễn "Giọt mưa thu" trong một chương trình "giới thiệu những nhạc phẩm đặc sắc trước va sau Cách Mạng Tháng Tám." Ngày 15 tháng 7 1988, nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu đã giúp cho Hội Âm Nhạc Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức một "chương trình thể nghiệm giới thiệu ca khúc trữ tình" với hai ca khúc Đặng Thế Phong tại Câu Lạc Bộ Thể dục Thể thao Bến Nghé. Khán giả rất đón mừng chương trình vì "vé bán sạch từ trước cả tuần."

Các nhà phê bình âm nhạc của chính phủ Việt Nam tìm mọi cách giải thích ý nghĩa các bài ca xưa có vấn đề như các bài của Đặng Thế Phong. Bởi vì nhạc Đặng Thế Phong xuất hiện trước các biến cố 1945, như vậy nó phản ánh lên một xã hội Việt bị thực dân đô hộ. Theo lời ông Đào Trọng Từ thì "Giọt mưa thu" biểu hiện những người có tính mơ mộng, nhạy cảm sống trong một xã hội bế tắc. Nó gợi ra nỗi đau đớn của một thế hệ phụ nữ khóc trong sự phiền muộn của một nước nô lệ. Còn Nguyễn Viên thì "Con thuyền không bến … lênh đênh chỉ biết trôi theo dòng đời lạc lõng, không có lối thoát, chỉ có thở than…" Trương Quang Lục cũng thừa nhận rằng những ca khúc của "dòng lãng mạn" thời xưa "đã đạt một giá trị nghệ thuật nhất định" nhưng bị hạn chế về mặt "nhân sinh quan do điều kiện lịch sử cụ thể khi chúng ra đời."

Năm 2000 Viện Âm Nhạc xuất bản một tác phẩm 1000 trang với chủ đề Âm nhạc mới Việt Nam: Tiến trình và thành tựu. Các tác giả của quyển này khen Đặng Thế Phong về sự nhạy cảm "trong việc diễn đạt nỗi buồn tê tái." Nhưng đây chỉ là "nỗi bơ vơ của một tầng lớp trung gian" là một thành phần xã hội "mất phương hướng trong cái biển cả của những xáo động lịch sử, đặc biệt là sau cơn khủng bố trắng những năm 1931-1935." Đặng Thế Phong có phụ thuộc về "tầng lớp trung gian" không? Điều đó khó xác nhận thế nào. Nếu sống lâu Đặng Thế Phong theo cách mạng, làm công chức văn hóa cho nhà nước không? Hay di cư vào Nam, xin tỵ nạn ở Mỹ? Ai mà biết được. Nhưng lịch sử Việt Nam đòi hỏi mỗi người phải chọn đúng một phương hướng. Các con đứa tinh thần của ông cũng bị biển cả đấm thùm thụp, nhưng rốt cục được vượt biên, vượt thời gian và sống sốt.

Các bài viết về cuộc đời và tình nhân Đặng Thế Phong bắt đầu xuất hiện các tờ báo Việt vài năm sau khi các bài hát của ông được cấp phép hát lại. Năm 1991 báo Nhân Dân đăng bài "Đặng Thế Phong va người tình chung thủy" tựa vào một cuộc phỏng vấn em gái út của nhạc sĩ.

Đặng Thế Phong được sinh 14 tháng 4 1918. Ông tiêu biểu cho các nghệ sĩ nghèo không được đánh giá cao và hưởng lợi lộc khi ông còn sống. Một điều đáng tiếc nữa phải đợi đến thế kỷ 21 để Việt nam mới có luật vững chắc bảo vệ quyền tác giả âm nhạc. Theo Công Ước Berne thì bản quyền của một tác phẩm chỉ được đem thi hành đến 50 năm sau khi tác giả mất. Như vậy từ năm 1992 nhạc của Đặng Thế Phong đã vào phạm vi công cộng. Khi còn sống thì hình như Đặng Thế Phong không bị ai bóc lột mà chỉ có việc là ông sống và chết trước khi thời cơ ông đến. Dù sao thì các tác phẩm của ông vẫn rất gần gũi với các người yêu nhạc Việt.

Ông Jason Gibbs có bằng tiến sĩ về Lý thuyết và Sáng tác âm nhạc từ Đại học Pittsburgh, chuyên nghiên cứu âm nhạc Việt Nam. Bài viết gửi BBC được ông viết trực tiếp bằng tiếng Việt, mở đầu loạt bài sẽ đăng về các gương mặt nhạc sĩ Việt Nam.

Cập nhật ngày 6/3: Bản đầu tiên của bài viết ghi rằng em gái cố nhạc sỹ Đặng Thế Phong, bà Đặng Thanh Kim, đã mất năm 2016 mặc dù bà hiện vẫn còn sống. Sau khi được gia đình liên lạc, BBC đã đính chính chi tiết này trong bài. 



















(Nguồn: tổng hợp internet)















Trở về








Danh Sách Tác Giả

Chân Dung Văn Nghệ Sĩ

Emprunt Empreinte






MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.
MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.

















Sunday, 19 February 2017

Emprunt Empreinte



















































Đôi lời cùng các tác giả và độc giả







"Emprunt Empreinte" (tựa tiếng Pháp) là một "sân chơi" rất riêng của Phan Nguyên từ khá lâu với giới văn nghệ sĩ, thân hữu gần xa, trong và ngoài nước, không phân biệt tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, chính kiến gì cả, miễn là họ đã có những tác phẩm hay, đẹp để lại cho đời và cho thế hệ mai sau, miễn là họ đã đóng góp cái phần tinh túy nhất của con người, của chính mình cho văn học nghệ thuật Việt Nam hay thế giới nói chung.


"E.E" (tựa viết tắt) là một bộ sưu tập với phương pháp in ấn đặc biệt bằng cà phê hòa tan trên giấy Canson "C" à grain 24cm x 32cm, qua những buổi gặp gỡ vô tình hay cố ý với bạn bè bằng hữu, "tây và ta", ở bất cứ nơi nào. 
Không có mục đích săn lùng những tác giả tên tuổi, tiếng tăm hay tù tội gì hết!
Nếu có, cũng chỉ là tình cờ duyên nợ của một kiếp người mà thôi.


"Mượn Dấu Thời Gian" (tựa tiếng Việt) là bộ sưu tập những dấu vân tay như một "di vật"của từng tác giả, một "chứng tích" của thủ bút, một "chứng từ" của thời gian. 
Và nếu như những ánh sao băng có xẹt ngang bầu trời mà để lại chút dấu thời gian, thì Nguyên này là người nhặt nhạnh những mẩu thời gian rơi rớt ấy.


Để làm gì ?


Để gió cuốn đi ... để gió cuốn đi ...






 Phan Nguyên 
Sài Gòn tháng 05/2011






















































Phan Nguyên & Trần Doãn Nho










Phan Nguyên và những dấu tay người



06.11.2015

Trần Doãn Nho





Ngẫu nhiên chữ
Tình cờ dấu
đắm đuối thời gian
 tháng 8-2015


Sáng hôm đó, thay vì đi uống cà phê ở ngoài, Phan Nguyên rủ tôi về nhà. “Nhà”, thực ra, trông như một phòng triển lãm. Tranh sáng tác của anh treo đầy. Có bức khá lớn, choán gần hết nửa bức tường. Trong số tranh treo, đặc biệt nhất là những bức in dấu bàn tay, được đóng khung cẩn thận. Số lượng “tranh” này khá nhiều, không thua các bức tranh khác.

Nhiều bức đóng khung rồi, chưa có chỗ treo cũng như một số bức khác chưa đóng khung, được anh cất giữ cẩn thận. Có thể nói, đó là một bộ sưu tập độc đáo: “tranh” dấu bàn tay. Phan Nguyên tỏ ra rất thích thú và hào hứng khi giới thiệu với tôi loại “tranh” này. Chả thế mà, sau đó, anh đề nghị tôi thực hiện việc lấy dấu bàn tay trước khi uống cà phê. Tôi cảm thấy hơi bất ngờ vì tưởng chỉ là đến trò chuyện lang bang về văn học nghệ thuật. Không sao. Sẵn sàng thôi. Công việc đơn giản và nhanh chóng: một nhúm cà phê, loại để uống liền, hòa nước, trộn đều, đợi một lát cho sánh lại, đổ lên hai bàn tay, xoa đều rồi in hai bàn tay xuống một tấm giấy trắng loại đặc biệt, giữ một lát, chờ khô.


Xong, viết vài giòng cảm hứng tùy thích để ghi nhớ ngày thực hiện dấu bàn tay, ký tên. Thế là hai bàn tay tôi đã được nằm vào bộ sưu tập.


Đó là phương cách “sáng tác” loại “tranh” này của Phan Nguyên.


Anh cho biết, cũng như trường hợp của tôi hôm nay, anh thường đề nghị lấy dấu bàn tay của anh chị em văn nghệ sĩ bất cứ khi nào có dịp, “qua những buổi gặp gỡ vô tình hay cố ý với bạn bè bằng hữu” -“tây” cũng được mà “ta” cũng được”– và ở bất cứ đâu. Dựa trên “tiêu chuẩn” nào? Chẳng có tiêu chuẩn nào hết. Chỉ cần “họ đã có những tác phẩm hay, đẹp để lại cho đời và cho thế hệ mai sau” và “đã đóng góp cái phần tinh túy nhất của con người, của chính mình cho văn học nghệ thuật Việt Nam hay thế giới nói chung.” Anh không tìm cách “săn lùng” cho được những tác giả thành danh hay nổi tiếng do tài năng hoặc do tù tội chẳng hạn để đưa vào bộ sưu tập của mình. Cũng “không phân biệt tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, chính kiến.” Nếu có một cái gì đó gọi là tiêu chuẩn thì chẳng qua “chỉ là tình cờ duyên nợ của một kiếp người mà thôi,” theo anh.


Đối với những anh chị em văn nghệ sĩ mà anh không có dịp gặp thì sao? Phan Nguyên cho biết, anh lấy dấu bàn tay bằng cách nhờ bạn bè. Chẳng hạn, ở Canada, anh nhờ nhà thơ Hoàng Xuân Sơn thực hiện giúp. Qua điện thư, anh chỉ vẽ cách làm; làm xong, gửi cho anh qua đường bưu điện. Bằng cách này, anh đã có dấu bàn tay của một số khá nhiều anh chị em văn nghệ sĩ ở Canada như Song Thao, Luân Hoán, Trang Châu, Hồ Đình Nghiêm, vân vân.







Trang mạng của Phan Nguyên, “Mượn dấu thời gian”, là nơi lưu giữ nhiều tài liệu văn học nghệ thuật Việt Nam và đồng thời cũng là nơi lưu giữ bộ sưu tập dấu bàn tay này. Có thể xem đó là một bộ sưu tập phóng lên trong không gian ảo. Anh vốn đã từng làm việc ở Pháp nên tựa đề này cũng có tiếng Pháp: Emprunt Empreinte, viết tắt là E.E, một hình thức “chơi chữ” trong tiếng Pháp có nghĩa là “mượn dấu”. Anh muợn dấu tay để ghi lại vết tích của thời gian. Mỗi người có một dấu vân tay riêng. Tất nhiên, với mắt trần, vân tay nào cũng như vân tay nào, hao hao giống nhau. Chỉ là những đường ngang, nét dọc, đường cong. Theo những nhà tướng số, chúng là dấu chỉ định mệnh mỗi người. Đối với công an, dấu vân tay chứa đựng lý lịch của một người. Nhưng dưới mắt Phan Nguyên, chúng là "di vật"của từng tác giả, một "chứng tích" của thủ bút, một "chứng từ" của thời gian.” Mỗi người đến, hiện diện rồi ra đi, nhưng Phan Nguyên muốn giữ chúng lại bằng cách “nhặt nhạnh” chúng như những “mẩu thời gian rơi rớt,” chứng tích cho những gì đã đến, đã trôi qua. Nghệ thuật là cái gì còn lại sau khi tất cả đã bị cuốn trôi vào trong cõi vô định. Nhìn những dấu vân tay được lồng khung treo đầy tường của các anh chị em văn nghệ sĩ, tôi nghĩ đến những vết hằn của hiện hữu được ghi khắc trên dòng thời gian.


Trong bộ sưu tập này, ta tìm thấy đủ dấu vân tay của những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, nhà báo, nhà giáo, điêu khắc gia, họa sĩ, kinh tế gia, nhà khảo cổ; họ ở trong nước, ngoài nước, thuộc khuynh hướng này, khuynh hướng kia, cũ, mới, tả hữu; họ còn sống hay đã qua đời, vân vân …có đủ. Nhìn dấu vân tay từng người, tưởng tượng đến những thế hệ sau, khi lần giở lại những trang quá khứ, tìm gặp một tác giả nào đó, nhìn thấy dấu vân tay của người đã khuất, hẳn phải đọng lại nhiều cảm khái, hơn là chỉ nhìn khuôn mặt hay đọc một câu văn hay một dòng thơ.


Bộ sưu tập là một cuộc hội ngộ văn chương nghệ thuật thú vị. Vì thực ra, nó không chỉ gồm có dấu vân tay mà còn có thủ bút của từng tác giả: một đôi dòng cảm hứng và có khi là những câu thơ. Nhiều câu thơ làm ngay tại chỗ, nhưng đọc lên, nghe rất đậm đà và thú vị, phản ảnh đúng phong cách của từng tác giả.






• Phạm Thiên Thư (nhà thơ):
Buồn buồn tôi hỏi cái tôi
Cái vừa đến - Cái đi rồi - Lạ nhau! 




• Khế Iêm (nhà thơ):

Từ thuở tuổi tác như đồng nát
Sương khói xây thành trăng mộ bia
Ta uống say khướt nước quẩn bách
Theo gió ra ngoài biên giới kia 


• Song Thao (nhà văn):

Mực đen giấy trắng đời thừa
Phóng tay ta cứ viết bừa cho vui 


• Chân Phương (nhà thơ):

Ngòi bút có sau bàn tay
Bàn tay có sau hòn đá
Hòn đá có sau lửa trời
Lửa trời có sau Hiện Tại 




• Nguyễn Duy (nhà thơ):

Nhớ nhau mình lại vuốt ve tay mình 


• Lê Thánh Thư (Họa sĩ/nhà thơ):

Bài khẩu cung
(Vấn & Đáp)
Mày tự khai
Hay mày không
Mày phản động
Hay mày không
Mày muốn sống
Hay mày không
Mày tự do
Hay mày không

Tau khi không

Tau khi có
Tau nào có
Tau nào không
Có có
Không không
Nỏ không
Nỏ có 


• Thường Quán (nhà thơ):

Giấy thấm trưa thưa rào ưu ủ nắng
Chim sâm ca dấu ấn nâu mong
Tình để bạn nước xanh lạc lặn
Nhà xoay lưng vạn nỗi ngả lòng



Và dưới đây là dấu vân tay của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, còn được mệnh danh là“Sơn biển” (khác với “Sơn núi”/Nguyễn Đức Sơn):





Trên dấu vân tay mình, Nguyễn Bắc Sơn viết:
Vân tay rớt xuống trắng mây
Cuối đời để lại ngón tay đủ mười

“Cuối đời”! Phải chăng là một lời tiên tri. Hai câu thơ này nhà thơ viết vào tháng 7/2014 trên dấu vân tay của anh do Phan Nguyên thực hiện tại Phan Thiết vào tháng 7/2014, đúng một năm trước ngày anh từ giã cõi đời, tháng 7/2015. Nguyễn Bắc Sơn ra đi theo dòng thời gian, nhưng dấu vân tay còn để lại.



Bộ sưu tập đã khá nhiều, nhưng vẫn còn thiếu. Phan Nguyên cho biết nhiều nhà văn, nhà thơ ở Hoa Kỳ vẫn còn chưa có dấu tay trong bộ sưu tập. Anh rất muốn có dấu vân tay của họ nhưng chưa có cơ hội đặt chân đến Hoa Kỳ. Anh giao tôi mấy gói cà phê và nhờ tôi giúp lấy dấu vân tay của một số nhà văn nhà thơ mà một trong số đó anh tha thiết muốn có ngay là nhà văn lão thành Võ Phiến. Tôi hứa. Nhưng do ở xa, tôi chưa kịp thực hiện thì Võ Phiến đã vĩnh viễn ra đi tháng 9/2015 vừa rồi. Tiếc thay. Bộ sưu tập thiếu mất một người!



Đành vậy!






Trần Doãn Nho, sinh trưởng ở Huế, định cư ở Hoa Kỳ năm 1993, hiện cư ngụ tại thành phố Worcester, bang Massachusetts. Cộng tác với nhiều tạp chí văn học trong nước (trước 1975) như Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Vấn Đề và ngoài nước như Văn Học, Hợp Lưu, Văn, Talawas, Da Màu, Tiền Vệ, Thế Kỷ 21… Đã xuất bản tám tác phẩm gồm truyện ngắn, truyện dài, ký và tùy bút và biên khảo văn học. Tác phẩm mới nhất, “Ẩn dụ, cuộc phiêu lưu của chữ” do Người Việt xuất bản năm 2015, là tập biên khảo với tên thật là Trần Hữu Thục. 





























































Không
Không có trời cao không đất sâu
Không không kết thúc không ban đầu
Không trăng sao ấy không người ấy
Không biết đời tôi đặt ở đâu

Sài gòn 8/3/2017

Trần Mạnh Hảo
Nhà thơ, Nhà văn, Nhà báo












Con cóc trong hang

Nguyễn Hưng Quốc
Nhà nghiên cứu phê bình văn học















Kỷ niệm cơm niêu với các bạn quý
6/01/2017

Bùi Hoằng Vị
Nhà Thơ, Nhà văn














Thả Tim
Một triết gia thực chứng
Đau đáu dĩa dầu hao

Lê Hải
Sài gòn 6.1.2017
Nhà thơ













Ngày ba năm
Trái tim khép mở

Hiếu Tân Tiết Hùng Thái
6.1.2017
Nhà văn, Dịch giả













Phút thăng hoa cùng Phan Nguyên

Nguyễn Hồng Nhung
2017.01.06
Nhà thơ, Nhà văn, Dịch giả














Mai sau dù có bao giờ ...

Lữ Kiều
XII. 2016
Nhà văn, Họa sĩ















Lê Ký Thương
Saigon 10/12/2016
Họa sĩ













Châu Văn Thuận
Saigon 10 Dec 2016










Đỗ Nghê
Đỗ Hồng Ngọc
Saigon 12/2/2016
Nhà thơ, nhà văn,













Thuyền trôi trên biển cả
Im lìm không bóng ai
Chung quanh một đàn cá
Tiễn đưa chiếc quan tài
(kỷ niệm thuyền nhân 1979)


Xăm xoi thả chữ vào đời
Nguồn cơn sao chẳng thấy vơi chút nào

Nhật Tiến 
9.2016
Nhà văn













Với mẹ,
Con đâu biết mẹ ơi! Rừng đêm ấy
Giắt con đi vĩnh viễn với trăng ngàn
Với em,
Em đã thấy, và nghìn năm không hiểu
Vì sao anh bệnh hoạn một mầu trăng...

Huy Tưởng
Nhà thơ













Tôi ở đấy & đêm sâu ngút mắt
Một mai kia, ánh sáng có quay về?
10/6/2016

Nguyễn Viện
Nhà văn, Nhà thơ













Huy Tưởng















Tôi sẽ chép bài thơ kỳ tuyệt ấy
Trước khi về lót ổ mái nhà không...
Sài gòn VI 2016

Huy Tưởng
Nhà thơ













Ngẫu nhiên chữ
Tình cờ dấu
Đắm đuối thời gian
Tháng 8/2015

Trần Doãn Nho
Nhà văn














Dấu vết gì đây ?
chặng cuối đời
Westminster CA tháng 9 2014

Đông Duy
Nhà văn















Hồ Đình Nghiêm
Montréal, tháng 8.2013
Nhà văn














Chiều tà lăn tay quán cà
Phê ghi tội trạng thiệt thà cõi văn

Hồ Đình Nghiêm
Nhà văn














Ta nguyện trọn đời làm con đường thẳng
Dù tình đời chỉ là những khúc quanh

Montréal 18/8/2013

Trang Châu
Nhà thơ














Lưu Nguyễn
16/8/2013

Nhà thơ















"Hồn đắm chìm ban mai tinh khiết
Xác lê la ngập ngụa dòng đời..."

Bùi Mai Hạnh
Nhà văn, Nhà thơ, Nhà báo














Khánh Trường
27/9/2014
Họa sĩ, Nhà văn, Nhà báo

Chủ nhiệm kiêm chủ bút,
người sáng lập tạp chí Hợp Lưu (Hoa Kỳ)













Nguyễn Lương Vỵ
Oct.2014 Calif

Nhà thơ, Nhà văn













Trăng
Mật
Cạn 
Son
Mộng
Nhạt
Mở ra tấm biển đồ thơ ấu
Nắng
 Vàng

09/28/2014

Trầm Phục Khắc
Nhà thơ














Từ thủơ tuổi tác như đồng nát
Sương khói xây thành trăng mộ bia
Ta uống say khướt nước quẩn bách
Theo gió ra ngoài biên giới kia

Khế Iêm
30/9/14

Nhà thơ
Người khởi xướng thơ "Tân Hình Thức"
Chủ nhiệm kiêm chủ bút "Tạp chí thơ" (Hoa Kỳ)














Chữ nghĩa, ước muốn còn là ước muốn, mãi mãi ...
San Jose ngày 25/9/1014

Huỳnh Phan Anh
Nhà văn, Dịch giả













dấu tích sau 62 năm
đến trạm người, quá bước
Chủ nhật 28/9/2014

Lê Giang Trần
Nhà thơ, Nhà báo














Hãy yêu thương đời này
3/10/2014

Phan Tấn Hải
Nhà thơ, nhà báo














gà đồng
mèo mả
tay bưng 
khay trầm


Vương Ngọc Minh
Nhà thơ, Họa sĩ














Phố vẫn gió
2014

Lê Minh Hà 
Nhà văn













Lòng như bát ngát mây xanh
Thân như sương tụ trên cành Tâm mai

Tặng Phan Nguyên

Phạm Thiên Thư
Nhà thơ













Buồn buồn tôi hỏi cái tôi
Cái vừa đến - Cái đi rồi - Lạ nhau!

1.9.2914

Phạm Thiên Thư
Nhà thơ















Vui khoảnh khắc trên bờ môi vĩnh cửu
Sống mỗi ngày xin cạn chén yêu thương
01.09.2014

Trần Thoại Nguyên
Nhà thơ















Lồn
2/8/2014

Nguyễn Đức Sơn
(Sơn núi)
Nhà thơ














Khi tâm tư biết tu rồi
Thì bao nhiêu chuyện cũng thôi hết sầu
Nắng ơi nắng đến từ đâu
Để ta cúi lạy hạt màu li ti

Nguyễn Đức Vân
Nhà thơ, Tu sĩ















Bàn tay nổi hứng
                         Thả vài tiếng kêu khan
                           Tiễn đưa tháng ngày tróc nắng ...

Sài Gòn 05/08/2014

Hà Duy Phương
Nhà thơ














"Chân lý là một cuộc rượu say mèm
mà ở đó chả có ma nào tỉnh thức!"
                                    G.WF. Hegel

Nguyễn Hữu Liêm
Saigon 2/8/2014

Nhà văn, Dịch giả













Bên giòng sông Viêt Nam
với vợ chồng Nguyễn Hữu Liêm,
Phan Nguyên và Phạm Việt Cường

Hoàng Chính Nghĩa
(Lê An Thế)
Nhà thơ














Con cá lớn bị quăng lên mặt đất

Hải Phòng 28/7/2014

Mai Văn Phấn
Nhà thơ














Nghệ thuật không phải nghĩ nhiều
phải làm thôi

Đào Minh Tri 
Họa sĩ













Vân tay rớt xuống trắng mây
Cuối đời để lại ngón tay đủ mười

Nguyễn Bắc Sơn
(Sơn biển)
Nhà thơ













Đêm giàu có, sáng trắng tay
Niềm riêng mệt lả, tháng ngày đò đưa 

25/6/2014

Nguyễn Thị Liên Tâm 
Nhà thơ, Nhà giáo















Thơ như lòng
               Trang giấy mỏng
                          Giữa cuồng phong 

Saigon,15/4/2014

Hoàng Kim Oanh 
Nhà thơ, Nhà giáo












....Vì trong đời đếm có bao nhiêu gặp gỡ êm đềm
Sàigòn tháng 5 năm 2014

Diệu Hương
Nhạc sĩ












"Em là dòng chữ nổi của hư vô
Ngón tay anh như ngón tay người mù đánh vần lặng lẽ"

Hà Nội 3/5/2014

Đỗ Minh Tuấn
Họa sĩ, Nhà thơ, Nhà văn
 Nhà Đạo diễn Điện ảnh

Tặng Phan Nguyên















Kỷ niệm ngày gặp lại anh Phan Nguyên

Đức Hòa
Họa sĩ















Bao giờ, cho đến bao giờ nữa
Em gánh vui về họp chợ đông?

Tô Thùy Yên
Nhà thơ
















Ký ức nào rồi cũng sơ sài

Nguyễn Anh Khiêm
Nhà văn, Nhà giáo












Khoảnh khắc trong thiên nhiên
Sg 2/2014

Bùi Suối Hoa
Họa sĩ














Không có thời gian
Mừng gặp lại Phan Nguyên

Trương Vũ
Nhà văn, Họa sĩ












Dưới chân chị
Cuộn len
Như quả cầu xanh
Đang lăn 
Những vòng chậm rãi


Ý Nhi
Nhà thơ, Nhà văn















Một mai chim có về ngàn,
e mai sương xuống lòng tràn bông lau ...

             Với Phan Nguyên
                            Saigon Tết Giáp Ngọ 2014

Đặng Tiến
Nhà phê bình văn học














Bản chất cuộc đời này là đảo ngược
Upsidedownism
1-1-2014

Nguyễn Đại Giang
Họa sĩ














Coffee Painting Day

Đặng Thân
Nhà văn, Nhà thơ














Đôi bàn tay biểu hiện thật nhiều về mỗi con người.
Hà Nội, 12. 2013

Văn Dương Thành
Họa sĩ















Rất vui, hạnh phúc khi được gặp Phan Nguyên!
Mong rằng cái câu: "Cái bắt tay thân ái nào cũng có thể là cái bắt tay sau cùng" của lão Trịnh Công Sơn sẽ trở thành phi lý.
Thân ái!
Hà Nội, mùa đông 2013

Trần Văn Thủy
Đạo diễn Điện ảnh













Thân gởi Phan Nguyên
"Rồi mai tôi đưa em xa kỷ niệm"
Tháng 10, 2013

Trường Sa
Nhạc sĩ
















Cung Trầm Tưởng
Nhà thơ















Phan Ni Tấn
Nhà thơ, Nhạc sĩ















Mực đen giấy trắng đời thừa
Phóng tay ta cứ viết bừa cho vui
Montreal, Canada 08/2013

Song Thao
Nhà văn














Một đời vốn giầu hoa tay
Mượn thời gian mãi đã gầy trơ xương
Gởi mười ngón khoái ở truồng
Nên chi nhân dạng bất thường vậy thôi
                                    16.8.2013

Luân Hoán
Nhà thơ, Nhà văn















Rác rưởi kéo bè che mặt nước
Đất thấm buồn đau thương núi sông
Bão giông dẫu biết tan thành sóng
Bạc cả đầu xanh trắng cả lòng
                            2013

Phạm Văn Hạng
Điêu khắc gia













Bàn tay mười ngón vươn dài
Tìm về nghệ thuật cung đài Thiện Chân
Sacramento 6/2013

Thanh Trí
Họa sĩ
















Đỗ Quang Em
14/5/2013

Họa sĩ














Trương Đình Quế
(1939 - ........) Đà Nẵng

Điêu khắc gia














Tim còn đập anh còn yêu em mãi
Tim ngừng rồi anh còn muốn yêu thêm
23/09/2013

Rừng
Dung Nham
Kinh Dương Vương

Họa sĩ, Nhà thơ, Nhà văn














Tay mình làm liếp cùng phên
Che hoài không hết những mênh mông buồn
8/5/2013

Trần Từ Duy
Nhà thơ















Đi, và tìm trong đất ... thấy người
Saigon, 2 Tháng Tư 2013

Nguyễn Thị Hậu
Nhà văn, Nhà khảo cổ
















"Đảng ta khinh bỉ một cách sâu sắc trí thức văn nghệ sĩ"
phát biểu trong cuộc gặp Nguyễn Văn Linh (1987)

Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà giáo













Sống vui và để mọi người cùng sống

Trương Văn Dân
Nhà văn















"Gou^ter chaque instant de la Vie, c'est un cadeau unique"

Elena Pucillo Trương
Nhà văn, Nhà giáo















Hồ Quốc Hùng
Nhà giáo















Bên Hồ Con Rùa
Saigon 28.1.2013

Nguyễn Ước
Nhà văn, Dịch giả
















Mượn Dấu Thời Gian
Thơm hoài năm tháng
30/1/2013

Viên Trân














Số mệnh phải chịu!
Vận mệnh phải làm!
26/01/2013

Nhất Lý
Đạo diễn sân khấu
















Tôi ngồi giữa Sài Gòn mà vẫn nhớ Sài Gòn
19/1/2013

Dạ Ngân
Nhà văn















Trăng lên khỏi núi Mu Rùa
Cho anh đụ chịu đến mùa trả khoai
19/01/2013

Nguyễn Quang Thân
Nhà văn, Nhà báo















Làm người đã khó
Làm người viết còn khó hơn

Hoàng Khởi Phong
Nhà văn
















Lê Đình Trường
Nhà văn















Ngón út hơi cong, vì sẹo :p

Nguyễn Ngọc Tư
Nhà văn














Vỗ từ lẹt đẹt bàn tay
Chợt nghe bụi khẳm
luống cày nhân gian
                                     Montreal 
                                    5.jan.2013

Hoàng Xuân Sơn
Nhà thơ, Nhà văn
















Một mình sẽ một mình thôi
Tìm câu ca cũ hát chơi một mình
... Có phải biển không mà tôi khóc
Dã Tràng ơi! còn đâu cát mà se
Hà Nội 12/2012

Phú Quang
Nhạc sĩ














Chúa đánh vần: Tôi nặng tội
26/11/2012

Nhật Chiêu
Nhà văn, Nhà giáo
















hiện tại không có người chết
chỉ thấy những đám tang
mặt trời sáng cho tất cả mọi người
hay mặt trời sáng dưới huyệt mộ
11/2012

KhaLy Chàm
Nhà thơ














Dấu tay này tồn tại ngày 27.09.2012

Hồ Hữu Thủ
Họa sĩ
















muốn viết văn Việt
phải ămvc ... hết nước... 

Phan Huy Đường
Nhà văn, Dịch giả
















Những mảng rời La Tinh
25.08.2012

Lê Tài Điển
Họa sĩ
















Bàn tay này : tình duyên, gia đạo ...
Bàn tay kia: cào ngứu lòng đời!

Cổ Ngư Nguyễn Linh Quang
Nhà thơ, Nhà văn, Nhạc sĩ














Nguyễn Triệu Thành
Điêu khắc gia














Tay để vẽ

Lý Trực Sơn
Họa sĩ

















Tôi không còn thời gian!

Nguyễn-Xuân Hoàng
Nhà văn, Nhà giáo














Chỉ là hai bàn tay!
Không được biên tập!
Saigon 4.2012

Nguyễn Vĩnh Nguyên
Nhà văn, Nhà báo














Từ đó phát sinh

Nguyễn Trọng Khôi
Họa sĩ, Nhạc sĩ
















Nguyễn Thị Minh Ngọc
Nhà văn, Kịch tác gia
















Chẻ đôi con gió cây ly, biệt
Tim chấn thương cùng môi tháng, năm,


Du Tử Lê
Nhà thơ, Nhà văn
















Dấu tay hụt hẫng ...
4/2/2012

Phạm Việt Cường
Nhà thơ
















Lữ Kiều
Nhà văn, Họa sĩ













Cao Bá Minh
Họa sĩ















Dấu tích: Ước mơ của điều đã đi qua!
01.17.2012

Phùng Nguyễn
Nhà văn













Đợi / đời là công lý!
17.1.2012

Lý Đợi
Nhà thơ, Nhà báo













Nâu đen vần vũ
Ly tách hóa rồ
SG 29.12.01

Phạm Tường Vân
Nhà thơ, Nhà báo














Bài khẩu cung
(Vấn & Đáp)

Mày tự khai
Hay mày không
Mày phản động 
Hay mày không
Mày muốn sống 
Hay mày không
Mày tự do 
Hay mày không

Tau khi không
Tau khi có
Tau nào có
Tau nào không
Có có
Không không
Nỏ không 
Nỏ có

2011/XII

Lê Thánh Thư
Họa sĩ, Nhà thơ














Ai xóa được những đường chỉ tay nhăng nhít
Trưa trên sông Sài gòn . 26/11/2011

Mai Ninh
Nhà văn, Nhà giáo, Nhà nghiên cứu Vật lý













Xòe ra, mười ngón bàn tay
bắt làm sao, thoáng
                    mây bay cuối trời
                                       26/11/2011

Nam Dao
Nhà văn, Nhà thơ, Nhà giáo















Phan Nguyên làm ra mực
Bùi Chí Vinh nhúng vào
Cuộc đời như thoát tục
Thoắt cái thành chiêm bao
25/11/2011

Bùi Chí Vinh
Nhà thơ













... Không muốn xuôi tay
26-11-2011

Quế Sơn
Dịch giả















Tay em lạnh để cho tình mình ấm
Môi em mềm cho giấc ngủ anh thơm
(VTA)

18/8/2011

Đặng Mai Lan
Nhà văn















Nhớ nhau mình lại vuốt ve tay mình
9/10/11

Nguyễn Duy
Nhà thơ















Ở bên ngoài sự biến mất
Bàn tay anh có cần em
Chút ấm lạnh mùa đông không vĩnh cửu
24/9/2011

Nguyễn Thị Từ Huy
Nhà văn, Nhà thơ













Khởi đi từ những khóc cười của con người
20/9/2011

Vũ Hồi Nguyên
Nhà văn














Trong ấy chúng tôi gọi việc này là đánh Piano
HP ngày 15.6.2011

Bùi Ngọc Tấn
Nhà văn, Nhà báo
















Ta hát từ đôi tay
HP 15.6.2011

Công Nam
Nhà thơ

















cho đến nay, tôi vẫn mắc chứng say tù
HP 15-6-2011

Bùi Ngọc Tấn
Nhà văn, Nhà báo















"Chúng tôi (tôi và Phan Nguyên) lên Thăng Long kỷ thứ 10. Mặt hồ Dâm Đàm mỏng như ý nghĩ khoa cử trong đầu Kiệt. Kinh sư đầu triều Lý mang sắc đẹp bán khai dữ dội của những cánh rừng vàng chưa phát quang"
trích Người Bạn Triều Lý 5/99

Trần Vũ
Nhà văn















một vẫy gọi thường trực cuối trời
Paris thu 2000

Hoàng Hưng
Nhà thơ, Nhà báo, Dịch giả













Ngay trên quê hương

Trần Đức Tiến
Nhạc sĩ











Huỳnh Mạnh Tiên

Nhà thơ
















Giấy thấm trưa thưa rào ưu ủ nắng
Chim sâm ca dấu ấn nâu mong
Tình để bạn nước xanh lạc lặn
Nhà xoay lưng vạn nỗi ngả lòng
15 Mai 2000

Thường Quán
Nhà thơ














Đầu đội trời
Chân đạp đất
Hai tay làm gì?

Kỷ niệm ngày gặp gỡ bạn bè - Ngày đổi giờ mùa đông
26.3.2000

Miêng
Nhà văn
















Mỏng mòng mong bé xe lăn bánh xe quay
Quay mỏng mòng mong bánh xe quay bánh xe lăn

Ly Hoàng Ly
Nhà thơ















Ngòi bút có sau bàn tay
Bàn tay có sau hòn đá
Hòn đá có sau lửa trời
Lửa trời có sau Hiện Tại
Hè 2000

Chân Phương
Nhà thơ, Nhà văn, Dịch giả














Tôi là người khiêm tốn nhất thế giới
4.7.2010

Phạm Toàn Châu Diên
Nhà văn, Nhà giáo, Dịch giả















Một con khỉ thật
4/7/2010

Nguyên Ngọc
Nhà văn, Nhà Nghiên cứu Văn hóa
















Trần Hậu Tuấn
Nhà sưu tầm tranh















Ở bên bờ sông Saigòn với Đinh Cường, Phan Nguyên, Nguyệt Hồng, Thận Nhiên
tháng 7.2010

Dương Nghiễm Mậu
Nhà văn














Trước đây tôi cứ tưởng những gì mình tạo ra là do chính mình làm ra, nhưng giờ thấy không phải vây. 
Sự thật là số phận đã làm ra tất cả.
Sg 8.4.2010

Trịnh Cung
Họa sĩ, Nhà thơ














Chữ
Chấp chới chơi với chữ
ngông nghênh ý tứ lẫn ngôn từ
hư thiệt biết răng chừ!
Déc 4.2000

Trần Thị Lai Hồng
Nhà thơ














Kỷ niệm gặp anh Phan Nguyên

Nguyễn Việt Hà
Nhà văn













Nếu không có trí óc thì không có nghệ thuật và tư tưởng 
nhưng nếu không có bàn tay thì mọi tư tưởng, mọi nghệ thuật cũng không thể thành hình.
Paris 30/4/2000

Thụy Khuê
Nhà nghiên cứu và phê bình Văn học















Bàn tay có lỗi
5.7.2010

Văn Sáng
Họa sĩ













Chút mặt trời qua kẽ tay
SG 2010

Thận Nhiên
Nhà thơ, Nhà văn

















Một ngón chuột tha

Trần Tiến Dũng
Nhà thơ, Nhà báo














Mình chẳng bao giờ là cái mình muốn

Đỗ Phấn
Họa sĩ, Nhà văn













Bụi trăm năm nổi gió một đời
Đá nghìn tuổi lửa bừng cõi tạm
1999

Nam Dao
Nhà văn, Nhà thơ, Dịch giả














Made in Vietnam  Made in Vietnam
7.7.2002

Trần Trọng Vũ
Nghệ sĩ Thị giác















Hai Tay

Hương thơm một nén bay nghi ngút
Chuông đồng ba tiếng gióng thênh thang 
...
Savigny le Temple 4.XII.2000

Võ Đình
Nhà văn, Họa sĩ

















Bàn tay như thân phận chỗ đầy chỗ khuyết
30/03/2010

Vũ Hòa
Họa sĩ















Làm thơ fải có vân thơ
Như vân tay ở trên tờ chứng minh
Làm tình cũng có vân tình
Vân tay in ở chỗ mình đắm say
1/4/2010

Nguyễn Bảo Sinh
Nhà thơ Dân gian


















Mimôza chiều khép cánh mi môi xa
1.5.99

Lê Đạt
Nhà thơ, Nhà văn














Một vuông tường một thế giới
Một giấc ngủ một đời người
Sg 18/3/2010

Hoàng Hưng
Nhà thơ, Nhà báo, Dịch giả















Chung, Ảo

Cung Tích Biền
Nhà văn














5.7.2010

Lưu Trọng Ninh
Đạo diễn Điện ảnh














Không thấy tôi đâu  2.2010

Nguyễn Viện
Nhà văn, Nhà thơ














Gặp lại Phan Nguyên  Saigon 28.7.2010

Đinh Cường
Họa sĩ, Nhà thơ














Cuối cùng Hà Nội cũng đến được năm hai nghìn
7.7.2002

Thuận
Nhà văn













Nhớ m mệt nhoài
Sầu lả xuống vai
Buồn rụng lóng tay
Nụ hôn dẫu thôi vẫn rất mềm một góc môi,


Trần Thị NgH
Nhà văn, Họa sĩ
















Kỷ niệm ở Paris 
7/4/2002

Nguyễn Huy Thiệp
Nhà văn















Buổi sáng, quá giang Nguyễn Đạt đến NgH

Phạm Viêm Phương
Dịch giả













Tay lỡ nhúng chàm...

Nguyễn Đôn Phước
Dịch giả, chuyên gia kinh tế 














Không dấu được mình

Huỳnh Sơn Phước
Nhà báo















Dấu tay sau khi ăn sáng ở nhà chị Nguyệt Hồng
19.IV.2010

Nguyễn Đạt
Nhà văn, Nhà thơ















Tôi đứng về phe nước mắt
hn 20/6/2000

Dương Tường
Nhà thơ, Dịch giả












Ai đốt hộ giùm tôi thời mộng ảo...
Villejuif 2002/01/27

Nguyễn Hồi Thủ
Nhà thơ, Nhà văn, Dịch giả
















Sách mở trang
Người để ngỏ
Hai bàn tay ngọn gió lên trời

                               Paris 7.8.2002

Phạm Xuân Nguyên
Nhà văn, Nhà Phê bình Văn học, Dịch giả

















"Sexothérapie là một liệu pháp diệu kỳ"

Nguyễn Xuân Khánh
Nhà văn
















Zấu tay
Chỉ tay
Xương xảu
Về đâu?

ngã 4 Fú nhuận - ngày jỗ tổ Hùng vương canh zần 
(23-4-2010)

Nguyễn Tiến Văn
Dịch giả, Nhà nghiên cứu Văn hóa















Người mượn dấu thời gian
2011

Phan Nguyên
Nghệ sĩ tạo hình, nhà giáo

















Trở về


Emprunt Empreinte
http://phannguyenartist.blogspot.com/2011/05/phan-nguyen-oi-loi-cung-cac-tac-gia-va.html








MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.
Tư liệu, hình ảnh, bài vở xin gởi về:
 mdtgee@gmail.com