Friday, 30 October 2015

Huy Cận (1919 - 2005)




















http://phannguyenartist.blogspot.com/



Huy Cậntên khai sinh: Cù Huy Cận
(1919 - 2005)
Hưởng thọ 86 tuổi


Nhà thơ, Nhà hoạt động chính trị















Tiểu sử


Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại Hà Tĩnh trong một gia đình nhà nho nghèo gốc nông dân. Ngày sinh hiện nay là do ông cậu của ông khai khi vào học ở Huế, còn ngày sinh chính xác là ngày 29 tháng Chạp năm Bính Thìn (dương lịch là ngày 22 tháng 1 năm 1917). 

Lúc nhỏ Huy Cận học ở quê, sau vào Huế học trung học, đậu tú tài Pháp; rồi ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh nông. Trong thời gian học Cao đẳng, ông ở phố Hàng Than cùng với Xuân Diệu. Từ năm 1942, ông tham gia phong trào sinh viên yêu nước và Mặt trận Việt Minh, Huy Cận đã tham dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào (tháng 8 năm 1945) và được bầu vào Ủy ban Giải phóng. 

Huy Cận cũng từng cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn. 



Hoạt động chính trường


Tháng 8 năm 1945, Huy Cận là một trong ba thành viên của phái đoàn Chính phủ Lâm thời (gồm Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận) vào kinh đô Huế để tiếp nhận lễ thoái vị của Vua Bảo Đại. 

Sau Cách mạng tháng Tám, khi mới 26 tuổi, ông là Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ liên hiệp lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Sau này ông làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa, rồi Bộ trưởng đặc trách Văn hóa Thông tin, phụ trách các công tác văn hóa và văn nghệ. 

Từ 1984, ông là Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Ngoài ra, ông còn là Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I, II và VII. 

Huy Cận mất ngày 19 tháng 2 năm 2005 tại Hà Nội. Hưởng thọ 86 tuổi







Đời tư - Gia đình

Về đời tư, Huy Cận có hai người vợ. Người vợ đầu của ông là bà Ngô Xuân Như, (em gái nhà thơ Xuân Diệu) Bác sĩ Viện Y học cổ truyền Việt Nam đã mất năm 2009.

Người vợ thứ là bà Trần Lệ Thu, cán bộ giảng dạy Nga văn ở một trường Đại học tại Hà Nội.

Huy Cận và Xuân Diệu là 2 người bạn tri kỷ. Xuân Diệu cùng sống với gia đình Huy Cận cho đến hết cuộc đời tại ngôi nhà số 24 đường Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ), Hà Nội. 

Ông có 4 người con, 2 trai và 2 gái. Con trai cả của ông là tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, người bị công an Việt Nam bắt năm 2011 vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bị tuyên án 7 năm tù, 3 năm quản chế. 


Nay đã được thả và định cư tại Hao Kỳ




















Ngậm Ngùi






Nhạc Phạm Duy
Thơ Huy Cận
Tiếng hát Vũ Khanh

Nắng chia nửa bãi, chiều rồi...
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.
Sợi buồn con nhện giăng mau,
Em ơi! Hãy ngủ... anh hầu quạt đây.
Lòng anh mở với quạt này,
Trăm con chim mộng về bay đầu giường.
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thuỳ dương mấy bờ...
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ...
- Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi...






























Sáng tác
Trước tháng 8 năm 1945










Lửa thiêng


1940
(gồm những bài đã đăng báo, khoảng 1936-1940)


Ê chề
Áo trắng
Đẹp xưa
Đi giữa đường thơm
Ði rất êm
Ðiệu buồn
Bình yên
Bi ca
Buồn
Buồn đêm mưa
Cách xa
Cầu khẩn
Chết
Chiều xuân
Chiều xưa
Dấu chân trên đường
Em về nhà
Gánh xiếc
Giấc ngủ chiều
Học sinh
Hối hận
Hồn xa
Hồn xuân
Hoạ điệu
Khung tình
Lời dịu
Mai sau
Mưa
Ngậm ngùi
Ngủ chung
Nhạc sầu
Nhớ hờ
Quanh quẩn
Song song
Tâm sự
Tình mất
Tình tự
Tựu trường
Thân thể
Thu
Thu rừng
Thuyền đi
Tiễn đưa
Tràng giang
Trình bày
Trò chuyện
Trông lên
Vạn lý tình
Xuân
Xuân ý











Kinh cầu tự
(1942, văn xuôi triết lí)











Vũ trụ ca

Gồm 38 bài, chưa xuất bản thành sách nhưng đã đăng báo từng bài lẻ. Lần đầu được in trong "Huy Cận toàn tập" (Tập 1).

Tập thơ được sáng tác trong thời gian 1940-1943.

Áo xuân
Cây lúa
Có tình yêu nào mà không đau
Cảm thông
Chiêm bao thỉnh thoảng em về
Gối tay
Gió một hướng...
Hỏi mặt trời
Hỡi em yêu, hỡi em thương
Hoa đăng
Hoa về
Hương dậy đất
Lên đàng
Lửa quanh đời
Mộng sắc duyên
Muộn màng
Nắng đào
Nằm nghe người thở
Nằm trong tiếng nói
Sơ khai
Tình đau một thuở
Thần thánh chết rồi
Tin vui
Trời, biển, hoa, hương
Trưa
Vĩnh viễn












Các tập thơ của Huy Cận sau Cách mạng tháng 8







Trời mỗi ngày lại sáng
(1958)









Đất nở hoa

(1960)










Bài thơ cuộc đời
(1963)










Hai bàn tay em
(thơ thiếu nhi, 1967)









Những năm sáu mươi
(1968)










Chiến trường gần đến chiến trường xa
(1973)










Họp mặt thiếu niên anh hùng
(1973)










Những người mẹ, những người vợ
(1974)










Ngày hằng sống ngày hằng thơ
(1975)










Ngôi nhà giữa nắng
(1978)







Hạt Lại Gieo
(1984)

Áo thời gian
Bãi biển cuối hè
Bên biển
Cành bàng xương mảnh
Chú tôi
Chiếc hôn
Dạo trên bờ biển
Dậy sớm
Hạt lại gieo
Một nét Vĩnh Linh
Một sáng mai xuân
Mưa đêm rừng cọ













Trang thơ Huy Cận

Anh đầu thai vào đời em mỗi sáng
Anh mang thầm em
Anh thợ gốm
Anh thương em
Anh viết bài thơ
Anh xa em một nửa
Đàn tơ-rưng
Đã rằng nương bóng trăng thanh
Đêm trăng mưa
Đêm về với biển
Đảo
Đến Tây Hồ nhớ Bạch Cư Dị
Đời hỏi gì ta
Đoàn thuyền đánh cá
Bà dì, bà mợ, bà cô
Bà mẹ Việt Nam anh hùng
Bà ơi ngày hạ
Bâng khuâng
Bến lò rèn làng tôi thuở nhỏ
Bụng lân tài
Buổi sáng hôm nay
Buổi trưa hè
Các vị La Hán chùa Tây Phương
Cái dạ yêu đời
Cảnh địa ngục
Cẩm thạch - Hương trầm
Cửa sông
Chép bài thơ cũ
Chùm hoa núi tặng
Chùm thơ viết ở đảo Long Châu
Chiếc võng tơ em tặng
Chiều thu quê hương
Chim làm ra gió
Chong chóng
Con chim chiền chiện
Diệu ơi, Diệu đã về yên tịnh
Em ạ, vườn xoan...
Em đi xe tháng
Em bé và mặt trăng
Em ơi! Trời xanh
Gà gáy trên cánh đồng Ba Vì được mùa
Gặp chị điên
Gặp em một sáng
Gọi điện thoại
Gửi bạn người Nghệ Tĩnh
Giã từ, từ giã...
Gió đến nửa đêm chưa hết lạ
Gió chuyển mùa
Gió lạnh chiều đông
Gió một hướng
Giọng em
Hai bàn tay em
Hôm qua ta gặp bạn mai sau
Hôn em
Hỡi em yên lặng
Hồn thuở ban sơ
Hoa giữa nắng
Hoa sấu bầy ong
Huế vấn vương
Hương đất
Khắc khoải
Lê Văn Hưu
Mây trắng
Mùa hạ chín
Mắt Lý Công Uẩn
Mẹ ơi, đời mẹ...
Mơ cho đã
Mưa xuân trên biển
Nén hương nhớ Bác
Núi Bài Thơ
Ngày thu trong
Ngày xuân nghĩ đến: Nguyễn Du - Hồ Xuân Hương
Ngày xuân thăm chùa Trăm Gian
Ngã ba Đồng Lộc
Ngô Quyền
Nghĩ cũng lạ...
Nhà thơ dân gian
Những mảnh tình
Nhớ
Nhớ mẹ năm lụt
Phố Đông Ba của tôi ngày bé
Sang xuân
Sau giông trời mát...
Say mùa hè
Sống một đời
Sớm mai gà gáy
Soi gương buổi sáng
Ta viết bài thơ gọi biển về
Tên em
Tình em như đám cháy rừng
Tóc em toả xuống mặt anh
Tạo hoá sinh em...
Tặng em buổi sáng hôm nay
Tổ quốc
Thăm lò chum
Thi nghé
Tiếng biển về khuya
Trái Đất còn quay
Trò chuyện với kim tự tháp
Trống đồng
Trăng rằm mọc
Trăng sao cũng hoá xứ người
Trăng xuân
Trưa nay suối biếc...
Ví bằng
Về thăm quê xã Đức Ân
Vỗ về
Viết một bài thơ
Vườn hồng
Vườn hồng sau mưa
Xem ảnh tuổi nhỏ của em
Xem tranh Tề Bạch Thạch
Xem triển lãm tượng gỗ dân gian
Xuân hành
Yêu
Yêu đời
Yêu nhau nhớ mấy cho vừa...






Bút tích nhà thơ Huy Cận













Xuân Diệu, Ngô Xuân Như, Huy Cận
(chiến khu Việt Bắc)













Thép Mới, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Đỗ Quảng, Huy Cận






















Huy Cận



















Huy Cận lúc trẻ















Tham khảo thêm về nhà thơ Huy Cận

Huy Cận : một Vẻ đẹp của quá khứ
Vương Trí Nhàn




Từ hồi tuổi mới 20 – 25 , Huy Cận đã biết tạo cho thơ mình một vẻ đẹp khá già dặn . Cái tên Lửa thiêng , có lẽ không hẳn đã hợp với các bài thơ trong tập , đơn giản là vì chất thiêng ở đây còn thấp thoáng một vẻ phôi phai trần tục và khó lòng nói là đã có được sắc thái riêng . Mà phù hợp hơn, khi muốn tìm ra cái phần tinh hoa trong thơ Huy Cận lúc ấy , tôi muốn dùng chữ đẹp xưa , như tên một bài thơ khác của ông . Thật vậy , nếu nhớ tới Xuân Diệu , luôn luôn ta nhớ cái líu ríu cuống quýt mau với chứ vội vàng lên với chứ của ngày hôm nay thì giọng thơ Huy Cận thật khoan thai trầm mặc , nó là tiếng nói của một nhà thơ luôn sống với một quãng lùi để có thể nhìn mãi tận xa xưa . Cũng giống như Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, thơ Huy Cận hồi ấy cho chúng ta biết một khía cạnh đặc biệt làm nên cái điệu tâm hồn Việt Nam . Ngậm ngùi . Chiều xưa . Tràng giang. Nhạc sầu . .. Những bài thơ đó thuộc về cách nghĩ một thời . Quá khứ hằn lên với những vết mòn . Mờ xa mà thắm thiết . Và xa vắng , và đìu hiu . Tôi nghĩ tới cái màu ngói cổ . Tôi nghĩ tới cái cái hoà sắc riêng của những đền chùa Việt Nam , những bức tường rêu phong , những hàng cột không chói lọi sơn son thiếp vàng , mà màu đỏ ở đây như có cái vẻ trĩu xuống đất , lẫn vào chung quanh , nhẫn nại , cam chịu .
Cũng đã có lần Huy Cận nói tới một vẻ đẹp hoang dại dân dã Đường trong làng hoa dại với mùi rơm -- Tôi cùng người đi dạo giữa đường thơm . Nhưng những bài thơ hay nhất của ông thường có cái vẻ sang trọng pha chút quý phái . Cố nhiên không bao giờ ta quên rằng hồn thơ ấy chỉ có thể hình thành nhờ ảnh hưởng Tây phương . Dấu vết của thơ Pháp còn trải khắp tập Lửa thiêng ( kiểu như Sớm hôm nay hồn em như tủ áo -- ý trong veo là lượt xếp từng đôi ). Có điều , ở những bài hay nhất trong tập , ta gặp lại cái vang hưởng Trung Hoa vốn đến với ta từ lâu lắm . Xa rồi khuất ngựa sau non -- Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu . Tràng đạc là gì ? Có phải là tiếng chuông lắc trên cổ con ngựa ? Sao không nói sông dài mà lại phải gọi Tràng giang ? Không ai định hỏi và xưa nay tác giả cũng không nói . Cũng như ta không bao giờ thắc mắc về những gió thanh tân , tình vạn lý , những đồng trăng lục nhạt vàng thanh lối gần . .., chỉ có cảm tưởng những chữ ấy câu ấy nói hộ một điều bấy lâu vẫn sống âm thầm dai dẳng trong mỗi tâm hồn .
Cái vẻ chín tới này không chỉ có mặt trong Lửa thiêng mà về sau , còn một lần nưã đến với Huy Cận . Những năm sáu mươi của thế kỷ XX không chỉ là một giai đoạn thanh bình hiếm có đến với đất nước sau cuộc kháng chiến chống Pháp , mà còn đánh dấu một bước phục hưng thực sự trong đời sống thơ ở Hà Nội . Nó không đi tìm những cái mới lạ . Mà nó quay về với cái lãng mạn và bằng sự hồn nhiên của mình , đạt tới một trình độ cổ điển mới . Chế Lan Viên có ánh sáng và phù sa với cái phần e ấp chờ đợi hồi hộp khát khao ít thấy ; ánh sáng và phù sa tuy không được dư luận coi là tiêu biểu song theo tôi lại là cái phần hay nhất trong sáng tác của họ Chế . Rồi Tế Hanh có Gửi miền Bắc không dễ dãi như tác giả này vốn có ; Xuân Diệu có Cầm tay , chùm thơ tình , mà chất lượng hoàn toàn có thể đọ với Thơ thơ ngày xưa . Và Huy Cận có Trời mỗi ngày lại sáng , Đất nở hoa , Bài thơ cuộc đời … Nếu đối diện với những bài hay nhất rút ra từ ba tập này , chúng ta sẽ thấy lại cái vẻ chín , đầy đặn , chắc chắn của thơ ông . Thu tới ngoài kia -- Nghe nhân thơm trong trái nặng -- Nghe nhựa ấm trong cành thưa --- Nghe run rẩy tiếng gió ru lúa chín -- Xôn xao cuống lá rụng thay mùa. Sinh thời , nói chuyện với tôi , Nguyễn Minh Châu tỏ ý rất chịu bài Chín với mấy câu mở đầu như vậy . Còn đám học trò cấp ba chúng tôi hồi trước chiến tranh thì mê đủ thứ , cả cái cảm giác lộng lẫy toát lên từ sự hài hoà của trời đất trong Đoàn thuyền đánh cá , lẫn cái đạm bạc như một bức tranh thuỷ mạc của Mưa xuân trên biển ( mà một câu trong đó là Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm ) , rồi nữa , cái lạ lùng bất ngờ của những bài thơ Huy Cận viết từ nước ngoài ( Trò chuyện với Kim Tự tháp , Xem tranh Tề Bạch Thạch v..v.. ) . Quá mê các bậc đàn anh tới mức chịu đi sau làm cái bóng của họ là lỗi của một lớp người trẻ tuổi , song quả thực , có dễ gì vượt được một chuỗi tài năng cùng lúc toả sáng như vậy . Họ đã chín trong hoàn cảnh của họ , còn chúng tôi phải chăng cái sự sống sít , dang dở theo mãi như một nghiệp chướng ? …
Một bạn Việt kiều , cũng quê Hà Tĩnh như Huy Cận , sau mười lần về nước , gần đây có nhận xét rằng người Hà Nội có vẻ quá “chúi mũi “ vào thưởng thức văn chương , tự ru ngủ trong những câu thơ vần vèo thánh thót mà coi nhẹ tư tưởng bộc lộ qua trang viết . Lúc tỉnh táo và thử làm khác mình đi , tôi cũng muốn nghĩ thế . Nhưng biết làm thế nào ?! Thơ , với chúng tôi , đó là tuổi trẻ , là sự có mặt trong đời , là hy vọng , là cái sự hồn nhiên được gặp gỡ với bao nhiêu tâm hồn . Như với Huy Cận mà hôm nay ra đi . Chỉ vừa nghe tin ngày 19-2 ông đã vĩnh viễn nằm xuống là tâm trí đã xôn xao như những gì nhạy cảm nhất đang cùng rung lên trong lòng . Không còn những chuyện tầm thường nhếch nhác của đời sống hàng ngày , không còn bao nhiêu trơ lỳ , già cỗi , thóai hoá , nó chia rẽ những người cùng sống một thời , mà chỉ còn những câu thơ hay nhất tác giả từng viết , những câu thơ thời trẻ bọn tôi đã thuộc , lục tục kéo tới . Tác giả Lửa thiêng là thế , thơ Huy Cận đã thuộc về một phần tài sản tinh thần của cả mấy thế hệ hôm nay .

















Trở về





Chân Dung Văn Nghệ Sĩ
http://phannguyenartist.blogspot.com/2015/10/chan-dung-van-nghe-si-300-epaints.html


Danh Sách Tác Giả
http://phannguyenartist.blogspot.com/2015/10/danh-sach-tac-gia.html

Emprunt Empreinte
http://phannguyenartist.blogspot.com/2011/05/phan-nguyen-oi-loi-cung-cac-tac-gia-va.html




MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.

MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều năm qua.























Saturday, 24 October 2015

Phan Khôi (1887 - 1959)





















http://phannguyenartist.blogspot.com/




  Phan Khôi

(6/10/1887 - 16/1/1959)
Hưởng thọ 72 tuổi

Nhà văn, Nhà báo, Nhà thơ
























Phan Khôi  1928





















"Làm sao cũng chẳng làm sao
dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi...
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có điều gì cũng chẳng làm sao"
PK





























Phan Khôi (1887-1959) là một học giả tên tuổi, một nhà thơ, nhà văn, thành viên nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, cháu ngoại của Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu, đỗ Tú tài chữ Hán năm 19 tuổi nhưng lại mở đầu và cổ vũ cho phong trào Thơ mới.
Ông còn là một nhà báo tài năng, một người tích cực áp dụng tư tưởng duy lý phương Tây, phê phán một cách hài hước thói hư tật xấu của quan lại phong kiến và thực dân Pháp. Ông cũng là một trong số ít nhà báo tiếp thu nhiều tư tưởng mới, đa văn hóa từ Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp... Ông còn nổi tiếng vì sự trực ngôn, trước 1945 được mang danh là Ngự sử văn đàn. Ông phê phán chính sách cai trị của người Pháp một cách sát sườn, đối thoại với học giới từ Bắc đến Nam không e dè kiêng nể. Những năm 1956 - 1958 cũng vì cung cách nói thẳng ấy ông đã chịu tai họa và chết trong lặng lẽ vào năm 1959.



Tiểu sử

Phan Khôi sinh ngày 6 tháng 10 năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, là con của Phó bảng Phan Trân (tri phủ Điện Khánh) và bà Hoàng Thị Lệ (con gái Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu). Ông có quan hệ họ hàng với nhà cách mạng Phan Thanh và Phan Bôi tức Huỳnh Hữu Nam. Ông học giỏi Nho văn và đỗ tú tài năm 19 tuổi. Sau đó ông gặp cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh và bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của hai cụ.

Năm 1907, ông ra Hà Nội, tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và làm việc cho tạp chí Đăng Cổ Tùng Báo. Khi tờ tạp chí bị cấm ông về Nam Định rồi về Hải Phòng ẩn náu. Ít lâu sau ông về Quảng Nam hoạt động trong phong trào Văn Thân cùng với cụ Huỳnh Thúc Kháng. Trong một cuộc biểu tình đòi giảm thuế, tức vụ Trung Kỳ dân biến, ông bị bắt và giam tại nhà tù Quảng Nam đến năm 1914 thì được ân xá.

Ra khỏi tù, ông lại về Hà Nội viết cho báo Nam Phong. Vì bất bình với Phạm Quỳnh, ông bỏ Hà Nội vào Sài Gòn viết cho báo Lục Tỉnh Tân Văn. Năm 1920, ông lại trở ra Hà Nội viết cho báo Thực Nghiệp Dân Báo và báo Hữu Thanh. Năm 1928, Thực Nghiệp Dân Báo và Hữu Thanh bị đóng cửa, ông lại trở vào nam viết cho báo Thần Chung và Phụ nữ tân văn. Năm 1931, Phan Khôi trở ra Hà Nội viết cho tờ Phụ nữ thời đàm.

Năm 1936, ông vào Huế viết cho tờ Tràng An và xin được phép xuất bản báo Sông Hương. Năm 1939, Sông Hương đóng cửa, Phan Khôi lại trở vào Sài Gòn dạy học chữ Nho và viết tiểu thuyết.

Sau năm 1945, tức sau Cách mạng tháng Tám, ông ra Hà Nội tham gia kháng chiến với cương vị một nhà văn hóa, sau lãnh chức vụ chủ nhiệm Chi bộ Quảng Ngãi của Việt Nam Quốc dân đảng.[1]

Ông ở Việt Bắc suốt 9 năm nhưng vì bị bệnh nên phải vào bệnh viện một thời gian.

Cuối năm 1954 hòa bình lập lại, Phan Khôi về Hà Nội cùng với các văn nghệ sĩ khác. Trong thời gian 1956-1957, là một trong những người thành lập tờ Nhân Văn và có các bài phê phán giới lãnh đạo văn nghệ lúc bấy giờ, ông bị cấm sáng tác cho đến khi qua đời năm 1959 tại Hà Nội.

Khi mất, ông được chôn cất tại nghĩa trang Mai Động, sau đó, theo cơn biến động, các ngôi mộ bị san phẳng đi. Mộ ông Phan Khôi đã nằm trong những ngôi mộ vô thừa nhận không ai biết, đến nay ngay cả con cháu ông cũng không biết mộ ông nằm ở đâu[1]

Năm 2007, kỷ niệm 120 năm ngày sinh của ông, một tọa đàm về ông đã được Tạp chí Xưa và Nay, Hội khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức.
Loạt sách Phan Khôi - Tác phẩm đăng báo, do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân sưu tầm, cũng được xuất bản những tập đầu.

Năm 2013, cuốn sách "Nắng được thì cứ nắng - Phan Khôi từ Sông Hương đến Nhân Văn" đoạt giải thưởng ở hạng mục Phê bình Lý luận văn học của Hội Nhà văn Hà Nội. Tác giả của cuốn sách là Phan An Sa, con út nhà văn Phan Khôi. Đây được xem là tác phẩm mô tả chi tiết và chân thực nhất về sự nghiệp làm báo cũng như cuộc đời Phan Khôi.[2]

Năm 2013, thành phố Đà Nẵng đặt tên phố Phan Khôi cho một con phố dài 615 mét thuộc quận Cẩm Lệ.[3]

Tháng 10/2014, tỉnh Quảng Nam tổ chức hội thảo có chủ đề “Phan Khôi và những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa”. Hơn 40 đại biểu là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực văn học, lịch sử trong cả nước đã có tham luận giới thiệu và thảo luận về Phan Khôi.[4]

Tháng 3/2015, tỉnh Quảng Nam chính thức đặt tên đường Phan Khôi ở thành phố Tam Kỳ. Đó là con đường dài 310 mét, rộng 19,5 mét có đầy đủ hạ tầng kĩ thuật với hệ thống cấp thoát nước, điện chiếu sáng, cây xanh.

















Phan Khôi tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Lỗ Tấn ở Trung Quốc năm 1956

















Tác phẩm



 










Các tác phẩm tiêu biểu















Bàn về tế giao
(1918)


















Tình già
thơ
 
  Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
- Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng,
Để đến nỗi, tình trước phụ sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau.
- Hay! mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ!
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng.
Mà tính việc thủy chung?
Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi.

(Phong Hóa, 24 janvier 1933)
























Chương Dân thi thoại
(1936)




















Trở vỏ lửa ra
(1939)





















Tìm tòi trong tiếng Việt
(1950)


















 
Chủ nghĩa Mác và ngôn ngữ
(dịch của Stalin, 1951)


















 
Việt ngữ nghiên cứu

(1955)


















 
Dịch Lỗ Tấn

(từ 1955 đến 1957)


















 
Ngẫu cảm
(thơ chữ Hán)


















 
Viếng mộ ông Lê Chất
(thơ chữ Hán)


















 
Ông Năm chuột
(truyện ngắn)




Hồi tôi còn 14 tuổi, 15 tuổi, thì đã nghe người làng nói nhiều về cái tên Năm Chuột. Về gốc gác của hắn, chỉ thấy nói là người làng Kỳ Lam, cái làng ở phía Bắc làng tôi, cách một con sông, về sau có cái ga xe hỏa gọi là ga Kỳ Lam, còn mọi sự khác không biết rõ. Hình như hắn cũng không có nhà cửa, cha mẹ, vợ con gì ở làng. Hắn làm thợ bạc, quanh năm đi làm nghề ở các nơi, nhất là các nơi đô hộ, như Huế, Ðà Nẵng, Hội An.

Họ nói Năm Chuột là thợ bạc khéo nhất đời, ở Huế có nhiều thợ bạc danh tiếng cũng phải chịu thua. Nhưng lại nói hắn tổ làm đồ vàng giả, mỗi khi được gọi đến nhà làm đồ nữ trang cho người ta, nhà chủ dù ngồi cạnh một bên, hắn cũng cứ tráo bạc, tráo đồng vào, lấy vàng ra, không làm sao biết được. Bởi vậy cả vùng quê chúng tôi, những nhà giàu có, vốn biết Năm Chuột là thợ khéo, nhưng không ai dám thuê hắn làm việc gì về cái nghề của hắn cả. Nhiều người còn nói Năm Chuột đúc súng, đúc bạc giả được. Mỗi khi nói điều ấy, họ làm ra vẻ bí mật, hình như họ có ý ngờ cho Năm Chuột định làm một việc gì lớn, “làm giặc” chẳng hạn.

Nhưng không biết thế nào, người ta lại cho Năm Chuột là kẻ nói láo nói phét, vào cái hạng “mười voi không được bát nước sáo” tức là mắng người ấy đã lại nói láo nói phét rồi,có khi chỉ dùng độc một chữ: Chuột quá tức là láo quá.

Lúc bấy giờ tôi đang đi học ở những nơi cách xa làng, mỗi khi về làng, lại thỉnh thoảng nghe người ta nói chuyện về Năm Chuột như thế, như thế, tôi cũng chỉ nghe làm tai mà thôi, không để ý mấy. Mà hẳn thế, cậu cả con quan phủ, học giỏi có tiếng, đang lo sôi kinh nấu sử để khoa tới đây đỗ thủ-khoa, không thì cũng cử-nhân năm tên trở lên, việc gì mà phải để ý đến chuyện một anh thợ bạc.

Năm hai mươi tuổi, tôi thi đỗ tú tài--- quái lạ, sao lại đỗ tú tài? --- về nhà, cách mấy hôm thì tôi đi về làng Xuân Ðài thăm bà ngoại tôi và cậu tôi. Ở ăn một bữa cơm trưa, đến xế chiều, tôi cáo về thì vừa có một người đến. Người trạc dưới bốn mươi tuổi, mặt trẹt, nước da xanh xám, mắt sáng, miệng rộng, hai môi trề ra, hàm và cằm như nguyên không có râu, không phải cạo, người thấp song cũng không thấp lắm, đầu trọc, quấn cái khăn vải đen, áo cộc cúc giữa, quấn đến đầu gối, chân mang dép da sống.

Người ấy lúc vào đến cửa, hai tay cắp cái nón lá ngang ngực cúi chào cậu tôi, khi bỏ cái nón lá ra, mới thấy trong tay còn cầm một cái nữa mà sau này tôi mới biết đó là cái dọc tẩu. Nó là cái ống tròn mà dài, thấy thoáng như có khảm xà cừ và bịt bạc, bịt vàng gì đó. Cậu tôi như chào như không phải chào:

- Anh Năm phải không?

- Dạ, lâu lắm, có thể quan lớn quên tôi.

Tôi nguyên đã cáo về rồi, cho nên dù có gặp một người khách mới vào hơi lạ như thế cũng cứ việc ra về. Không ngờ khi tôi ra khỏi cổng, lên đường về mới một chặng, nghe có người chạy theo đằng sau gọi tôi đứng lại, thì ra là người thấy lúc nãy. Anh ta tự giới thiệu:

- Tôi là Năm Chuột đây.

Rồi đột ngột hỏi tôi:

- Nghe nói cậu đậu Tú Tài mà cậu khóc, có phải không? Giả sử cậu được đậu thủ-khoa thì cậu làm nên cái trò trống gì?

Một gáo nước lạnh xối vào xương sống! Tôi bẽn lẽn ấp úng, cười hì hì không trả lời được. Bởi vì cái lẽ anh ta nói đó tôi cũng có nghĩ tới, nhưng không đi thi thì thôi, đã đi thi thì lại muốn đậu to. Thế rồi Năm Chuột đi cùng đường với tôi, vừa đi vừa nói chuyện.

Anh ta có đưa cái dọc tẩu lên, nói với tôi:

- Ông cậu của cậu thật là keo quá, cái dọc-tẩu thế này mà cầm trả có năm đồng bạc.

- Hoặc giả cậu tôi không có nhiều tiền chăng?

Tôi nói cho có nói, chứ không có ý gì cả. Nhưng anh ta cãi phăng:

- Quan lớn hồi xưa (chỉ ông ngoại tôi) làm đến Tổng đốc Hà Nội vừa chi, mà không có tiền lợp nổi cái nhà của ông bà để lại đã tróc ngói ; còn ông phủ (chỉ cậu tôi) mới làm Tri-phủ có ba năm về “chung dưỡng”, mua được những mươi mẫu ruộng, tôi biết là hạng đất tốt nhất, thế sao nói là không có nhiều tiền?

Tôi thấy cái điều anh ta nói đó hình như đúng, tôi làm thinh. Bỗng dưng anh ta cất tiếng cười một cách rất xỏ lá, rồi nói tiếp:

- Ai có đời, cha chết vì đánh Tây mà con trở đi làm quan với Tây!

Nghe câu này tôi cảm động quá. Tôi không dám chống lại ý anh ta, chỉ nói như vớt vát một ít:

- Thấy bà ngoại tôi kể chuyện, lúc ông ngoại tôi mất rồi thì cảnh nhà sa sút quá đỗi, nếu cậu tôi không làm như thế thì đến lụn bại mất.

Anh ta bĩu môi, cái môi đã trề rồi, còn bĩu nữa, rất khó coi:

- Ra chỉ có làm quan mới cứu vãn được nghiệp nhà. Thế thì bao nhiêu người không làm quan, họ đều đi ăn mày hết.

Tôi lại làm thinh. Ngừng một lúc, anh ta nói tiếp:

- Hèn chi mà quan lớn chết ở Hà Nội năm Ngọ, năm Dậu thất thủ kinh đô, Nghĩa-hội nổi lên đánh Tây, năm Hợi, Tây kéo lên đóng đồn ở chùa Phi Phú, thì ông cậu của cậu đã làm bang tá trong cái đồn ấy. Ðể làm gì? Cậu có biết không? Ðể đàn áp Nghĩa-hội.

Những chuyện ấy, thầy mẹ tôi có kể cho tôi nghe hồi còn nhỏ, tôi biết cả, nhưng tảng lờ nói:

- Tháng tám năm Hợi, mẹ tôi mới đẻ tôi ra, tôi làm gì biết được những chuyện ấy?

Anh ta lại cười, nhưng không xỏ lá, nhìn vào mặt tôi:

- Thấy người ta nói cậu thông minh, nói chuyện với cậu, tôi cũng thấy cậu thông minh thật.

Thình lình anh ta nhảy mũi dặp hai ba cái, lấy khăn lau nước mũi cả nước mắt nữa, rồi nói thêm:

- Như tôi, (anh ta lấy tay phải ấn vào ngực) ghiền thuốc phiện cho đáng, chứ ông cậu của cậu mà cũng hút thì hết thảy những người nghiện chúng tôi đều phải lấy làm lạ.

- Sao vậy?

- Quan lớn hồi xưa có cùng mấy ông em lập một bản “gia ước”, trong đó có một điều cấm con cháu hút thuốc phiện, nếu phạm thì trừng trị bằng những cách nào đó. Thế mà dám phạm. Ðủ biết con người của ông cậu của cậu là vậy đó: cái gì cũng làm nghịch lại với cha.

Cái “gia ước” mà anh ta nói đây, tôi không hề biết, vì không hề nghe ai nói tới.

Nhưng tôi nghĩ, nếu đúng như thế, thìanh ta nói cũng có lý. Tôi lại làm thinh.

Ðây đã đến chỗ con đường rẽ vào nhà tôi, tôi đứng lại, nói mấy lời từ biệt.Năm Chuột nắm lấy tay tôi và nói:

- Tôi nói nãy giờ có làm mếch lòng cậu không? Ở đời có thiếu gì chuyện nói, hà tất tôi gặp cậu lần đầu phải nói để làm mếch lòng cậu, nhưng tình cờ gặp câu chuyện đáng nói thì cứ nói.

Rồi anh ta tỏ ý mong gặp tôi lần khác.

Tôi vừa đi về nhà vừa nghĩ, “À, ra Năm Chuột là con người như thế đấy”.

Là một anh thợ bạc, sao lại nói được những điều như thế, tôi lấy làm lạ.

Tối hôm ấy, tôi đem cả câu chuyện Năm Chuột nói với tôi kể lại cho thầy tôi nghe. Thầy tôi bảo:

- Cái thằng láo đến thế là cùng!

- Nhưng những điều hắn nói, con thấy như cũng có cái đúng.

Tôi rón rén thưa lại.

- Ðúng kia à? Mặc dầu đúng chăng nữa, cái hạng thằng Năm Chuột mà lại được nói thế à ?

Thấy thầy tôi nói hơi xẵng , tôi làm thinh. Một chặp tôi mới dịu giọng hỏi:

- Cái “gia ước” ông ngoại lập ra mà Năm Chuột nói đó, thầy có biết không?

- Tao không biết. Thấy nói sự cấm hút ấy ở nhà Ðông bàn (nhà quan thượng Phạm Phú Thứ) thì có, còn nhà Xuân Tài, tao không nghe.

Ðến lúc tắt đèn, đi ngủ rồi, thầy tôi còn nói một mình:

- Cái thằng láo quá!

Ðó về sau hơn 10 năm, tôi không gặp lại Năm Chuột lần nào. Chừng vào khoảng 1920, một lần tôi ở Hà Nội về nhà, thấy người ta nói Năm Chuột bây giờ lập gia đình ở ngụ tại làng tôi, tôi bỗng có cảm giác như là một vật gì mình đã bỏ quên đi mà bây giờ thấy lại.

Làng tôi có một chỗ gọi là Cồn Mũi Gươm, có một vạt đất gọi là đất Chó ỉa, theo lời thì Năm Chuột đã xin làm cái túp tranh trên vạt đất ấy, và cưới vợ là con gái quá lứa của một nhà có môn bài bán rượu và thuốc phiện cũng ở làng tôi. Hắn vẫn làm thợ bạc.

Một hôm tôi đến thăm, thấy trong nhà chỉ có một căn ván nhỏ, trên đặt cái bàn đèn, một cái buồng che phên tre, ngoài ra là cái lò bễ bạc để ngay chỗ cửa ra vào. Bấy giờ gần đến Tết, trời hơi lạnh, hắn ở trần, ngồi cạnh cái lò bễ đang hơ cả người trên lửa. Hắn xin lỗi tôi và nói:

- Người ta tắm bằng nước, nhưng tôi quanh năm tắm bằng lửa. Hơ thế này cho đổ mồ hôi ra, kỳ sạch ghét, thì cũng chẳng khác tắm bằng nước.

Hắn mời tôi ngồi trên ván, tôi không ngồi, ngồi trên cái đòn kê đặt ở đất gần lò bễ, chỗ sắm cho bạn hàng ngồi xem hắn làm việc.

Anh ta không tắm nữa, mặc áo vào, cho than thêm vào lò bễ, bắt ấm nước lên, rồi gọi vợ súc cái bình tích trà hãm đi, cho trà khác vào, pha nước mời tôi uống và sưởi lửa, cũng nói chuyện. Lần này anh ta gọi tôi bằng ông, nói rằng:

- Mười năm về trước tôi mong lại gặp ông mà không được gặp, lần này gặp, tôi không có chuyện nói.

- Ông mà thiếu gì chuyện, như chuyện nói với tôi năm nọ khi đi đường từ Xuân Ðài đến Bảo An.

Anh ta đưa tay lên khoát khoát, nói thật nhanh:

- Thôi thôi, đã lâu nay tôi không còn nói những chuyện như thế nữa. Nói không có người nghe mà còn có hại. Giá tôi còn cứ nói cái lối đó thì không thể nào lấy vợ và lập gia cư ở làng ông được.

Tôi nói:

- Ðã thế thì đến phiên tôi. Trước kia ông không sợ mếch lòng tôi, thì bây giờ tôi cũng không sợ mếch lòng ông mà hỏi ông một vài điều.

Anh ta cười một cách thẳng thắn.

- Ðược lắm, những nhà giàu làng tôi họ đều nói ông hay ăn cắp vàng nên họ không dám thuê ông làm cái gì hết, bây giờ ông vác lò bễ đến đây làm gì?

Anh ta lại cười, nói dằn từng tiếng:

- Sở dĩ tôi ở đây là vì có thể chữa đồng hồ, xe đạp, bút máy, khóa tây, nội những việc đó đủ cho tôi làm hàng ngày rồi, còn sự làm đồ vàng bạc thì chỉ thỉnh thoảng mới có.

- Nhưng tôi muốn biết ông quả có ăn cắp vàng không? Và ăn cắp như thế nào?

Anh ta lại cười một cách xỏ lá:

- Thứ ăn cắp mà kể gì? Có những kẻ ăn cướp thì không ai nói đến. Tôi có ăn cắp vàng thật đấy, nhưng cũng tùy chỗ tùy người, ở làng Bảo An đây thì tôi không thèm.

Rồi anh ta thuật lại chuyện ăn cắp vàng cho tôi nghe:

- Năm Thành-Thái thập nhị, ông Nguyễn Hữu Thẳng làm Tổng đốc tỉnh ta, cô hầu ông ấy gọi là cô Hóa Mộc, tuy cô hầu mà oai quyền như bà lớn. Một hôm, tôi được trát đòi đến, lính bẩm báo rồi dắt vào nhà trong. Cô ta muốn tôi ở lại đây làm cho cô một đôi vòng chạm y như đôi cô có sẵn, và hỏi tôi có thể làm được không. Tôi nói “được”, và xin cho xem đôi vòng chạm sẵn có của cô. Cô ta mở tủ lấy ra, toan trao cho tôi. Tôi có một vuông lụa trắng tinh khiết bỏ sẵn trong túi, bèn lấy lót trên bàn tay, rồi mới nhận lấy đôi vòng tự tay cô đặt lên vuông lụa. Tôi đem ra chỗ sáng, cô đi theo. Tôi nhắc nhắc xem thử đôi vòng nặng bao nhiêu, và cầm tuổi vàng cho thật đúng, ngắm xem những nét chạm cho thật đâu ra đó, còn vặn chỗ cái cổ ra coi thử có chữ hay dấu hiệu gì không. Xong rồi, tôi trả đôi vòng lại và nói: “Bẫm bà lớn, đôi vòng này khéo lắm, chỗ cổ vặn ra vặn vô của nó có khắc cái chữ, bà lớn có để ý không?”. Cô ta nói: “Tôi biết, nó là chữ “ngọc”.Tôi nói: “Con có thể làm đúng y như thế, nhưng hôm nay con có việc riêng, không ở lại được, mười ngày nữa con xin đến làm hầu bà lớn, không dám sai hẹn”. Cô ta đồng ý.

Nói đến đây, anh ta nổi ngáp một ngoi đôi ba cái, rồi xin lỗi tôi cho lên ván đốt đèn hút mấy điếu, và mời tôi nằm đối diện nghe nói tiếp.

- Tôi về nhà, cầy cục làm mất sáu bảy ngày mới xong một đôi vòng cốt giả mạ vàng. Ðáng lẽ làm bằng đồng thì được lợi nhiều hơn nhưng vì có chạm phải làm bằng bạc. Thành khi rồi, xem tuổi vàng nét chạm cho đến cái chữ ở trong đều y hệt như đôi vòng của cô Hóa Mộc, đem mà đánh tráo, có thánh cũng không biết...

Tôi ngắt:

- Ðành rằng ông làm một cái rất giống, còn như đồng cân của đôi vòng, tức là sức nặng của nó, ông biết là bao nhiêu mà làm cho đúng được?

- Ấy thế mới là tài. Anh ta cười híp mắt mà không ra tiếng. Chính ăn người là ở chỗ đó. Bất kỳ thử kim khí gì, tôi nhắc nhắc trên tay khắc đồng cân của nó đúng không sai. Chẳng tin, ông tháo cái dây chuyền đồng hồ đưa đây xem.

Tôi tháo ngay cái dây chuyền để trước mặt anh ta. Kéo xong điếu thuốc anh ta đằng hắng một cái, ngồi dậy, cầm dây chuyền trên nhắc nhắc một cái rồi đứng dậy đi lấy cái cân tiểu-ly đưa cho tôi, nói quả quyết:

- Ông biết mặt cân chứ? Cân xem. Cái dây chuyền này nếu nó là vàng thì nó nặng hơn, nhưng nó là đồng mạ vàng cho nên nó chỉ có ba chỉ tám.

Tôi cân, quả thật, ba chỉ tám hơi yếu một chút, song đem vao chỗ ba chỉ thì hơi vát. Tôi kêu lên:

- Thế thì tài thật. Xin chịu.

Anh ta lại nói:

- Còn một chỗ bí quyết nữa. Ông biết, vàng nặng hơn các thứ kim khí khác, nghĩa là vàng, bạc, đồng, chì cùng một thể tích thì lượng của vàng phải nhiều hơn. Vậy thì mình muốn cho đồng cân của đôi vòng giả bằng đôi vòng thật, mà cái vóc của nó cũng chỉ bằng đôi vòng thật, không to hơn, thế mới là khó. Nhưng cái đó co thực hành mới cắt nghĩa được, nói bằng miệng sợ ông cũng không hiểu.

Nghỉ một lát anh ta kể tiếp đến cuộc đánh tráo:

- Ðúng 10 ngày tôi lại đến. Hai bên thỏa thuận với nhau về điều kiện làm việc rồi, cô ta mở tủ lấy đôi vòng và vàng diệp ra đặt trên sạp, rồi gọi tôi đến đứng bên cạnh xem cô cân. Cân đôi vòng nặng một lạng hai -- tôi chắc dạ lắm, vì đôi vòng giả của tôi cũng đúng một lạng hai -- cho nhích một chút, định giao cả cho tôi. Tôi chưạ nhận, xin cho xem đôi vòng đã. Cô ta đứng dậy cầm bó vàng diệp cả chỗ một lạng hai cất vào tủ. Trong lúc đó tôi lấy đôi vòng giả ra đặt trên bàn tay trái, đậy vuông lụa trắng lên trên. Khi cô ta quay ra đưa đôi vòng cho tôi, tôi chìa bàn tay có vuông lụa trắng ra nhận lấy cũng như lần trước. Tôi đi ra chỗ sáng ngồi xuống làm bộ xem lại đôi vòng, cô ta cũng đi theo. Xem xong tôi đứng lên. Cô ta sấp lưng đi về chỗ sập. Tôi đi sau, lật cả vòng và vuông lụa từ bàn tay trái qua bàn tay phải, thành ra đôi vòng giả nằm trên, cứ thế mà trả lại cho cô ta, và tôi gấp nhanh vuông lụa có đôi vòng thật ở trong mà bỏ vào túi. Cô ta hỏi: “Chứ chú thợ không giữ lấy để làm mẫu à?”. Tôi nói:”Bẫm bà lớn, con xem hai lần như thế đủ rồi, xin bảo đảm làm thật đúng”. Cô ta khen: “Hèn chi mà nổi tiếng là thợ khéo. Tôi nhờ ông Phủ Ðiện viết trát đòi chú là vì có bà Phủ mách miệng”. Bấy giờ chừng mười giờ sáng, tôi xin đi ra mua thuốc phiện rồi trở lại nhận vàng diệp bắt đầu làm. Ra đến chợ Vĩnh Ðiện, tôi đem đôi vòng chạm vàng mười chính hiệu của “bà lớn” gửi cho một người anh em “đồng đạo”. Tôi không quên câu tục ngữ: “Có gian phải có ngoan”.

- Ông ăn cắp chỉ có thế, hay là lúc trở lại làm còn ăn cắp nữa? Tôi hỏi.

- Không, tôi dại gì mà ăn cắp nữa. Trong những ngày làm, cô ta ngồi giữ một bên, không phải vì thế mà tôi không ăn cắp được, có điều tôi đã định bụng không ăn cắp. Khi làm xong, tôi hỏi muốn khắc chữ gì. Cô ta ngẫm nghĩ rồi bảo: “ Tôi là người Hóa Mộc, khắc chữ “mộc”cho tôi. Tôi khôn ở chỗ đó. Bởi vì hai đôi vòng giống nhau như hệt, có khắc chữ khác nhau đễ làm dấu thì mai sau đôi giả có xì ra, hắn mới không có thể ngờ được là đôi do tay tôi làm. Cho đến bây giờ tôi cũng còn ân hận là, như thế, sẽ làm cho ông bạn đồng nghiệp nào của tôi đã làm cho hắn đôi vòng thật đó hóa ra là người bất lương thiện, nhưng ông tính, đã giết người ai còn gớm chảy máu.

- Ông làm cái việc như thế có nhiều lần không?

- Kể ra cũng không ít. Nhưng tôi đều ăn cắp ở bọn ăn cướp như Tổng Ðốc, Bố Chánh, án Sát, Phủ, Huyện, chính cái bà Phủ nói lúc nãy đã mất với tôi mấy lạng vàng mà không biết, đi “mách miệng” cho người khác. Những việc như thế tôi cũng chẳng dấu, cứ hay đem nói với người ta cũng như nói với ông đây, cho nên mang tiếng, chứ thuở nay đã có ai bắt được tôi ăn cắp đâu.

Hỏi đến sự đúc súng, làm bạc giả, anh ta bảo:

- Ta có nấu sắt được đâu mà đúc súng? Nhưng chữa súng thì có. Hồi tôi ở Ðà Nẵng, các thứ súng liệt máy của Tây thường đem thuê tôi sửa. Bạc giả thì tôi có làm, nhưng tính ra không có lợi gì mấy, về sau tôi không làm nữa.

Năm Chuột còn nói cho tôi nghe về tính chất của các thứ loài kim và phép hợp kim, như đồng và kẽm, mỗi thứ bao nhiêu, hợp nhau thành ra thứ gì, đồng và thiếc bao nhiêu, hợp nhau thì thành ra thứ gì, nghe ra thông thạo như người có học chuyên môn. Tôi lấy làm lạ bèn hỏi:

- Ông có học với thầy nào mà biết được những điều ấy là những điều mà các thợ bạc khác hầu như không biết?

Anh ta vùng ngồi dậy, cười, ra điều đắc ý, vỗ vào đùi tôi:

- Xưa nay mới có một người hỏi tôi câu ấy, là ông! Tôi chẳng học với thầy nào hết, tôi chỉ đọc có môt cuốn sách là cuốn Kim Thạch chí-biệt.

Tôi sửng sốt, nghĩ bụng: té ra anh này còn biết chữ nữa kìa. Cái tên sách ấy tôi chưa hề nghe, cũng không dám ngờ là anh ta bịa đặt. Một hôm khác tôi hỏi thầy tôi có biết cuốn Kim-thạch chí biệt không, thầy tôi cũng chịu không biết, và hỏi tôi nghe ở đâu, tôi kiếm đường nói trớ, chứ không dám nói nghe ở Năm Chuột. Cho mãi đến gần nay, đọc Lỗ Tấn toàn tập, tôi mới thấy trong đó có nhắc đến tên cuốn sách ấy. Tôi nghĩ mà lấy làm thẹn, sao mình đã không biết mà lúc bấy giờ không hỏi ngay anh ta, chỉ vì nghĩ mình là người học thức viết báo viết biếc, mà tỏ cái dốt trước mặt một anh thợ bạc thì ê quá.

Ðó về sau mấy năm, mỗi năm tôi ở Hà Nội hoặc Saigon về thăm nhà, đều có đến với anh ta. Anh ta còn in trong đầu tôi mấy câu chuyện lý thú và bất ngờ nữa.

Năm Chuột từng nói với tôi rằng từ rày anh ta không nói những chuyện như đã phê bình cậu tôi một cách không nể nang, nhưng rồi lại chứng nào tật ấy, vẫn không cải nết.

Một lần, phê bình nhân vật làng tôi, anh ta chê ông Tú nọ dốt, ông Bá kia keo kiệt, cuối cùng anh ta nói: “tôi chỉ phục có hai người, một là ông Biện Chín, một là ông Tám Thứ”.

Ông Tám Thứ, người Minh Hương, ở ngụ làng tôi, nghèo chuyên nghề làm thuốc, ít hay giao du với ai, tôi không biết ông ta cho lắm. Còn ông Biện Chín, tên thật là Phan Ðịnh, chú ruột tôi, cha của Phan Thanh, Phan Bôi. Chú tôi là dân tráng, nghèo, cố gắng lắm mới cho con đi học được, nhưng đúng là người “cần kiệm liêm chính” lại khẳng khái nữa, chính tôi, tôi cũng phục chú tôi mà sợ thầy tôi.

Tôi không tham gia ý kiến gì, chứ ngấm ngầm chịu anh ta là biết người, phê bình đúng. Nhưng, trước mặt tôi mà nói như thế, tôi ngờ anh ta có ngụ một thâm ý, là anh ta không phục thầy tôi. Thầy tôi đã đỗ đại khoa, làm quan, bỏ quan về ở làng, cầm cân nẩy mực cho cả làng, cả tổng, không có mang tai mang tiếng gì, nếu anh ta không lấy làm đáng phục, chắc anh ta thấy về khía cạnh nào đó. Từ đó tôi đâm ra áy náy, hoặc giả cha mình cũng có khuyết điểm gì như cậu mình, làm cho người ngoài phi nghị mà mình không biết chăng. Tôi có đem hỏi chú tôi và thuật lại lời Năm Chuột khen phục chú, thì chú tôi trách tôi sao lại đi nghe chuyện của Năm Chuột. Thì ra chú tôi cũng có thành kiến đối với Năm Chuột như thầy tôi, như những người làng.

Lần khác, bỗng dưng anh ta hỏi tôi:

- Quan lớn nhà ta (chỉ thầy tôi) sao lại không làm quan nữa? Ông có nhớ lúc ngài bỏ quan mà về là bao nhiêu tuổi không?

Tôi lấy làm lạ sao hắn lại hỏi mình điều ấy. Song cũng cứ theo mình biết mà trả lời:

- Thầy tôi tuổi Tuất, cái năm cáo bệnh mà về là năm Kỷ Hợi, mới có ba mươi tám tuổi. Sở dĩ không làm quan nữa, có lẽ là tại không chịu làm với Tây.

Cho đến lúc tôi ngoài 20 tuổi, thầy tôi vẫn coi tôi như trẻ con, những việc như thế chưa hề đem nói với tôi. Có điều một đôi khi tôi nghe thoảng qua dư luận bên ngoài, nhất là lúc ở Hải Phòng gặp Lê Bá Cử, ông ấy có kể cho tôi nghe khi ông làm phán-sự toà án Nha Trang, thầy tôi làm tri phủ, có lần cãi nhau kịch liệt với viên công sứ, chính ông đứng làm thông ngôn, thì tóm tắt mà trả lời như vậy. Nhưng Năm Chuột hỏi vặn tôi một câu rất oái ăm:

- Ở làng này còn có hai ông nữa đều làm đến tri huyện, đều bỏ quan mà về trước tuổi hưu trí, vậy thì ông cũng cho rằng hai ông ấy cũng không chịu làm quan với Tây hay sao?

“Thằng cha khó chịu thật” tôi nghĩ bụng. Không biết đối đáp thế nào với hắn, tôi phải nói một câu mà tự mình cũng thấy là non nớt quá:

- Việc hai ông ấy thì tôi không biết.

Anh ta vẫn cười cái lối xỏ lá rất khả ố. Ngớt cơn cười mới bình tĩnh nói:

- Tôi cũng có nghe và biết về chánh tích và nhân phẩm của quan lớn nhà ta, nhưng tôi lại có một sở kiến khác, nói ra, ông đừng tưởng tôi cố ý làm đôi vòng thật nhanh thành ra đôi vòng giả thì tôi mới nói.

- Thì ông cứ nói đi.

- Làng Bảo An, người ta nói, không có đất phát quan lớn, mà kinh nghiệm xưa nay rành rành như thế. Từ trước bao nhiêu ông làm đến tứ phẩm trở lên đều bị cách tuột hết. Cho nên Ðồng Khánh, Thành Thái đến giờ, ông nào cũng làm đến phủ huyện rồi kiếm cách từ chức mà về. Nếu nói không chịu làm quan với Tây thì không làm từ đầu, chứ không có lẽ lúc mới ra làm, không biết rằng mình sẽ làm với Tây. Hai ông huyện kia cầy cục mãi đến ngoài bốn năm mươi tuổi mới về, còn quan lớn nhà ta về sớm là vì mới 38 tuổi đã làm Tri-phủ.

Tôi làm như không để ý gật gật nhìn anh ta, kỳ thực tôi cho là cái sở kiến của anh ta đó, không biết chừng, là độc đáo. Làng tôi, tây giáp làng Ðông-Mỹ, đông giáp làng Xuân-Ðài, hai làng này đều có Tổng Ðốc, mà làng tôi, thi đỗ thì đông, đại khoa cũng có, nhưng không có quan to. Thuở Tự Ðức ông Nguyễn Duy Tự, làm đến phủ đoãn Thừa Thiên, ông nội tôi làm đến án-sát Khánh Hòa, cũng đều bị cách.

Tôi không tin phong thủy, nhưng đó là sự thực. Hoặc giả các ông quan làng tôi, trong đó có thầy tôi, thấy thế mà sợ, làm đến phủ huyện lo rút lui cũng nên. Huống chi cái luận chứng của Năm Chuột rõ ràng mà đanh thép lắm, tôi bấy lâu trau dồi cái đức tính ngay thực của người viết báo, tôi không thể cãi chày cãi cối được.

Tôi thấy chắc chắn lắm, vì tôi biết chịu chuyện cho nên anh ta thích nói chuyện với tôi, còn anh ta, hay nói cái lối móc ruột móc gan người ta như thế,cho nên họ mắng anh ta là nói láo nói phét.

Có một sự rất lạ. Một lần tôi đến chơi, vẫn ngồi trên đòn kê xem anh ta làm việc, liếc thấy trong cái thùng đựng đồ nghề có quyển sách, tôi thò tay lấy xem, thì là một cuốn Thương-Sơn thi tập không có bìa, đã xé mất nhiều trang. Tôi hỏi:

- Ông cũng có sách này à? Nó là một bộ đến mười cuốn, sao ở đây chỉ còn một cuốn?

- Tôi có mà tôi xé để quấn thuốc lá hết, chỉ còn một cuốn, bởi vì in bằng giấy quyến, quấn thuốc tốt lắm.

- Ông có xem qua chứ?

- Thơ của ông Hoàng mình xem thế nào được? Tôi chỉ xem được có mỗi một bài Mại Trúc Diêu.

Tôi phát lạnh người. Tôi có đọc thơ Thương-Sơn rồi, tôi cũng không thích, nhưng cái bài Mại trúc diêu là bài thế nào, tôi có biết đâu? Chỉ vì dấu dốt, tôi lại cứ làm thinh, không hỏi anh ta.

Về nhà, tối hôm ấy, tôi lật bộ thơ Thương-Sơn ra tìm, tìm được bài Mại trúc diêu. Về sau, tôi dịch ra đăng báo Phụ Nữ TânVăn, sau nữa, đem in trong Chương Dân thi-thoại. Lục ra đây để bạn đọc thưởng thức cái mức thưởng thức văn học của anh thợ bạc:

Bài hát bán tre

Ngày đốn hai cây trúc
Bán đi để dằn bụng
Trong cửa tre đầy kho
Ngoài cửa tiền chẳng cho
Không nói thì cũng khổ
Nói thì roi dài sẽ quật chú
Rày về sau đừng đốn tre nữa
Ðói nằm trong tre chết cũng đủ!

Từ khi biết Năm Chuột có biết chữ Hán nhiều, xem sách xem thơ được rồi, tôi có lúc đem văn học nói với anh ta, anh ta chỉ nghe và hỏi chứ không tỏ ý kiến. Tôi có ý trách. Anh ta giải thích thế này: “Người ta, cái gì biết ít thì chỉ nên nghe chứ không nên nói, tôi nói chuyện văn chương chữ nghĩa với ông, cũng như ông không dạy nghề làm thợ bạc cho tôi”.

Anh ta làm thợ bạc, nhưng cũng kiêm luôn thợ rèn nữa mà là thợ rèn rất khéo. Những dụng cụ của anh ta như cái kìm, cái búa, cái kéo, anh ta đều đi đến lò bễ rèn, ngồi mà tự đánh lấy. Cái đó thì ở làng tôi có nhiều người biết, cái kìm của anh ta đánh, ai cũng chịu là không kém của Tây.

Năm 1944, tôi ở Hà Nội, về nhà được mấy hôm thì thầy tôi mất. Làm đám xong, tôi ở luôn trong nhà ba bốn tháng không ra khỏi cổng. Buồn quá, một hôm tôi đi tìm anh ta. Ðến nơi, cái túp tranh không có nữa. Hỏi thì người ta nói Năm Chuột dọn đi đâu đã lâu rồi. Từ đó tôi mất Năm Chuột của tôi.

Một lần, trước mặt ông Tú già, anh Giáp trong làng gọi Năm Chuột bằng ông, ông Tú già đập bàn quở: “Mầy gọi thằng Năm Chuột bằng ông, thì gọi tao bằng gì?” Tôi nghe mà tức mình, cho nên bài này, tôi nêu đầu đề là Ông Năm Chuột”.

(Trích báo Văn (Hà Nội) số 36 ra ngày 10-1-1958)























Ông còn là một trong những người dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt.






















Nhận xét

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân nói về ông như sau: "Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí; nhưng, qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề: phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền. Ông cũng là một nhà Hán học và Trung Quốc học am hiểu những vấn đề của xã hội Trung Quốc đương thời, ông là một dịch giả đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên chúa ra tiếng Việt, một nhà Việt ngữ học cả ở phần lí thuyết lẫn thực hành, một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học.Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ; ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận. Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng tri thức và văn hoá cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng…, ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho tri thức."[5]



 
Chú thích

1/ a ă Phần XVI: Phan Khôi - Bài 2: Thời thanh thiếu niên RFI Đăng ngày 21-03-2011 Sửa đổi ngày 30-01-2013 18:59
2/ Gia đình Phan Khôi nhận giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội Hiền Đỗ, VnExpress 10/10/2013 | 15:19 GMT+7
3/ Nghị quyết 42/2013/NQ-HĐND về đặt, đổi tên đường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đợt 1, năm 2013 Trần Thọ 11/7/2013
4/ “Hội thảo khoa học”. Báo Quảng Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2015.
5/ P.V, Suy nghĩ từ hành trình khai quật quá khứ, Tạp chí Tia Sáng


























Thụy Khuê
Nói chuyện với Lại Nguyên Ân
về việc sưu tập những tác phẩm đăng báo của Phan Khôi


Trong một bài in trên Đông Pháp Thời báo, số ra ngày 1/9/1928 giữa thời Pháp thuộc, Phan Khôi viết: "Ở vào thế kỷ XX là thế kỷ mà thiên hạ làm phách hô lớn lên hai chữ tự do, nói rằng đâu đâu cũng phải tôn trọng sự tự do, đâu đâu cũng phải tôn trọng quyền ngôn luận, quyền xuất bản. Bỗng dưng nghe đến hai chữ "cấm sách" thì há chẳng phải là một sự lạ hay sao. Song le là lạ ở xứ nào kia, còn xứ nầy sự ấy đã như cơm bữa rồi, không còn lạ gì nữa." Đó là giọng Phan Khôi, là chí khí toát ra lời. Chí khí ấy trở thành có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX. Nhưng thế hệ hôm nay, bao nhiêu người còn biết Phan Khôi là ai? Tạ Trọng Hiệp gọi Phan Khôi là "người xa lạ" !
Trong nhiều năm nay, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã cố gắng sưu tập, tìm lại những bài viết của Phan Khôi, người xa lạ ấy, trên báo chí ngày xưa. Và hôm nay ông sẽ thuật lại cho chúng ta, sơ lược hành trình này.
Đặc biệt là trong giai đoạn hoạt động mạnh nhất từ 1929 đến 1936, trên báo chí khắp ba kỳ Nam, Trung, Bắc, Phan Khôi đã đưa ra những đề tài tranh luận lớn, chủ yếu phê bình Khổng học và Phan Khôi đặt các vấn đề về việc dùng tiếng Việt và chữ quốc ngữ. Lại Nguyên Ân sẽ nói về những cuộc tranh luận văn học mà Phan Khôi đã khai ngòi trong những năm 1929-30 trên các báoThần ChungPhụ Nữ Tân Văn và Trung Lập ở Nam Kỳ.

*

Thụy Khuê: Thưa anh Lại Nguyên Ân, ngoài hai cuốn Chương Dân thi thoại (in lần đầu 1936)  và Việt ngữ nghiên cứu của Phan Khôi đã được in lại vào những năm 1995-96, thì người đọc ở trong nước hiện nay có thể biết gì về Phan Khôi, thưa anh?
Lại Nguyên Ân: Những năm tháng cuối đời Phan Khôi sống ở Hà Nội ; lúc đó là sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, ông  bị cách ly và không được quyền đăng bài vở, không được quyền công bố gì cả, thành ra sau cái chết có thể nói là rất lặng lẽ của ông vào năm 1959, thì dư luận sách vở ở miền Bắc hầu như là lãng quên ông hoàn toàn, nếu có lời nào đó nhắc đến ông thì chắc chắn chỉ là những lời thoá mạ. Riêng ở miền Nam, suốt thời kỳ từ 1954 đến 1975, theo như chúng tôi đọc lại được tài liệu thì thấy rằng ít nhất có hai nhà nghiên cứu nhắc đến Phan Khôi : một là nhà giáo Phạm Thế Ngũ trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, có nhắc đến đóng góp của Phan Khôi trong giai đoạn những năm 1930 về mặt phê bình văn học và cũng nhắc đến một số tác phẩm của ông đăng trên báo chí những năm 1930. Người thứ hai là nhà nghiên cứu, nhà giáo Thanh Lãng, ông nhắc đến những đóng góp, những hoạt động báo chí của Phan Khôi những năm 1930, trong những cuốn như là Bảng lược đồ văn học sử hay là nói về thế hệ phê bình 1932, hoặc là có một công trình của Thanh Lãng sưu tầm những bài   tranh luận văn học, sau khi Thanh Lãng mất, đã được in, đó là bộ sách 13 năm tranh luận văn học, ba tập(1995), trong này có một số lượng đáng kể những tác phẩm của Phan Khôi in trên tờ Phụ Nữ Tân Văn. Và có lẽ đấy là tất cả những gì mà người ta còn biết, hậu thế còn biết về Phan Khôi.

T.K.: Thưa anh, tại sao anh lại có ý định sưu tầm những bài viết của Phan Khôi, ý định này đã đến với anh từ bao giờ?
L.N.A.: Vào những năm cuối thế kỷ XX, một số người trong đó có tôi càng ngày càng nhận thấy rõ là tác giả Phan Khôi, cũng giống như một loạt các trường hợp khác của những người từng hoạt động rất tích cực trong báo chí Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là đầu thế kỷ XX, nhưng do tình trạng nghiên cứu phải nói là yếu kém về lịch sử báo chí Việt Nam, cùng với những hậu quả khác của sự phân biệt đối xử, cho nên hàng loạt tác giả, hàng loạt nhà báo, nhà chính luận, nhà nghiên cứu văn hóa đầu thế kỷ XX có thể là sẽ bị quên lãng mãi mãi và những tác phẩm của họ có thể sẽ hoàn toàn bị mất đi, hoàn toàn không có chỗ trong trí nhớ của  các thế hệ hậu thế. Thành thử, chúng tôi thấy là cần phải đặt vấn đề khôi phục lại để nhắc nhở những thế hệ sau là những thế hệ cầm bút đi trước đã có những đóng góp như vậy trên một diễn đàn rộng lớn là báo chí cả ba kỳ, từ đầu cho đến giữa thế kỷ XX. Tôi đã tự nhận lấy việc sưu tầm tác phẩm của Phan Khôi. Vào khoảng năm 2000 thì tôi đã có được trong tay một số tác phẩm đáng kể. Và từ 2000 đến 2003-2004 thì tôi càng có một số lượng những tác phẩm sưu tầm được của Phan Khôi nhiều hơn. Cho đến bây giờ tôi đã sưu tầm được hơn một nghìn bài báo của Phan Khôi.  Tôi bắt đầu hình dung được một vài chặng đường làm báo của Phan Khôi. Tôi đã bắt đầu in ra được một số cuốn sách sưu tập các tác phẩm báo chí của Phan Khôi. Đó là hai cuốn : Cuốn thứ nhất là Phan Khôi : Tác phẩm đăng báo 1928, xuất bản năm 2003, và cuốn thứ hai là Phan Khôi : Tác phẩm đăng báo 1929, mới xuất bản vào tháng 5 / 2005. Tôi sẽ tiếp tục cho ra mắt những sưu tập tiếp theo trong những năm sắp tới.

T.K.: Xin anh kể qua lịch trình hoạt động báo chí của Phan Khôi.
L.N.A.: Một vài tài liệu khác nhau nói rằng Phan Khôi ra Bắc vào khoảng 1907 hay 1908 gì đó, để tham gia trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục sớm bị đóng cửa. Lại cũng nghe nói ông định tham gia làm báo hay sách của Đông Kinh Nghĩa Thục, nhưng công việc đó cũng không thành. Có lẽ là Phan Khôi cũng chưa viết báo ngay từ 1908. Sau thời điểm đó, ông làm những công việc khác. Theo tôi biết có lẽ là Phan Khôi thực sự làm báo là với tờ Nam Phong, từ 1918-1919. Như gần đây ta biết, Phan Khôi chẳng những có bài đăng  trên Nam Phong chữ  quốc ngữ mà còn  có  bài đăng trên Nam phong chữ  Hán. Nhưng có lẽ  vì cũng không ăn ý lắm với Phạm Quỳnh cho nên ông thôi cộng tác với Nam Phong, vào Nam viết cho tờ Lục Tỉnh Tân Văn. Phan Khôi cũng chỉ viết cho tờ này trong độ vài tháng rồi thôi, có lẽ sau khi báo này đăng một  bài ông viết hơi nặng lời về một viên chức cao cấp Pháp ( Pierre Pasquier) sắp trở thành Toàn quyền Đông Dương. Sau đó Phan Khôi có tham gia một vài tờ báo trong Nam ngoài Bắc, nhưng hình như số bài được đăng rất ít, không đáng kể. Hình như vào khoảng thời gian Phan Chu Trinh ở Pháp về Sài Gòn, có nhắn tin Phan Khôi vào, có lẽ là để cùng thực hiện những việc do cụ Phan tổ chức. Nhưng Phan Chu Trinh về tới Sài Gòn ít lâu thì qua đời. Phan Khôi vào đến Sài Gòn rồi ông có làm một cuốn tiểu sử Phan Chu Trinh ( đây là theo một tư liệu của mật thám Pháp, được phát hiện và công bố gần đây trong một cuốn sách tư liệu về Phan Chu Trinh). Thời gian này Phan Khôi sống ở Lục tỉnh, có lúc ở tận Cà Mau, giành thời giờ cho việc học tiếng Pháp hơn là viết báo.

T.K.: Theo anh thì đến năm nào Phan Khôi mới thực sự bắt tay vào làm báo như một ngòi bút chuyên nghiệp?
L.N.A.: Theo tôi là năm 1928. Khoảng cuối năm 1927, Phan Khôi trở về Sài Gòn cộng tác với tờ Đông Pháp Thời Báo lúc này đã chuyển giao từ Chủ nhiệm Nguyễn Kim Đính sang tay Chủ nhiệm Diệp Văn Kỳ. Trong một bài báo mà có lẽ nữ ký giả Phan Thị Nga được Phan Khôi cung cấp tài liệu để viết về Phan Khôi trên tờ Hà Nội Báo năm 1936, thì chính Phan Khôi cũng tự nhận xét  là ngòi bút viết báo của ông trở nên  thiết thực là bắt đầu ở trên  tờ Đông Pháp Thời Báo, tức là 1928. Quả thực là trong khi đọc lại báo cũ, tôi cũng đã thấy là từ năm 1928, trên tờ Đông Pháp Thời Báo đã chuyển từ Nguyễn Kim Đính sang Diệp Văn Kỳ, thì Phan Khôi là một trong những người cộng tác rất đắc lực, bên cạnh những cây bút như Nguyễn Văn Bá, Đào Trinh Nhất, Bùi Thế Mỹ, Tản Đà, Ngô Tất Tố,v.v… Chúng ta biết là tờ Đông Pháp Thời Báo của  Diệp Văn Kỳ  là tờ báo có hơi hướng đối lập và rất nhanh chóng trở thành tờ báo có nhiều độc giả ở Sài Gòn, ở Lục tỉnh và ở cả các tỉnh miền Trung và miền Bắc. Phan Khôi viết cho Đông Pháp Thời Báo cả  trong các số thường lẫn các số « phụ trương văn chương », cả các bài thời sự xã  hội lẫn các bài văn chương triết lý và « Nam âm thi thoại », tuy nhất loạt chỉ ký C.D.(viết tắt tên hiệu Chương Dân) nên người nghiên cứu không thật chú tâm thì không nhận ra.

T.K.: Thưa anh, Phan Khôi là người nổi tiếng trên văn đàn về những cuộc bút chiến, vậy theo anh, cuộc tranh luận đầu tiên của Phan Khôi là về vấn đề gì, và tranh luận với ai?
L.N.A.: Tôi nghĩ là khá nhiều cuộc tranh luận do Phan Khôi khởi xướng nay đã bị những người nghiên cứu văn học và sử học lãng quên. Ví dụ cuộc tranh luận có lẽ là đầu tiên ông khởi ra trên Đông Pháp Thời Báo  về sử Việt cận đại. Ông cãi lại một ý kiến sai lầm mà gần lúc ấy có hai người nổi tiếng vô tình lặp lại. Một là Huỳnh Thúc Kháng trong một bài trên báo Tiếng Dân (7/4/1928) nói vua Gia Long « nhờ được binh lực nước Pháp mà làm thành cuộc thống nhứt » và một người nữa là Trần Huy Liệu trong cuốn Một bầu tâm sự in và phát hành ở Sài Gòn (rồi bị cấm) trong đó cũng có chỗ nói Gia Long thời đánh nhau với Tây Sơn đã được « Pháp quốc giúp cho hai cái tàu và một ít súng thần công ». Trong hai tài liệu nói trên, hai tác giả kia đã vô tình lặp lại luận điệu của những học giả, ký giả thực dân ; điều này theo Phan Khôi đương nhiên là có hại  nhưng cái chính là nó hoàn toàn sai sự thật. Phan Khôi đã đem tất cả các sử liệu Việt Nam và Pháp ra, cho thấy việc Bá-Đa-Lộc dẫn Hoàng tử Cảnh con Nguyễn Ánh sang Pháp vận động chính phủ Pháp giúp tàu chiến, vũ khí và quân lính, rôt cuộc ký được tờ giao ước với vua Pháp Louis XVI vào tháng 11/1787, nhưng cái hiệp ước đó chính phủ Pháp đã không thực hiện. Khi Bá-Đa-Lộc từ Paris trở về đến Pondichéry (tháng 5/1788) thì các viên Toàn quyền Pháp luân phiên ở đấy dứt khoát không chịu rút khoản tiền của chính phủ Pháp dự trù cho giao ước can thiệp kể trên ra để mua thuyền, mua vũ khí với tuyển quân gì cả ! Họ làm thế vì đã có mật lệnh từ bộ ngoại giao Pháp !  Rút cục lại thì, một là Bá Đa Lộc phải vận động vay tiền  một hai nhà giàu ở Pondichéry, hai là chính Nguyễn Ánh lúc đó cũng đã chiếm được một ít đất ở Nam Kỳ rồi, cho nên đã có tiền gửi sang và Bá Đa Lộc dùng tiền đó để mua tàu chiến và mộ một ít lính và sĩ quan Pháp đưa sang cho Nguyễn Ánh. Như vậy Phan Khôi chứng minh rằng việc mà trong quân Nguyễn Ánh có những người Pháp và có những tàu bè súng ống đó, thì đấy chẳng qua chỉ là những võ quan và lính ngoại quốc đánh thuê cho Nguyễn Ánh mà  thôi (và Nguyễn Ánh lúc đó cũng mới chỉ là một thế lực quân phiệt, chưa có quyền chính thống ở Việt Nam). Cách xem xét này trái hẳn lối nghĩ « đánh đồng » của Huỳnh Thúc Kháng ( ký  giả  này vẫn cho rằng « ..song đương thời đại đó thì vua Gia Long tức là nước Nam ta, mà những người tóc vàng da trắng mũi nhọn mắt thau tức là nước Pháp ; người Pháp với nước Pháp cũng không phân biệt là mấy »).  Có thể nói ở đây không chỉ cần tranh luận về sử liệu mà còn cần tranh luận cả về phương pháp xem xét lịch sử nữa. Đấy là một trong những chủ đề mà Phan Khôi đã nêu thành ra một cuộc tranh luận.
Một chủ đề khác, là về phương Đông và phương Tây. Phan Khôi đã thấy rằng vào lúc đó, tức những năm 20 của thế kỷ XX, có thể là những hậu quả của thế chiến thứ nhất đã gây khủng hoảng tinh thần ở Âu châu ; nhân đó một số học giả phương Đông dấy lên tư tưởng cho rằng bây giờ phương Tây lạc hậu rồi, nên quay sang học phương Đông đi là hơn. Phan Khôi, trong một số bài báo cho rằng tư tưởng ấy chẳng qua chỉ là hùa theo một số học giả phương Tây, vì họ thấy một số giá trị phương Tây lâm vào khủng hoảng sau thế chiến thứ nhất, chứ thật ra thì phương Đông lúc đó vẫn còn đang lạc hậu lắm, kém xa so với văn minh cơ khí, điện khí lúc đó của phương Tây. Phan Khôi nêu 3 điểm so sánh : 1/ Trong khi phương Tây chuộng khoa học thì phương Đông chuộng huyền học ; 2/ Trong khi phương Tây chuộng tự chủ thì phương Đông chuộng thống thuộc (ông giải nghĩa chữ « tự chủ » ở đây chính là nội dung của chủ nghĩa cá nhân ; rất khác so với những nội hàm « cá nhân chủ nghĩa » bị xuyên tạc kiểu tuyên huấn sau này) ; 3/ Trong khi phương Tây trọng sự tiến thủ thì phương Đông trọng sự an phận. Từ sự so sánh nhấn mạnh những nét đối lập của hai tư tưởng, hai lối sống như trên, Phan Khôi đi tới kết luận : phương Đông muốn tiến bộ thì phải học theo tư tưởng và lối sống Tây phương, phải « Âu hoá ». Nhìn vào một xứ sở rộng lớn cũng đang đứng trước bài toán thời cuộc là Trung Hoa, Phan Khôi khẳng định : « chúng tôi dám nói quyết rằng hễ trong nước Tàu ngày nào còn những cái học thuyết cũ của Khổng Tử thì ngày ấy sẽ còn đẻ ra những bọn như Viên Thế Khải và Trương Tác Lâm mà nước Tàu sẽ không thể nào làm xong công việc cach mạng và dựng nên một nước cộng hoà chơn chánh ».

T.K.: Thưa anh, còn một thể loại văn học khác cũng gắn liền với tên tuổi của Phan Khôi, đó là thể loại hài đàm. Vậy xin anh nói về thể loại này.
L.N.A.: Ở trên tờ Đông Pháp Thời Báo năm 1928, ông Diệp Văn Kỳ có đặt ra một mục gọi là Câu chuyện hàng ngày, lúc đầu thì do nhiều người viết, ký nhiều tên, nhưng dần dần dưới bài của mục này chỉ ký một bút danh duy nhất là Tân Việt. Sau này sẽ rõ :Tân Việt là cái tên do ông Diệp Văn Kỳ đặt, những người viết là ông Kỳ, ông Khôi, đôi khi ca ông Bá nữa  (Nguyễn Văn Bá, chủ bút ĐPTB),  nhưng trên thực tế thì người viết chính, thường xuyên là Phan Khôi. Số báo nào cũng có mục này với một bài chiếm một cột ở trang nhất. Phan Khôi chèo lái mục đó, xây dựng nhân vật Tân Việt thành một kiểu người gây hài, chuyên chọc cười thiên hạ, bàn về đủ  chuyện cổ kim đông tây, lúc thì dí dỏm, đùa cợt, lúc thì mai mỉa, chua cay. Trong làng báo tiếng Việt, có lẽ Phan Khôi là một trong những người đầu tiên viết thể tài tiểu phẩm, hài đàm này, coi nó như là một góc cho sự sáng tạo văn chương trên đất đai của báo chí, là một thứ rất mới đối với một người vốn là con đẻ của nền nho học cũ.
Để xây dựng lối văn tiểu phẩm hài đàm này, Phan Khôi đã dựa vào hai tác giả Pháp là Clément Vautel (?) và Charles de la Fouchardière (?)vốn thường viết trên các tờ Le Journal và L’œuvre ở Pháp. Ông rất chú ý học kinh nghiệm của hai nhà báo Pháp đó để tạo ra văn hài đàm trên báo chí Việt Nam. Tất nhiên phần việc nặng nhất vẫn là thể hiện bằng tiếng Việt ; ở đây có lẽ Phan Khôi được mách nước từ cuộc đổi mới ở văn học Trung Hoa những năm 1920 với việc chuyển sang dùng « bạch thoại » tức là lời nói sống động hằng ngày. Điều này thấy rõ ở việc Phan Khôi trong các « Câu chuyên hằng ngày » chú ý dùng khẩu ngữ, tận dụng phương ngữ Nam Kỳ để tạo ra sắc thái chân thật, cụ thể, sinh động của các bài viết.

Thụy Khuê: Thưa anh Lại Nguyên Ân, có thể nói là hoạt động báo chí của Phan Khôi thực sự bắt đầu trên tờ Đông Pháp Thời Báo, nhưng phải đến hai tờ Thần Chung và Phụ Nữ Tân Văn thì Phan Khôi mới viết những bài báo lớn, có tiếng vang khắp ba kỳ. Vậy xin anh nói về giai đoạn này.
Lại Nguyên Ân: Diệp Văn Kỳ chấm dứt tờ Đông Pháp Thời Báo vào ngày 22/12/1928 thì đến 7/1/1929, với chính cái bộ biên tập ấy, ông  xuất bản tờ Thần Chung ; đây là sự tiếp tục tờ Đông Pháp Thời Báo, tờ này đến cuối tháng 3/1930 thì bị cấm.  Ngày 2/5/1929, tờ Phụ NữTân Văn là tờ tuần báo tư nhân của gia đình Nguyễn Đức Nhuận - Cao Thị Khanh chào đời, có thể nói đây là một tờ tuần báo hoạt động rất hiệu quả. Trong năm 1929, Phan Khôi viết cho cả hai tờ Thần Chung và Phụ Nữ Tân Văn. Ở trên Thần Chung ông tiếp tục vai trò Tân Việt trong « Câu chuyện hằng ngày » ; vào khoảng cuối năm, ông mới bắt đầu ký là Phan Khôi trong loạt bài về Khổng giáo và thảo luận về dịch sách Phật giáo. Ngoài ra ông ấy còn viết những bài ký là Thần Chung, ký tên của tòa soạn. Ông còn có một số bài ký tên Khải Minh Tử. Tôi có tìm được ở trên tờ Quần báo bằng chữ Hán của Hoa kiều, xuất bản ở Chợ Lớn, có một bài đăng hai kỳ, ký tên là Khải Minh, nhan đề là "Chính trị gia khẩu đầu chi Khổng Tử", nghĩa là "Tên ông Khổng Tử nằm ở đầu lưỡi các nhà chính trị". Chính bài này đã được giới thiệu và trích dịch lại trên báo Thần Chung. Phan Khôi muốn lưu ý giới độc giả Hoa-Việt một vấn đề là: Liệu học thuyết của Khổng Tử có còn phù hợp với ngày nay hay không? Loạt bài 21 kỳ ở trên báo Thần Chung (từ 1/10 đến 18/11) nhan đề là "Cái ảnh hưởng Khổng giáo ở nước ta" là tác phẩm phê bình vào loại sớm của nho sĩ Việt Nam đối với di sản Khổng giáo. Bài báo này có ảnh hưởng rất lớn, cho nên sau này, nhiều nhà văn, nhà báo thường nhắc  đến bài báo này. 21 bài này có thể nói là một cái nhìn có hệ thống của Phan Khôi đối với Khổng giáo, nhất là góp lời thảo luận về chuyện Khổng giáo có còn thích dụng với các nước Đông Á, trong đó có Việt Nam, trong thời buổi đầu thế kỷ XX nữa không? Và cái ý của Phan Khôi cũng như của phần đông sĩ phu có đầu óc duy tân cải lương là Khổng giáo đã góp phần vào việc kìm hãm sự tiến bộ xã hội, kinh tế, của nhiều mặt đời sống xã hội và nhất là khi mà Khổng giáo gặp những làn sóng Âu hóa ở phương Tây tràn sang, thì Khổng giáo lại tỏ ra là thua trên mọi phương diện. Và ông ấy thấy rằng người ta sẽ phải chấp nhận những ảnh hưởng phương Tây, rồi thì những cái gì của Khổng giáo còn là khả chấp, thì rồi nó sẽ còn lại. Và cái tác dụng còn lại của nó, theo ông là chung quanh việc « tu thân », bồi dưỡng nhân cách.

T.K.: Thưa anh, đề tài nổi tiếng thứ nhì của Phan Khôi là về chữ quốc ngữ. Phan Khôi muốn xây dựng một nền văn tự quốc ngữ có tính cách thống nhất Nam Trung Bắc, vậy xin anh nói qua về những cuộc tranh luận xung quanh đề tài này.
L.N.A.: Về việc tuyên truyền phổ cập chữ quốc ngữ, ở dư luận sử học trong nước hiện giờ thường chỉ nhấn mạnh công lao của Hội truyền bá quốc ngữ. Nhưng người ta quên là hội ấy chỉ mới hoạt động từ năm 1938. Thế thì suốt từ 1865 đến 1938, không ai truyền bá chữ quốc ngữ cả hay sao ? Người ta vẫn cố tình quên hoạt động của hệ thống trường học Pháp Việt, quên đóng góp của các tờ báo quốc ngữ đầu tiên trong Nam ngoài Bắc. Trên báo chí ở Sài Gòn những năm 1920-30, tôi thấy việc dùng chữ quốc ngữ được đem ra thảo luận khá nhiều, cả trên báo chí, cả trong nghị trường.
Chúng ta biết rằng chữ quốc ngữ, tức là chữ viết tiếng Việt theo phiên âm latin, được đưa vào sử dụng đầu tiên là ở Nam Kỳ. Chính ở đây  nảy sinh một chuyện là có sự chênh lệch giữa lời nói hằng ngày của người Nam Kỳ với hệ thống vần và thanh điệu tiếng Việt đã được chuẩn định trong một số từ điển (ví dụ từ điển cổ của De Rhodes, của Bá Đa Lộc, hoặc từ điển gần hơn, của Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Paulus Của) ; thật ra thì chẳng những phương ngữ Nam Kỳ mà ngay phương ngữ Bắc Kỳ cũng chênh lệch so với các chuẩn mực kể trên. Nhưng  nếu Phan Khôi chỉ đặt vấn đề phải viết chữ quốc ngữ cho đúng (tức là đúng theo từ điển) thì đối với các nhà giáo và các vị dân biểu Nam Kỳ, vấn đề lại phức tạp hơn. Lúc đó tiếng Việt và chữ quốc ngữ được đưa thêm vào các trường sơ học ở Nam Kỳ đã gây phản ứng khác nhau trong giới phụ huynh ; có người đồng tình nhưng cũng có người e ngại tiếng Việt sẽ làm khó thêm cho khả năng tiếp nhận kiến thức khoa học của học sinh. Lại nữa, các sách tiếng Việt do Nha Học chính Đông Pháp cho biên soạn và in ở Hà Nội được dùng chung ở khắp 3 kỳ, đã gây phản cảm cho một vài vị dân biểu, họ đã đưa ra thảo luận tại Hội đồng quản hạt Nam Kỳ và nêu ý kiến xin Nha Học chính cho phép biên soạn sách học tiếng Việt riêng cho học trò Nam Kỳ ; để nhấn mạnh cái lý của đề xuất này, một vài người tô đậm cái gọi là khác biệt giữa « tiếng Nam » và « tiếng Bắc ». Nhưng đằng sau những lầm lẫn về kiến thức này, những người chủ trì tờ Thần Chungnhận ra sự tiềm ẩn của nguy cơ chia rẽ dân tộc. Lập tức Diệp Văn Kỳ rồi Nguyễn Văn Bá lên tiếng rất mạnh mẽ đồng thời vận động cho một số nhà giáo lên tiếng cũng rất mạnh mẽ rằng: không nên đặt vấn đề có hai thứ tiếng Việt mà chỉ nên đặt vấn đề là có một thứ tiếng Việt thống nhất của một dân tộc Việt Nam duy nhất mà thôi. Họ nhìn thấy rằng đằng sau ngôn ngữ là vấn đề chính trị, là sự thống nhất của dân tộc, sự thống nhất của đất nước, thành ra họ phê phán những cái tùy hứng của một số người thổi phồng những đặc điểm phương ngữ lên để định đặt ra một thứ gọi là tiếng Nam Kỳ để phân biệt với cái gọi là tiếng Bắc Kỳ, nghĩa là chia rẽ tiếng Việt ra. Họ vận dụng ví dụ của nhiều nước khác để thấy rằng các chính sách ngôn ngữ sẽ liên quan đến các chính sách về dân tộc. Cuộc thảo luận đó, báo Thần Chung đã làm rất mạnh mẽ và sau đó, cũng trên vấn đề quốc ngữ, nó chuyển sang vấn đề là viết chữ quốc ngữ thế nào cho đúng. Đây là mối quan tâm của Phan Khôi và ông lên tiếng thường xuyên về chuyện này. Như là để gây thêm chú ý, ông chọn nêu hai trường hợp, một người là Nguyễn Chánh Sắt, thật ra tên cụ là Sắc nếu mà theo đúng chữ Hán và đọc theo đúng giọng  ngoài Bắc, thì là Sắc, tận cùng bằng c. Thế mà cụ lại viết là Sắt, tận cùng bằng t.  Một người khác là Đặng Thúc Liêng, tên cụ viết chữ Hán là Liên, tức là hoa sen, thì cụ lại viết theo giọng Nam Kỳ có chữ g ở cuối là Liêng. Phan Khôi lấy hai trường hợp đó ra để nói nhà nho lão thành mà viết sai thì cũng nên sửa ; cách đề cập này làm cho hiệu quả thảo luận được mạnh và kéo theo nhiều tờ báo cùng tham gia. Vấn đề « viết chữ quốc ngữ thế nào cho đúng » còn kéo dài trên báo chí Nam Kỳ trong nhiều năm sau. Có thể nói là Phan Khôi đã châm ngòi cho khá nhiều hoạt động trao đổi như thế ở trên báo chí.

T.K.: Thưa anh, sau tờ Thần Chung, Phan Khôi sang viết cho Trung Lập báo, đây cũng là một thời kỳ sôi nổi khác của Phan Khôi?
L.N.A.: Cuối tháng 3 năm 1930, như tôi đã nói, tờ Thần Chung bị đóng cửa, Phan Khôi với Bùi Thế Mỹ, hai nhà báo quê đất Quảng, đến với tờ Trung Lập. Tờ Trung Lập trong một thời gian nhiều năm trước bị mang tiếng gần như là tiếp tay cho chế độ thực dân, đứng về phía chính quyền thực dân. Ban nãy tôi nói là ngày 2/5/1929 tại Sài Gòn ra đời tờ Phụ Nữ Tân Văn mà sau này có tiếng vang lớn trong lịch sử báo chí. Tiếp đến ngày 2/5/1930 lại một cái dấu khác của báo chí Sài Gòn : tờ Trung Lập, chuyển từ Trung Lập cũ sang Trung Lập mới. Tờ Trung Lập mới tuyên bố đoạn tuyệt với tập đoàn của tài phiệt Homberg, trở thành tờ báo hoàn toàn của người Việt và bênh vực quyền lợi của người Việt ; ngày đó Bùi Thế Mỹ chính thức làm Chủ bút Trung Lập và Phan Khôi bắt đầu cộng tác đều đặn với tờ Trung Lập liên tục cho đến tận khi Trung Lập bị đóng cửa, vào cuối tháng 5/1933.
Trên tờ Trung Lập này, ngay sau khi những cuộc biểu tình lớn nổ ra và bị đàn áp ở Lục tỉnh và ở Sài Gòn, tờ báo này đã lên tiếng tranh luận với tờ Đuốc Nhà Nam để phê phán những người đứng đầu  đảng Lập Hiến Nam Kỳ đã im lặng trốn tránh một cách rất thiếu trách nhiệm, không xứng đáng với vai trò của những dân biểu. Chính Phan Khôi đã viết loạt bài bút chiến đó.
 Trên tờ Trung Lập cũng năm 1930 đó, Phan Khôi đặt vấn đề cải cách phải bắt đầu từ đâu ? Theo ông, kinh nghiệm Nhật Bản, kinh nghiệm Trung Hoa đều là phải cải cách từ văn hoá, học thuật, tư tưởng. Cũng trong năm 1930, cùng lúc trên tờ Phụ Nữ Tân Văn và tờ Trung Lập, Phan Khôi tổ chức tranh luận với Trần Trọng Kim, với Phạm Quỳnh, với Huỳnh Thúc Kháng về các vấn đề Nho giáo, về hệ tư tưởng, về ngữ pháp tiếng Việt. Có rất nhiều vấn đề được ông ấy triển khai trên hai tờ báo đó, các bài tham gia tranh luận được nhiều tờ báo khác trong Nam ngoài Bắc đăng lại hoặc có bài hưởng ứng.

T.K.: Và trên tờ Trung Lập này thì Phan Khôi cũng không bỏ qua thể loại hài đàm là một thể loại mà Phan Khôi viết lâu dài nhất?
L.N.A.: Về mặt hài đàm, Phan Khôi đã xuất hiện trong vai Tân Việt trên tờ Đông Pháp Thời Báo và Thần Chung, từ năm 1929 đến tháng 3/1930. Trên tờ Trung Lập, Phan Khôi mở ra mục gọi là "Những điều nghe thấy", cũng mỗi số một bài, hầu như xuất hiện liên tục từ 2/5/1930 cho đến số cuối cùng vào tháng 5/1933.  Vào khoảng 10 kỳ đầu, ông ký là Tha Sơn, sau đổi là Thông Reo. Bút danh Thông Reo này đi với đời làm báo của Phan Khôi rất lâu, tôi nhớ năm 1955-56 ông còn có một số bài châm biếm đăng trên tờ Văn Nghệ ở Hà Nội, ký là TờHôngReo. Tôi chưa đếm chính xác, nhưng hẳn phải có tới bốn, năm trăm bài ký Thông Reo trong mục hài đàm "Những điều nghe thấy" trên tờ Trung Lập suốt ba năm 1930-33.
Nhân đây xin nói một việc. Một việc lầm lẫn đáng tiếc. Có một tuyển tập tác phẩm của Nguyễn An Ninh được xuất bản thành sách ở thành phố Hồ Chí Minh hồi giữa những năm 1990. Phần đầu tập sách đó có in bài của khá nhiều nhà chính trị hàng đầu viết về Nguyễn An Ninh ;  nhưng ở cuối của phần in sưu tập hoặc tuyển tập tác phẩm của Nguyễn An Ninh đó, thì người biên soạn lại lấy 45 bài ký Thông Reo trong mục Những điều nghe thấy của báo Trung lập, nghiễm nhiên coi đó là tác phẩm của Nguyễn An Ninh ! Đó, xin nhắc lại, là một sự lầm lẫn đáng tiếc, bởi vì vào khoảng cuối 1932-đầu 33, thì Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tạo có tham gia tờ Trung Lập thật, nhưng mà bút danh Thông Reo ở mục "Những điều nghe thấy" thì vẫn là của Phan Khôi chứ không thể là của Nguyễn An Ninh được.
 Theo tôi, có thể nói Phan Khôi là một trong những nhà báo, nhà văn Việt Nam viết thể loại hài đàm vào loại sớm nhất và phong phú nhất trên báo chí tiếng Việt. Tất nhiên là bên cạnh ông và sau ông cũng còn nhiều người khác viết hài đàm thành công như Ngô Tất Tố, Phùng Tất Đắc, v.v... Nếu nói cái chỗ đứng của nhà văn trên báo chí, tôi cho rằng sắc thái nhà văn làm văn trên đó thì chính là cái thể tài hài đàm này. Nó không đơn giản chỉ là chỗ chọc cười, mà nó còn là mảnh đất trên đó người viết phải tìm cách xây dựng một nhân vật lệch ; chứ không phải  nhân vật chính thống, nhân vật chính diện. Là một nhân vật lệch, nhưng lại nói với thiên hạ bằng nhiều cung bậc giọng đùa khác nhau, về những sắc thái khác nhau của đời sống xã hội, chính trị. Phần thành công của văn hài đàm nằm ở vai lệch đó của người cầm bút.

T.K.: Trước khi từ giã, xin hỏi anh lại một lần nữa là khi lựa chọn công việc sưu tầm khó khăn này, chắc hẳn anh có một chủ đích gì muốn gửi gấm cho độc giả ?
L.N.A.: Tôi nghĩ là đối với một cây bút đã bị lãng quên nghiêm trọng như trường hợp Phan Khôi thì công việc tìm hiểu trở lại này cũng phải lâu dài. Và tôi hành động theo phương châm tìm hiểu được tới đâu sẽ chia sẻ với đồng nghiệp và bạn đọc đến đấy. Kết quả tìm hiểu hiện giờ cho tôi thấy là thời gian hoạt động sung sức nhất của ngòi bút Phan Khôi là từ khoảng 1928 đến 1936. Hiện tôi nghĩ như vậy và tôi đang làm việc cung cấp cho người nghiên cứu và cả cho bạn đọc quan tâm, những kết quả, những văn bản, có thể nói là ở mức nhiều nhất tốt nhất có thể có được, để mà cùng tìm hiểu, cùng theo dõi hoạt động của ngòi bút Phan Khôi. Đây là một trong những việc mà tôi nghĩ là rất đáng làm, bởi vì ông là một trong những tác gia rất đáng kể trong lịch sử báo chí, trong lịch sử tư tưởng cũng như trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ thứ XX, một tác gia mà cái di sản, do nhiều lý do khác nhau về thời sự chính trị, cho đến những lý do về khả năng tư liệu, thì đã gần như là trở nên một người xa lạ trong con mắt của thế hệ hậu thế. Cho nên là nhìn về quá khứ, nếu như không có những công tác sưu tầm để công bố lại, thì những thế hệ sau có thể không biết Phan Khôi là ai và không còn biết có một Phan Khôi trong lịch sử báo chí, trong lịch sử tư tưởng, lịch sử văn học nữa. Công việc tôi làm có ý nghĩa như vậy, để cứu vãn một di sản không đáng mất và để chúng ta khỏi quên một trong những nhà báo, một trong những nhà văn, một trong những nhà tư tưởng rất quan trọng của lịch sử văn học, lịch sử báo chí, lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XX.

T.K.: Xin thành thật cám ơn anh Lại Nguyên Ân.



Thụy Khuê, RFI,
tháng 9/20005
Lại Nguyên Ân đọc lại và bổ sung tháng 1/2006


© Copyright Thuy Khue 2005-2006























Tham khảo thêm về tác giả Phan Khôi




















SAO LẠI “TÂM HỒN VONG BẢN” !?
* MINH DIỆN *


Quan tài cha tôi đặt trên chiếc xe song mã màu đen. Đó là loại quan tài xấu nhất được mua phân phối giá hai đồng bảy hào năm xu. Sáu mảnh gỗ tạp, bào qua loa, vênh vẹo đóng đinh qua loa, không sơn phết,tấm thiên,tấm địa và bốn góc đều hở.Trên nóc quan tài chỉ có ba nén nhang cắm vào quả trứng luộc để trong chén cơm. Không nến, không hoa. Không có một vòng hoa, một bông hoa nào trong đám tang cha tôi. Ngoài con ngựa già kéo xe, chỉ có 10 người đưa đám, kể cả hai nhân viên dịch vụ mai táng và người đánh xe ngựa. Người bạn, người đồng nghiệp duy nhất của cha tôi là nhà thơ Yến Lan, còn lại là người trong gia đình. Chúng tôi bấu víu vào nhau, đẩy chiếc xe ngựa lăn bánh chậm chạp ra khỏi con hẻm, đi về hướng cửa Đông. Người hàng phố đứng nhìn đám tang vội vã quay đi. Không ai dám tới dự và đưa cha tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng. Họ đều sợ liên lụy . Lúc cha tôi còn sống họ sợ đã đành, giờ cha tôi đã chết mà họ vẫn sợ.
Chiều mùa Đông gió mưa hun hút, lạnh tê tái. Chiếc xe ngựa mầu đem và một dúm người mẩu đen vón vào nhau líu rứu ra hướng cửa Đông. Mẹ tôi bảo dừng lại một phút cho cha tôi chào Hà Nội một lần cuối. Mẹ tôi và chúng tôi thay mặt cha tôi quỳ xuống lạy ba lạy. Tôi nhớ những ngày mới về tiếp quản Thủ Đô, cha tôi thường dẫn chúng tôi đi thăm năm cửa ô và ba sáu phố phường Hà Nội, kể cho chúng tôi nghe về cụ ngoại tôi, Tổng đốc Hoàng Diệu..Ông Phan An vừa lom khom chậm rãi bước đi trong con hẻm phố Thuốc Bắc (Hà Nội) vừa kể về đám tang của cha mình, nhà báo, nhà văn Phan Khôi. Ông cứ nhắc đi nhắc lại, giọng nói như nấc lên:
- Không có đám tang nào ảm đạm như đám tang cha tôi! Không có đám tang nào buồn thảm, thê lương như đám tang cha tôi! Một lần nữa Phan An lại từ Đà Nẵng ra Hà Nội, tìm về căn nhà số 73 hẻm phố này, nơi cha ông đã sống những ngày cuối cùng. Ông tìm về quá khứ, tìm về nỗi đau xót mà gần hết cuộc đời vẫn chưa thể nguôi ngoai được.
Cụ Phan Khôi sinh ngày 6-10-1887 tức 20-8 năm Đinh Hợi, ở làng Bảo An, huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Ông nội cụ là Phan Nhu, thân phụ là Phan Trần đều là bậc trí thức nổi tiếng. Mẹ cụ là Hoàng Thị Lê con gái của Tổng đốc Hà Nội, Hoàng Diệu, người đã chỉ huy quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng. Khi Hà Thành thất thủ, ông tự vẫn ở Võ Miếu ngày 25-4-1882 ,quyết không để rơi vào tay giặc . Chú ruột Phan Khôi là Phan Dinh cha của nhà cách mạng Phan Thanh và Phan Bôi, tức Huỳnh Hữu Nam ,nguyên Bộ trưởng bộ nội vụ chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Phan Khôi có người em gái là mẹ vợ cùa nhà văn Vũ Ngọc Phan và tướng Nguyễn Sơn. Với một gia thế như vậy nên Phan Khôi được học hành tử tế, và với bản chất thông minh nên cụ là một người đa tài, và với tài năng vượt trội , cụ là một người mạnh mẽ, bộc trực không chịu cúi luồn. Người thày đầu tiên của Phan Khôi là Trần Qúy Cáp. Chính con người thông minh lỗi lạc, ý chí kiên cường nhất huyện Điện Bàn này đã truyền cho Phan Khôi tri thức và lòng yêu nước nồng nàn. Năm 1906, mười chín tuổi, Phan Khôi tốt nghiệp tú tài, và hai năm sau, 1908 ông phải chứng kiến cái chết chém ngang lưng của thầy mình. “Lòng căm thù như ngọn lửa đốt cháy trái tim” Phan Khôi quyết nối bước thày, tham gia phong trào Duy Tân,theo các cụ Phan Chu Chinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng chống thực dân Pháp.Ông bị bắt giam gần một năm rồi được tha. Ông quyết định dùng ngòi bút và nghề báo đề chiến đấu. Phan Khôi kiến thức uyên bác, hiểu biết vô cùng phong phú, tầm hoạt động rộng lớn, đa phương trong sự biến thiên của lịch sử . Chưa ai có thể tổng kết được thân thế sự nghiệp Phan Khôi, nhưng theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, thì : “ Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí, nhưng, qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề : phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền. Ông cũng là một nhà Hán học và Trung quốc học am hiểu những vấn để của xã hội Trung quốc đương thời, ông là một dịch giả đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên chúa ra tiếng Việt , một nhà Việt ngữ học cả ở phần lý thuyết lẫn thực hành, một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học .Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ, ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận. Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng trí thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX ,nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Pham Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng...ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho trí thức!” Phan Khôi là một trong những nạn nhân của của “ Cuộc đấu tranh chống Nhân Văn- Giai Phẩm” bắt đầu từ năm 1957. Tuy ông không phải đi tù như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, nhưng ông đày đọa khổ sở còn hơn tù. Ngày 16-1-1959, ông đã ra đi vĩnh viễn thoát khỏi sự đọa đày đó. Năm 2004, trên các báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Tiền Phong, Người Hà Nội, lần lượt đăng bài phỏng vấn nhà thơ Tố Hữu của Nhật Hoa Khanh. Theo những bài báo đó, năm 1997, tại 76 Phan Đình Phùng ,một trong những biệt thự đẹp nhất Hà Nội, của Pháp để lại , trị giá 7 triệu đô la nhà nước cấp cho Tố Hữu, ông đã ca ngợi hết lời nhóm “Nhân Văn- Giai Phẩm, trong đó có Phan Khôi. Ông nói : “ Trần Đức Thảo là một mẫu mực của lòng say mê nghiên cứu sáng tạo vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Phan Khôi , Trần Dần, Lê Đạt là những trí thức lớn, những cây bút hạng nặng trong đội ngũ trí thức cách mạng!”
Không biết Tố Hữu có nói như vậy thật không? Nghe nói khi đã rời quyền lực ông đã sám hối. Nhưng bà Vũ Thị Thanh, nguyên phó ban tuyên huấn trung ương , phu nhân nhà thơ Tố Hữu thì phủ nhận chuyện đó. Nếu đúng thì nó hoàn toàn mâu thuẫn với bốn mươi năm trước, kể từ 1977 , khi Tố Hữu còn trẻ, nắm trọng trách công tác tư tưởng, văn hóa,văn nghệ của đảng . Ngày ấy ông đã “làm bao nhiêu số phận, bao nhiêu cuộc đời bị rạn vỡ, bị lưu đày”(Phùng Cung). Lời Tố Hữu kết tội Trần Đức Thảo, Phan Khôi và nhóm “Nhân văn-Giai phẩm” sau đây là sự thực, dẫu ma quỷ cũng không thề chối. Tố Hữu đã viết : “ Lật bộ áo “Nhân Văn –Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám , lưu manh ,Trotkit, địa chủ, tư sản ... quần tụ trong những tổ quỷ với gái điếm, bàn đèn, sách báo phản động, đồi trụy và phim ảnh khiêu dâm...” (Qua cuộc đấu tranh chống nhóm “Nhân Văn-Giai Phâm”, tác giả Tố Hữu, Nhà xuất bản Văn Hóa, 1958, trang 9) Và : “ Trong cái công ty phản động “ Nhân Văn- Giai Phẩm” ấy, thật sự đủ mặt các loại “biệt tính” ,từ bọn Phan Khôi,Trần Duy mật thám cũ của thực dân Pháp đến bọn gián điệp Thụy An; từ bọn Trotkit Trương Tửu , Trần Đức Thảo đến bọn phản Đảng như Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt. Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ, tư sản phản động cố giữ lập trường của giai cấp mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ!” (Trang 17sđd)
Theo chỉ đạo của “Anh Lành” bọn cơ hội nhao vào đánh hội đồng nhóm “Nhân Văn- Giai Phẩm” nói chung, Phan Khôi nói riêng. Phê phán tác phẩm văn học, báo chí chán quay suy diễn, bịa đặt ra đủ thứ chuyện, chà đạp lên cả hương hồn cha mẹ, tổ tiên người ta. Có những việc đổi trắng, thay đen, khi sự thật lịch sử vẫn còn đang sờ sờ trước mắt. Phan Khôi với truyền thống yêu nước cùa gia đình,đã tham gia phong trào chống Pháp từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, từng bị bắt đi tù mà bảo ông làm mật thám cho Pháp thì trời đất nào chứng? Ông viết hàng ngàn bài báo phê phán chế độ cũ, cổ vũ sự cách tân, bao nhiêu ruộng vườn quê nhà ông hiến hết cho cách mạng, mà bảo ông cố giữ lập trường giai cấp địa chủ , tư sản ?
Sau cách mạng tháng 8-1945, Hồ Chủ tịch trọng tài đức của Phan Khôi, trực tiếp viết thư mời ông ra Hà Nội góp sức xây dựng chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ. Phan Khôi đã mang cả gia đình theo cụ Hồ lên chiến khu Việt Bắc, nằm gai nếm mật tham gia kháng chiến suốt mười năm trời. Thế mà khi ông tham gia phong trào “Nhân văn – Giai phẩm” , bị Tố Hữu quy là mật thám thì, nhà văn Nguyễn Công Hoan hùa theo, xuyên tạc rằng Phan Khôi cầm đầu tổ chức Việt Nam quốc dân đảng chống phá cách mạng ở Quảng Nam. Nhà văn đáng kính này viết : “ Hắn phụ trách chi bộ Việt Nam quốc dân đảng Quảng Nam chống phá cách mạng điên cuồng. Sau đó hắn bèn ra Hà Nội họp với Trung ương đảng bộ Việt Nam quốc dân đảng của hắn, để đề nghị một chương trình chống chính phủ!”
Nguyễn Công Hoan luôn dùng từ “hắn” để phỉ báng , mạt sát Phan Khôi : “ Hắn xin vào yết kiến cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc đó là Bộ trưởng nội vụ nhưng cụ không tiếp!”. Năm 1957, Phan Khôi thọ 70 tuổi, Nguyễn Công Hoan làm bài thơ “mừng” (!) người bạn văn chương như sau:


Nhà báo Phan Khôi khốn kiếp ơi!
Thọ mi mi chúc chớ hòng ai,
Văn chương! Đù mẹ thằng cha bạc!
Tiết thào! Tiên sư cái mẽ ngoài!
Lô-gich trước cam làm kiếp chó,
Nhân văn nay lại hít gì voi!
Sống dai thêm tuồi cho thêm nhục!
Thêm nhục cơm trời chẳng biết gai!



Có thể nào ngờ đó là thơ của tác giả “Bước đường cùng” và “ Kép Tư Bền”? Qủa thật công tác tư tưởng của ông Trường Chinh và công tác tuyên huấn của ôngTố Hữu quá tài tình! Họ đã biến nhà nho Nguyễn Công Hoan thành một kẻ bỗ bã đểu cáng đáng khinh bỉ. Mà đâu chỉ một mình Nguyễn Công Hoan? Đào Vũ, Tế Hanh, Chế Lan đều như vậy. Phan Khôi hai đời vợ, bà trước tám người con bỏ mất một còn 7, bà sau được 3, tổng cộng 10 người con. Ông có bài thơ tức cảnh gia đình mình như sau:


Hai nhà cộng lại có mười con
Năm gái năm trai nhắm cũng tròn
Gả, cưới tạm yên nguyền một nửa
Sữa răng riêng mũi máu ba hòn
Tự trào thôi hẳn còn chia rẽ
Nhân cách vẫn mong được vẹn tròn
Bé nhất Lang Sa mới ba tuổi
Tên này ghi cái nhục sông non



Năm 1956 sang Trung Quốc dự kỷ niệm 100 năm Lỗ Tấn cùng với Tế Hanh, Phan Khôi đọc cho Tế Hanh nghe, và nói: “Tôi đặt tên thằng này là Lang Sa, để nhớ cái hận thực dân Pháp!”. Mà ngay trong bài thơ tác giả đã nói rõ ý đó rồi còn gì. Vậy hai năm sau, khi Phan Khôi bị đánh thì Tế Hanh bịa ra chuyện thế này: “Trong chuyến đi Trung Quốc, Phan Khôi nói với tôi, thằng này sinh ngày 9-3-1945, ngày Nhật đảo chính Pháp, tôi đặt tên nó để cho những người nào vui mừng việc Nhật lật đổ Pháp biết tay. Pháp sẽ trở lại cho coi”. Và Tế Hanh kết tội Phan Khôi: “Phan Khôi đã đáp lại lòng thù ghét của nhân dân ta đối với thực dân Pháp như thế. Chỉ có một ‘tâm hồn vong bản’ loại Phan Khôi mới mong Pháp quay trở lại!”. Chế Lan Viên thì có lần chỉ thẳng tay vào mặt
Phan Khôi quát: “Đừng cậy già mà láo!”. Còn Đoàn Giỏi thì vu cho Phan Khôi nói xấu đảng, Bác Hồ vì gọi cây cứt lợn là cây “cộng sản”!
Sự xuyên tạc, vu khống, nhục mạ được cất lên từ miệng những người được coi là hiền lành tử tế như thế mới kinh khủng làm sao. Ông Phan Lang Sa tâm sự: “Khổ tâm nhất là anh Phan Thao. Anh ấy trong Ban biên tập báo Nhân Dân mà ngày nào cũng phải nghe , phải đọc những lời nhục mạ vu khống cha mình!” Không chịu nổi , Phan Thao phải xin từ nhiệm và Phan Lang Sa phài đổi tên thành Phan An. “Xin cầu lấy sự bình an!” Cụ Phan Khôi bị đuổi khỏi ngôi nhà 51 Trần Hưng Đạo nơi cụ ở từ năm 1955. Đuổi,tôi dùng đúng nghĩa đen. Trần Duy kể: Một hôm tôi 51 Trần Hưng Đạo thì gặp một quan chức có quyền lực chỉ vào Phan Khôi
quát:
- Tống cổ thằng già này ra khỏi đây!
Phan Khôi lảo đảo bước ra cổng. Vợ ông, bà Huệ ôm chăn mền , sách vở. Gặp tôi ông Phan Khôi bảo :
- Thôi, anh về đi. Buồn không cần thiết!”
Gia đình Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo , phải dọn về số 10 Nguyễn Thượng Hiền. Rồi lại bị đuổi, phải dọn tới 73 phố Thuốc Bắc. Bà Bích Thủy , con gái nhà thơ Yến Lan, tả chỗ ở mới cùa gia đình cụ Phan Khôi như sau : “Gia đình tôi ở phía dưới, giữa 5 gia đình khác, kế vách là gia đình cụ Khôi. Phía ngoài cầu thang của hộ bà Cán, đến bể nước công cộng.Căn dành cho gia đình cụ là một cái buồng 9 m2, bằng 3/4 căn nhà tôi, có thể đấy là nơi thờ cúng của chủ trước. Giữa nhà tôi và nhà cụ là một hẻm nhỏ , to bằng cái bàn cờ tướng. Tôi thường ngồi cạnh cửa sổ nhà cụ giặt giũ”
Căn nhà cụ Phan Khôi vắng lặng , xét nét , xa lạ không ai lui tới vì cụ bị coi là cầm đầu nhóm Nhân
văn- Giai phẩm. Cụ vốn gầy yếu, bị hành hạ sức khỏe càng suy sụp. Nhiều lần cụ xin đi khám bệnh nhưng không ai ký giấy cho đi khám đành phải chịu. Cụ thường ôm ngực ho từng cơn, và chống gậy ra giếng nước công cộng rửa chân lúc xế chiều. Rồi cái buổi chiều mùa đông rét mướt 16-1-1959 đó, người chung nhà không nhìn thấy cụ Phan Khôi. Đó là lúc cụ nằm úp mặt vào tường, ho cơn ho cuối cùng, thổ những giọt máu tươi ra quyển sách đang đọc dở trên tay. Chiếc xe ngựa chở chiếc quan tài phủ bạt lăn bánh nghiêng ngả ra nghĩa địa Hợp Thiện phía Đông Hà Nội. Đưa cụ đến nơi an nghỉ cuối cùng chỉ có vợ con cụ và nhà thơ Yến Lan tác giả “ Bến Mi Lăng”. Bà Bích Thủy, con gái nhà thơ Yến Lan kể lại:
“Sáng hôm sau nghe người ta nói, có thằng cha nhà thơ
nào đó dám cả gan đưa đám Phan Khôi. Ba tôi bảo đó là đạo lý của người Việt, nghĩa tử là nghĩa tận!”. Một nấm mồ nông vùi người con Quảng Nam nơi đất Bắc, trên đơn sơ một mảnh ván viết hai chữ Chương Dân.Năm tháng qua đi nấm mộ ấy chìm trong cỏ dại và xương cốt cụ Phan Khôi phiêu bạt nơi nào không biết nữa. Vừa qua con cháu cụ đành gói một nắm đất về đặt trong lòng ngôi “mộ gió” ở quê nhà. Hơn nửa thế kỷ qua,bây giờ người ta đã nhìn nhận, đánh giá một cách công bằng, trả lại danh dự cho những trí thức, nhà văn, nhà thơ trong phong trào Nhân văn - Giai phẩm. Hầu hết những nhà văn, nhà thơ, và trí thức trong nhóm Nhân văn –Giai phẩm đã được nhận giải thưởng, nói như nhà thơ Trần Mạnh Hảo, là để tạ lỗi. Nhưng cụ Phan Khôi vẫn bị lãng quên. Tôi không hiểu đàng sau đó có những lý do gì, mà đồng hương xứ Quàng (ông Tế hanh ở Quảng Ngãi), cùng tập kết ra Bắc, nhưng "Nhớ con sông quê hương" đến mức nào, nhớ kiểu gì, mà lại cố tình nói điêu, 'nâng quan điểm', ám hại ông Phan Khôi (Quáng Nam) 'báo cáo cấp trên' quy chụp, bịa chuyện: "Chỉ có một ‘tâm hồn vong bản’ loại Phan Khôi...". Nay, người ta thương tiếc, cảm phục Phan Khôi, ít ai nhắc tới Tế Hanh! Với thân thế và sự nghiệp của cụ, với những tác phẩm báo chí và văn học đã tái xuất bản trong những năm gần đấy, cụ xứng đáng nhận giải thưởng hơn rất xã hội minh bạch đã ghi nhận.

M.D
















trên trang Viet-studies

Phỏng vấn Lại Nguyên Ân


7/ Nắng được thì cứ nắng 

Phan Khôi: từ Sông Hương tới Nhân Văn




























Tính cách Phan Khôi


Ngày 6.10, Hội thảo khoa học “Phan Khôi và những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa dân tộc” do UBND tỉnh, Sở VH-TT&DL tổ chức nhân kỷ niệm 127 năm ngày sinh của ông - một trong những nhà trí thức xuất sắc, có những đóng góp quan trọng và có ảnh hưởng lớn trên nhiều lĩnh vực báo chí, lịch sử, văn học, tư tưởng Việt Nam thế kỷ XX.


Phan Khôi 
(1887-1959)

Hội thảo khoa học “Phan Khôi và những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa dân tộc” sẽ tập trung vào 2 nhóm nội dung chính. Theo đó, hội thảo đưa ra các vấn đề về nhân thân và con người Phan Khôi (thuộc phương diện nghiên cứu sử học) và các vấn đề về sự nghiệp học thuật của Phan Khôi với tư cách một tác gia (thuộc phương diện nghiên cứu văn học sử, ngữ học, lịch sử báo chí, lịch sử tư tưởng). Ông Đinh Hài, Giám đốc Sở VH-TT&DL, đồng thời là Trưởng ban Tổ chức, cho biết, mục đích của hội thảo nhằm làm rõ những đóng góp của ông cho nền văn hóa, học thuật, báo chí Việt Nam, góp phần vào việc khẳng định Phan Khôi là một nhà yêu nước, một nhà văn hóa của Quảng Nam và của Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. “Từ hội thảo sẽ đề xuất bước đầu các giải pháp cần thiết để lưu giữ lâu dài và phát huy giá trị di sản văn hóa của Phan Khôi theo những hình thức phù hợp với cơ chế quản lý và các quy định hiện hành, phục vụ tốt hơn nữa công cuộc phát triển văn hóa của tỉnh nhà. Từ tấm gương Phan Khôi, phát huy truyền thống tốt đẹp của người xứ Quảng, tạo nên động lực tinh thần mới trong công cuộc xây dựng quê hương” - ông Hài cho biết.

Trong cuốn Từ điển lịch sử Việt Nam, xuất bản năm 1989, học giả William J. Duiker viết rằng: “Phan Khôi là học giả tiến bộ và là người trí thức trong thế kỷ XX của Việt Nam”. Trọn cuộc đời mình, Phan Khôi đã lựa chọn con đường để tự trở thành một nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa xuất sắc. Trước khi dấn thân vào con đường văn nghiệp, Phan Khôi chứng tỏ mình là một kẻ sĩ tiêu biểu, là con người của thời đại, sinh ra từ các trào lưu yêu nước như Duy tân, Đông du, Đông Kinh nghĩa thục. Truyền thống của làng quê văn hiến, của gia đình cộng thêm tố chất thiên bẩm đã hun đúc nên phẩm chất và bản lĩnh của một con người Quảng Nam “thứ thiệt” sừng sững hơn nửa thế kỷ.


Phan Khôi sinh năm 1887 tại làng Bảo An, Điện Quang (Điện Bàn), là con của Phó bảng Phan Trân (Tri phủ Diên Khánh, Khánh Hòa) và bà Hoàng Thị Lệ (con gái Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu). Ông mất năm 1959 tại Hà Nội. Phan Khôi là học trò xuất sắc của cụ Trần Quý Cáp, cũng là người Điện Bàn. Mười chín tuổi, Phan Khôi thi đỗ Tú tài Hán học, sau đó ông tự học Quốc văn và Pháp văn. Trong bối cảnh xã hội ở Quảng Nam và Trung Bộ thời kỳ 1906 - 1908, ông là nhân vật tham gia tích cực Phong trào Duy tân, sau đó là Phong trào Đông du. Với các hoạt động yêu nước, đầu năm 1908, Phan Khôi cùng Phan Châu Trinh ra Bắc, chuyển bài “Thư gửi Chính phủ Pháp” do Phan Châu Trinh soạn thảo cho Viện Viễn Đông Bác Cổ đăng trên tạp chí, gây tiếng vang lớn. Năm 1908, nhân phong trào kháng thuế cự sưu, thực dân Pháp bắt giam Phan Khôi. Năm 1911, Phan Khôi lại bị bắt giam lần nữa tại nhà lao Hội An, kết án ba năm tù với tội danh “chống đối nhà nước bảo hộ”. Ra tù, ông hoạt động trên lĩnh vực báo chí và văn học ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội, trở thành nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu lý luận phê bình, dịch giả và là học giả uyên bác với những bút danh như Chương Dân, Tú Sơn, Thông Reo, Tân Việt...

Mở đầu những trào lưu

Phan Khôi cũng là người Việt Nam đầu tiên lên tiếng công khai trên báo chí về tác hại kìm hãm phát triển xã hội của Nho giáo; bản chất xã hội của Nho giáo, những hạn chế và sự kế thừa phát huy mặt tích cực của truyền thống Nho giáo. Ông thể hiện sắc sảo những tư tưởng đổi mới và ủng hộ nữ quyền. Nhân có hiện tượng từng gây chấn động xã hội, gọi là “dịch tự tử” của nhiều nam nữ thanh niên, đặc biệt là những cô gái trẻ vào những năm 20 - 30; Phan Khôi viết bài “Luận về phụ nữ tự sát” đăng trên Phụ nữ tân văn tháng 9.1929. Ông phân tích nguyên nhân và ý nghĩa của những cái chết tự nguyện ấy là “đáng kính đáng trọng”. Đó là sự tuẫn tiết vì mình và vì người, lên án “cái xã hội giết người”, là “cái từ tâm ấy, cái khổ hạnh ấy, tôi nhìn rằng nếu chẳng phải là bậc thánh triết thì cũng là của trang chí sĩ nhân nhân”. Những quan niệm về dân quyền và chính thể dân trị, chính khách và quan chức hay phê phán chủ nghĩa thực dân Pháp, thái độ đối với các tôn giáo ở khía cạnh văn hóa đức tin… cũng là những vấn đề để Phan Khôi bộc lộ là một nhà tư tưởng tiến bộ, xuất sắc…

Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, sử học cho rằng, lịch sử đã chọn Quảng Nam làm nơi đi đầu và đồng thời cũng chọn con người Quảng Nam làm những con người đi đầu trong nhiều trào lưu. Phan Khôi đủ đầy tài năng để có những bước đi tiên phong trong nhiều thể loại văn chương, góp phần làm thay đổi diện mạo tiến trình văn học đất nước. Năm 1932, trên Phụ nữ tân văn, ông đưa ra một “lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”. Ấy là bài Tình già - khởi đầu cho phong trào Thơ mới. “Và một ngày kia cuộc cách mạng về thi ca đã nhóm dậy. Ngày ấy là ngày 10.3.1932. Lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ hiện ra một lỗ thủng. Ông Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận” (Thi nhân Việt Nam). Nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Phan Khôi là một nhà cựu học nhưng rất mới, đưa ra nhiều cái mới mà đến những nhà tân học cũng cho là mới quá… Phan Khôi là nhà văn xuất sắc nhất trong phái nho học và trong văn giới Việt Nam, dù thuộc phái già hay phái trẻ. Tuy nhiều người không đồng ý nhưng ai cũng phải công nhận ông là một tay kiện tướng”.

Theo GS.Nguyễn Đăng Mạnh, “Phan Khôi còn là một trong số người viết phê bình văn học đầu tiên ở nước ta, lại từng đóng vai ngự sử trên văn đàn để “dọn vườn “, “đãi sạn” cho sách, báo đương thời, nên cái gì cũng phải đọc, thượng vàng hạ cám, từ sách của Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng... đến các bài báo của những cây bút non nớt còn viết sai ngữ pháp, chính tả”. Ông là nhà Hán học uyên thâm, vừa tự mày mò học tiếng Pháp, tự tích lũy vốn tri thức rất rộng. Bởi như ông nói, “xét cho đến nơi, tìm chứng cứ ở sự thật”, chính lối nghĩ này đã ảnh hưởng lớn đến phong cách viết báo, luận lý học…”. Cái bản chất “hay cãi” của người xứ Quảng, theo như lý giải của Phan Khôi “sự cãi nhau về học vấn, chẳng qua là sự bênh vực cho Chơn lý”, cộng thêm bản chất tư tưởng luôn hướng về cái bình dân, thông thái mà vẫn dân dã “tôi chỉ là một viên tiểu tướng của đạo quân bình dân tư tưởng đi trước dẹp đường”, kiên quyết đấu tranh cho quyền dân chủ của con người, đã hình thành nên phong cách làm báo của Phan Khôi. Ấy là sự rõ ràng, khúc chiết, thẳng thắn và sẵn sàng tranh luận. Phong cách ấy, đến bây giờ vẫn còn nguyên tính tươi mới để thế hệ sau tiếp tục kế thừa và học tập.

LÊ QUÂN










  Phan Khôi & Sĩ Khí Người cầm Bút

Vương Trùng Dương

Trong bài viết của nhà văn Xuân Đỗ: “Nhìn lại các danh sĩ, danh nhân Quảng Nam mà đặc biệt là “Tứ Kiệt Quảng Nam” (Phan Châu Trinh, Trần Quí Cáp, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng), thì Phan Khôi có khuôn mặt đặc thù mang nhiều nét ưu tư khắc khổ... Một kẻ sĩ khí tiết, nghèo không than, bại không nản, bị coi thường không giận, bị xử oan không oán, bị chèn ép không bi phẫn, sống an nhiên tự tại, quyết không khuất phục uy quyền, không đầu hàng trước cái ác, không về phe cái xấu, không thích chốn quan trường, chẳng bon chen nơi thị tứ, mà chỉ đem sở trường, sở học chăm làm cái gì đó làm di sản cho lớp hậu sinh”.

Những lời bày tỏ của anh Xuân Đỗ cũng giống như cái nhìn của nhiều kẻ hậu sinh trên mảnh đất “cày lên sỏi đá” nhưng tự hào, hãnh diện với về các bậc tiền bối đã để lại tấm gương cao đẹp cho quê hương.


*


Sông Vu Gia bắt nguồn từ vùng núi ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Nam. Phần thượng nguồn ở Phước Sơn được gọi là Đăk Mi, sông chảy theo hướng Nam lên Bắc. Khi qua địa bàn phía Đông huyện Nam Giang, sông được gọi là sông Cái. Tại đây, nó nhận một chi lưu lớn ở phía Tây (tả ngạn), đó là sông Giằng. Bắt đầu khi chảy sang huyện Đại Lộc, sông được gọi là Vu Gia và có dòng chảy theo hướng Đông Tây. Sông Vu Gia chảy đến địa phận xã Đại Hòa ở phía Tây Đại Lộc thì tách ra làm hai dòng, một là sông Yên chảy lên phía Bắc hội lưu với sông Cầu Đỏ, một đi về phía Nam hội lưu với sông Thu Bồn.

Gò Nổi được bao bọc bởi sông Thu Bồn và sông Vu Gia gặp nhau rồi tách làm hai nhánh sông tạo thành vùng đất bồi phì nhiêu, trước kia thuộc tổng Đa Hòa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn. Gò Nổi rộng khoảng vài chục cây số vuông, gồm có các làng Tư Phú, Bảo An, La Kham, Xuân Đài, Trường Giang, Đông Bàn, Phú Bông. Đây là vùng đất đã mang lại niềm tự hào cho quê hương Quảng Nam vì đã sản sinh ra những nhân vật gắn liền với lịch sử dân tộc như Hoàng Diệu, Trần Cao Vân, Phạm Phú Thứ, Phan Thành Tài, Lê Đình Dương... cùng nhiều vị khoa bảng nổi tiếng.


Nơi chốn đó, Phan Khôi, bút hiệu Chương Dân đã dấn thân vào nghề báo từ tuổi thanh xuân cho đến tuổi thất thập, ông vẫn giữ được hào khí của người cầm bút trong vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm. Ông còn là nhà văn, nhà lý luận sâu sắc và đóng góp trong phong trào thơ mới, điển hình với bài Tình Già vào đầu thập niên 30. Ngoài ra, ông còn có bút hiệu Tú Sơn (Tout Seul) qua dòng thơ trào phúng trên Phụ Nữ Thời Đàm; bút hiệu Thông Reo, ban đầu ký chung với Đào Trinh Nhất và Diệp Văn Ký trên tờ Thần Chung, sau đó ông giữ luôn mục “Câu Chuyện Hàng Ngày” nầy.

* Dòng Đời


Phan Khôi sinh năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thân sinh ra ông là Phan Trân (1862-1935), đỗ phó bảng năm 1891, làm Tri Phủ ở Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Khi làm quan, là nhà nho yêu nước, thấy hình ảnh lộng hành của Công Sứ Pháp nên ông từ quan về dạy học ở quê nhà. Thân mẫu của Phan Khôi là con gái Hoàng Diệu, nguyên Tổng Đốc Hà Nội, quê ở Xuân Đài. Tổng Đốc Hoàng Diệu anh dũng tuẩn tiết khi thành Hà Nội bị lọt vào tay Henri Riviere năm 1882.

Theo dòng thời gian, cuộc đời của Phan Khôi từ nhỏ đến khi lui về quy ẩn ở quê nhà, trước đây, có vài điều nhầm lẫn vì ông vừa là học sinh, vừa là thầy giáo cùng một thời điểm. Trong quyển Nhớ Cha Tôi – Phan Khôi, nhà xuất bản Đà Nẵng, 2001 của bà Phan Thị Mỹ Khanh, trích dẫn lại đôi dòng tóm lược về ông:
“Sinh ra trong một gia đình khoa bảng, nề nếp, bên nội cũng như bên ngoại, mặc dầu mồ côi mẹ và là con một, cha tôi không ham chơi bời như một số cậu ấm cùng trang lứa, mà chỉ lo chí thú học hành. Từ ngày mới lên năm, sáu tuổi, cha tôi tỏ ra thông minh, học đâu nhớ đó...

Năm cha tôi được bảy tuổi thì chẳng may bà nội tôi lâm bệnh rồi qua đời, ông nội tôi phần vì buồn phiền, phần thì phải lo toan thu xếp việc nhà, không còn tâm trí kềm cập cha tôi thường xuyên như trước dược. Tuy nhiên với tấm lòng ham học sẵn có, cha tôi vẫn ôn lại bài vở cũ và mày mò tự học thêm, gặp chữ nào khó thì xin ông nội giảng giải.

Ngày ông tôi phải vào Diên Khánh nhậm chức Tri Huyện, gia đình lại thiếu vắng bà nội nên lâm vào cảnh đơn chiếc. Ông tôi bèn thu xếp gởi cha tôi về bên ngoại ở Xuân Đài... Nhưng chỉ được thời gian độ một năm, bảy tháng, cha tôi không thấy thích thú gì việc học hành ở nhà cậu nữa... Sẵn dịp ông tôi từ Diên Khánh về thăm nhà, cha tôi xin ông chuyển cho mình học nơi khác. Sau khi cân nhắc kỹ, ông tôi quyết định đưa cha tôi về thôn Thái La, làng Bất Nhị, gởi gấm cho cụ tú Trần Quý Cáp đang mở trường học tại nhà...

Cha tôi chịu ảnh hưởng nhiều của cụ Trần về mặt tư tưởng. Về học tập, do được cụ Trần hết lòng dạy dỗ trong một thời gian khá dài nên cha tôi tiến bộ rõ rệt. Đến năm 15, 16 tuổi, khi chuyển qua cac trường Huấn, trường Đốc, kỳ sát hạch nào của ông cũng chiếm hàng đầu, được tiếng là sĩ tử thông minh của đất Gò Nổi...

Học giỏi như vậy, nhưng năm Bính Ngọ (1906) ông 19 tuổi, lều chõng ra kinh đô Huế dự thi khoa thi Hương do Nam triều tổ chức, ông chỉ đỗ tú tài...

... Năm 1907, cha tôi được phong trào Duy Tân Quảng Nam giới thiệu đi học tiếng Pháp tại trường Đông Kinh Nghĩa Thục Hà Nội... Đến Hà Nội, cha tôi được nhà trường nhận vào học một lớp tiếng Pháp do ông Nguyễn Bá Học phụ trách... Nhà trường còn bố trí cho cha tôi dạy một số giờ chữ Hán những buổi không có lớp tiếng Pháp. Ngoài ra, ông còn viết bài, sửa bài cho tờ Đăng Cổ Tùng Báo.

Công việc dạy và học đương yên ổn thì trường Đông Kinh Nghĩa Thục và tờ Đăng Cổ Tùng Báo bị nhà cầm quyền Pháp đóng cửa, những vị sáng lập bị mật thám xét hỏi. Ông Nguyễn Bá Học rủ cha tôi chạy về Nam Định, tạm lánh nhà ông để tiếp tục học tiếng Pháp đang dở dang. Nhưng ở đây vẫn không yên, ông Nguyễn Bá Học bị mật thám Nam Định theo dõi, gọi tới gọi lui thẩm vấn nhiều lần. Cha tôi buộc phải rời nhà ông Học, tìm đường quay về Quảng Nam...

Vào khoảng năm 1909, cha tôi ra Huế xin vào lớp nhì trường Pellerin để tiếp tục học tiếng Pháp... Ban giám hiệu thấy cha tôi đã 22 tuổi mà ham học nên nhận đơn, nhưng buộc phải qua cuộc sát hạchmới cho vào lớp nhì, học chung với học trò trên 10 tuổi. Hai tháng đầu, ông bị xếp hạng bét lớp, nhưng từ tháng thứ ba trở đi, ông vượt lên đứng đầu trước sự ngạc nhiên của thầy giáo và đám bạn nhỏ. Nhưng chưa kết thúc năm học thì ông phải về quê thọ tang bà cố tôi, sau đó ở nhà luôn...

Thời gian nầy (1910) thực dân Pháp và Nam triều mở một đợt vây bắt bớ vì chúng thấy phong trào Duy Tân vẫn còn âm ỉ, và hơn nữa, Đảng Việt Nam Quang Phụcï Hộicủa cụ Phan Bội Châu đang bắt đầu nhen nhóm. Một hôm, cha tôi nhận được trát của phủ Điện Bàn đòi xuống hầu, nhưng ông vừa tới nơi thì bị tống giam vào nhà lao tỉnh, sau vài hôm lại bị giải giao về nhà tù Hội An, giam chung với các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyên và nhiều nhân sĩ đã bị bắt trước đó vài hôm...

... Năm 1913, mãn hạn tù. Ông nội tôi hối thúc việc cưới vợ, coi đó là biện pháp giữ chân con trai tốt nhất... Cưới vợ rồi, cha tôi mở lớp dạy chữ Hán và chữ Quốc Ngữ tại nhà, được học trò xa gần đến học rất đông, vì ông có cải tiến lối giảng dạy dễ hiểu hơn so với các thầy đồ xưa...

... Vào khoảng giữa năm 1916, cha tôi ra Hà Nội lần thứ hai với một quyết tâm cao hơn bao giờ hết, để thực hiện cho nguyện vọng ấp ủ bấy lâu là làm báo, viết văn, dù cho khó khăn đến mấy cũng phải vượt qua... Lên Hà Nội, cha tôi gặp Nguyễn Bá Trạc là người cùng quê và là bạn học cũ quen biết. Ông Nguyễn đã từng tham gia phong trào Đông Du, qua Nhật rồi trở về, được Pháp sử dụng, sau bổ nhiệm làm Tổng Đốc Thanh Hóa. Nguyễn Bá Trạc giới thiệu cha tôi vào làm báo Nam Phong do Phạm Quỳnh chủ bút....

Nhưng dần dần, ông nhận ra rằng báo Nam Phong chỉ là công cụ mị dân do người Pháp chủ trương... ông lại vào Sài Gòn viết cho tờ Lục Tỉnh Tân Văn.

Năm 1920, ông trở ra Hà Nội viết cho tờ Thực Nghiệp Dân Báo và tạp chí Hữu Thanh... Năm 1922, cha tôi lại trở vào Sài Gòn do vài bạn đồng nghiệp nhắn gọi, nhưng vào đó, ông chỉ viết bài gởi đăng báo như một cộng tác viên, chứ không có chủ báo nào nhận ông làm... Rồi nhân có một vụ việc gì đó xảy ra ở thành phố, ông bị mật thám tình nghi, đe dọa, phải chạy xuống Cà Mau tạm trú tại nhà một người quen thân làm chủ đồn điền tại đây.

Thời gian ở ẩn ăn không ngồi rồi này khá lâu, mất đến gần 3 năm, nhưng cha tôi biết tận dụng nó để làm việc có ích là tiếp tục học tiếng Pháp bằng cách trao đổi thư từ, bài tập qua đường bưu điện với một nhà báo Pháp Dejiean de la Bâtrie...

Đầu năm 1925, hết đợt lận đận, cha tôi trở lên Sài Gòn cộng tác cùng một lúc với ba tờ báo lớn là Thần Chung, Đông Pháp Thời Báo, đồng thời gởi bài cho Đông Tây Tuần Báo, văn học tạp chí ở Hà Nội.

Từ năm 1925 đến 1928, trong ba năm ấy, ông viết liên tục, rất sung túc... Giới trí thức tư sản Sài Gòn thì tới lui tìm gặp ông để bàn việc ra báo... Trong số những người đến tiếp xúc mời ông cộng tác, ông thấy bà Nguyễn Đức Nhuận là người có thật tâm nhất nên nhận lời... tuần báo lấy tên là Phụ Nữ Tân Văn... Bà đứng tên người sáng lập, cha tôi làm chủ bút... sau đó, vào hạ tuần tháng 5 năm 1933, chúng rút giấy phép, ra lệnh đóng cửa tòa soạn. Tờ Phụ Nữ  Tân Văn cuối cùng chia tay với bạn đọc cũng là kỷ niệm ngày báo được tròn 4 tuổi...


... Cha tôi ở nhà khoảng một tuần, lại trở ra Hà Nội, nhận làm chủ bút báo Phụ Nữ Thời Đàm của ông Nguyễn Văn Đa. Ông nầy ra tuần báo Phụ Nữ Thời Đàm với ý đồ thay chân cho Phụ Nữ Tân Văn vừa bị đóng cửa, nhưng do tài chánh eo hẹp, tờ báo kém về hình thức lẫn nội dung, chỉ tồn tại được một năm phải đình bản.

Thôi làm cho Phụ Nữ Thời Đàm, ông quay về Huế, làm chủ bút báo Tràng An của ông Bùi Huy Tín, chủ nhà in Đắc Lập. Trên mặt báo Tràng An, thỉnh thoảng có đăng bài động đến chính quyền cai trị... nên bị Chánh mật thám Trung Kỳ Sogny nhiều lần hạch sách, đe dọa. Cuối cùng hắn dùng thủ đoạn thu hồi giấy nhập khẩu giấy in báo của nhà in Đắc Lập, tờ Tràng An không còn giấy để in, đành phải tự động đóng cửa.

Cha tôi lại mất việc. Ông tạm thời dạy Việt văn cho trường Trung học tư thục Hồ Đắc Hàm ở Huế, đồng thời viết bài cho Hà Nội Báo và xuất bản cuốn Chương Dân Thi Thoại vào đầu năm 1936...

Vào giữa năm 1936, cha tôi xin giấy phép đứng tên sáng lập tờ Sông Hương tại Huế... Tòa soạn do ông đảm đương là chính, cộng với sự trợ giúp của hai anh tôi và một vài nguời bà con. Tuần báo nầy chỉ sống được 8, 9 tháng thì phải tự đóng cửa do tài chánh mất cân đối, vốn dự bị lại cạn kiệt.

Cuối năm 1927, cha tôi vào Sài Gòn dạy Việt văn và Hán văn cho trường Trung học tư thục Chấn Thanh của ông Phan Bá Lân, đồng thời cộng tác với báo Tao Đàn. Thời gian nầy ông sáng tác tiểu thuyết đầu tay Trở Vỏ Lửa Ra và bán bản quyền cho nhà xuất bản Phổ Thông (1939)...

Cuối năm 1941, do thời cuộc, trường Chấn Thanh đóng cửa và dời về Đà Nẵng với quy mô nhỏ hơn, và báo chí cũng hết thời thịnh vượng, cha tôi quyết định trở về quê... Năm 1942, ông đã góp phần cùng mẹ và anh tôi sữa lại cái nhà ngang bằng tranh hư hỏng và dột nát...”

Thời gian từ 1941 đến 1945, Phan Khôi tạm gác bút.

Dòng họ Phan là một trong các dòng họ nổi tiếng ở Quảng Nam. Năm 1913, Phan Khôi lập gia đình với con gái ông cử Lương Thúc Ký (1873-1947), đỗ cử nhân cùng thời với Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Nguyễn Đình Tuyến... từng làm Hậu Bổ tỉnh Bình Thuận, Tri Huyện ở Tuy Phong, Giáo Thọ ở Tuy An, tác giả quyển Quốc Ngạn...

Ông bà Phan Khôi có sáu người con (hai trai, bốn gái), con cả là Phan Thao (1915-1960), cán bộ cao cấp trong Ủy Ban Trung Bộ, đại biểu Quốc Hội tỉnh Quảng Nam năm 1946, Chủ Nhiệm báo Cứu Quốc và bốn người con gái là Hựu Khanh, Bang Khanh, Mỹ Khanh, Tiểu Khanh. (Giữa Phan Khôi & Phan Thao đã bất đồng chính kiến quan điểm chính trị. Trong bài viết của Lại Nguyên Aân: “Theo lời kể lại, người con trai của ông khi đó là một cán bộ đảng, đã không dám đến dự đám tang cha mà chỉ cải trang làm một người tình cờ, dắt xe đạp đi trên vỉa hè trong lúc đám tang đi dưới lòng đường”.

Năm 1936, thời gian làm tờ Tràng An ở Huế, ông lấy thêm bà vợ hai người Hà Nội, có với nhau ba mặt con. Rời Huế, ông đưa người vợ kế về Quảng Nam, hai bà sống với nhau rất hòa thuận ở quê nhà, năm 1955 ông đưa vợ con ra đoàn tụ cùng ông tại Hà Nội.

Về quan hệ thân tộc, em gái ông là vợ nhà văn Sở Cuồng Lê Dư. Ông bà Lê Dư có các người con gái: bà Hằng Huân (vợ tướng Nguyễn Sơn), bà Hằng Phấn (vợ nhà văn Hoàng Văn Chí, tác giả Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc), bà Hằng Phương (vợ nhà văn Vũ Ngọc Phan). Em họ là Phan Bôi Hoàng Hữu Nam (1911-1949), Thứ Trưởng bộ Nội Vụ trong Chính Phủ Liên Hiệp. Ông Biện Chín, tên thật là Phan Định, chú ruột Phan Khôi, có hai người con là Phan Bôi, Phan Thanh (1908-1939). Phan Thanh cũng hoạt động trong Hội Truyền Bá Quốc Ngữ cùng với Đặng Thái Mai và Võ Nguyên Giáp.

* Nhân Văn – Giai Phẩm

Phan Khôi được hấp thụ tinh thần yêu nước của các vị thầy từ nhỏ, ông ghét chính sách cai trị của thực dân Pháp nên tham gia vào phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân... Đứng trước hoàn cảnh ly loạn của đất nước, ông đã tham gia trong phong trào kháng Pháp của Việt Minh nhưng tính cương trực, dũng cảm của bậc sĩ phu yêu nước, ông đã mạnh dạn lên án những sai lầm dù nguy hiểm cho bản thân.

Trong quyển Văn Thi Sĩ Tiền Chiến, Nguyễn Vỹ đã viết về ông:

“Năm 1945, Việt Minh nắm chính quyền. Ngay buổi đầu, ông đã bực tức về những hành động quá tàn bạo của chính quyền địa phương đối với nhân dân trong tỉnh. Đến khi họ định đập phá nhà thờ cụ Hoàng Diệu thì Phan Khôi phản đối quyết liệt. Nếu lúc bấy giờ không có thân thế mạnh mẽ thì có lẽ Phan Khôi đã bị thủ tiêu rồi, như trường hợp của những nhà văn có tinh thần quốc gia và yêu chuộng tự do, công lý như Khái hưng, Lan Khai...

... Phan Khôi lén nhờ người cầm thư ra Hà Nội, định che chở cho cụ. Nhưng ở Hà Nội, Phan Khôi vẫn bị công an Việt Minh theo dõi từng bước và họ giao ông cho chính em họ của ông là Phan Bôi, tức Hoàng Hữu Nam, ThứTrưởng bộ Nội Vụ, quản thúc.

Vì tính cương trực, không muốn để mất tự do hành động của mình, ông không chịu ở nhà Phan Bôi, mà tự ý đến nhà Khái Hưng, tại trụ sở Việt Nam Quốc Dân Đảng, phố Quan Thánh. Việt Minh đến bắt Khái Hưng tại nơi đây, và bắt luôn Phan Khôi. Khái Hưng thì họ đưa về làng quê quán để rồi cán bộ địa phương thủ tiêu trong một đêm tối trên một bờ đê trong làng. Còn Phan Khôi thì bị đưa lên chiến khu Việt Bắc... và được giao công tác phiên dịch sách chữ Hán.


Suốt chín năm kháng chiến ở Việt Bắc, Phan Khôi, một nhà văn độc lập, không đảng phái, không quỵ lụy ai, không phục tùng sức mạnh nào, chỉ phụng sự cho công lý, tự do, dân chủ. Phan Khôi vẫn công kích chế độ Cộng Sản, mặc dầu ông triệt để ủng hộ cuộc kháng chiến của toàn dân chống Pháp”.

 Công tác phiên dịch Hán văn và Pháp văn sang tiếng Việt cũng nhẹ nhàng, vì tuổi cao và có thân thế, Phan Khôi được ưu đãi hơn các văn nghệ sĩ khác nhưng ông không dựa vào đó để tiếm chức, lạm quyền mà dần đà khám phá ra nhiều hành vi độc đoán nên bất mãn. Năm 1951 ông làm bài thơ ví cuộc kháng chiến như hoa hồng và ví Việt Minh như gai. Ông nói lên tâm trạng của người vì yêu kháng chiến mà phải chấp nhận đi theo con đường phục vụ cho Việt Minh.
Bài thơ “Hồng Gai” như sau:

“Hồng nào hồng chẳng có gai
Miễn đừng là thứ hồng dài không hoa,
Là hồng thì phải có hoa,
Không hoa chỉ có gai mà ai chơi ?
Ta yêu hồng lắm hồng ơi !
Có gai mà cũng có mùi hương thơm”.

Sống lâu ngày nơi núi rừng Việt Bắc, dù khổ cực, bất mãn nhưng không có ai dám thổ lộ tâm sự bi đát đó, chỉ có Phan Khôi bộc lộ những dòng thơ vào năm 1952:

“Tuổi già thêm bệnh hoạn
Kháng chiến thấy thừa ta
Mối sầu như tóc bạc
Cứ cắt lại dài ra”.
Cuối năm 1954, Phan Khôi trở về Hà Nội cùng với đa số các văn nghệ sĩ khác. Vì không có nhà cửa ở Hà Nội nên Hội Văn Nghệ dành cho ông căn phòng ở tầng ba của trụ sở của Hội, ông vẫn tiếp tục công việc phiên dịch.

Năm 1956, sau khi Giai Phẩm Mùa Xuân ra đời, bài thơ Nhất Định Thắng của Trần Dần dài gần 400 câu như quả bom tung ra trong làng báo Hà Nội. Ngày 29-8-1956, Giai Phẩm Mùa Thu xuất hiện. Theo Hoàng Văn Chí trong Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc: “Trong tập nầy cụ Phan Khôi giáng một chùy trí mạng vào đầu giai cấp lãnh đạo. Bài của cụ nhan đề là Phê Bình Lãnh Đạo Văn Nghệ. Bài nầy đã làm nhân dân Hà Nội xôn xao. Có người viết trên báo Thời Mới, ví bài của cụ Phan như một “quả bom tạ” thả ngay giữa Hà Nội. Có người thốt lên rằng chín mười năm nay mới nghe thấy một tiếng nói “sang sảng” của cụ Phan...”

Vì nhận thấy “giai phẩm” có tính cách văn học nên Phan Khôi đứng ra làm Chủ Nhiệm tờ Nhân Văn cùng Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy... muốn quảng bá rộng rãi hơn tiếng vọng của tờ báo, tạo ngọn lửa đấu tranh giữa thủ đô Hà Nội.

Ngày 15-9-1956, tờ Nhân Văn ra đời, nhà thơ Phan Khôi, chủ nhiệm chủ bút, giới sinh viên hưởng ứng tiếng nói đấu tranh với tờ Đất Mới và tuần báo Trăm Hoa của Nguyễn Bính cũng nhập cuộc, và tờ Văn cũng thay đổi thái độ cho đến bài Ông Năm Chuột của Phan Khôi xuất hiện, Đảng bắt Hội Văn Nghệ đình bản tờ Văn.

Đảng và giới lãnh đạo văn nghệ ra tay đàn áp tạo thành vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm, đày đọa giới trí thức và những người cầm bút đối kháng vào chốn lao tù và sống cuộc đời lầm than trải dài qua vài thập niên.

Theo họa sĩ Trần Duy, thư ký tòa soạn báo Nhân Văn cho biết: “Nếu muốn nhìn lại thì theo tôi, cần nhìn lại từ những ngày đầu tháng 3 năm 1955, thời gian mà Trần Dần, Hoàng Cầm, Tử Phác, Hoàng Yến ở Phòng Văn Nghệ Quân Đội chủ trương phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Trong lúc ấy thì Xuân Trường trên báo Nhân Dân, Xuân Diệu trong hai số báo Văn Nghệ (Tháng 2, 1955) lại tung hô hết lời khen tập thơ này. Ông Phan Khôi nói với tôi: “Không ai cấm người làm thơ dở. Nhưng cái không may là người làm thơ dở lại làm người lãnh đạo!”

Nắng Chiều của Phan Khôi là tác phẩm cuối đời, thể hiện hào khí bất khuất của người cầm bút, đấu tranh cho tự do và lẽ phải.

 Sáng ngày 16 tháng Giêng năm 1959, Phan Khôi vĩnh biệt cõi trần tại căn nhà ở phố Thuốc Bắc, Hà Nội, hưởng thọ 73 tuổi.

Đám tang của ông thật lặng lẽ, u buồn vì không khí ngột ngạt của vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm còn bủa vây trên bầu trời Hà Nội.


*

Về văn, trong Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan ra đời năm 1942 đã viết về Phan Khôi ở phần đầu: “Phan Khôi là một trong những nhà văn xuất sắc nhất trong phái nho học”. Và kết luận: “Trong văn giới Việt Nam, dù thuộc về phái già hay phái trẻ, tuy có nhiều người không đồng ý kiến với Phan Khôi, nhưng ai ai cũng phải công nhận ông là một tay kiện tướng”.

Về báo, trong quyển Nghề Viết Báo của Tế Xuyên đã nhận định:

“Léon Daudet, cây bút sắc bén của tờ báo hữu khuynh L’ Action Francaise đã nói rằng: Kẻ viết báo tài tình là những người bút chiến giỏi.

Phan Khôi xứng đáng là nhà bút chiến giỏi như lời Léon Daudet đã nói. Ông còn để lại trong lịch sử lịch sử báo chí nước nhà lắm trận bút chiến náo động”.

Phan Khôi đã tham gia trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, với tài năng, tuổi già và có thân nhân trong guồng máy lãnh đạo, ông được ưu đãi nhưng khí phách, nhân cách của nhà văn, nhà báo ý thức trách nhiệm với quê hương, dân tộc, không thể cam chịu trước cảnh độc tài và bất công, nên dấn thân đấu tranh đến cùng. Hình ảnh kiện tướng Phan Khôi, một lần nữa, được đi vào trong lịch sử báo chí và văn học Việt Nam.

Sự nghiệp cầm bút của Phan Khôi nổi bật về báo chí và các bài lý luận sắc bén. Tác Phẩm tiêu biểu: - Bàn Về Tế Giao (1918) - Tình Già (thơ mới - 1932) - Chương Dân Thi Thoại (chuyện thơ, 1936) – Trở Vỏ Lửa Ra (tiểu thuyết, 1939) – Tìm Tòi Trong Tiếng Việt (1950) - Việt Ngữ Nghiên Cứu (1955) - Dịch Lỗ Tấn (từ 1955 đến 1957) - Ngẫu Cảm (thơ chữ Hán) - Viếng Mộ Oâng Lê Chất (thơ chữ Hán) - Ông Năm chuột (truyện ngắn)

Truyện ngắn bằng Hán văn: Mộng Trung Mộng, Hoạn Hải Ba Đào.

Ngoài ra, bản dịch Kinh Thánh năm 1925 cho Giáo Hội Tin Lành của ông cũng được đánh giá rất cao trong thời kỳ phát triển văn chương Việt Nam.


*

Trải qua bao thăng trầm trong suốt quãng đời phiêu bạt, bút chiến, đụng độ với nhau... và nhất là thời điểm “tranh tối tranh sáng” sau ngày CS thống trị miền Bắc, Phan Khôi đả kích chế độ CS, những tên bồi bút tìm mọi thủ đoạn để triệt hạ. Rất nhiều giai thoại về Phan Khôi. Bài viết của GS Trần Gia Phụng đã ghi lại nhiều giai thoại ngay khi ông còn sống. Những câu chuyện thực trong cuộc đời ông, vừa táo bạo, vừa dí dỏm, nên được truyền miệng nhiều lần thành những giai thọai dân gian. Sống dưới chế độ CS, Phan Khôi cũng ưa “cãi lý” mà không sợ bị CS trù dập. Tượng trưng cho lối “cãi lý” Phan Khôi.

Nhìn lại hiện tình đất nước hiện tại, nhờ hệ thống internet được phổ biến rộng rãi, những cây bút trẻ, những bloggers... yêu chuộng tự do, bình đẳng; bất bình trước sự “hèn với giặc, ác với dân” đang xảy ra đã dũng cảm gióng lên tiếng nói mà Phan Khôi dấn thân vào 6 thập niên về trước. Hình ảnh Phan Khôi & sĩ khí người cầm bút như ngọn đuốc soi đường.

Vương Trùng Dương

Bài viết nhân ngày mất Phan Khôi trước đây được bổ túc thêm.



































Phan Khôi & nữ sĩ Anh Thơ tại Việt Bắc















trái: Ns Văn Cao, Nt Tú Mỡ, Nv Phan Khôi, Nt Tố Hữu tại Việt Bắc

















Phan Khôi chụp tại Trung Quốc 
(trong dịp kỷ niệm 20 năm ngày mất Lỗ Tấn)


















Học giả Phan Khôi và gia đình



















Ông bà Phan Khôi 







 









(Nguồn: tổng hợp Internet)


















Trở về



Danh Sách Tác Giả
http://phannguyenartist.blogspot.com/2015/10/danh-sach-tac-gia.html


Chân Dung Văn Nghệ Sĩ
http://phannguyenartist.blogspot.com/2015/10/chan-dung-van-nghe-si-300-epaints.html


Emprunt Empreinte
http://phannguyenartist.blogspot.com/2011/05/phan-nguyen-oi-loi-cung-cac-tac-gia-va.html









MDTG là một webblog "mở" để mỗi ngày một hoàn thiện, cập nhật sáng tác mới cho từng trang và chỉ có thể hoàn hảo nhờ sự cộng tác của tất cả các tác giả và độc giả.


 MDTG xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ tinh thần của các văn hữu đã gởi tặng hình ảnh và tư liệu đến webblog từ nhiều qua.